BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ -oOo- TRƯƠNG MINH TOÀN ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL LÊN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN 2 VỎ TRỒNG TRONG CHẬU LUẬN VĂN KỸ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-
TRƯƠNG MINH TOÀN
ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL LÊN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN 2 VỎ
TRỒNG TRONG CHẬU
LUẬN VĂN KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo-
TRƯƠNG MINH TOÀN
ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN 2 VỎ
LUẬN VĂN KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
SINH VIÊN THỰC HIỆN Trương Minh Toàn MSSV: 3087651
Trang 3Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL LÊN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN 2 VỎ TRỒNG TRONG CHẬU”
Do sinh viên TRƯƠNG MINH TOÀN thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
TS Lê Vĩnh Thúc ThS Bùi Thị Cẩm Hường
Trang 4
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL LÊN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÈ ĐEN Ô MÔN 2 VỎ TRỒNG TRONG CHẬU” Do sinh viên: Trương Minh Toàn thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày .tháng năm 2012 Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -
DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trương Minh Toàn
Trang 6
iv
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Ngày, tháng, năm sinh: 27/09/1989 Nơi sinh: Thốt Nốt
Quê quán: Thốt Nốt - Cần Thơ Dân tộc: Kinh
Con Ông: Trương Minh Bảo
Con Bà: Nguyễn Kim Phượng
Năm 1997 – 2001 học tại Trường Tiểu Học Thị Trấn Thốt Nốt I
Năm 2001 – 2005 học tại Trường Trung Học Cơ Sở Thốt Nốt
Năm 2005 – 2007 hoc tại Trường Phổ Thông Trung Học Thốt Nốt
Đã tốt nghiệp tại Trường Phổ Thông Trung Học Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt, Thành Phố Cần Thơ
Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2008, theo Ngành Trồng Trọt, khoá 34, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 7cô Bùi Thị Cẩm Hường đã tham gia cùng thầy Lê Vĩnh Thúc hướng dẫn em xử lý
số liệu và đóng góp ý kiến viết bài hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn cô cố vấn học tập Nguyễn Thị Xuân Thu, Thầy Phạm Văn Trọng Tính, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức mà quý thầy cô đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời
Gởi lời cảm ơn đến các anh chị và các bạn sinh viên làm đề tài ở Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng, và các bạn Trồng Trọt khoá 34 đã đóng góp, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trương Minh Toàn
Trang 8vi
MỤC LỤC
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
TÓM LƯỢC x
MỞ ĐẦU 1
1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY MÈ 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng 3
1.1.3 Đặc tính thực vật 3
1.2 Điều kiện ngoại cảnh 5
1.2.1 Nhiệt độ 6
1.2.2 Ánh sáng 6
1.2.3 Nước 6
1.2.4 Đất 7
1.2.5 Chất dinh dưỡng 7
1.3 Giống 7
1.4 Sâu bệnh hại quan trọng trên cây mè 7
1.4.1 Sâu hại 7
1.4.2 Bệnh 8
1.5 Vai trò của paclobutrazol 9
1.5.1 Đặc tính của Paclobutrazol 9
1.5.2 Một số ứng dụng của Paclobutrazol trên cây trồng 10
1.5.3 Ảnh hưởng bất lợi của Paclobutrazol 11
2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12
2.1 PHƯƠNG TIỆN 12
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 12
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 12
2.1.3 Hóa chất 12
2.1.4 Giống 12
2.1.5 Chậu thí nghiệm 12
2.1.6 Thiết bị và dụng cụ khác 13
2.2 PHƯƠNG PHÁP 13
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 13
2.2.2 Các chỉ tiêu thu thập 14
2.2.3 Cách tiến hành thí nghiệm 15
2.2.4 Phân tích kết quả 15
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 NHẬN XÉT TỔNG QUÁT 16
3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA MÈ 16
Trang 9vii
3.2.1 Chiều cao cây 16
3.2.2 Số lá 18
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA PACLOBUTRAZOL ĐẾN CÂY MÈ TẠI THỜI ĐIỂM THU HOẠCH 19
3.3.1 Chiều cao 19
3.3.2 số lá 20
3.3.3 Khoảng cách các lóng trên thân cây 21
3.3.4 Trọng lượng trái tươi 23
3.3.5 Đường kính trái 24
3.3.6 Trọng lượng trái khô trên cây 25
3.3.7 Trọng lượng lá khô 26
3.3.8 Số hạt trên trái 27
3.3.9 Trọng lượng 1000 hạt 28
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 29
4.1 KẾT LUẬN 29
4.2 ĐỀ NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ CHƯƠNG 33
Trang 10viii
DANH SÁCH BẢNG
3.1 Số lá của mè theo thời gian xử lý paclobutrazol với các
nồng độ khác nhau
18
3.2 Số lá trên cây mè sau khi xử lý paclobutrazol với các
nồng độ khác nhau tại thời điểm thu hoạch
3.5 Trọng lượng trái mè khô (g) trên cây (g) sau khi xử lý
paclobutrazol với các nồng độ khác nhau
3.8 Trọng lượng 1000 hạt mè (g) sau khi xử lý
paclobutrazol với các nồng độ khác nhau
28
Trang 11
2.3 Mè trồng trong chậu trước khi tỉa (a), sau khi tỉa (b) 15
3.1 Chiều cao (cm) của cây mè theo thời gian (ngày) sau khi
xư lý paclobutrazol với các nồng độ khác nhau
16
3.2 Chiều cao (cm) của cây tại thời điểm thu hoạch 19
3.3 Khoảng cách lóng dưới gốc (cm) tại thời điểm thu hoạch
sau khi xử lý paclobutrazol với các nồng độ khác nhau 21 3.4 Khoảng cách lóng giữa thân (cm) tại thời điểm thu hoạch
sau khi xử lý paclobutrazol với các nồng độ khác nhau 22
Trang 12mè Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức (DC, 100, 200, 300 và 400 ppm) với 5 lần lặp lại mỗi lần lặp lại 2 cây/chậu Kết quả thí nghiệm cho thấy: Phun paclobutrazol nồng độ 200 ppm chiều cao cây có xu hướng giảm dần theo sự sinh trưởng của cây nhưng lại không ảnh hưởng đến số lá Tại thời điểm thu hoạch: phun paclobutrazol ở nồng độ 200 ppm làm hạn chế chiều cao cây (141 cm) Ở nồng độ 400 ppm khoảng cách lóng dưới gốc (8,6 cm), khoảng cách lóng giữa thân (7,9 cm) so với đối chứng không phun Tuy nhiên, số lá, trọng lượng trái tươi, đường kính trái, trọng lượng trái khô trên cây, trọng lượng lá khô, số hạt trên trái và trọng lượng 1000 hạt lại không ảnh hưởng đến Nên phun paclobutrazol ở nồng độ 200 ppm tại thời điểm 28 ngày sau khi gieo để ức chế sự sinh trưởng của mè
Trương Minh Toàn, 2012 “Ảnh hưởng của paclobutrazol lên sinh trưởng và phát triển của cây mè đen Ô Môn 2 vỏ trồng trong chậu” Luận văn tốt nghiệp
kỹ sư Trồng Trọt, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS Lê Vĩnh Thúc và ThS Bùi Thị Cẩm Hường
Trang 13MỞ ĐẦU
Mè đen có phẩm chất tốt và hàm lượng dầu cao hơn mè vàng, hơn nữa mè đen có giá trị xuất khẩu cao hơn mè vàng Tại An Giang, trong lúc nông dân trồng lúa như “ngồi trên đống lửa” vì giá rớt thê thảm thì người trồng mè lại thắng lớn Với lợi thế tốn ít nước, dễ chăm sóc, chi phí đầu tư thấp, lợi nhuận cao,… mè có thể xem là loại cây trồng lý tưởng nhằm phá thế độc canh cây lúa, chuyển sang mô hình luân canh 2 lúa – 1 màu hoặc 2 màu – 1 lúa Đặc tính cây mè thường sử dụng ít nước, hạn chế sâu bệnh, rất thích hợp trồng thay thế lúa trong vụ hè thu Nếu như trước đây thu hoạch mè rất vất vả thì nay có thể áp dụng cơ giới hóa vào nhiều khâu như: kéo rãnh dẫn nước, gieo sạ, cắt, suốt, Để giúp cây mè sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng, nước hợp lý cho cây thì vấn đề
đỗ ngã cũng không kém phần quan trọng làm ảnh hưởng đến năng suất mè Trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiên nay gió, bão thất thường là nguyên nhân chính
làm cho cây dễ bị đỗ ngã Vì vậy: đề tài “Ảnh hưởng của paclobutrazol lên sinh trưởng và phát triển của cây mè đen Ô Môn 2 vỏ trồng trong chậu” được thực
hiện nhằm tìm ra nồng độ paclobutrazol thích hợp để ức chế sự sinh trưởng của mè
Trang 14
2
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÂY MÈ
1.1.1 Nguồn gốc
Cây mè có tên khoa học là (Sesamum indicum L.) (Hình 1.1), thuộc họ
Pedaliaceae; là cây hàng niên và là một trong những cây trồng cổ nhất thế giới Cây
mè có nguồn gốc từ Châu Phi (Vaughan & Geissler, 2009) Nhiều ý kiến cho rằng Eetiopi là nguyên sản của giống mè trồng hiện nay Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Persian mới là nguyên sản của các giống mè trồng Mè là loại cây có dầu được trồng lâu đời và được mệnh danh là vua của các loại dầu
(Shashidhara và ctv., 2011) Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di
về phía tây – vào Châu Âu và phía nam vào Châu Á dần dần được phân bố đến Ấn
Độ và một số nước Nam Á Trung Quốc Ấn Độ được xem như là trung tâm phân bố của cây mè (Bedigian, 2004) Ở Nam Mỹ, mè được du nhập từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms người
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) đem mè đi bán
Trang 151.1.2 Giá trị dinh dưỡng
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), cây mè có thành phần dinh dưỡng như
sau:
Mè có giá trị dinh dưỡng cao, trong hạt mè có chứa: 40-55% dầu, 19-20% Protein, 8-11% đường, 5% nước, 4-6% chất tro Thành phần axit hữu cơ chủ yếu của dầu mè là 2 loại acid béo chưa no sau:
Rễ mè là loại rễ chính ăn sâu Đồng thời hệ rễ bên của mè cũng rất phát triển
về bề ngang Rễ mè phân bố chủ yếu ở lớp đất từ 0-25 cm Do có rễ cái ăn sâu nên
mè có khả năng chịu hạn rất tốt Chiều sâu của rễ cái phụ thuộc nhiều vào ẩm độ đất Trên đất cát, rễ mọc tốt hơn trên đất sét và không chịu ngập trong thời gian ngắn Ở đất cát, vùng khô hạn, rễ cái có thể ăn sâu từ 1-1,2 m để tìm nguồn nướcngầm Độ ẩm cao, rễ không ăn sâu được và cây có thể bị chết nếu bị úng trong thời gian ngắn do rễ bị thối Đặc tính của rễ mè phát triển kém nên dễ bị đổ ngã khi có mưa to gió lớn Vì vậy khi trồng mè, chú ý phải vun gốc, xẻ rãnh để thoát nước (nhất là trồng vào mùa mưa)
* Thân
Thân mè thuộc thân thảo, thân thường có hình 4 cạnh với những tiết diện vuông và những rãnh dọc Tuy nhiên, có những dạng thân rất rỗng hình chữ nhật Thân có thể tròn, trên thân có nhiều lóng hoặc ít lóng Đặc tính này cũng để phân biệt giống Màu sắc của thân thay đổi từ màu xanh nhạt đến màu tím, phổ biến nhất
là màu xanh đậm Thân cao từ 60-120 cm Trong điều kiện hạn, thân có thể thấp
Trang 164
hơn, nhưng cũng có giống đạt đến 3 m Số lượng cành trên cây phụ thuộc chủ yếu vào giống, thường có khoảng 2-6 cành Cành mọc từ các nách lá gần gốc Mức độ phân cành thực sự là tốc độ sinh trưởng chung của cây, trực tiếp bị ảnh hưởng của môi trường mật độ, lượng mưa, độ dài ngày Các dạng thân ngắn đâm cành ít thường chín sớm, cây cao thường chín trễ và có khuynh hướng chịu hạn khá hơn Các giống dài ngày thường phát triển chậm ở giai đoạn cây con, nhưng tăng trưởng nhanh ở giai đoạn sau
* Cành
Xuất phát từ thân chính, cành có thể mọc cách hay mọc đối nhau, cành sẽ mang hoa và trái, trên các cành chính còn có cành cấp hai Sự phân cành trên thânchính cũng là một yếu tố để phân biệt các giống mè, thường màu của cành trên thân giống như thân chính
* Hoa
Hoa mè thuộc hình chuông Cuống hoa ngắn, tràng hoa gồm 5 cánh hợp thành hình chuông Đài hoa màu xanh, 5 cánh cạn Ống hoa dài 3-4 cm Hoa mọc ở nách lá thành chùm Mỗi chùm có 4-8 hoa Nhị đực 5 nhưng có 1 bất dục Bầu nhụy nằm trên đài hoa, có 2 ngăn với nhiều vách giả Hoa màu trắng lúc thân non có màu xanh, hoa màu tím có thân màu tím đến khi thân hóa gỗ thì có màu xanh Mè có thể
Trang 17tự thụ hay thụ phấn do côn trùng, do vậy tỉ lệ thụ phấn chéo khá cao Nên trong công tác giống cần chú ý trồng cách ly, để đảm bảo giống được thuần
* Trái
Trái là một loại quả nang, tiết diện hình chữ nhật, có rãnh sâu, có đầu nhọn hình tam giác ngắn Hình dạng của trái cũng là một yếu tố để phân biệt giống Chiều dài trái thay đổi từ 2,5-8 cm, đường kính trái thay đổi từ 0,5-2 cm số vách ngăn từ 1-12, trái thường có lông tơ bao phủ Trái mở ra bằng cách chẻ dọc vách ngăn từ trên xuống Mức độ mở trái là đặc tính quan trọng khi chọn giống để trồng cho phù hợp với điều kiện thu hoạch Chất lượng của trái cũng khác nhau tùy vị trí đóng quả Thường quả ở vị trí thấp, có hạt lớn hơn ở vị trí cao
* Hạt
Hạt mè là hạt song tử diệp Cấu tạo hạt có nội phôi nhũ Hạt mè nhỏ thường
có hình trứng hơi dẹp trọng lượng 1.000 hạt từ 2-4 g Vỏ láng hoặc nhăn màu đen, trắng, vàng, nâu đỏ hay xám, cũng có hạt màu xám nâu, xanh olive và nâu đậm Hạt
mè tương đối mảnh và chứa nhiều dầu, do đó dễ mất sức nảy mầm sau thu hoạch Một số giống mè có tính miên trạng kéo dài đến 6 tháng sau khi thu hoạch Giống
có trái nhiều khía thì hạt nhỏ hơn giống có trái ít khía
1.2 Điều kiện ngoại cảnh
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), điều kiện ngoại cảnh cho cây mè như
sau:
Nhiệt độ trung bình thích hợp khoảng 25-300C Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và sự phát triển quả vào khoảng 28-320C Mè là cây ngày ngắn Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ/ngày sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của mè Mè sẽ ra hoa sớm hơn 15-20 ngày trong điều kiện tự nhiên (12 giờ/ngày) Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, mè cần khoảng 200-300 giờ nắng/ tháng cho tới khi trái chín Nước là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất mè Mè ít cần nước mưa, mè cho năng suất cao ở lượng mưa 500-650
mm Trong điều kiện có tưới tổng lượng nước cần lên tới 900-1.000 mm Độ ẩm đất
Trang 186
thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của mè khoảng 70-80%
Mè phát triển được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng phát triển tốt nhất là trên
loại đất phì nhiêu, thoát thuỷ tốt Mè thích hợp trên đất có pH = 5,6-8,0
1.2.1 Nhiệt độ
Cây mè có nguồn gốc nhiệt đới Tổng tích ôn của mè khoảng 2.7000C cho thời gian sinh trưởng 3-4 tháng, nhiệt độ trung bình thích hợp khoảng 25-300C Nhiệt độ thích hợp cho sự nở hoa và sự phát triển quả vào khoảng 28-320C Nếu nhiệt độ dưới 200C kéo dài thời gian nảy mầm Nhiệt độ dưới 180C sẽ gây khó khăn cho sự phát triển và nếu nhiệt độ dưới 100C cây ngừng phát triển và chết Nhiệt độ cao trên 400C vào thời gian ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh, tăng tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số hoa
1.2.2 Ánh sáng
Mè là cây ngày ngắn Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ/ngày
sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của mè Mè sẽ ra hoa sớm hơn 15-20 ngày trong điều kiện tự nhiên (12 giờ/ngày) Cường độ ánh sáng, số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của mè Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, mè cần khoảng 200-300 giờ nắng/tháng cho tới khi trái chín
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy : Cường độ ánh sáng trong thời gian kết quả đến khi chín 28.000 lux thích hợp nhất cho quá trình hình thành dầu Hàm lượng dầu trong hạt giảm 8% nếu cường độ ánh sáng giảm xuống 7.000 lux
1.2.3 Nước
Là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất mè Mè tương đối chịu hạn nhưng cho năng suất thấp, khi đất có ẩm độ dưới 70% Mè ít cần nước mưa, mè cho năng suất cao ở lượng mưa 500-650 mm Trong điều kiện có tưới tổng lượng nước cần lên tới 900-1.000 mm Mè yêu cầu lượng nước phân bố đều trong vụ: Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 34% ; thời kỳ ra hoa kết quả 45% và thời kỳ chín là 21% Độ ẩm đất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của mè khoảng 70-80%
Trang 19kg 20-20-15 đầu trâu, 30 kg KCl (Phạm Đức Toàn, 2008)
1.3 Giống
Có khoảng 30 loài khác nhau, nhưng loại được trồng phổ biến là mè
trắng (Sesamum indicum L.), và mè đen (Sesamum orientale L.) (Phạm Đức Toàn,
2009) Tùy theo mục đích sau thu hoạch để chọn giống trồng
1.4 Sâu bệnh hại quan trọng trên cây mè
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2011), sâu bệnh hại trên cây mè như sau:
1.4.1 Sâu hại
* Rầy xanh (Amrasca devestans): Rầy chích hút làm ảnh hưởng đến chất
lượng hạt, rầy thường xuất hiện từ khi cây có hoa đẻ trứng vào mô lá, rầy non chích hút dịch làm cây suy yếu, không phát triển, rụng nụ và trái non,trái già thì hạt bị lép nhiều, khi mật số cao sẽ làm cháy lá
* Sâu sừng (Acherontia spp): Sâu non thích ăn lá, đặc biệt là lá non, làm ảnh
hưởng đến sự phát triển của cây
* Sâu vẽ bùa (Ophiomyza phaseolii): Trứng được đẻ trên lá non, ấu trùng nở
ra đục ngoằn ngoèo trên phiến lá sau đó qua cuống và vào thân; nếu nhiễm nhẹ làm chết nhánh, cây chậm phát triển; nặng làm chết cây
* Sâu xanh da láng (Spodotera exigua): Sâu non tập trung ở mặt dưới lá, ăn
chất xanh của lá chỉ để lại màng biểu bì Sâu trưởng thành ăn toàn bộ lá chỉ chừa lại gân lá, sâu ăn theo từng lá bất kể là lá non hay lá già, ăn cả ngọn, đục vào trái
Trang 208
* Sâu xanh có lông (Heliothis armigera): Sâu đục thủng trái, sâu đục đến đâu
đùn thân đến đó, một nửa thân thường ở bên ngoài trái
* Bọ xít xanh (Nevara viridula): Thường xuất hiện vào giai đoạn cuối của mè
từ khi mè hình thành trái non trở đi, nó có thể xuất hiện ở mật độ cao và gây hại nặng, cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút trái non làm hạt bị lép hoặc không no đầy, giảm phẩm chất
1.4.2 Bệnh
* Bệnh héo cây con (Pythium spp., Rhizoctonia sp., Fusarium sp.): Bệnh có
thể xuất hiện rất sớm từ lúc cây còn nhỏ đến khi cây được thu hoạch, nhưng nếu xuất hiện ở giai đoạn cây con sẽ gây thiệt hại nhiều hơn Triệu chứng bệnh là ngay gốc thân xuất hiện vết úng, sau đó teo tóp lại làm cây bị ngã ngang nhưng lá vẫn còn xanh sau đó mới bị héo lại Trên gốc thân vỏ cây có màu nâu đen có sợi nấm, hạch của nấm gây bệnh Rễ bị thối và có màu nâu đỏ
* Bệnh thối gốc (Fusarium spp, Sclerotium): Thường xuất hiện sớm, cây bị
vàng héo từ các lá dưới lan dần lên trên,quanh gốc có đốm nâu lõm vào, gặp điều kiện thuận lợi xuất hiện hạch nấm trắng rồi chuyển sang nâu
* Bệnh đốm lá (Phythopthora spp): Vết bệnh đầu tiên là chấm nhỏ màu xám
xanh xuất hiện trên phiến lá, cuống lá hay đốt thân sau đó lan rộng có đường kính
2-3 cm, trên vết bệnh có nhiều vòng đồng tâm xung quanh, nhiều vết bệnh lá có thể liên kết nhau làm toàn bộ lá chết, nếu bệnh tấn công trên cuống lá có thể làm cho lá
bị gãy gục Trên cây có nhiều lá bệnh có thể làm chết cả cây
* Bệnh đốm phấn (Oidium spp): Bệnh gây hại chủ yếu vào giai đoạn mè ra
bông kết trái trở về sau Vết bệnh là những đốm trắng do các bào tử phát triển tạo thành, vết bệnh có thể gặp trên thân, lá; chủ yếu trên các lá già trên ruộng trồng mật
độ cao, gần vườn có nhiều bóng râm Bệnh gây hại nặng nhất trong mùa mưa Bênh gây hại cả 2 mặt lá Cây bị nhiễm nặng sinh trưởng bị đình trệ do khả năng quang hợp kém
Trang 211.5 Vai trò của paclobutrazol
Pacobutrazol (PBZ) có tên khoa học là dimethylethyl-2-(1H-1,2,4-triazol-1-yl) pentan-3-ol và công thức hóa học tổng quát
(2RS,3RS)-1-(4-chlorophenyl)4,4-là C15H20ClN3 (Hình 1.2) PBZ là chất cản sinh trưởng thuộc nhóm triazol, có hoạt tính cao
Hình 1.2 Công thức hóa học của Paclobutrazol
1.5.1 Đặc tính của Paclobutrazol
PBZ là chất lưu dẫn có thể được mang lên bằng rễ, đi xuyên qua lỗ thân hoặc
cả tế bào chết PBZ di động trong mô xylem và di chuyển lên bằng sự thoát hơi nước (Charler, 1987) Khi hòa tan vào dịch gỗ, PBZ sẽ đi qua từng đoạn thân Trên cây bơ, Zikah & David (1991) nhận thấy PBZ có thể được hấp thụ bởi hầu hết các
bộ phận của tán cây, rễ và được vận chuyển chủ yếu đến cơ quan sinh trưởng dinh dưỡng, nơi mà nó tác động làm chậm quá trình sinh trưởng Ngăn cản quá trình sinh tổng hợp GA và làm chậm tốc độ phân chia tế bào, làm cho thực vật trở nên già cỗi hơn làm gia tăng việc sản xuất hoa và nụ trái
Hợp chất triazole làm giảm sự sinh trưởng cây bằng cách oxy hóa microsome của laurene, kaurenol và kaurenal Những chất này được xúc tác bởi kaurene oxidase là enzyme cytochrome P-450 oxidase Ngoài ra chúng còn ức chế sinh tổng
Trang 2210
hợp sterol như làm giảm ABA, ethylene và IAA nhưng lại tăng hàm lượng cytokinin
1.5.2 Một số ứng dụng của Paclobutrazol trên cây trồng
Khi nghiên cứu tác động làm chậm sự sinh trưởng của PBZ lên cây táo,
Wang và ctv (1986) nhận thấy rằng khi phun PBZ lên lá ở nồng độ 333 ppm và
quét lên thân ở nồng độ 75 g/l thì không có ảnh hưởng đến thành phần polysaccharide của vách tế bào trong năm đầu nhưng ở năm tiếp theo thì thành phần polysaccharide của vách tế bào bị biến đổi và làm ức chế sự tăng trưởng của chồi Khảo sát thành phần polysaccharide của vách tế bào tác giả thấy rằng xử lý PBZ làm tăng tỉ lệ rhamnose, arabinose và acide galactoronic nhưng giảm cellulose và tỉ
lệ của chất trong xylem/libe giảm Trên cây táo con khi được xử lý PBZ ở nồng độ 0,1 mM bằng cách nhúng trong một phút (ngoài trừ phần rễ) 7 ngày trước khi chịu
sự khô hạn (water stress) Wang & Steffens (1985) nhận thấy tỷ lệ mất nước của cây được xử lý PBZ chậm hơn, làm giảm sự tổng hơp ethylen, giảm 44% putrescine và 38% spermidine nội sinh Từ kết quả này tác giả cho rằng PBZ có tác dụng làm giảm sự tổng hơp ethylen ngăn cản sự gia tăng của các chất poliamine tự do sinh ra
do sự khô hạn của putrescine và spermidine Khi xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất
ở liều lượng 2,5 g a.i trên cây làm giảm sức mạnh của cây xoài khoảng 50% so với đối chứng Tác động PBZ đã làm tăng hàm lượng phenolic trong chồi ngọn làm tăng tỉ lệ mô gỗ trên mô libe trong thân, làm giảm hàm lượng ABA nội sinh và mức
độ cytokinin hoạt động (Iyer & Kurian, 1992)
PBZ tác động làm tăng tỉ lệ ra hoa và đậu trái dẫn đến tăng số trái trên cây
Theo Sergent và ctv (1997) khi xử lý PBZ trên cây xoài Haden 5 năm tuổi ở liều
lượng 15 g a.i trên cây, kết quả đạt được năng suất rất tốt và giảm được hiện tượng
ra trái cách năm trên cây xoài này Vuillaume (1991) cũng ghi nhận khi tưới gốc với liều lượng 16 g a.i trên 3 gốc xoài Keitt, Brooks & Lippens đã làm tăng số trái trên cây nhưng không làm giảm kích thước trái
Trang 231.5.3 Ảnh hưởng bất lợi của Paclobutrazol
Nhiều tác giả cũng quan tâm đến sự bất lợi khi xử lý PBZ liên tục trong nhiều năm, Rowly (1990) nhận thấy chiều cao cây vải giảm sau 19 tháng xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất Winston (1992) cho thấy rằng năng suất có khuynh hướng giảm nếu áp dụng liên tiếp hai năm liền ở cùng nồng độ Theo Buronkar & Gunjate, (1993), áp dụng tưới PBZ vào đất liên tục trong ba năm liền ở liều lượng 5 và 10 g a.i trên xoài 16 năm tuổi làm giảm tỉ lệ ra đọt (5,12% so với 48% ở nghiệm thức đối chứng), chiều dài chồi mới xuất hiện ngắm hơn so với đối chứng (12,2 và 11,3 cm
so với 19,5 cm) Theo Werner (1993) trên giống xoài Blanco 1,5 tuổi xử lý PBZ bằng cách phun lên lá ở nồng độ 750, 1125 và 1500 ppm hay tưới vào đất ở nồng độ
750, 1500 và 2250 mg/cây, tất cả nghiệm thức đều làm giảm kích thước lá Đồng thời, tác giả cũng nhận thấy việc xử lý PBZ bằng cách tưới vào đất làm ảnh hưởng đến hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá, trong đó, chất P, K và Cu giảm nhưng
N, Ca, Mn và Zn thì lại tăng
Qua thí nghiệm xử lý PBZ bằng biện pháp tưới vào đất với liều lượng 8 g a.i/cây, phun lên lá ở nồng độ 1000 ppm dưới điều kiện có và không che phủ mặt líp
và tiêm vào thân với liều lượng 400 mg/cây xoài Nam Dok Mai Subhadrabanhuet
và ctv (1999) nhận thấy PBZ không lưu tồn trong đất nếu xử lý bằng phương pháp
tiêm vào thân hoặc phun lên lá mà có che phủ mặt líp, trong khi đó PBZ lưu tồn trong đất 3 tháng khi phun lên lá mà không che phủ mặt líp và 11 tháng đối với phương pháp tưới vào đất Về sự lưu tồn của PBZ trong lá, kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng mức độ lưu tồn của hóa chất cao nhất khi phun lên lá trong khi phương pháp tưới vào đất và tiêm vào thân thì mức độ lưu tồn rất thấp và tác giả không tìm thấy có sự lưu tồn của hóa chất trên trái xoài qua tất cả các biện pháp xử
lý
Trang 2412
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Hóa chất paclobutrazol (Trung Quốc)
Phân: phân Urê 46% N, KCl, lân
Trang 252.1.6 Thiết bị và dụng cụ khác
Thước đo (cm): đo chiều cao cây, dài thân, đường kính trái
Cân điện tử: (CP3202S) cân trọng lượng 1000 hạt, sai số 0,01 (Hình 2.2)
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm của cây mè
Chú thích: DC: chậu đối chứng, 2: chậu xử lý nồng độ 100 ppm, 3: chậu xử lý nồng độ 200 ppm, 4: