1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của PHÂN bón lá BAYFOLAN đến NĂNG SUẤT và THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT lúa TRÊN nền đất PHÙ SA tại THÀNH PHỐ cần THƠ vụ hè THU 2010

64 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Chứng nhận đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ BAYFOLAN ĐẾN THÀN

Trang 1

CẦN THƠ VỤ HÈ THU - 2010

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGS.TS NGUYỄN BẢO VỆ LÊ THẾ TRUNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Chứng nhận đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ BAYFOLAN ĐẾN THÀNH PHẦN

NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÙ SA

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ HÈ THU – 2010

Do sinh viên Lê Thế Trung thực hiện và đề nạp Kính mong Hội đồng xem xét và chấp nhận

Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2010

Cán bộ hướng dẫn

PGS.TS NGUYỄN BẢO VỆ

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ BAYFOLAN ĐẾN THÀNH PHẦN

NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÙ SA

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ HÈ THU – 2010

Được tiến hành từ tháng 4/2010 đến tháng 7/2010 do sinh viên Lê Thế Trung thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày tháng 12 năm 2010

Luận văn tốt nghiệp được đánh giá ở mức:

Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn:

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2010 TRƯỞNG KHOA NN & SHƯD Chủ tịch hội đồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

Lê Thế Trung

Trang 5

LỊCH SỬ CÁ NHÂN

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: Lê Thế Trung Giới tính: Nam Ngày tháng năm sinh: 05/07/1989

Nơi sinh: Mỹ Hương - Mỹ Tú - Sóc Trăng

Chỗ ở hiện tại: 122 Mỹ Đức - Mỹ Hương - Mỹ Tú - Sóc Trăng Điện thoại: 01683.352.832

0978.840.579 Email: thetrungst@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1.Tiểu học

Thời gian đào tạo từ năm 1995 đến năm 2000

Trường tiểu học Mỹ Hương A

Địa chỉ: Ấp Xóm Lớn -Mỹ Hương - Mỹ Tú - Sóc Trăng

2.Trung học cơ sở và trung học phổ thông

Thời gian đào tạo từ năm 2000 đến năm 2007

Trường THPT cấp II - III Mỹ Hương

Địa chỉ: Mỹ Hương - Mỹ Tú - Sóc Trăng

Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2010

Tác giả luận văn

Lê Thế Trung

Trang 6

LỜI CẢM ƠN Kính dâng

Cha mẹ đã hy sinh cả cuộc đời này cho con và đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho con ăn học đến ngày hôm nay

Xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến

PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ, người đã hết lòng hướng dẫn, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến xác thực góp phần hoàn chỉnh luận văn

Anh Phạm Đức Trí, người đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những lời khuyên và kinh nghiệm quý báo giúp hoàn chỉnh luận văn

Chị Bùi Thị Cẩm Hường đã tận tình hướng dẫn, chỉnh sửa cách trình bày luận văn

Chú Öt Chỉ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí thí nghiệm trên ruộng nhà

Trang 7

1.1.2 Sự cần thiết phải bón phân qua lá 2 1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng

đến việc sử dụng phân bón lá trên lúa 4 1.1.4 Một số hạn chế khi sử dụng phân bón lá 6 1.1.5 Các thành phần cơ bản của phân

bón lá Bayfolan và vai trò của các thành phần đó 7 1.2 CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN LÁ TRÊN

1.2.2 Cơ chế hấp thu dinh dưỡng qua lá 10 1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ

ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÖA 12

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN LÁ 13

2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 16

Trang 8

2.1 PHƯƠNG TIỆN 16 2.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 16

3.2 TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA LÖA 23

Trang 9

PHỤ CHƯƠNG

DANH SÁCH BẢNG

2.1 Thời kì và lượng phân bón trên ruộng lúa tại quậ Ninh Kiều - TP

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm phân bón lá Bayfolan 17 3.1 Ruộng lúa được bố trí thí nghiệm phát triển bình thường 22

3.2 Chiều cao cây lúa theo thời gian ở những nghiệm thức phun phân bón

lá Bayfolan vào các thời điểm khác nhau tại Cần Thơ 23

3.3 Số chồi lúa theo thời gian ở những nghiệm thức phun phân bón lá

Bayfolan vào các thời điểm khác nhau tại Cần Thơ 24

3.4 Trọng lượng ngàn hạt ở những nghiệm thức phun phân bón lá

Bayfolan vào các thời điểm khác nhau tại Cần Thơ 28

3.5 Tỷ lệ gạo trong hạt lép ở những nghiệm thức phun phân bón lá

Bayfolan vào các thời điểm khác nhau tại Cần Thơ 32

3.6 Năng suất lý thuyết lúa ở những nghiệm thức phun phân bón lá

Bayfolan vào các thời điểm khác nhau tại Cần Thơ 33

3.7 Năng suất thực tế lúa ở những nghiệm thức phun phân bón lá

Bayfolan vào các thời điểm khác nhau tại Cần Thơ 35

Trang 11

LÊ THẾ TRUNG, 2010 “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ BAYFOLAN ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT LÖA TRÊN ĐẤT PHÙ

SA TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ HÈ THU – 2010” Luận văn tốt nghiệp kỹ

sư Trồng trọt, khoa Nông nghiệ p và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN BẢO VỆ

TÓM LƯỢC

Phân bón lá là những hợp chất khoáng cần thiết được hòa tan vào nước và được cung cấp cho cây trồng bằng cách phun qua lá Việc sử dụng phân bón lá đúng loại, liều lượng và giai đoạn sẽ giúp cây trồng tăng năng suất và phẩm chất Hiện tại trên thị trường có rất nhiều loại phân bón lá sử dụng trên nhiều loại cây trồng khác nhau trong

đó có phân bón lá Bayfolan 11-8-6 Tuy nhiên việc sử dụng phân bón lá này trong giai đoạn nào là thích hợp nhất cho lúa vẫn chưa biết rõ Vì vậy đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ BAYFOLAN ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÙ SA TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ HÈ THU – 2010” nhằm tìm ra thời điểm phun phân bón lá Bayfolan đạt hiệu quả cao nhất Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại gồm 4 nghiệm thức: 1/ Đối chứng không phun; 2/ Phun một lần vào giai đoạn lúa tượng đòng; 3/ Phun 2 lần vào lúc trước

và sau trổ 7 ngày; 4/ Phun 3 lần vào lúc tượng đòng, trước và sau trổ 7 ngày Diện tích mỗi lô thí nghiệm là 200 m 2 , giống lúa IR50404, lúa được sạ tay với lượng giống 185

Trang 13

MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, lúa là loại cây trồng chính quan trọng nhất trong hệ thống canh tác nông nghiệp Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới, xuất khẩu 6,0 triệu tấn gạo/năm đã mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Việt Nam từ việc xuất khẩu gạo Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước, chiếm 52% diện tích, 52,6% sản lượng, 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước (Tổng cục thống kê, 2009) Trong đó lúa chiếm 99% diện tích cây lương thực và 99.7 % sản lượng cây lương thực của vùng (Đặng

Kiều Nhân và ctv., 2002)

Trong những năm gần đây, tình hình thiên tai, hạn hán xảy ra ngày càng nhiều và tình hình xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng Điều đó gây không ít khó khăn đến sản xuất Nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng lúa Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho ngành trồng lúa là làm thế nào để hạn chế thiệt hại và tìm giải pháp thích hợp để giải quyết những khó khăn trên Ngày nay, việc sử dụng các loại phân bón

lá ngày càng phổ biến đã mang lại hiệu quả tích cực giúp lúa tăng khả năng chống chịu, tăng năng suất và chất lượng hạt gạo Tuy nhiên, khi sử dụng phân bón lá phải đúng loại, liều lượng và giai đoạn phát triển mới đem lại hiệu quả cao

Vì vậy đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ BAYFOLAN ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT LÖA TRÊN ĐẤT PHÙ SA TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ HÈ THU - 2010” nhằm tìm ra thời điểm phun phân bón lá Bayfolan đạt hiệu quả cao nhất

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ PHÂN BÓN LÁ

1.1.1 Khái niệm về phân bón lá

Theo Vũ Cao Thái (2000) phân bón lá là một dạng phân hữu ích tác động nhanh chóng đến cây trồng đặc biệt sau khi gặp các điều kiện bất lợi như hạn, ngập úng, sâu bệnh làm tăng năng suất cây trồng đáng kể Phân bón lá là các hợp chất dinh dưỡng dùng hòa tan trong nước, phun lên lá cây trồng để lá cây hấp thu nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây Phân bón lá làm tăng năng suất, phẩm chất và

mẫu mã nông sản (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv., 2005)

Các loại phân bón qua lá là những hợp chất dinh dưỡng có thể là các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng được hòa tan trong nước và phun lên lá

để cây hấp thu, phun qua lá phát huy hiệu lực nhanh Tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 95% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi bón qua đất cây chỉ sử dụng 45-50% (Đường Hồng Dật, 2002) Nói chung, các loại phân bón lá là để bổ sung thêm thức ăn cho cây đặc biệt là vi lượng, để kích thích ra lá hoa nhanh hơn (Mai Văn Quyền, 2008) và giúp cây trồng mau chóng phục hồi sau khi gặp các điều kiện bất lợi như giúp tăng năng suất và phẩm chất cây trồng

1.1.2 Sự cần thiết phải bón phân qua lá

Khi đất có hàm lượng dưỡng chất khoáng không đủ cung cấp cho cây trồng hoặc có nhưng cây trồng không thể hấp thụ do các yếu tố bất lợi Khi đó việc phun phân bón qua lá sẽ giúp cây trồng hấp thụ nhanh đáp ứng kịp thời giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây trồng Ví dụ trong đất có pH cao và nhiều hữu cơ thiếu Mn có thể được khắc phục bằng cách phun phân bón lá có chứa (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

Trang 15

Khi sử dụng phân bón qua lá tỷ lệ dinh dưỡng cây sử dụng cao khoảng 95%

so với 45-50% bón qua đất (Đường Hồng Dật, 2002) Phân bón lá có thể thay thế được 30% phân bón qua rễ Trên đất phèn dù bón đủ NPK thì lúa vẫn không hấp thụ được tốt do rễ kém phát triển trong tầng canh tác Đôi khi phân bị bốc hơi nhanh hay bị rửa trôi do thời tiết Do đó cây lúa không thể hấp thu dinh dưỡng được Vì vậy cần phải bổ sung phân bón qua lá để đáp ứng nhu cầu cây lúa trong quá trình phát triển Phân bón lá giúp lúa đẩy nhanh quá trình ra rễ, đẻ nhánh và hình thành đòng (Nguyễn Thanh Bình, 2008) Đây là hình thức cung cấp thức ăn nhanh và hiệu quả

Sử dụng phân bón lá giúp gia tăng hàm lương tinh bột ở ngũ cốc lượng protein và chất lượng hạt có thể gia tăng nhanh chóng khi phun phân đạm qua lá ở giai đoạn sau Đạm cung cấp ở giai đoạn này nhanh chóng được chuyển vận hoặc chuyển vị từ lá tới hạt (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

Theo Lê Hoàng Kiệt và ctv (2005) phân bón lá giúp cho lúa hấp thụ nhanh

và hiệu quả các chất dinh dưỡng qua lá, và bổ sung các chất dinh dưỡng đặc biệt là

vi lượng trong các giai đoạn khủng hoảng của cây

Trong những khu vực bán khô hạn sự hữu dụng các chất dinh dưỡng trong đất sẽ giảm trong suốt quá trình sinh trưởng của cây trồng Trong điều kiện này việc bón dinh dưỡng qua lá có hiệu quả hơn so với bón phân vào đất (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

Sự giảm hoạt động ở rễ trong giai đoạn sinh sản đó là do sự cạnh tranh carbohydrate giữa rễ và bông phun dinh dưỡng qua lá có thể bù đắp sự thiếu dinh dưỡng này (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

Phân bón lá giúp cây trồng tăng năng suất và chất lượng Nghiên cứu của Rana và Sharma 1980 cho thấy phun 2 lần CuSO4 với nồng độ 0,025% trên nho làm tăng năng suất có ý nghĩa so với đối chứng với mức tăng 13,7% (Chu Thị

Thơm và ctv., 2006) Hay sản phẩm Bioted – 603 làm tăng năng suất lúa 11-17%,

Trang 16

sản phẩm HVP 1601 WP làm tăng năng suất lúa 23,5%, nhãn 18-39%, sản phẩm Botrac 10,9% làm tăng tỷ lệ đậu trái năng suất nhãn 74,1%, cam 69,2% (Vũ Cao Thái, 2000)

Ngoài ra, phân bón lá còn có tác dụng kéo dài thời gian tồn trữ nông sản sau thu hoạch bằng biện pháp sử lí tiền thu hoạch Phun K2CO3 nồng độ 2 g/l trên xoài Cát Hòa Lộc 5-6 năm tuổi vào thời điểm trái đậu trứng cá đến trước thu hoạch 2 tuần đã làm tăng năng suất phẩm chất trái và tồn trữ được thêm 2 ngày (Trần Thị Kim Ba, 2007) Sử dụng dưỡng chất CaCl2 và H3BO3 với nồng độ 2500 ppm đã làm tăng pectin, hemicellulose và cellulose trong thành phần vách tế bào của vỏ và thịt trái tại thời điểm thu hoạch làm chậm quá trình chín của trái quýt hồng (Phạm Thị Phương Thảo, 2009) Theo Phan Thị Lệ Thi (2009) sử dụng

H3BO3 100 ppm phun qua lá một tháng trước thu hoạch đã giúp màu sắc vỏ trái bóng sáng duy trì ổn định theo thời gian tồn trữ và vỏ trái cứng chắc hơn Tỷ lệ hao hụt trọng lượng và tỷ lệ nhiễm bệnh giảm, giúp vỏ trái giảm mất nước 4 tuần sau thu hoạch của trái quýt đường

1.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng phân bón lá trên lúa

độ là một yếu tố quan trọng trong việc hấp thu phân bón lá (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

* Tuổi lá

Tốc độ hấp thu dinh dưỡng qua lá thường bị giảm theo tuổi lá Có nhiều yếu tố gây ra sự giảm này như hoạt động biến dưỡng giảm (hoạt động của nơi

Trang 17

nhận dưỡng chất), tăng tính thấm của màng và gia tăng bề dày của lớp cutin trên

bề mặt lá (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Lớp cutin thấm nước khi lá non và không thấm nước khi lá đã già Vì vậy khả năng hấp thụ dinh dưỡng của lá

sẽ phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của lá Lá non sẽ hấp thu dinh dưỡng nhiều hơn lá già (Huỳnh Thị Chí Linh, 2008)

* Tình trạng dinh dưỡng cây

Phần lớn các chất dinh dưỡng được cây trồng hấp thụ qua rễ Việc cung cấp dinh dưỡng qua lá chỉ là thứ yếu trong các trường hợp khô hạn hay ngập úng cây trồng không thể hấp thu dinh dưỡng qua rễ Khi đó cây trồng bị kiệt quệ dinh dưỡng Trong các trường hợp này thì phun phân qua lá sẽ có hiệu quả hơn so với bón phân qua rễ Theo Phương Hiệp Oanh (2006) thì phun dung dịch gồm DAP và kali (tỷ lệ 4:1) nồng độ 1,5-2% kết hợp với phân bón lá Agrispon nồng độ 0,1-0,2% đã giúp vuờn cây ăn trái chống chịu tốt với điều kiện ngập lũ Tuy nhiên, phân bón lá không thể thay thế hoàn toàn 100% nhu cầu phân bón cho cây trồng Phân bón lá chỉ có thể đáp ứng khoảng 30% lượng phân bón qua rễ (Nguyễn Thanh Bình, 2008) Khi nồng độ dinh dưỡng trong cây thấp thì tốc độ hấp thu dinh dưỡng qua lá tốt hơn so với nồng độ cao

* Các yếu tố ngoại cảnh

Ánh sáng, ẩm độ, nhiệt độ: Các yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình quang hợp nhằm tạo ra carbohydrate Sự hấp thu dưỡng chất qua lá cao nhất khi ánh sáng thấp, ẩm độ cao, nhiệt độ tối hảo Ánh sáng càng cao làm cho lớp cutin và lớp sáp dày Nhiệt độ cao làm cho dung dịch phun qua lá mau khô dẫn đến việc hấp thụ dinh dưỡng giảm hiệu quả Ẩm độ cao làm cho dung dịch dinh dưỡng chậm khô

Ở cùng một nhiệt độ ẩm độ không khí thích hợp giúp cho sự thoát hơi nước ở lá

Trang 18

diễn ra bình thường Chính nhờ vào lớp hơi nước trên bề mặt lá cũng giúp cho việc hấp thu dinh dưỡng tăng lên (Huỳnh Thị Chí Linh, 2008)

Phân bón lá được hấp thu qua khí khổng Do đó, khi khí khổng bị đóng sẽ ảnh hưởng đến việc hấp thu dinh dưỡng của cây trồng Các yếu tố có thể làm đóng khí khổng gồm: ánh sáng quá mạnh, ẩm độ đất quá khô, nhiệt độ cao (Lê Văn Tri, 2001), vì vậy nên tránh phun phân bón lá trong những trường hợp trên để tăng hiệu quả sử dụng dưỡng chất

Trang 19

Vì vậy, khi sử dụng phân bón lá cần chú ý các vấn đề sau:

- Tránh phun trước và sau mưa vì khi phun trước khi mưa phân sẽ bị rửa trôi, còn khi phun sau mưa thì cây đã no nước nên giảm hiệu quả hấp thụ Không phun khi nắng nóng vì khi đó khí khổng đã đóng Hạn chế sử dụng áp suất cao vì

sẽ làm tổn thuơng lá (Lê Văn Tri, 2001)

- Không nên sử dụng phân bón lá trên cây đang ra hoa, lúc trời đang nắng

vì như vậy sẽ làm giảm hiệu lực của phân và làm rụng hoa quả Khi ẩm độ không khí thấp, đất bị hạn nặng không nên phun phân bón lá vì dễ làm rụng lá (Đường Hồng Dật, 2002)

Ngoài ra trong khi cây trồng đang bị nấm bệnh tấn công không nên phun phân bón qua lá vì như vậy sẽ làm cho nấm bệnh phát triển mạnh hơn

1.1.5 Các thành phần cơ bản của phân

bón lá Bayfolan và vai trò của các thành phần đó

Theo công ty Bayer Crop Science phân bón lá Bayfolan có tác dụng cân bằng bổ sung khoáng chất tinh khiết; tăng sức đề kháng đề kháng cho cây, sức sống hạt phấn hoa, khả năng đậu trái và chống rụng trái non Khoáng chất tinh khiết làm cho lá dễ hấp thụ, dễ sử dụng hấp thu nhanh an toàn cho cây trồng và người sử dụng Thành phần cơ bản của phân bón lá Bayfolan được trình bày qua Bảng 1.1

Bảng 1.1 Thành phần của phân bón lá Bayfolan

Trang 20

Cây lúa cần một lượng lớn đạm trong thời gian đầu (40 ngày sau sạ) để tạo

số bông tối đa Trong thời kì làm đòng và trổ, đạm làm tăng số hạt cũng như tỷ lệ hạt chắc Đạm làm cho lá xanh đậm tăng chiều cao và nẩy chồi khỏe (Phạm Sĩ Tân, 2000) Đạm là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Trong ba yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa (số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông và trọng lượng 1000 hạt) thì đạm ảnh hưởng nhiều nhất đến số bông trên đơn vị diện tích và cũng làm tăng số hạt

chắc trên bông (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000) Đạm là nguyên tố liên quan

mật thiết đến năng suất cây trồng Khi thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá vàng úa, hẹp, lùn, số lá, số chồi nhánh ít dẫn đến năng suất giảm (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Kali (K) là hợp chất của nhiều enzyme cần thiết cho quang tổng hợp và hô hấp và nó cũng hoạt hóa các enzyme cần để tạo tinh bột và protein (Lê Văn Hòa

và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Trên lúa, kali xúc tiến quá trình quang hợp, giúp cây hình thành và vận chuyển đường bột trong cây Tăng cường sự tạo thành các mô chống đỡ, làm cứng cây và tăng khả năng kháng bệnh (Phạm Sĩ Tân, 2000) Trong điều kiện thời tiết âm u thiếu ánh sáng kali giúp cây lúa quang hợp tốt hơn

(Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000) Ngoài ra kali còn có tác dụng kéo dài tuổi

thọ lá đòng ở giai đoạn sau trổ nên giúp cây lúa tăng khả năng quang hợp (Đinh Thế Lộc, 2006) Ngoài ra kali giúp lúa chịu hạn tốt hơn, tăng số hạt chắc trên bông

và làm cho hạt no đầy hơn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Ở lúa, kali là nguyên tố quan trọng nhất Cứ mỗi tấn thóc thu được lúa lấy đi 22-26 kg kali nguyên chất (K2O),

Trang 21

18-20 kg đạm nguyên chất (N), 4-6 kg lân nguyên chất (P2O5) (Mai Văn Quyền, 2008) Thiếu kali làm cho lá lúa mềm, yếu ớt, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đốm nâu, lá già rụi sớm

Lân (P) được xem như là thành phần cấu trúc của tế bào vì có vai trò quan trọng trong cấu trúc của AND, ARN và axit nucleic Bên cạnh đó lân còn có vai trò quan trọng trong sự vận chuyển năng lượng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Lân có tác dụng làm giảm độ bạc bụng của gạo, tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt giống sau thời gian bảo quản (Ngô Văn Phiếu, 2007) Trên lúa lân thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, nở bụi mạnh, nhiều hạt chắc và trổ tập trung (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Ngoài ra lân còn thúc đẩy hạt phát triển nhanh, chín sớm và nâng cao chất lượng hạt giống (Phạm

Sĩ Tân, 2000) Khi thiếu lân, cây lúa sẽ ốm, lá lúa chuyển sang màu xanh đen bẩn, nhỏ hẹp và ngắn, cây mảnh khảnh sinh trưởng chậm, số nhánh và hạt đều giảm (Nguyễn Công Vinh, 2008)

Kẽm (Zn) có chức năng như là thành phần kim loại của một loạt enzyme (hơn 80 loại enzyme đã được biết đến) (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Kẽm hoạt động như là thành phần kim loại của nhiều enzyme về cấu trúc, chức năng hoặc điều hòa vì vậy khi thiếu kẽm sẽ làm thay đổi quá trình biến dưỡng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Kẽm liên quan đến tạo ra auxin, kích hoạt nhiều phản ứng enzyme, liên quan chặt chẽ đến sự đồng hóa của đạm (Đinh Thế Lộc, 2006) Trong trường hợp thiếu kẽm nghiêm trọng mạ lúa cấy có thể chết hoặc lúa sạ thẳng không mọc (Yoshida, 1981)

Sắt (Fe) cũng giống như kẽm, đóng vai trò then chốt của các hệ thống enzyme Sắt không phải là thành phần của diệp lục tố nhưng rất cần cho sự sinh tổng hợp diệp lục tố (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Sắt có vai trò quan trọng trong các phản ứng oxi hóa – khử và hoạt hóa cho một số men (catalase, succinic, dehydrogenase và anconitase) Cây lúa thiếu sắt có thể hạn chế sự hấp thu của Kali biểu hiện cây lùn, ngắn lại, lá nhỏ hẹp (Nguyễn Công Vinh, 2008)

Trang 22

Khi thiếu sắt cây sẽ thiếu diệp lục tố, lá non sẽ có màu vàng nhạt (do sắt là nguyên

tố ít di động)

Bo (B) cần thiết cho sự phát triển và chuyên hóa của mô, Bo làm gia tăng

sự ổn định của tế bào và sinh sản của cây (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Bo còn có vai trò trong việc sinh tổng hợp màng tế bào, thành tạo nguyên sinh chất, cần thiết cho quá trình đồng hóa hydratecarbon, vận chuyển đường, sinh tổng hợp nucleotit và hô hấp Bo tác động chủ yếu đến sự ra hoa, tạo hạt phấn và hình thành trái, phát triển mô phân sinh, tăng khả năng chuyển hóa đường đơn thành đường đa (Nguyễn Thanh Bình, 2008) Ở lúa, khi thiếu Bo đỉnh lá lúa bị trắng và quăn lại, cây bị lùn đi nếu thiếu trầm trọng điểm sinh trưởng của cây có thể bị chết (Nguyễn Công Vinh, 2008)

Molipden (Mo) cây cần với số lượng rất ít Mo là thành phần của enzyme khử nitrate (nitrate reductase) Khi thiếu Mo đạm được hút vào cây nhưng không chuyển hóa thành ammonium mà tích lũy ở dạng nitrate gây độc cho cây (Nguyễn Công Vinh, 2008) Ngoài ra Mo còn hiện diện trong enzyme nitrogenase cần thiết

cho sự cố định đạm (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Đồng (Cu) có vai trò quan trọng trong quá trình quang tổng hợp biến dưỡng

protein và carbohydrate (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004) Khoảng 70% Cu được

tập trung trong diệp lục tố, có chức năng quan trọng trong sự đồng hóa (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Cu làm tăng chiều dày của nhu mô và giác mô, tăng khả năng chống đổ ngã, sâu bệnh và khả năng chịu phân đạm (Nguyễn Xuân

Trường và ctv., 2000) Cu còn có tác dụng điều hòa hoạt tính của các enzyme trên

cây lúa Thiếu Cu sẽ làm tăng tỷ lệ hạt phấn bất dục tăng tỷ lệ hạt lép và làm giảm

trọng lượng 1000 hạt (Nguyễn Đì nh Giao và ctv., 1997)

Trang 23

1.2 CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN LÁ TRÊN CÂY LÚA

1.2.1 Cấu tạo lá lúa

Một lá lúa điển hình bao gồm bẹ lá, phiến lá, lá thìa và tai lá Bẹ lá là phần đáy kéo dài cuộn thành hình trụ bao cả phần non của thân Phiến lá hẹp, phẳng và dài bẹ lá ở hơn tất cả các lá trừ lá thứ hai Lá thìa là vảy nhỏ, trắng hình tam giác giống như phần tiếp nối của bẹ lá Sự hiện diện của tai lúa thường được dùng để phân biệt giữa lúa với cỏ thược họ Hòa thảo (Yoshida, 1981)

Về cấu trúc, phiến lá được phủ bên ngoài bởi vách tế bào Vách tế bào bao gồm pectin, hemicellulose và cellulose và được phủ bên ngoài bởi một lớp sáp và cutin (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) do đó, việc hấp thu dưỡng chất qua lá lúa một phần bị hạn chế

Đặc biệt, lá lúa chứa nhiều silic (khoảng 60% silic được tập trung ở thân và lá) Silic làm tăng bề dày của vách tế bào giúp lúa chống chịu tốt với sâu bệnh hại, làm lá thẳng đứng giúp tăng khả năng quang hợp đồng thời giảm sự mất hơi nước qua lá giúp cây chịu hạn khỏe hơn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

1.2.2 Cơ chế tác hấp thu dinh dưỡng qua lá

* Hấp thu qua khí khổng

Theo Nguyễn Xuân Thành (2000) lá cây được quan sát bằng kính hiển vi cho thấy trên mặt lá có vô số lỗ hổng được gọi là các khí khổng Trung bình mỗi khí khổng có diện tích 100 micromet (dài từ 7-10 rộng từ 3-12 micromet) Đối với lúa số lượng khí khổng trên 1 mm2

lá là 47 (Lê Văn Tri, 2000) Từ các khí khổng này chất dinh dưỡng dễ dàng thấm qua

* Thông qua lớp cutin

Thông thường ở lá trưởng thành trở nên không thấm nước Tuy nhiên, ở những lá còn non nước và các chất hòa tan có thể xuyên qua dễ dàng Lớp cutin

Trang 24

không thấm nước chủ yếu là do nhóm lipid và polyester của acid béo có chứa nhóm OH Cấu trúc lớp cutin ở thức vật là không đồng nhất không có đặc tính hình thái và cấu trúc tiêu biểu nào của các loài thực vật Vì vậy, khả năng bám dính và giữ lại chất dinh dưỡng trên bề mặt lá phụ thuộc rất nhiều vào tính chất hóa học của lớp cutin (Huỳnh Thị Chí Linh, 2008)

* Thông qua vi rãnh Estodesmata

Sự di chuyển của những chất hòa tan ngang qua lớp cutin còn xảy ra ở những khe nhỏ gọi là estodesmata Estodesmata là một thành phần không thuộc về

tế bào chất và được xem như con đường thoát hơi nước đặc biệt Khe này bắt đầu

từ tế bào chất kéo dài và xuyên qua vách tế bào Khe nhỏ này nằm giữa vách tế bào và tế bào phụ cận Như vậy khe Estodesmata có tương quan tỷ lệ thuận với số lượng tế bào khẩu Bình thường những thực vật sống ngoài trảng số tế bào khẩu mặt trên ít hơn dưới, do đó, số lượng khe estodesmata ở mặt dưới nhiều hơn mặt trên Khi phun dinh dưỡng khoáng lên bề mặt lá thì dinh dưỡng khoáng sẽ bám dính vào, các chất dinh dưỡng sẽ được cây hấp thụ qua estodesmata (Huỳnh Thị Chí Linh, 2008)

Sử dụng các chất dinh dưỡng tinh khiết để bón qua lá là việc làm có nhiều hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn kĩ thuật Dưới tác động của các enzyme, phản ứng hóa học được tăng cường, các chất dinh dưỡng được phân hủy và thấm vào các tế bào, chỉ trong một thời gian rất ngắn chúng được dòng nhựa chuyển đi khắp nơi để nuôi cây Do đó trong một số trường hợp cây trồng thiếu nghiêm trọng một số chất dinh dưỡng cần thiết thì việc sử dụng phân bón qua lá sẽ có tác dụng nhanh và hiệu quả

Trang 25

1.3.2 Hấp thụ dinh dưỡng

Cây lúa sinh trưởng và phát triển trong điều kiện ngập nước Trong điều kiện như vậy các chất khoáng dễ bị mất do trực di hay chảy tràn Do vậy sẽ hạn chế một phần việc hấp thu dinh dưỡng khi bón qua rễ Đặc biệt, khi thiếu nước phân bón không thể hòa tan và bị bốc hơi nên cây trồng không hấp thu được

1.3.3 Quá trình si nh sản

Trong phân bón lá Bayfolan có chứa 0,02% Bo Bo cần thiết cho sự đảm bảo sức sống hạt phấn của lúa, tăng khả năng thụ phấn (Nguyễn Xuân Trường và

Trang 26

ctv., 2000) Bo thiết yếu đối với sự phân chia tế bào và quá trình thụ phấn (Chu Thị Thơm và ctv., 2006) Bo tác động chủ yếu đến sự ra hoa, tạo hạt phấn và hình

thành trái, phát triển mô phân sinh (Nguyễn Thanh Bình, 2008) Ngoài ra trong thành phần của phân bón lá còn có đạm, lân các nguyên tố tối cần thiết trong quá trình hình thành và phân hóa mầm hoa của lúa Bên cạnh đó Zn làm thành phần kích hoạt các enzyme trong các hoạt động trong quá trình sinh sản giúp các quá trình này diễn ra nhanh hơn

1.3.4 Năng suất lúa

Với các thành phần cơ bản của phân bón lá Bayfolan giúp cho cây lúa tăng khả năng hấp thụ và sử dụng dinh dưỡng hiệu quả, đồng thời ảnh hưởng tích cực tới giai đoạn sinh sản của lúa và các thành phần năng suất lúa

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN LÁ

Theo Vũ Cao Thái (2000) trong hai năm 1996-1997 phân bón lá Bioted 603 được viện lúa ĐBSCL, trung tâm nghiên cứu khoa học và khuyến nông Thành phố

Hồ Chí Minh, trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Long Định khảo nghiệm với kết quả: làm tăng năng suất lúa 11-17%, đậu nành 21%, xoài 37,5%, thanh long 35%, đặc biệt nhãn tăng năng suất 45% so với đối chứng không phun

Boron Ethanolamine 10,9% Bo được Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Hưng Lộc, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam thử nghiệm đã làm tăng năng suất nhãn 74,1%, cam 69,2%

và cà chua 15,8% so với đối chứng ( Vũ Cao Thái, 2000)

Kết quả thí nghiệm phân bón lá Krista-K (KNO3) trên lúa ở các tỉnh phía bắc do Viện Nghiên cứu Quốc gia về Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện năm 2000 với liều dùng 0,5% sử dụng vào giai đoạn cuối thời kỳ

đẻ nhánh và 2-3 ngày trước trổ đã làm tăng năng suất lúa lên 8-9% so với đối

chứng (Lê Hoàng Kiệt và ctv., 2005)

Trang 27

Theo Lê Văn Tri (2001) cho rằng các dẫn xuất của acid flattic có hiệu ứng rất rõ trong việc điều chỉnh ra hoa cái của cây dưa chuột khi dùng dung dịch muối dikali của acid flattic (flatat kali) ở nồng độ 0,5% phun cho cây thì tỷ lệ hoa cái có thể tăng 3-4 lần

Sử dụng KNO3 và K2CO3 phun qua lá 2 tuần/lần từ lúc trái đậu trứng cá đến trước khi thu hoach 2 tuần trên xoài cát Hòa Lộc 6 năm tuổi làm tăng năng suất 213% và 218% so với đối chứng, tăng độ cứng, lượng đường tổng số, hàm lượng tinh bột, hàm lượng chất thô, hàm lượng kali trong vỏ và thịt trái và đồng thời làm cho trái chín chậm hơn 3-5 ngày so với đối chứng (Mai Thu Hương, 2004)

Theo Lê Hoàng Kiệt và ctv (2005) sử dụng phân bón lá KristalonT M

Special 18-18-18 + 3MgO trên 2 vụ lúa Đông Xuân 2003-2004 và Hè Thu 2004 tại trại thực nghiệm nông nghiệp Đồng Tháp Mười với liều dùng 3-4 kg/ha vào lúc lúa tượng đòng và trước lúc trổ đã làm tăng năng suất lúa lên 6,55% so với đối chứng không phun Ngoài ra kết quả còn cho thấy phân bón lá KristalonT M

Special 18-18-18 + 3MgO còn làm tăng số bông trên m2, tăng tỷ lệ và số hạt vàng sáng và giảm số hạt lép

Phun Borax 1-2 g/l trên xoài Cát Hòa Lộc 5-6 năm tuổi lúc phát hoa dài 10

cm đã làm tăng sự nảy mầm của hạt phấn, phát triển chiều dài của ống phấn, làm tăng đậu trái 146-162% và làm tăng năng suất 139-158% Hay phun CaCl2 2 g/l kết hợp với chất bám dính Triton hoặc Tween nồng độ 2 ml/l phun 2 tuần/lần từ sau khi đậu trái đến trước khi thu hoạch 2 tuần tăng tỷ lệ đậu trái xoài 184%-204%

so với đối chứng (Trần Thị Kim Ba, 2007)

Theo Huỳnh Thị Chí Linh (2008) phun KNO3 nồng độ 2g K/l 2 lần/tuần trên xoài Châu Nghệ 12 năm tuổi từ khi đậu trái đến trước thu hoạch 2 tuần đã làm tăng số trái trên phát hoa 157,5% tăng năng suất 137,6%, tăng phẩm chất

Trang 28

trái, giúp trái chín chậm hơn 4 ngày so với đối chứng và tăng lợi nhuận 272.000 đồng/cây

Trung tâm nghiên cứu cây ăn trái Long Định đã khảo nghiệm trên một

số vườn sapô trong 2 năm 1996-1997 sử dụng phân bón lá F99 15-30-15 nồng

độ 15-20 g/8 lít nước; phun sau khi đậu trái định kì 10-15 ngày/lần đã làm tăng năng suất lên 24,6 - 29% so với đối chứng không phun (Trần Thế Tục, 2008)

Sử dụng CaCl2 nồng độ 5000 ppm làm tăng trọng lượng trung bình của trái quýt hồng ở thời điểm thu hoạch, giảm hao hụt trọng lượng trái trong tồn trữ, tăng

độ Brix của dịch trái tại thời điểm thu hoạch và cả trong bảo quản, tăng pH trong bảo quản ở điều kiện nhiệt độ phòng và làm tăng hàm lượng vitamin C của dịch trái tại thời điểm thu hoạch (Phạm Thị Phương Thảo, 2009)

Phun hỗn hợp vi lượng, Fe, Cu, Zn, Mn ở nồng độ 200 ppm trên cúc Đài Loan 15 ngày một lần đã giúp cho cây tăng chiều và tăng số hoa trên cây 130% so với đối chứng Khi phun cùng nồng độ nhưng với mật độ 5 ngày trên lần đã làm tăng đường kính hoa 114% so Đối với vạn thọ Pháp và hồng lửa phun hỗn hợp trên cùng nồng độ 5 ngày/lần làm tăng số hoa trên cây và đường kính hoa lần lượt

là 129-139% và 110-122% (Trần Thị Tuyết Ngọc, 2009)

Theo Thái Hoàng Phúc (2009) khi trồng xà lách TN102 sử dụng dinh dưỡng D (được pha ở bộ môn Khoa Học Cây Trồng) phun qua lá sẽ làm cho sinh trưởng, năng suất và phẩm chất tốt Dưa lê Kim Cô Nương khi phun dinh dưỡng qua lá Comcat 150 WP (công ty Hóa Nông Lúa Vàng) cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao (Ngụy Kim Yến, 2010)

Theo Nguyễn Quốc Thể (2010) sử dụng phân bón lá Tomato N (18%),

P2O5 (19%), K2O (30%) trên cà chua Cherry làm cho chiều cao thân chính tăng 53%, số trái trên cây tăng 64%, trọng lượng trái trên cây tăng 98%, năng suất tăng 97,4%, tỷ suất lợi nhuận gấp 2,08 lần so với đối chứng Ngoài ra, màu sắc, chất lượng trái cũng cao hơn so với đối chứng

Trang 29

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1 Địa điểm và thời gian

Thí nghiệm được bố trí trên nền đất phù sa chuyên trồng lúa tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Thời gian: từ tháng 4/2010 đến tháng 7/2010

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm

- Giống: sử dụng giống IR50404 lá xanh Đây là giống có thời gian sinh trưởng ngắn (85 ngày), cứng rạ, trổ bông tập trung trong thời gian ngắn, chống chịu phèn, kháng rầy nâu khá

- Dụng cụ: Khung dây chì, thước dây, bình phun thuốc 16 lít, cân đồng

hồ, cân điện tử, tủ sấy, máy đo ẩm độ

- Phân bón: DAP, Urê, phân hỗn hợp N-P-K (16-16-8 và 20-20-15),

- Phân bón lá Bayfolan N(11%), P2O5 (8%), K(6%), Cu (0,05%), Zn (0,05%), Mn (0,05%), Mo (0,0005%), Co (0,0005%), Fe (0,1%), Bo (0,02%)

- Thuốc bảo vệ thực vật:

+ Thuốc trừ cỏ Pyanchor 3 EC

+ Thuốc trừ bệnh Tilt super 300 EC, Nativo 750 WP, Vista 72.5

WP

+ Thuốc trừ sâu Basudin 10 H, Abamectin 5 EC

Trang 30

- Không phun phân bón lá (đối chứng)

- Phun phân bón lá Bayfolan 1 lần vào giai đoạn lúa tượng đòng

- Phun phân bón lá Bayfolan 2 lần

- Phun phân bón lá Bayfolan 3 lần

Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm phân bón lá Bayfolan

Nghiệm thức đối chứng chỉ phun nước (cùng thời điểm phun phân bón

Trang 31

Nghiệm thức 4 phun phân bón lá Bayfolan 3 lần, lần thứ nhất vào lúc lúa tượng đòng, lần thứ hai trước khi trổ 7 ngày, lần thứ ba sau khi trổ 7 ngày, liều lượng tương tự như nghiệm thức 2 và 3

2.2.2 Kỹ thuật canh tác

* Xử lý hạt giống

- Chọn giống cứng rạ để chống đỗ ngã, trổ bông tập trung trong thời gian ngắn để hạn chế sự không thụ phấn khi do gặp mưa bão, chống chịu phèn, kháng rầy nâu,

- Củng cố bờ vùng, bờ thửa, hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh

* Quản lý cỏ dại

- Sử dụng thuốc diệt cỏ Pyanchor 3 EC vào lúc 17 ngày sau khi sạ liều dùng 40 ml/16 lít nước 2 bình trên công (1200 m2), tương đương (0,7 lít/ha)

* Dặm và quản lí số chồi

- Khi lúa được 20 ngày tiến hành dặm những nơi lúa không lên hoặc bị

ốc bươu vàng, chuột phá hại, đảm bảo mật độ cây

* Quản lý nước

Trang 32

- Sử dụng hệ thống tưới tiêu dựa vào tự nhiên, khi nước lớn (những ngày triều cường) xả ống bọng cho nước tự chảy vào ruộng đến lúc nước ròng thì bịt lại và giữ mực nước trong ruộng khoảng 10-20 cm

- Xiết nước 10 ngày trước khi thu hoạch

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w