1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của PHÂN hữu cơ và vô cơ lên sự SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT và CHẤT LƯỢNG RAU cần nước

68 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 19,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNGHUỲNH HỒNG HẢI ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT Cần T

Trang 1

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

HUỲNH HỒNG HẢI

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG

RAU CẦN NƯỚC

Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT

Cần Thơ, 2010

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN

SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG

Trang 3

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ

SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC.

Do sinh viên Huỳnh Hồng Hải thực hiện

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày tháng năm 2010

Cán bộ hướng dẫn

TS Trần Thị Ba

Trang 4

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ

SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC.

Do sinh viên Huỳnh Hồng Hải thực hiện và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

………

………

………

………

Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức ………

Trang 5

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết quảtrình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kìcông trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Huỳnh Hồng Hải

Trang 6

Họ và tên: Huỳnh Hồng Hải Giới tính: Nam

Sinh ngày: 04/03/1988 Dân tộc : Kinh

Nơi sinh: Châu Thành, Hậu Giang

Con ông: Huỳnh Sơn Lâm Sinh năm: 1955

Con bà: Nguyễn Thị Tư Sinh năm: 1956

Chổ ở hiện nay: 90 Phú Xuân, Phú Hữu A, Châu Thành, Tỉnh Hậu Giang

Trang 7

Gởi đến cô cố vấn học tập ThS Lê Thị Xua đã dìu dắt chúng em qua giảng đườngđại học.

Chân thành cảm ơn:

Quí thầy cô trường Đại Học Cần Thơ nói chung, khoa Nông Nghiệp và SHƯD nóiriêng đã tận tình giảng dạy, rèn luyện cho em Những lời của thầy cô là hành trang

để em bước vào đời sau này trong tương lai

Cám ơn chị Kiều, bạn Quốc, Quí, Tươi, Khuê, Thoảng, Trinh, Yến… Và các emNông Học, Trồng Trọt K33 trong nhà lưới đã giúp đỡ nhiều, để có thể hoàn thànhtốt luận văn của mình

Thân gửi về lớp Trồng Trọt khóa 32 lời chúc sức khỏe và thành đạt nhất

HUỲNH HỒNG HẢI

Trang 8

trưởng, năng suất và chất lượng rau cần nước” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư

Trồng trọt, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ.Cán bộ hướng dẫn: TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy

TÓM LƯỢC

Nhận thấy được tầm quan trọng của rau xanh và tính độc hại của nitrate đốivới người tiêu dùng ngày càng tăng và tăng hiệu quả sử dụng phân bón, để đạt đượcnăng suất cao nhất, đem lại hiệu quả cho người sản xuất đề tài “Ảnh hưởng của liềulượng phân vô cơ và hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau cầnnước” được thực hiện tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông nghiệp, trường Đạihọc Cần Thơ (tháng 5-8/2009), nhằm mục đích xác định loại và liều lượng phân bónthích hợp, cho sinh trưởng, năng suất và phẩm chất cao

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4nghiệm thức là 4 liều lượng phân bón khác nhau: (1) 15 tấn phân hữu cơ + 60 N -

60 P2O5- 20 K2O kg/ha, (2) 15 tấn phân hữu cơ + 120 N - 120 P2O5- 40 K2O kg/ha,(3) Phân vô cơ 120 N - 120 P2O5- 40 K2O kg/ha: sử dụng toàn phân vô cơ, (4) 30tấn phân hữu cơ: toàn bộ lượng phân hữu cơ được bón lót trước khi cấy, với 4 lầnlặp lại, diện tích mỗi lô là 2 m2, với mật độ cây là 8 x 10 cm

Kết quả thí nghiệm trên rau cần nước cho thấy nghiệm thức sử dụng 15 tấn phânhữu cơ hoai mục kết hợp với 60 N + 60 P2O5+ 40 K2O cho chiều cao cây, số lá kíchthước lá cao và năng suất đạt 17,63 tấn/ha , và thấp nhất là nghiệm thức sử dụngđơn thuần phân vô cơ là 10,75 tấn/ha Còn về tỉ lệ năng suất thương phẩm không có

sự khác biệt giữa các nghiệm thức trung bình khoảng 75% Về chất lượng, thì hàmlượng nitrate trong thân và lá của rau cần nước ở nghiệm thức sử dụng 30 tấn phânhữu cơ hoai mục thấp nhất 35,5 mg/kg, cao nhất là 138,5 mg/kg nhưng vẫn ởngưỡng cho phép của tổ chức Y tế thế giới, hàm lượng nitrate trong rau không vượtquá 300 mg/kg

Trang 9

1.4.3 Một số vấn đề gặp phải khi sử dụng phân hữu cơ 6

1.5 VAI TRÒ CỦA CÁC CHẤT ĐA LƯỢNG ĐẠM, LÂN VÀ KALI ĐỐI VỚI

1.6 VAI TRÒ CỦA PHÂN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN 9

1.6.2 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất rau an toàn 10

Trang 10

ix

Trang 12

2.1 Nhiệt độ và cường độ ánh sáng đo được trong ngày tại trại

Thực nghiệm Nông nghiệp, Trường ĐHCT (ngày 20/07/2009)

13

2.2 Lịch bón phân (kg/1000m2) (Công thức nguyên 120-120-40

kg/ha)

17

2.3 Tỷ lệ (%) lá rau cần nước bệnh 21 và 28 NSKC tại trại nghiên

cứu và thực nghiệm Nông nghiệp, trường ĐHCT (tháng

5-8/2009)

22

3.2 Đường kính gốc thân và diện tích lá lúc thu hoạch tại trại

nghiên cứu và thực nghiệm Nông nghiệp, trường ĐHCT (tháng

5-8/2009)

28

3.3 Trọng lượng cây và hàm lượng chất khô lúc thu hoạch tại trại

nghiên cứu và thực nghiệm Nông nghiệp, trường ĐHCT (tháng

5-8/2009)

29

3.4 Hàm lượng nitrate và độ Brix lúc thu hoạch tại trại nghiên cứu

và thực nghiệm Nông nghiệp, trường ĐHCT (tháng 5-8/2009)

32

3.5 đánh giá cảm quan về độ giòn của 4 nghiệm thức phân bón tại

trại Nghiên cứu & thực nghiệm NN, trường ĐHCT (tháng

5-8/2009)

33

Trang 13

2.1 Bố trí thí nghiệm trên rau cần nước tại trại thực nghiệm Nông

nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ (tháng 5-8/2009)

14

2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ

và hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau cần

nước” tại trại thực nghiệm Nông nghiệp, Trường ĐHCT (tháng

5-8/2009)

15

2.3 (a) làm đất trước khi cấy, (b) cấy rau cần nước tại trại thực

nghiệm Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ (tháng

5-8/2009)

16

3.1 Sự gia tăng chiều cao cây (cm) rau cần nước qua các ngày sau

khi cấy tại trại Thực nghiệm NN, Trường ĐHCT (tháng

5-8/2009)

23

3.2 Số lá trên thân (cm) rau cần nước qua các ngày sau khi cấy tại

trại Thực nghiệm NN, Trường ĐHCT (tháng 5-8/2009)

25

3.3 Chiều dài lá (a), dài phiến (b), rộng lá (c) của 4 nghiệm thức

phân bón trên rau cần nước tại thực nghiệm NN, trường ĐHCT

(tháng 5-8/2009)

27

3.4 Mật độ cây trung bình lúc thu hoạch của rau cần nước trại thực

nghiệm Nông nghiệp, trường ĐHCT (tháng 5-8/2009)

31

3.5 Năng suất và tỉ lệ năng suất thương phẩm của rau cần nước tại

trại thực nghiệm NN, trường ĐHCT (tháng 5-8/2009)

32

Trang 14

Rau cần nước (rau cần ta) có tên khoa học là Oenanthe Stolorifeza Wall, loại

rau trồng phổ biến ở Việt Nam, ăn ngon, bổ dưỡng cung cấp chủ yếu khoáng chất,vitamin cho cơ thể con người, còn có khả năng chữa được nhiều bệnh nên rất được

ưa chuộng, và mang lại hiệu quả kinh tế cao, do kỹ thuật trồng đơn giản, ít sâubệnh, đầu ra tương đối dễ dàng và ổn định Hiện nay ở Việt Nam tình trạng ngộ độc

do ăn rau ngày càng nhiều, nguyên nhân chủ yếu là chạy theo lợi nhuận và để đápứng nhu cầu rau xanh cho người tiêu dùng, mà người trồng rau cần tăng năng suất,tăng sản lượng rau xanh để đạt mức thu nhập cao, nên đã sử dụng phân vô cơ (phânhoá học), thuốc bảo vệ thực vật… Đặt biệt là phân đạm với liều lượng rất cao Vớitình hình này thì hàm lượng độc chất hóa học cũng như hàm lượng nitrate có chiềuhướng gia tăng, được tích luỹ trong các loại thực phẩm, rau, quả… Mà hàng ngàycon người sử dụng gây ra các bệnh tật nghiêm trọng như: ung thư, quái thai… Vàlàm ảnh hưởng đến môi trường sống do việc canh tác không hợp lí Vì vậy đề tài:

“Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vô cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượngrau cần nước” Được thực hiện nhằm mục đích xác định loại và liều lượng phân bónthích hợp, cho sinh trưởng, năng suất và phẩm chất cao

Trang 15

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA RAU CẦN NƯỚC 1.1.1 Nguồn gốc

Rau cần ta có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Á, đã được trồng từ lâu ở cácnước Pakistan, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan,Malaysia, Philippin, Papua New Guinea, Indonesia (Java, Sumatra), Australia ỞViệt Nam, rau cần ta cũng được trồng từ lâu ở các tỉnh phía bắc, từ Nghệ An trở ra;đặc biệt là các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, như Hà Nam, Nam Định, TháiBình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Vĩnh Phúc, PhúcThọ…(Nguyễn Tập, 2004) Gần đây rau cần cũng mới được đem vào trồng ở miềnNam như Đồng Nai, Bạc Liêu, Kiên Giang… (Niên Giám Nông nghiệp, 2008)

1.1.2 Đặc điểm thực vật

* Thân: là cây thân thảo, nhẵn, mọng nhớt, phân nhánh, cao khoảng 20-40

cm, sống dai Thân mọc bò dài ngập trong bùn, bén rễ ở những mấu, sau đứngthẳng, rỗng, có nhiều đốt và khía dọc, dài tới 1 m (Nguyễn Văn Luật và Trần MinhThu, 2004)

* Lá: lá có hình dạng rất thay đổi, có cuống, nhưng các lá gốc và lá ngọngiống nhau, mọc so le, chia thùy hình lông chim, 1-2 lần, thùy hình trái xoan, hìnhthoi hoặc hình mác, gốc tròn, mép khía răng không đều; bẹ lá to, rộng, ôm sát vàothân; cuống lá dài 3-8 cm; những lá gần ngọn không cuống (Lê Trần Đức, 1997 vàPhạm Hoàng Hộ, 2003)

* Hoa: theo Võ Văn Chi (2005) thì rau cần có cụm hoa gồm những tán képmọc đối diện với lá, có 5-15 tán đơn, mỗi tán đơn mang 10 đến 20 hoa màu trắng.Thường ra hoa vào cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu

* Giống: người ta thường nhân giống bằng phương pháp vô tính Đầu tháng 2hàng năm, cần trồng lại một khoảnh, chăm sóc cho cây lên tốt, đến đầu tháng 10

Trang 16

nhổ cả thân rễ đem giâm để nhân giống hoặc dùng chồi gốc để nhân giống, vì raucần có khả năng đẻ nhánh khỏe từ chồi gốc (Nguyễn Tập, 2004).

1.2.1 Nước và ánh sáng

Rau cầu ta ưa nước, ưa sáng hoặc có thể hơi chịu bóng râm, thường đượctrồng ở ruộng ngập nước có nhiều bùn như: ruộng nước, ao Có lớp bùn càng sâu,càng màu mỡ, cây càng sinh trưởng mạnh (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi1996; Mai Thị Phương Anh, 1996) Ánh sáng giữ vai trò rất quan trọng, nó giúp chocây quang hợp tốt Nếu thiếu ánh sáng sẽ làm giảm năng suất và chất lượng sảnphẩm cây trồng (Trung tâm Unesco, 2005)

1.2.2 Nhiệt độ và ẩm độ

Rau cần ta ưa nhiệt độ thấp và khí hậu ẩm mát, thời vụ trồng bắt đầu khi trời

se lạnh, khoảng cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 (vụ đông – xuân), (Nguyễn VănHoan, 1999) Nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển là 15 - 200C, ở nhiệt độ trên

250C và dưới 50C cây sinh trưởng chậm và lá có màu huyết dụ (Đường Hồng Dật,2003)

1.2.3 Đất trồng

Theo Nguyễn Như Hà (2006), đất thích hợp cho sản xuất rau cần là đất thịtpha cát, đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình, đất phù sa ven sông, phải có tầng canh tácdầy từ 20-40 cm Đất có tính chất vật lý và hóa học tốt: tơi xốp, giàu mùn, có khảnăng giữ và thoát nước khi cần thiết, giữ phân tốt, có pH từ ít chua đến trung tính6,0-6,8

Trang 17

tưới mưa nặng hạt làm giảm mật số sâu, rồi sử dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc

sinh học như Delfin, Neeem bond, các chế phẩm vi sinh Bacillus thuringensis

(Nguyễn Đức Khiêm, 2006) Hoặc có thể phun thuốc hóa học gốc cúc ở liều lượngthấp kết hợp với thuốc vi sinh để hạn chế mức thấp nhất số lần phun thuốc hóa họctrên vụ như: Success, Vertimec + Peran, Cyperan, Alphan (Trần Văn Hai và PhạmHoàng Oanh, 2002)

Bệnh hại chủ yếu là bệnh sương mai làm thối đen lá, bệnh hại nặng từ tháng

12 đến tháng 3 năm sau, trong điều kiện nhiệt độ mát (15 – 220C), độ ẩm không khícao 90 – 100% (trời âm u, mưa phùn) Phòng và trị bệnh bằng thuốc Alpine 80 WP,Ridomin MZ 72 WP, Zineb 80 WP, Score, Bonaza, Folpan (Nguồn: Báo Khoahọc và Đời sống, 2008)

Theo Nguyễn Như Hà (2006) phân hữu cơ là các loại chất hữu cơ vùi vào đấtsau khi phân giải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và quantrọng hơn có tác dụng cải tạo đất lớn Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999) thì phân hữu

cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như: các

dư thừa thực vật, phân chuồng, phân rác và phân xanh

1.4.1 Các loại phân hữu cơ

* Phân chuồng: là loại phân cho gia súc thải ra, có thành phần đạm cao, chấtlượng và giá trị của phân chuồng phụ thuộc nhiều vào cách chăm sóc, nuôi dưỡng,chất liệu độn và cách ủ phân (Đường Hồng Dật, 2002) Các nhà khoa học đã tínhđược rằng, trung bình trong phân chuồng có chứa tới 95% kali, 80% lân, 50% đạm

và 40% chất hữu cơ của thức ăn gia súc Vì vậy, sử dụng phân chuồng trong trồngtrọt góp phần nâng cao hiệu quả cho ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp(Nguyễn Như Hà, 2006)

* Phân rác: theo Đường Hồng Dật (2002) thì phân rác còn được gọi là phâncomposts Đó là loại phân hữu cơ chế biến từ rác, cỏ dại, thân lá cây xanh,… Được

ủ với một số phân men như phân chuồng, lân, vôi,… Cho đến khi hhoai mục

Trang 18

Phân rác có thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổi trongnhững giới hạn rất lớn tùy thuộc vào bản chất và thành phần của rác Nguyên liệu

để làm phân rác có các loại sau đây: rác các loại, tàn dư thực vật sau khi thu hoạchnhư rơm rạ, thân lá cây

Các chất gây men và phụ trợ (phân chuồng hhoai mục, vôi, nước tiểu, bùn,phân lân, tro bếp)

* Phân xanh: theo Nguyễn Như Hà (2006) phân xanh là biện pháp trồng cáccây có khả năng cố định đạm (chủ yếu là cây họ đậu) rồi vùi chất xanh vào đấtnhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời làm giàu các chất dinh dưỡng,chủ yếu là đạm và chất hữu cơ cho lớp đất canh tác Theo Đường Hồng Dật (2002)

là loại phân hữu cơ có thành phần gồm các bộ phận trên mặt đất của cây, thườngđược sử dụng tươi không qua quá trình ủ, nên phân xanh chỉ phát huy hiệu quả saukhi được phân hủy Cây phân xanh thường là cây họ đậu như: keo đậu, muồng, đậunho nhe… Vì cây họ đậu thường có các vi sinh vật cộng sinh trên rễ và giúp câytổng hợp đạm từ khí trời, lượng đạm về sau có thể cung cấp một phần cho câytrồng

1.4.2 Tác dụng của phân hữu cơ

* Tác dụng cải tạo tính chất đất

Phân hữu cơ là nguồn bổ sung chất mùn rất quan trọng cho đất Chất mùnlàm cho kết cấu đất tốt hơn, là kho dự trữ thức ăn cho cây, làm tăng hiệu quả củaphân khoáng, là yếu tố chủ yếu tạo nên sự phì nhiêu của đất Theo Vũ Hữu Yêm(1995) quá trình phân giải phân hữu cơ có thể tăng khả năng hòa tan các chất khótan Việc hình thành các phức hữu cơ - vô cơ cũng có thể làm giảm khả năng diđộng của các nguyên tố khoáng làm hạn chế khả năng đồng hóa kim loại nặng củacây, sản phẩm nông nghiệp trở nên sạch hơn Còn kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Mỹ Hoa (2004) thì chất hữu cơ bón vào đất sau khi mùn hóa làm tăng khả năngcation, tăng khả năng đệm và các chất dinh dưỡng chủ yếu là đạm, lân, lưu huỳnh

Vì vậy làm tăng hiệu quả của phân hóa học khi bón vào đất, khả năng trao đổi mùngấp 5 lần khả năng trao đổi sét

Trang 19

* Tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho cây

Cung cấp dinh dưỡng khoáng, đặc biệt là chất đạm, lân lưu huỳnh và cácnguyên tố khác bao gồm cả nguyên tố vi lượng và các chất dinh dưỡng hữu cơ như:đường và các amino acid là sản phẩm trung gian trong quá trình phân hủy, có thểđược cây sử dụng (Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004)

Trong phân hữu cơ có thành phần chất dinh dưỡng phong phú, bao gồm cảchất đa lượng, trung lượng và vi lượng, do đó có tác dụng cung cấp dinh dưỡng chocây cân đối (Nguyễn Đăng Nghĩa, Mai Văn Quyền và Nguyễn Mạnh Chinh, 2005).Tuy nhiên là hàm lượng các chất dinh dưỡng nói chung rất ít chỉ khoảng 0,3% N;0.5% P2O5 và 1% K2O (Mai Thị Phương Anh, 1996), và hệ số sử dụng lại khôngcao, tác dụng chậm, nên bón với liều lượng lớn mới có hiệu quả Theo Đỗ ThịThanh Ren (1999) nhận định rằng khi bón kết hợp thích đáng giữa phân hóa học vàphân hữu cơ sẽ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng

* Tác động đến vi sinh vật của đất

Chất hữu cơ là môi trường sống tốt cho vi sinh vật sinh sống và phát triểnnhanh chóng, ảnh hưởng tốt đến đời sống của các vi sinh vật cố định đạm như:Rhizobium và Azotobacter Đất được bón nhiều phân chuồng, số lượng vi sinh vậtnày tăng lên rõ rệt, khả năng nitrate hóa của đất cũng tăng hơn (Đỗ Thị Thanh Ren,1999)

Ngoài ra phân hữu cơ còn cung cấp thêm thức ăn cho vi sinh vật, cả thúc ănkhoáng và thức ăn hữu cơ Theo Võ Minh Kha (2003), sau khi bón phân hữu cơ vàođất, các loài vi sinh vật cũng như động vật có lợi và có hại phát triển rất nhanh,những loài vi sinh vật có lợi tiết ra các chất kháng và các chất điều hòa sinh trưởnggiúp cây trừ sâu bệnh hại

1.4.3 Một số vấn đề gặp phải khi sử dụng phân hữu cơ

* Gây khó khăn trong việc thương mại hóa vì chuyên trở khối lượng lớn dẫn đến giá thành cao

Theo Đỗ Đình Thuận và Nguyễn Văn Bộ (2001) cho thấy bón 11,7 tấn phânchuồng/ha chỉ cung cấp được 41,1 kg N; 20,5 kg P2O5và 41,1 kg K2O Do chứa ít

Trang 20

dinh dưỡng nên dù bón lượng cao 20 - 40 tấn/ha thì vẫn phải bón thêm các dạngphân vô cơ khác bổ sung để có thể đạt chất lượng cao và năng suất tốt (Nguyễn VănThắng và Trần Khắc Thi, 1996).

* Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây chậm

Dinh dưỡng trong phân hữu cơ chủ yếu là ở dạng vô cơ vì vậy để cung cấpcho cây trồng cần thiết phải thông qua hoạt động của các vi sinh vật để tạo thànhnhững hợp chất hữu cơ, vô cơ đơn giản hữu hiệu cho cây trồng (Võ Thị Gương vàTrần Bá Linh, 2002) Trên rau để sử dụng phân hữu cơ có hiệu quả thì cần chuẩn bịđất khoảng 3 tuần trước khi gieo hoặc cấy do phân hữu cơ có tác dụng chậm (Trần

Thị Ba và ctv., 2009).

* Chứa độc tố gây hại cây trồng

Theo Trần Thị Ba và ctv., (2009) thì không nên bón cho cây những vật liệu

chưa phân hủy, sẽ không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây mà còn gây ra nhữngbệnh phát sinh từ đất hư chết rạp cây con Ngoài ra trong quá trình phân hủy sẽ tạo

ra khí mêtan và do quá trình thối rửa của phân ủ, có vi khuẩn yếm khí sẽ tạo ra một

lượng lớn acid hữu cơ gây hại cho đất và cây trồng (Chu Thị Thơm và ctv., 2006).

1.4.4 Quy trình ủ phân hữu cơ

Tùy theo thời gian có nhu cầu sử dụng mà áp dụng phương pháp ủ phân thíchhợp để đảm bảo lượng phân dùng đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân

* Phương pháp ủ nóng

Khi lấy phân chuồng ra để ủ, phân được xếp thành từng lớp ở nơi có nềnkhông thấm nước, nhưng không đuợc nén Sau đó tưới nước lên phân, giữ ẩm trongđống phân 60-70% Có thể trộn thêm 1% vôi bột trong truờng hợp phân có nhiềuchất độn, trộn thêm 1-2% super lân để giữ đạm Sau đó trát bùn bao phủ ngoài đốngphân Sau 4-6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên 50-600C Các loài vi sinhvật phát triển nhanh và mạnh, trong đó vi sinh vật háo khí chiếm ưu thế hơn Do tậpđoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong đống phân tăng nhanh vàđạt mức cao Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật háo khí hoạt động mạnh cần giữcho đống phân tơi, xốp, thoáng (Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004)

Trang 21

* Phương pháp ủ nóng trước, nguội sau

Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp dày 0,8 – 1,0 m không nén chặt, tạo điềukiện phân trong điều kiện háo khí làm nhiệt độ lên cao Sau 3 – 4 ngày, nhiệt độ đạt

60 – 700C, chất hữu cơ bắt đầu phân hủy mạnh, thì nén cẩn thận lớp phân và tướinước để không khí không vào đống phân được Nhiệt độ trong đống phân hạ xuốngchỉ còn 30 – 350C Bước tiếp theo, xếp tiếp lớp phân khác lên trên lớp phân nêu trên

và làm lại như trên cho đến khi đống phân cao chừng 1,5 – 2,0 m thì dùng đất bùnhay rơm rạ phủ kín cho đến khi đem bón cho cây (Nguyễn Như Hà, 2006)

1.5 VAI TRÒ CỦA CÁC CHẤT ĐA LƯỢNG ĐẠM, LÂN VÀ KALI ĐỐI VỚI

CÂY TRỒNG

Theo Nguyễn Thanh Hùng (1984) đã tìm thấy rằng việc thâm canh tăng vụngày càng cao, đất đai ngày càng mất đi nhiều dưỡng chất thì phân hóa học lànguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho cây trồng như đạm, lân, kali và cần sử dụng

số lượng lớn Thiếu một trong ba dưỡng chất thì cây trồng đều không cho năng suấtcao

1.5.1 Vai trò của phân đạm

Đạm làm cho cây chóng xanh, thúc đẩy quá trình quang hợp của cây, kíchthích thân lá phát triển Đạm giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành các cơ quansinh vật, thành phần quan trọng trong các chất hữu cơ rất cơ bản và cần thiết cho sựsinh trưởng phát triển của cây như các chất diệp lục, axit nucleic, các loại men vàcác chất điều hòa sinh trưởng (Trung tâm Unessco, 2005)

1.5.2 Vai trò của lân

Lân có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và tổng hợp chấtprotein Lân là thành phần chủ yếu của các chất ADP và ATP là những chất dự trữnăng lượng trong quá trình sinh hóa trong cây, đặt biệt là quá trình quang hợp

Lân phát triển sự thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ cây, giúp cây tăng khả năngchống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường như rét, hạn, sâu bệnh Lân còn cótác dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm Theo Nguyễn Thanh Hùng (1984)lân là một chất dinh dưỡng quan trọng thứ hai, đứng sau đạm đối với các loại cây

Trang 22

trồng Tác dụng của lân đối với cây trồng chậm chứ không nhanh như đạm, chủ yếu

là giúp cho bộ rễ phát triển nhanh, nhiều và nhờ đó hút được nhiều nước và thức ăn

để nuôi cây nên cây cứng cáp, ít sâu bệnh

1.5.3 Vai trò của kali

Kali tham gia tích cực vào quá trình quang hợp, tổng hợp nên các chất gluxitcủa cây Kali làm tăng khả năng thẩm thấu nước ở tế bào khí khổng, giúp khí khổngđóng mở thuận lợi nên điều khiển sự khuyếch tán CO2 của quá trình quang hợp,đồng thời tăng khả năng sử dụng ánh sáng trong điều kiện thời tiết ít nắng

Hàm lượng kali trong đất biến thiên từ 0,2 – 4,0% K2O Nhiều loại đất trênthế giới có hàm lượng kali lớn hơn 1% (Lê Văn Căn, 1978) Đất nhiệt đới nói chungthấp hơn các vùng ôn đới, do cation K+bị đất hấp thu không chặt bằng những cationhóa trị 2 như Ca2+, Mg2+cho nên ion K+bị rửa trôi mạnh hơn (Đỗ Thị Thanh Ren,1999) Kali còn làm giảm tác hại của việc bón thừa đạm, chống chịu các điều kiệnbất lợi của cây như rét, hạn, úng, sâu bệnh

1.6 VAI TRÒ CỦA PHÂN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN 1.6.1 Một số khái niệm về rau

* Rau thường: theo Trần Thị Ba và ctv., (2008) là rau ăn có nguy cơ trúng

độc, rau khi đến tay người tiêu dùng thì các chỉ tiêu về chất lượng cao hơn mức chophép của tổ chức y tế thế giới (thuốc hóa học, nitrate, kim loại nặng và vi sinh vậtgây bệnh), rau trồng sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện

* Rau an toàn: những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại rau ăn lá, củ,

thân, hoa, quả) có chất lượng đúng như đặc tính của chúng, mức độ nhiễm các chấtđộc hại và các vi sinh vật gây hại không vượt quá chỉ tiêu cho phép, đảm bảo antoàn cho người tiêu dùng và nuôi trồng được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thựcphẩm, gọi tắt là “rau an toàn” (Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2008)

* Rau sạch: theo chuyên gia rau Châu Á Nguyễn Quốc Vọng (2002) thì rau

sạch là loại rau sản xuất theo quy trình công nghệ cao, hạn chế sử dụng hóa chấtnông nghiệp như các phương pháp thủy canh, bán thủy canh… (môi trường kiểmsoát được) Rau sạch là rau không chứa các yếu tố có thể gây ra bất kỳ một tác động

Trang 23

nào có hại đến sức khỏe của con người, động vật và môi trường Các yếu tố tácđộng đó có thể là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, nitrate, các kim loại nặng và các

vi sinh vật gây bệnh cho người và gia súc (Võ Mai, 1996)

1.6.2 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất rau an toàn

Làm giảm được lượng phân hóa học sử dụng để bón cho cây, nên giúp giảmthiểu được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và nitrate trong rau Theo kết quả được

tìm thấy bởi Trần Thị Ba và ctv., (2009) phân hữu cơ làm giảm hàm lượng nước

trong trái và có chiều hướng tích lũy chất khô, còn trên rau ăn lá sẽ có màu xanhsáng bóng, tăng độ dày của lá, lượng glucid trong rau tăng lên Trồng rau sạch sửdụng phân hữu cơ tại tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy: 94% mẫu rau có dư lượng thuốc bảo

vệ thực đạt tiêu chuẩn, 74% mẫu rau có hàm lượng nitrate đạt tiêu chuẩn (còn trồngtheo tập quán cũ chỉ có 14,2% mẫu rau đạt tiêu chuẩn) và 100% số lượng mẫu đạt

yêu cầu về vi sinh vật gây bệnh đường ruột trên rau (chủ yếu là E coli).

Giảm hàm lượng kim loại nặng: phức hợp hữu cơ - vô cơ trong đất giúp ngăncản khả năng đồng hóa kim loại của cây trồng, giúp cho các sản phẩm của nôngnghiệp trở nên sạch hơn (Vũ Tiến Khang và Lưu Hồng Mẫn, 2000)

1.6.3 Dư lượng nitrate

Dư lượng nitrate trong cây rau cũng đang là một trong những chỉ tiêu quantrọng đánh giá về sản phẩm và độ vệ sinh an toàn thực phẩm (Tạ Thu Cúc, 1994).Ngoài ra dư đạm còn làm giảm năng suất đáng kể vì: cây lớn nhanh, đẻ nhiều cànhnhánh phân cành nhiều, lá phát triển quá mức, thân non mềm, làm giảm khả năngchống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường, dễ sâu bệnh và đỗ ngã Về chấtlượng, rau tuy non, mềm nhiều nước như vị rau nhạt hơn, có khả năng tích lũynitrate ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng (Lê Văn Tri, 2002)

Theo quy định chung của thế giới, để được gọi là rau sạch, rau tươi phải cólượng nitrate (NO3) thấp vừa phải Nitrate khi vào cơ thể ở mức bình thường khônggây hại cho cơ thể, nhưng trong hệ tiêu hóa nitrate được khử thành nitric (NO2) làchất chuyển oxyhaemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành chất khônghoạt động được là methaemoglobin Nếu lượng nitrate vượt quá mức cho phép,

Trang 24

lượng nitric sẽ nhiều lên và làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến hoạt độngcủa tuyến giáp, gây đột biến và phát triển khối u dẫn đến bệnh ung thư (Trần KhắcThi, 2000) Việc tôn trọng quy định hàm lượng nitrate có trong rau sạch là rất quantrọng và cần thiết Nếu không kiểm soát được hàm lượng nitrate trong rau sẽ gây hạiđến sức khỏe của người tiêu dùng và của cả cộng đồng nói chung.

Trong hoạt động thương mại quốc tế, các nước nhập khẩu rau tươi đều phảikiểm tra lượng nitrate trước khi cho nhập Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và cộngđồng kinh tế châu Âu (EC) giới hạn hàm lượng nitrate trong nước uống là 50 mg/l,hàm lượng rau không quá 300 mg/kg rau tươi (Trích dẫn bởi Mai Thị Phương Anh,1996)

1.7 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN HỮU CƠ TRÊN RAU 1.7.1 Cây rau cần

Theo trung tâm Unessco (2005) thì lượng phân bón cho rau cần tùy vào chấtlượng bùn, mà có thể bón từ 20 - 25 tấn phân chuồng đã ủ hhoai kết hợp với 100 kgđạm + 100 kg kali cho một ha Sau khi cấy, đến lúc cây bén rễ thì rắc cho bếp phủkín mặt ruộng, nhằm chống rét và tăng cường chất dinh dưỡng cho rau

1.7.2 Cây bắp cải

Theo kết quả nghiên cứu Nguyễn Văn Hiền và ctv., (1995) lượng phân bón

thích hợp cho bắp cải không quá 450 kg urê, 300 kg super lân, 200 kg kali sunfat và

20 tấn phân chuồng Ở mức phân bón này đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, hàm lượng

NO-3 trong bắp cải (190,6 mg/kg) thấp dưới mức cho phép (500 mg/kg) Kết thúcbón phân trước khi thu hoạch khoảng 14 ngày là rất an toàn, như trên bắp cải năngsuất đạt được 40 tấn/ha thì cần lượng phân là 140 N, 52 P2O5và 72 K2O kg/ha CònTrần Khắc Thi (2000) cho rằng, cây cải bắp để đạt năng suất cao và giữ hàm lượngnitrate dưới 500 mg/kg, thì lượng phân cần thiết cho cây là 20 - 25 tấn phân chuồng

đã ủ hoai + 120 N, 90 P2O5và 120 K2O kg/ha

1.7.3 Cây rau muống

Theo Mai Thị Phương Anh (2006) rau là cây có thời gian sinh trưởng ngắnnhư lại cho khối lượng sản phẩm rất cao, từ 20 - 40 tấn/ha trên rau muống với lượng

Trang 25

phân 15 - 20 tấn + 150 N - 165 P2O5- 60 K2O/ha thì năng suất đạt được 20 - 30 tấn.Kết quả nghiên cứu Tô Như Ái và Lê Phú Duy (2006) cho thấy thì năng suất trungbình cao nhất ở mức phân 30 tấn phân hữu cơ vi sinh + 50 N - 40 P2O5- 20 K2O là11,63 tấn/ha, thấp nhất 7,83 tấn/ha, chỉ sử dụng phân vô cơ 100 N - 80 P2O5 - 40

K2O

1.7.4 Cây dưa leo

Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2002) trên cây dưa leo, sử dụnglượng phân 20 - 25 tấn phân chuồng/ha + 80 N - 90 P2O5 - 110 K2O, và đều kiệnchăm sóc tốt thì năng suất đạt được là 28 - 30 tấn/ha Còn kết quả của Lê MinhChiến và Nguyễn Đồng Tâm (2006) thì dưa leo sau 2 vụ thấy nghiệm thức 30 tấnphân hữu cơ vi sinh + 70 N - 48 P2O5- 40 K2O cho năng suất 29,2 tấn/ha, chiều dàidây chính 219,1 cm, tương ứng với số lá trên dây chính 28,8 lá, số trái/cây 10,1 trái,trọng lượng trái/cây 1,5 kg/cây Lượng nitrate giảm hơn so với nghiệm thức chỉ sửdụng phân vô cơ

Trang 26

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông nghiệp, Khoa Nôngnghiệp & Sinh Học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ

- Thời gian từ tháng 05-08/2009

2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn

Theo kết quả đo được ở bảng 2.1 thì nhiệt độ và ẩm độ trung bình đo được trongnhà lưới cao hơn so với bên ngoài trên lệch khoảng 3oC, nên không thuận cho việctrồng rau cần trong thời điểm này

Bảng 2.1 Nhiệt độ và cường độ ánh sáng đo được trong ngày tại trại Thực nghiệm

Nông nghiệp, Trường ĐHCT (ngày 20/07/2009)

Ghi chú:

Dưới cao su: nhiệt độ và cường độ ánh sáng đo được trong nhà lưới

Ngoài trời: nhiệt độ và ánh sáng đo bên ngoài nhà lưới

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm

- Giống rau cần nước đem trồng là 13 tấn/ha, được lấy từ huyện Phước Long,Tỉnh Bạc liêu

- Phân bón: Phân hữu cơ tự ủ, NPK 16-16-8, Ure, DAP, Vôi…

- Thuốc dưỡng: Decamon, ba lá xanh,

0

C) Cường độ ánh sáng (Lux)dưới cao su ngoài trời dưới cao su ngoài trời

Trang 27

- Thuốc trừ sâu bệnh: Abatin 1,8 EC, Antracol 70 WP, COC 85 WP, Dibonin

5 WP, Wish 25 SC…

- Vật liệu khác: máy bơm nước, lưới che, bình phun thuốc, nhiệt kế, máy đoánh sáng, thước cây, máy đo màu sắc, độ brix…

2.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4nghiệm thức là 4 liều lượng phân bón khác nhau, với 4 lần lặp lại

1/ 15 tấn phân hữu cơ (tự ủ) + phân vô cơ 60 N-60 P2O5-20 K2O kg/ha.2/15 tấn phân hữu cơ + phân vô cơ 120 N-120 P2O5-40 K2O kg/ha

3/ 120 N-120 P2O5-40 K2O kg/ha Chỉ sử dụng toàn phân vô cơ

4/ 30 tấn phân hữu cơ: toàn bộ (xác bả rau cần nước, phân bò, đã ủ hoai mục)được bón lót trước khi cấy và không sử dụng bất kì loại phân nào

Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm trên rau cần nước tại trại thực nghiệm Nông nghiệp,

Trường Đại học Cần Thơ (tháng 5-8/2009)

Trang 28

Diện tích mỗi ô: 2 m2

- Diện tích thí nghiệm: 52,64 m2

- Lượng giống trồng: 1,3 kg/m2

Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ và hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau

cần nước” tại trại thực nghiệm Nông nghiệp, Trường ĐHCT (tháng 5-8/2009)

Trang 29

2.2.2 Kỹ thuật canh tác

* Làm đất: ruộng được đắp bờ xung quanh, chia ruộng ra thành 16 lô nhỏ, nước

được tưới từng ô riêng biệt, đánh bùn, xử lí đất bằng vôi

* Chuẩn bị giống và cấy: giống được trồng ở vụ trước là 13 tấn/ha, với khoảng

cách bụi x bụi = 8-10 x 8-10 cm Chọn những cây sạch sâu bệnh, đồng đều về hìnhthái, thời gian sinh trưởng và loại bỏ cây xấu (khác biệt về chiều cao, hình dạng vàmàu sắc thân lá)

Sau 30 ngày chăm sóc thu lấy sản phẩm sau đó dưỡng gốc lên chồi, sau

25-30 ngày bắt đầu nhổ lên, loại bỏ chồi xấu, chọn những chồi sạch sâu bệnh, đồng đều

về hình thái rồi cấy lại

Hình 2.3 (a) làm đất trước khi cấy, (b) cấy rau cần nước tại trại thực nghiệm Nông

nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ (tháng 5-8/2009)

a

b

Trang 30

* Bón phân

Bảng 2.2 Lịch bón phân (kg/1000m2) (Công thức nguyên 120-120-40 kg/ha)

Ghi chú

1 Hữu cơ (30 tấn/ha) 3 Phân Vô cơ (120-120-40kg)

2 1/2 phân hữu cơ + phân Vô cơ 4 1/2 phân Hữu cơ + 1/2 phân Vô cơ

Với các nghiệm thức có chứa 1/2 lượng phân vô cơ thì lượng phân sử dụng là 1/2 lượng phân trên cho các lần sử dụng.

* Thời điểm và kỹ thuật bón phân.

Thời điểm bón phân: phân hữu cơ bón lót toàn bộ vào giai đoạn đầu trướckhi cấy, còn phân vô cơ, cách 7 ngày bón một lần Trước 10 ngày khi thu hoạch thìngưng bón phân

Kỹ thuật bón phân: cân phân hữu cơ và vô cơ từng ô thí nghiệm riêng, rồisau đó mới bón cho cây

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

* Điều kiện ngoại cảnh

- Ánh sáng: khảo sát sự biến động của ánh sáng trong ngày, sử dụng máy đo ánh

sáng Lux meter model DM-28 ánh sáng bên trong và bên ngoài nhà lưới vào ngàynắng tốt

Loại phân Lợng phân Bón lót

-Toàn bộ 50 15 - -

- 8 2 2

- 12 3 2,3

- 15 3,7 -

Trang 31

Nhiệt độ: khảo sát sự biến động nhiệt độ không khí bên trong và bên ngoài nhà

lưới vào ngày nắng tốt, treo nhiệt kế cách mặt đất 1m ở 3 vị trí bên trong nhà lưới

và một vị trí bên ngoài nhà lưới

* Ghi nhận tổng quan

- Ghi nhận khu thí nghiệm

- Ghi nhận ngày cấy và ngày thu hoạch

- Ghi nhận thời tiết

- Ghi nhận sự xuất hiện sâu bệnh hại chính trên rau cần

* Chỉ tiêu về sinh trưởng

- Mỗi lô cố định 2 khung (20 cm x 50 cm) để lấy chỉ tiêu Đếm số gốc trongkhung trước khi dưỡng chồi và đếm tổng số chồi trước nhổ cấy lại, đếm số câytrong khung lúc mới cấy và đếm số cây trong khung trước thu hoạch

- Chiều cao (cm) của chồi và tốc độ tăng trưởng chiều cao: chọn ngẫu nhiên

5 chồi trong mỗi khung, vuốt chồi thẳng đứng lên rồi dùng thước cây đo từ mặtruộng đến chót lá cao nhất của cây định kỳ 7 ngày/lần

- Kích thước lá: lấy lá lớn nhất của 5 chồi được chọn ngẫu nhiên từ khunglấy chỉ tiêu, rồi lấy trung bình, định kỳ 7 ngày/lần

Chiều dài lá: dùng thước đo từ đầu cuốn lá đến chót lá

Chiều dài phiến lá: dùng thước đo từ đầu phiến lá đến chót lá

Rộng lá: dùng thước đo ngang phiến lá nơi rộng nhất

- Đo diện tích lá: Chọn ngẫu nhiên 1 cây trên lô ở thời điểm thu hoạch rồi

đo toàn bộ số lá bằng máy Green leaf area meter Model GA-5 (Japan)

Trang 32

- Đường kính gốc thân: chọn ngẫu nhiên 5 cây trong mỗi ô lúc thu hoạch,dùng thước kẹp đo đường kính.

* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất

- Trọng lượng cây (g/cây): từ năng suất và mật độ cây trong lô, tính ratrọng lượng trung bình của từng cây

- Trọng lượng khô (%): rửa rau sạch rồi để cho ráo cân trọng lượng tươi.Sau đó cho vào bọc giấy rồi đem cân trọng lượng Mẫu được sấy ở nhiệt độ 600Ctrong 48 giờ và làm nguội trong bình hút ẩm và cân lại như trên cho đến khi trọnglượng không đổi

Trọng lượng khô (%) = - x 100

- Mật độ khi trồng: đếm tất cả các cây được trồng trong ô cố định

- Mật độ khi thu hoạch: đếm tất cả các cây mọc từ mặt đất lên không tínhchồi bên, trong cùng một ô đã đặt cố định ngay từ lúc mới trồng

- Tỷ lệ năng suất thương phẩm (%Ptp): từng lô, sau khi thu hoạch rau, lấyrau trong 2 khung, cân tổng trọng lượng Sau đó loại bỏ những lá bị hư và nhữngchồi không ăn được, dùng cân cân lại trọng lượng (g) thương phẩm (Ptp)

trọng lượng thương phẩm (Ptp)

%Ptp= - x 100

tổng trọng lượng trong khung

- Tỷ lệ năng suất không thương phẩm (%Pktp):

%Pktp= 100 - %Ptp

- Năng suất: từng lô, thu hoạch rồi cân trọng lượng

* Chỉ tiêu chất lượng sau thu hoạch

- Chất lượng sản phẩm (độ giòn, độ ngọt, thời gian bảo quản) và an toàn

thực phẩm (phân tích độ lưu tồn Nitrate, vi sinh vật gây bệnh đường ruột E coli,

Samonela, Coliform).

- Đo độ Brix của lá và thân (%): chọn ngẫu nhiên 3 cây trên lô sau đó loại

bỏ phần không ăn được, đem cắt nhỏ rồi nghiền lấy nước nhỏ vào brix kế đo

TL tươi

TL sấy

Trang 33

Ghi nhận độ giòn và độ ngon của rau: đưa một mẫu giấy có thang điểm 10, rồi cho

10 người dùng thử rau để lấy kết quả

2.2.4 Phân tích số liệu

Bằng chương trình MSTATC và hình vẽ bằng Microsoft excel

123

Rau không ngonRau ngon, có tiềm năng sản xuấtRau rất ngon, hấp dẫn người tiêu dùng

Trang 34

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT

Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới, nguồn nước tưới dồi dào, đấttrồng rau được vệ sinh, làm kỹ nên phần nào hạn chế được sâu bệnh và ít ảnh hưởngbởi điều kiện khí hậu bất lợi bên ngoài Giai đoạn đầu tháng 7, do gặp thời tiết mưabão kéo dài ở thời điểm 6 đến 14 ngày sau khi cấy, cây thiếu ánh sáng, nên rất còicọc, không phát triển tốt Nhiệt độ trung bình trong nhà lưới từ tháng 6-8/2009,

310C tương đối cao, ẩm độ trung bình cũng cao so với bên ngoài nhà lưới, nênkhông thuận lợi cho việc trồng rau cần nước trong vụ Hè thu này Trên rau cần thì ở

giai đoạn 16 ngày sau khi cấy (NSKC), thấy xuất hiện bệnh đốm lá (Cercospora

sp.) gây hại nặng, có thể là do nguồn giống lấy từ ngoài đồng ban đầu không sạchbệnh và điều kiện nhiệt độ cao trong nhà lưới so với bên ngoài (khoảng 2 – 30C)

Ở nghiệm thức sử dụng 30 tấn phân hữu cơ hoai mục, có hiện tượng kíchthước lá nhỏ và hơi ngã sang vàng, có thể là do cây bị thiếu đạm và lân, cho nênviệc sử dụng phân hữu cơ đơn thuần thì không đủ dinh dưỡng cung cấp cho cây,khả năng nảy chồi và chống chịu với bệnh đốm lá ở các nghiệm thức sử dụng phânhữu cơ tốt hơn so với nghiệm thức chỉ sử dụng phân vô cơ đơn thuần, nên năng suất

và phẩm chất của rau cần nước cũng cao hơn

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm