1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của NAPHTHALENE ACETIC ACID đến số HOA LƯỠNG TÍNH và 2,4DICHLOROPHENOXY ACETIC ACID đến sự RỤNG TRÁI TRÊN NHÃN XUỒNG cơm VÀNG tại HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

55 184 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG --- o0o --- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài Ảnh hưởn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

ĐẾN SỰ RỤNG TRÁI TRÊN

NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG (Dimocarpus longan Lour.)

TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Cán Bộ Hướng Dẫn: Sinh Viên thực hiện:

PGS.TS TRẦN VĂN HÂU HUỲNH PHƯỚC TÍNH

Lớp: Trồng Trọt K33

Cần Thơ, 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

HUỲNH PHƯỚC TÍNH

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA NAPHTHALENE ACETIC ACID ĐẾN

SỐ HOA LƯỠNG TÍNH VÀ 2,4-DICHLOROPHENOXY

ACETIC ACID ĐẾN SỰ RỤNG TRÁI TRÊN

NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG (Dimocarpus longan Lour.)

TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Do sinh viên Huỳnh Phước Tính thực hiện Kính trình lên hội đồng chấm luận văn

tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010

Cán bộ hướng dẫn

PGS TS TRẦN VĂN HÂU

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

- o0o -

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài Ảnh hưởng của Naphthalene Acetic Acid đến số hoa lưỡng tính và

2,4-Dichlorophenoxy Acetic Acid đến sự rụng trái trên nhãn nhãn Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus longan Lour.) tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp Do sinh viên HUỲNH PHƯỚC TÍNH thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày

tháng năm 2010 Luận văn được hội đồng đánh giá ở mức:

Ý kiến hội đồng:

Trang 5

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

- -

- Sinh ngày 21 tháng 12 năm 1988 Dân tộc: Kinh

- Nơi sinh: Trà Ôn – Vĩnh Long

- Họ và tên Cha: Huỳnh Văn Hội

- Họ và tên Mẹ: Lý Huỳnh Yến

Trang 6

Thành kính biết ơn

Thầy Trần Văn Hâu đã dành nhiều thời gian quý báo hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thưc hiện và hoàn thành luận văn này Thầy cũng chính là người nâng đỡ dẫn dắt em suốt bốn năm dài trên con đường đại học

Thầy Bùi Văn Tùng và tất cả các Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng nhất là các Thầy Cô bộ môn Khoa Học Cây Trồng đã giúp đỡ và truyền đạt nhiều kinh nghiệm và kiến thức bổ ích cho em trong suốt những quãng thời gian ở giảng đường đại học

Chân thành cảm ơn

Anh Phan Xuân Hà, anh Phạm Văn Trọng Tính, anh Nguyễn Trọng Cần các Anh Chị Bộ môn Khoa học Cây Trồng đã giúp đỡ em, chỉ dẫn cho em trong lúc thực hiện cho đến hoàn thành đề tài

Em xin chân thành cảm ơn đến gia đình chú Trần Văn Hùng, chú Quách Kim Tấn, chính quyền địa phương, bà con cô bác đã tạo điều kiện tốt cho em thực hiện thí nghiệm tại ấp Tích Khánh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp Các chú bảo vệ, các cô thư viện khoa tạo điều kiện tốt cho em thực hiện đề tài

Các bạn lớp Trồng Trọt, Nông Học, Khoa Học Đất khóa 33 và nhiều bạn khác đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn Thân giửi đến các bạn tình cảm yêu quý nhất và lời chúc sức khỏe

HUỲNH PHƯỚC TÍNH

Trang 7

Huỳnh Phước Tính, 2010 Ảnh hưởng của Naphthalene Acetic Acid đến số hoa

lưỡng tính và 2,4-Dichlorophenoxy Acetic Acid đến sự rụng trái trên nhãn Xuồng

Cơm Vàng (Dimocarpus longan Lour.) tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng Trọt, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ, 32 trang

Cán bộ hướng dẫn: PGS TS TRẦN VĂN HÂU

TÓM LƯỢC

Đề tài thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát sự hiệu quả của NAA và 2,4-D trên nhãn Xuồng Cơm Vàng làm tăng số hoa lưỡng tính và làm giám sự rụng trái lúc giai đoạn tiền thu hoạch cải thiện tăng năng suất đồng thời tìm ra nồng độ thích hợp để

xử lý đạt hiệu quả cao nhất góp phần phát triển cây nhãn Xuồng Cơm Vàng Thí nghiệm được thực hiện trên cây nhãn Xuồng Cơm được ghép trên gốc ghép nhãn Long và nhãn Da Bò, tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010 Gồm hai thí nghiệm: Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của 2,4-D đến sự rụng trái trên nhãn Xuồng Cơm Vàng, được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với nhân tố thứ nhất là là các nồng độ 2,4-D (0, 5,

10, 15, 20 ppm) nhân tố thứ hai là thời gian xử lý 15 ngày trước khi thu hoạch và

25 ngày trước khi thu hoạch; thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của NAA đến sự hình thành hoa lưỡng tính trên nhãn Xuồng Cơm Vàng, được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với 5 nghiệm thức là các nồng độ NAA (0, 20, 40, 60,

80 ppm), và 5 lần lập lại mỗi lần lập lại là một cây Kết quả thống kê cho thấy xử lý 2,4-D ở nồng độ 5 – 20 ppm ở hai thời điểm 15 ngày và 25 ngày trước khi thu hoạch đều giữ trái tốt hơn khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng, 2,4-D còn làm tăng trọng lượng trái trên chùm nhưng không ảnh hưởng đến kích thước trái, tỉ lệ thịt, màu sắc, tổng chất rắn hòa tan; Xử lý NAA ở nồng độ 60 và 80 ppm làm tăng

số hoa lưỡng tính trên phát hoa khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng, NAA ảnh hưởng đến trọng lượng trái trên chùm, ở nghiệm thức nồng độ NAA 20 ppm trọng lượng đạt 123,6 g khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức đối chứng (68,83 g), NAA không làm thay đổi kích thước trái, đường kính hạt, màu sắc vỏ trái,… và vẫn giữ màu sắc vỏ trái, tỉ lệ thịt trái, tổng chất rắn hòa tan

Từ khóa: Nhãn Xuồng Cơm Vàng, 2,4-dichlorophenoxy Acetid Acid, Naphthalene

Acetid Acid

Trang 8

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Xác nhận luận văn ii

Chấp nhận luận văn iii

Lịch sử cá nhân iv

Lời cảm tạ v

Tóm lược vi

Mục lục vii

Danh sách hình ix

Danh sách bảng x

Danh sách viết tắt xi

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ iv

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG iv

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG iv

- Sinh ngày 21 tháng 12 năm 1988 Dân tộc: Kinh v

- Nơi sinh: Trà Ôn – Vĩnh Long v

- Họ và tên Cha: Huỳnh Văn Hội v

GIỚI THIỆU xiii

CHƯƠNG 1 xiv

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU xiv

1.1 NGUỒN GỐC CÂY NHÃN xiv

1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÂY NHÃN xiv

1.2.1 Đặc điểm thực vật xiv

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trổ hoa xv

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự rụng trái xvii

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA GIỐNG NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG xvii

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA AUXIN xviii

1.4.1 2,4-dichlorophenoxy Acetic Acid (2,4-D ) xix

1.4.2 Naphthalene Acetic Acid (NAA) xx

CHƯƠNG 2 xxiii

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP xxiii

2.1 PHƯƠNG TIỆN xxiii

2.2 PHƯƠNG PHÁP xxiv

2.2.1 Bố trí thí nghiệm xxiv

2.2.2 Số liệu khí tượng xxv

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi xxvi

2.2.4 Chỉ tiêu bảo quản xxvii

2.2.5 Quy trình canh tác xxvii

Trang 9

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu xxviii

CHƯƠNG 3 xxix

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN xxix

3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT xxix

3.2 THÍ NGHIỆM 1: ẢNH HƯỞNG CỦA 2,4-D ĐẾN SỰ RỤNG TRÁI TIỀN THU HOẠCH TRÊN NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP xxix

3.2.1 Số trái trên chùm ảnh hưởng đến sự rụng xxix

3.2.2 Thành phần năng suất xxxi

3.2.3 Kích thước trái, đường kính hạt và độ dày thịt trái xxxii

3.2.4 Tỉ lệ thịt trái, hàm lượng chất khô, độ khác màu vỏ trái (E), lượng chất rắn hòa tan (TSS) xxxiii

3.2.5 Trọng lượng của trái bảo quản xxxiv

3.3.5 Độ khác màu vỏ trái (E) của trái nhãn XCV trước và sau khi bảo quản xxxv

3.3 THÍ NGHIỆM 2: ẢNH HƯỞNG CỦA NAA ĐẾN SỐ HOA LƯỠNG TÍNH TRÊN NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP xxxvii

3.3.1 Số hoa lưỡng tính trên phát hoa và tỉ lệ đậu xxxvii

3.3.2 Trọng lượng trái trên chùm xxxviii

3.3.3 Kích thước trái, đường kính hạt và độ dày thịt trái xxxix 3.3.4 Tỉ lệ thịt trái, hàm lượng chất khô và hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TSS) xl 3.3.5 Độ khác màu vỏ trái (E) xli CHƯƠNG 4 xliii KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ xliii 4.1 KẾT LUẬN xliii 4.2 ĐỀ NGHỊ xliii TÀI LIỆU THAM KHẢO xliv

Trang 10

Công thức cấu tạo hóa học của 2,4-D

Công thức cấu tạo hóa học của NAA

Vườn nhãn Xuồng Cơm Vàng của ông Trần Văn Hùng và ông Quách

Kim Tấn tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Nhiệt độ và lượng mưa tỉnh Đồng Tháp năm 2009

Số trái trên chùm của nhãn Xuồng Cơm Vàng tại huyện Châu Thành, tỉnh

Đồng Tháp trước khi xử lý 2,4-D

Ảnh hưởng của 2,4-D đến số trái trên chùm sau một tuần xử lý trên nhãn

Xuồng Cơm Vàng tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của 2,4-D đến số trái trên chùm trên nhãn Xuồng Cơm Vàng

tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của 2,4-D đến sự giảm trọng lượng khi bảo quản trái nhãn

Xuồng Cơm Vàng tại phòng thí nghiệm bộ môn Khoa Học Cây Trồng,

khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ

Trang 11

Ảnh hưởng của 2,4-D đến trọng lượng trái trên chùm trên nhãn Xuồng

Cơm Vàng tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của 2,4-D đến kích thước trái, đường kính hạt của nhãn

Xuồng Cơm Vàng tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của 2,4-D đến tỉ lệ thịt trái, tỉ lệ chất khô, độ khác màu và

hàm lượng chất rắn hòa tan trên trái nhãn Xuồng Cơm Vàng tại huyện

Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của 2,4-D đến màu sắc trái nhãn Xuồng Cơm Vàng trước khi

bảo quản và sau khi bảo quản ở điều kiện phòng thí nghiệm bộ môn Khoa

Học Cây Trồng, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại

Học Cần Thơ

Ảnh hưởng của nồng độ xử lý NAA lên số hoa lưỡng tính/phát hoa và tỉ

lệ đậu của nhãn Xuồng Cơm Vàng, tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng

Tháp

Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến năng suất của nhãn Xuồng Cơm Vàng,

tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến kích thước trái đường kính hạt và độ

dày thịt trái của nhãn Xuồng Cơm Vàng tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng

Tháp

Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến tỉ lệ thịt trái (phần ăn được), tỉ lệ chất

khô và lượng tổng chất rắn hòa tan của nhãn Xuồng Cơm Vàng tại huyện

Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến sự khác màu (∆E) trên trái của nhãn

Xuồng Cơm Vàng thí nghiệm tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Trang 13

GIỚI THIỆU

Cây ăn trái có vị trí rất quan trọng tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích khoảng 300.000 ha, đạt sản lượng khoảng 3,3 triệu tấn mỗi năm đã cung

cấp 70% sản lượng trái cây hàng năm cho cả nước Cây nhãn (Dimocarpus longan

Lour.) có diện tích 53.900 ha đã trở thành cây ăn trái chiếm diện tích lớn nhất ĐBSCL (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2008)

Trong các loại nhãn thì nhãn Xuồng Cơm Vàng (XCV) rất được thị trường ưa chuộng và có giá cao hơn các loại nhãn khác vì có phẩm chất ngon trái to trung bình 21,9 g/trái (Trần Văn Hâu và Huỳnh Thanh Vũ, 2005), cơm vàng, dày và hạt nhỏ Với đặc điểm vượt trội về chất lượng nhưng năng suất nhãn XCV còn chưa cao trung bình 31,9 kg/cây/năm, khoảng 9,6 trái/chùm (Trần Văn Hâu và Võ Ngọc Tấn, 2005) do đặc điểm đậu trái thấp và sự rụng trái cao

Theo Nguyễn Minh Chơn (2005) thì xử lý NAA và 2,4-D làm giảm sự rụng trái, việc sử dụng còn Auxin làm thay đổi giới tính trên một số loài cây sự thay đổi này liên quan đến sự kích thích sinh tổng hợp ethylene Còn theo Trần Văn Hâu (2008) cho rằng auxin có thể thúc đẩy hay ức chế một phát hoa

Mục tiêu của đề tài là xác định hiệu quả của NAA lên số hoa lưỡng tính và khảo sát hiệu quả của 2,4-D lên sự rụng trái giai đoạn tiền thu hoạch trên nhãn XCV góp phần cải thiện năng suất trên nhãn XCV tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Nhãn có tên khoa học là Dimocapus longan Lour, thuộc giống Euphoria longana cây ăn quả lâu năm họ Bồ Hòn Sapindaceae Giống Euphoria gồm có 7 loài nhưng được trồng phổ biến nhất chỉ có Euphoria longana (Nguyễn Phước Tuyên và ctv.,

2001) Theo Trần Thế Tục (2000), cây nhãn có nguồn gốc từ Trung Quốc Hiện nay Trung Quốc là nước có diện tích lớn nhất và có sản lượng vào loại hàng đầu ở các nước trồng nhãn Nhãn còn được trồng ở một số nước Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới

Ở Việt Nam, cây nhãn được trồng ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu, thị xã

Hưng Yên cách dây 300 năm (Vũ Công Hậu, 1982) Theo Trần Thế Tục và ctv

(1988) “có thể miền Bắc nước ta là một trong những quê hương của cây nhãn” Theo Trần Thế Tục (2000), nhãn được trồng nhiều ở đồng bằng Bắc Bộ như: Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh Cả vùng có khoảng 2 triệu cây, tính theo mật độ thông thường diện tích lên đến 20.000 – 30.250 ha Do nhu cầu ăn tươi tại chỗ cây nhãn được phát triển ở các tỉnh phía Nam như: Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long,… Đặc biệt ở Vĩnh Long và Bến Tre diện tích trồng nhãn đang tăng rất nhanh

1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÂY NHÃN

1.2.1 Đặc điểm thực vật

Cây nhãn trồng bằng hột có bộ rễ khỏe ăn sâu, nếu trồng bằng nhánh chiết thì bộ rễ phát triển cạn và phát triển theo chiều ngang Có khoảng 80% số rễ tập trung ở dưới hình chiếu của tán lá và phân bố chủ yếu ở độ sâu khoảng 40 – 50 cm

Lá nhãn thuộc lá kép lông chim, lá đơn mọc đối xứng hay so le Lá hình mũi mác, gân chính và gân phụ nổi rõ, lá non màu đỏ tím hay nâu đỏ, lá già có màu xanh Theo Wong (2000, được trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2008), trong một phát hoa nhãn có mang hoa lưỡng tính đực, hoa lưỡng tính cái hoặc hoa lưỡng tính Hoa lưỡng tính đực có ít hơn hoặc bằng 8 nhị đực có lông xếp thành hàng đơn trên đế

Trang 15

hoa, hoa lưỡng tính cái có mang bao phấn nhưng bất thụ và không có chức năng phụ, hoa lưỡng tính có hai lá noãn, bầu noãn có nhiều lông tơ với nướm nhụy có hai thùy thông thường chỉ có một lá noãn (tâm bì) phát triển thành trái Hoa lưỡng tính

có 8 chỉ nhị không cuống với bao phấn sản xuất ra hạt phấn hữu thụ

Hoa nhãn thụ phấn chéo nhờ côn trùng và có hiện tượng chín không cùng lúc giữa nhị và nhụy, sự thụ phấn hiệu quả chủ yếu từ 8:00 – 14:00 giờ (Trần Văn Hâu, 2008) Sự nở của hoa nhãn trên cùng một phát hoa được Lian và Chien (1965, được trích bởi Trần Văn Hâu, 2008) ghi nhận thứ tự như sau: Đầu tiên là hoa đực (không

có chức năng cái), tiếp theo là hoa cái (hoa không có chức năng đực), hoa lưỡng tính và cuối cùng là hoa đực trở lại Sự nở hoa của một phát hoa nhãn kéo dài 1 – 2 tuần Tuy nhiên, do hoa nhãn nở tương đối tập trung nên có sự trùng nhau giữa các loại hoa từ 4 – 6 tuần tùy thuộc vào từng giống (Trần Văn Hâu, 2008)

Trái đơn, hình cầu, tròn dẹp cân đối hay hơi lệch, đỉnh trái tròn, cuống trái hơi lõm Khi chín vỏ trái có màu nâu hay vàng da bò

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến trổ hoa

Theo Nguyễn Minh Chơn (2004), sự trổ hoa là sự chuyển tiếp từ sự phát triển sinh dưỡng sang sinh sản là một pha cực trọng trong chu trình sống của thực vật bật cao Bao gồm các giai đoạn:

- Sự tượng hoa: là sự thay đổi sinh lý nội tại trong mô phân sinh kéo theo sự thay đổi về hình thái Sự thay đổi về hình thái học dễ nhận thấy trước nhất đánh dấu sự chuyển tiếp từ giai đoạn sinh dưỡng sang sinh sản là sự gia tăng phân chia tế bào trong vùng trung tâm ngay phía dưới đỉnh sinh trưởng của mô phân sinh Những sự phân chia xảy ra là kết quả phân hóa của những tế bào nhu mô bao quanh

mô phân sinh thành khối hoa sơ khởi

- Sự thành lập hoa: đây là những khởi đầu hoa có thể nhìn thấy được

- Sự phát triển hoa: đó là sự phân hóa cấu trúc hoa từ sự thành lập hoa đến trổ hoa và tung phấn

Trang 16

Theo Lê Văn Hòa (2004), thông thường là các chồi ngọn, chồi thân hoặc trên thân các tế bào hoạt động dưỡng biến đổi thành các tế bào hoạt động sinh dục hình thành nên khối nguyên thủy của hoa Các khối nguyên thủy dần dần u lên thành các phát thể (nụ hay mầm hoa) Sự phát sinh hình thể của hoa khác với sự phát sinh hình thể của thân và lá

Nhãn là cây trồng á nhiệt đới, phát triển rất tốt trong điều kiện nhiệt đới, tuy nhiên

sự ra hoa đòi hỏi phải có một mùa đông ngắn với nhiệt độ từ 15-22oC trong 8 – 10 tuần để kích thích sự ra hoa (Menzel và Simpson, 1994) và theo sau là điều kiện nhiệt độ cao trong mùa xuân cho hoa phát triển Nếu nhiệt độ thấp kéo dài mầm hoa hình thành nhưng không phát triển được Do đó, phát hoa nhãn chỉ phát triển vào mùa xuân khi thời tiết bắt đầu ấm trở lại Ở ĐBSCL thời tiết lạnh thường xuất hiện vào tháng 12 – 1 và nóng dần lên vào tháng 2 – 3 nên đây là điều kiện thích hợp cho cây nhãn ra hoa Nếu mùa đông nhiệt độ lạnh không đạt đến ngưỡng ra hoa sẽ ảnh hưởng đến sự phân hóa và hình thành mầm hoa nhưng nhiệt độ lạnh kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của phát hoa (Trần Văn Hâu, 2009)

Giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự ra hoa của cây nhãn Hiện nay, ở ĐBSCL có rất nhiều giống nhãn nhưng có thể phân thành ba nhóm, nhóm nhãn Long, nhãn Giồng và nhãn tiêu Da Bò Nhóm nhãn Long gồm có nhãn Long, nhãn Super ra hoa tự nhiên theo mùa và có thể kích thích cho ra hoa quanh năm Nhóm nhãn Giồng như: Nhãn giồng Bạc Liêu, Vĩnh Châu, Nhị Quý, nhãn Xuồng Cơm Vàng, Cơm trắng ra hoa theo mùa và khó kích thích ra hoa trái vụ Nhóm nhãn Tiêu Da Bò hầu như không ra hoa theo mùa mà phải được kích thích

mới ra hoa (Nguyễn Minh Châu và ctv., 1997)

Nghiên cứu sự biến động của các chất điều hòa sinh trưởng trong thời kỳ ra hoa trên

cây nhãn, Lin và ctv (2001, trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2008) nhận thấy nồng độ

IAA (indole-3-acetic acid) đạt cao trong suốt giai đoạn hình thành nhị đực và nhụy cái hoa Sự hình thành của hoa được theo sau bởi sự gia tăng GA1+3 Abscisic Acid (ABA) đạt thấp trước khi hình thành giới tính hoa, nhưng nó gia tăng ở giai đoạn nở hoa Tỷ lệ của (IAA+ZR+GA1+3)/ABA gia tăng trong suốt thời gian hình thành hoa

Trang 17

cái và sau đó giảm ở giai đoạn nở hoa, một tỷ lệ thấp hơn có lợi cho sự xuất hiện hoa cái

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự rụng trái

Sự rụng được định nghĩa là sự tách rời của một phần thực vật như lá, hoa, trái, hạt, cành hoặc bộ phận khác của cây mẹ Sự rụng của lá, cành, hoa trái, và hạt trong phần lớn loài cây đến trước bằng sự thành lập vùng hoặc tầng rời từ những tế bào đặc biệt (Nguyễn Minh Chơn, 2004)

Yếu tố môi trường có ảnh hưởng quan trọng tới sự ra hoa và đậu trái Nhiệt độ thích hợp cho sự ra hoa và đậu trái nhãn ở Thái Lan từ 20 – 25oC, nhiệt độ trên 40oC làm trái bị thiệt hại và gây ra sự rụng trái non (Trần Văn Hâu, 2008)

Việc thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là đạm và kali cũng gây ra sự rụng trái, trái nhỏ và

phẩm chất kém (Menzel và ctv., 1990, trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2008)

Auxin có ảnh hưởng lên sự rụng lá và trái Sự rụng lá là do giữa cuống và thân thành lập một tầng rời và việc thành lập tầng rời này do ảnh hưởng của auxin Ở trái, sử dụng 2,4-D cũng cho thấy làm giảm sự rụng trái ở cây cam (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Theo Nguyễn Minh Chơn (2004), thì từ khi abscisic acid được phát hiện thì đã cho thấy tính phân bố rộng trong thực vật bậc cao và có những ảnh hưởng rộng lớn, thêm vào đó là những ảnh hưởng lên sự miên trạng và sự rụng

Nhãn XCV thuộc nhóm nhãn giồng, nguồn gốc Bà Rịa Vũng Tàu có đặc tính ra hoa, đậu trái tương đối khác so với giống nhãn Long và nhãn Da Bò (Nguyễn Minh

Châu và ctv., 1997, trích dẫn bởi Lê Văn Chấn, 2008)

Theo Bùi Thị Mỹ Hồng (2005), quả nhãn XCV trên chùm to đều, trọng lượng quả trung bình 16 – 25 g Thịt quả có màu trắng hanh vàng, dầy thịt 5,5 – 6,2 mm tỷ lệ phần trăm thịt (phần trăm ăn được) đạt 60 – 70%, độ Brix 21 – 24% Cấu trúc thịt ráo, dai dòn Mùi vị ngọt, khá thơm, dùng để ăn tươi là chính Vỏ trái khi chín có màu vàng da Bò Giống nhãn XCV rất thích hợp trên vùng đất cát giồng

Trang 18

Sự nở hoa của các hoa trên một phát hoa được ghi nhận như sau: trên một chùm hoa, hoa cái nở trước và tập trung trong vòng 3 ngày, sau đó đến hoa đực Hoa bắt đầu nở ở gốc và giữa phát hoa, sau đó hoa nở dần lên trên Thời gian từ khi nứt lá đài đến rụng cánh hoa diễn ra trong vòng 3 ngày Hoa nở vào ban đêm, nhưng vòi nhụy nhú ra và có khả năng thụ phấn vào ban ngày, lúc này có rất nhiều côn trùng hoạt động giúp cho quá trình thụ phấn diễn ra gặp nhiều thuận lợi (Lê Văn Chấn, 2008)

Nhãn XCV ra hoa vào tháng 4 và thu hoạch vào tháng 8 với tỉ lệ ra hoa trên 80%, trung bình mỗi phát hoa có 1.514,2 hoa, trong đó 20% là hoa cái và hoa lưỡng tính,

tỉ lệ đậu trái 13%, rụng trái non tập trung trong giai đoạn 30 ngày sau đậu trái, đến khi thu hoạch rụng khoảng 77% , thu hoạch đạt 9,6 trái/chùm, trái phát triển trong

12 tuần theo một đường cong đơn giản, trọng lượng trái tăng nhanh từ tuần thứ 6 –

11 do sự phát triển của thịt trái, trái có trọng lượng 21,9 ± 0,5 g trong đó thịt trái chiếm tỉ lệ 62%, trọng lượng trái/chùm trung bình đạt 197 g (Trần Văn Hâu và Huỳnh Thanh Vũ, 2006)

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA AUXIN

Auxin được tổng hợp chủ yếu ở ngọn thân, lá non và hạt đang phát triển từ tryptophan hay Indol được vận chuyển đến bộ phận khác để kích thích sự tăng

trưởng tế bào (Bandurski và ctv., 1995, trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2008)

Trần Văn Hâu (2008) cho rằng auxin có thể thúc đẩy hoặc ức chế sự khởi phát hoa

Vị trí tác động của auxin nói chung hiệu quả trên đỉnh chồi nhưng không loại trừ một loại khác hiệu quả trên lá hay trên bộ phận khác của cây

Theo Nguyễn Minh Chơn (2004) thì auxin có liên quan đến nhiều quá trình sinh lý trong cây, giúp sự vươn dày của tế bào, sự phân phối auxin không đều được xem là nguyên nhân của sự nghiên (quang hướng động), áp dụng auxin ngoại sinh kích thích sự tượng rễ và sự phát triển sớm của rễ, mặt trái auxin có thể làm ức chế sự vươn dài sự ức chế này có liên quan đến kích thích sinh tổng hợp ethylene Cũng theo Nguyễn Minh Chơn (2004), auxin có liên quan đến sự nở rộng của tế bào làm tăng kích thước trái Xử lý auxin ngoài tầng rụng làm giảm sự rụng xử lý bên trong

Trang 19

thân làm tăng sự rụng, đặc biệt axin làm thay đổi giới tính của hoa trên một số loài cây sự thay đổi này có liên quan đến sự kích thích sinh tổng hợp ethylene

Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), auxin ảnh hưởng sự rụng trái và lá

Ở các lá non nếu cắt bỏ phiến lá không lâu lá sẽ rụng, nhưng cung cấp IAA cuống lá

sẽ không rụng

Theo Nguyễn Văn Hưởng (1983, trích dẫn bởi Dương Ngọc Sương, 2005) hiện tượng rụng trái non trên xoài là do hàm lượng auxin trong hoa trái thấp và hàm lượng absscisic tăng cao nên quá trình tổng hợp bị ức chế, các chất dinh dưỡng và nước không vận chuyển kịp thời vào hoa trái nên không đáp ứng được nhu cầu sinh dưỡng của chúng tạo điều kiện hình thành tầng rời và trái bị rụng

1.4.1 2,4-dichlorophenoxy Acetic Acid (2,4-D )

2,4-dichlorophenoxy Acetic Acid có công thức hóa học: C8H6Cl2O3, phân tử lượng:

221 đvc, dạng tinh thể màu trắng dễ tan trong nước, là chất điều hòa sinh trưởng thực vật được tổng hợp từ auxin kích thích tố thực vật, có hoạt tính rất mạnh trong thương mại thường được dùng như thuốc diệt cỏ Về nguyên tắc, 2,4-D ức chế hô hấp của hoa quả làm cho chúng chín chậm lại Theo Lê Quang Hưng (2007, được trích dẫn bởi Phạm Văn Sanh, 2008), chất 2,4-D nếu sử dụng liều cao sẽ có công dụng diệt cỏ còn sử dụng nồng độ thấp sẽ trở thành chất kích thích cực mạnh làm cho củ quả tăng kích thước bất thường Ngoài ra, còn có công dụng ngăn chặn sự rụng trước khi thu hoạch, làm chậm quá trình lão hóa, giúp rau quả tươi lâu cũng như giữ được màu sắc củ quả khá tốt, đồng thời còn diệt cả vi khuẩn, nấm,… gây hại

Một số kết quả trên cây có múi cho thấy, việc xử lý trái cây có múi với 2,4-D (27mg/l) thì ảnh hưởng đáng kể trong việc tăng năng suất, chất lượng và đồng thời làm giảm rụng trái Cụ thể giảm đến 60% lượng trái rụng, đồng thời tăng năng suất

79,16% so với không xử lý (Smilanck và ctv., 2006) Theo Trần Quốc Tuấn (2005,

trích dẫn bởi Phạm Văn Sanh, 2008) cho biết phun 2,4-D ở nồng độ 15 ppm, 20 ppm và 30 ppm ở thời điểm 1 tháng trước khi thu hoạch cho thấy chúng không ảnh hưởng đến phẩm chất trái quýt hồng cũng như cho đến 42 ngày sau thu hoạch

Trang 20

2,4-D còn có công dụng làm chậm quá trình lão hóa, giúp hoa quả tươi lâu, giữ được màu sắc (Trần Thanh Hương và Bùi Trang Việt, 2003)

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Kim Ba (2007) cho thất xử lý NAA, GA3, 2,4D với các nồng độ 40 ppm, 30 ppm, và 10 ppm vào hai thời điểm (1 tuần và 4 tuần sau khi đậu trái) trên xoài cát hòa lộc ở dạng đơn hay kết hợp cho thấy làm tăng hàm lượng tinh bột, tổng chất rắn hòa tan, hàm lượng đường tổng số

Theo kết quả của Sen và ctv (2001, trích dẫn bởi Phạm Văn Sanh, 2008) cho thấy

việc phun 2,4-D trước và sau thu hoạch sẽ làm tăng tính kháng bệnh trên vỏ trái, trì hoãn sự chín, kéo dài thời gian tồn trữ của trái quýt Sastuma Còn theo Salunkhe và

ctv (1984, được trích dẫn bởi Phạm Văn Sanh, 2008) cho rằng việc xử lý 2,4-D trên cây có múi sẽ hạn chế sự gây hại của nấm Diplodia và Alternaria cũng như sự biến

đổi màu sắc trên vỏ trái Ngoài ra trên cây có múi được sử lý với 2,4-D sẽ làm giảm tiến trình thối rữa trong suốt thời gian bảo quản Màu sắc vỏ trái bị trì hoãn, độ chắc được cải thiện và không có sự thay đổi độ Brix (TSS) cũng như hàm lượng acid ở thịt quả (Cohen, 1998, được trích dẫn bởi Phạm Văn Sanh, 2008)

Hình 1.1: Công thức cấu tạo hóa học của 2,4-D 1.4.2 Naphthalene Acetic Acid (NAA)

NAA có công thức phân tử là C12H10O2 là một auxin tổng hợp có kết tinh màu trắng ngà, bền, dạng bột không tan trong nước, chỉ tan trong các dung môi hữu cơ như rượu, ether, benzen, … nóng chảy ở nhiệt độ 129 – 131oC, được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp và là auxin có hiệu quả nhất để cải thiện sự duy trì trái trên cây (Prakash và Ram, 1984, trích dẫn bởi Dương Ngọc Sương, 2009) NAA được hình thành ở đỉnh sinh trưởng của các mô đang sinh trưởng mạnh như lá, hoa, quả, … Trong đỉnh phôi đang nảy mầm Từ đỉnh sinh trưởng chất này được vận chuyển

Cl

Trang 21

xuống các bộ phận bên dưới theo hướng của trọng lực, càng xa đỉnh sinh trưởng thì hàm lượng càng giảm (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Theo kết quả của Trần Văn Hâu (2005) cho thấy khi phun NAA nồng độ 20 – 80 ppm và phân bón lá như 15 – 30 – 15 vào giai đoạn 7 ngày sau khi đậu trái để hạn chế rụng trái non trên sầu riêng Để tăng khả năng đậu trái trên xoài có thể phun các sản phẩm chứa Bo trước khi hoa nở hay NAA giai đoạn 3 – 4 ngày sau khi hoa trổ, tuy nhiên nếu phun NAA với nồng độ cao có thể gây rụng trái non do NAA kích thích sự hình thành ethylene làm rụng trái

Theo Muchjajip (1988, được trích dẫn bởi Dương Ngọc Sương, 2005) thì thời điểm phun NAA khi ½ số hoa nở là thích hợp Cũng theo Muchjajip, NAA được áp dụng rộng rãi trên chôm chôm ở Thái Lan vào nhiều giai đoạn khác nhau nhằm kích thích

sự ra hoa, đậu trái, tăng năng suất và ngăn ngừa rụng trái

Nguyễn Văn Hiền và Vũ Thị Hiển (1997) cho rằng xử lý NAA nồng độ 100 ppm trên dưa chuột tỉ lệ đậu trái 96,32% so với đối chứng là 82,54% Theo kết quả thí nghiệm của Bùi Thị Mai Phương (2003, trích dẫn của Dương Ngọc Sương, 2005) thì xử lý NAA nồng độ 40 ppm, GA3 (30 ppm), hợp chất ĐHCT (10 ppm) ở dạng riêng lẻ hay kết hợp đều có hiệu quả làm giảm rụng trái non, tăng khả năng đậu trái, tăng năng suất xoài Cát Hòa Lộc và không làm thay đổi một số đặc tính trái lúc thu hoạch như TSS, pH, độ cứng trái nhưng làm tăng số lượng đường tổng số

Hình 1.2: Công thức cấu tạo hóa học của -NAA (a), -NAA (b)

CH2COOH

CH2COOH

Trang 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

 Thời gian thực hiện

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010

 Địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện tại vườn của ông Trần Văn Hùng và ông Quách Kim Tấn tại ấp Tích Khánh, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Đặc điểm vườn ông Trần Văn Hùng: vườn được thiết kế líp đôi mương rộng 5,6 – 6

m, chiều cao mặt líp so với đáy mương là 0,5 – 1 m, diện tích vườn khoảng 10.000

m2 nhãn XCV được trồng xen với nhãn Da Bò

Đặc điểm vườn ông Quách Kim Tấn: vườn chuyên canh nhãn XCV được thiết kế líp ba rộng 10 m, mương giữa rộng 6 m, mương bìa rộng 3 m, chiều cao mặt líp so với đáy mương là 0,5 – 1 m Nhãn XCV được trồng với khoảng cách 3,5 x 3,5 m, nhưng được tỉa cành thường xuyên

Hình 2.1: Vườn nhãn Xuồng Cơm Vàng của ông Trần Văn Hùng (a) và ông Quách Kim

Tấn (b) tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Trang 24

 Địa điểm phân tích mẫu

Mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Khoa Học Cây Trồng thuộc khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng

 Vật liệu thí nghiệm

- Hóa chất:

+ Naphthalene acetic acid (NAA)

+ 2,4-dichloropheoxy acetic acid (2,4-D)

- Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm:

+ Thước kẹp

+ Brix kế hiệu Atago của Nhật

+ Máy đo màu Minolta CR-10

 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nồng độ 2,4-D đến sự rụng trái trên

nhãn Xuồng Cơm Vàng tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Thời gian thực hiện từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2009 Mục tiêu của đề tài là tìm ra nồng độ 2,4-D và thời gian phun thích hợp có hiệu quả lên sự rụng trái nhãn XCV giai đoạn trước và sau khi thu hoạch Thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 lần lặp lại mỗi lần lặp lại tương ứng một cây thí

Trang 25

nghiệm thực hiện trên chùm nhãn (3 chùm/nghiệm thức/cây) Nhân tố thứ nhất là phun 2,4-D với 5 nồng độ là 0 ppm, 5 ppm, 10 ppm, 15 ppm, 20 ppm, nhân tố thứ hai là hai thời điểm phun 2,4-D là 15 ngày và 25 ngày trước khi thu hoạch Tổng cộng có 10 nghiệm thức với 10 cây nhãn được sử dụng cho thí nghiệm

 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến tỉ lệ hoa lưỡng tính

của nhãn Xuồng Cơm Vàng tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

Thời gian thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2010 Mục tiêu của thí nghiệm là tìm ra nồng độ NAA thích hợp có tác dụng làm tăng tỉ lệ hoa lưỡng tính trên nhãn XCV Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố,

5 lần lặp lại, mỗi lần lập lại tương ứng là một cây Nghiệm thức bao gồm 5 nồng

độ NAA: 0, 20, 40, 60, 80 ppm

NAA được phun trực tiếp lên các phát hoa theo các nghiệm thức đã được đánh dấu vào thời điểm nhãn phát hoa nhãn XCV chưa nở và có chiều dài từ 10 – 20 cm Trên một cây được bố trí đầy đủ các nghiệm thức, mỗi nghiệm thức trên cây có 5 phát hoa cũng được chọn ngẫu nhiên để theo dõi và lấy chỉ tiêu

2.2.2 Số liệu khí tượng

Số liệu khí tượng bao gồm nhiệt độ (tối cao, tối thấp, trung bình), lượng mưa và ẩm

độ không khí trong thời gian thực hiện thí nghiệm được ghi nhận tại Trung Tâm Khí Tượng Thủy Văn tỉnh Đồng Tháp

lượng mưa nhiệt độ

Hình 2.3: Nhiệt độ và lượng mưa tỉnh Đồng Tháp năm 2009 (trung tâm dự báo khí tượng

thủy văn tỉnh Đồng Tháp)

Trang 26

2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

- Số hoa lưỡng tính: Đếm tất cả các hoa lưỡng tính trên mỗi phát hoa

- Tỉ lệ đậu trái: Đếm trái bắt đầu đậu khoảng một tuần sau đó tính tỉ lệ đậu

trái

 Sự rụng trái: Đếm số trái trên chùm khi xử lý 2,4-D và đếm lại mỗi tuần

một lần Ghi nhận nguyên nhân gây sự rụng

 Thành phần năng suất: Thu hoạch toàn bộ các nghiệm thức trên cây

Đếm số trái /chùm và cân trọng lượng trùm trái

 Phẩm chất trái:

- Màu sắc trái: Đo màu sắc vỏ trái được đo bằng máy so màu Minolta CR

200 theo các giá trị L*, a*, b* của hệ thống CIE Trên trái đo hai lần ở vị trí giữa trái lấy giá trị trung bình

- Đường kính trái (mm): Đo bằng thước kẹp, đo thẳng góc phần lớn nhất của trái

- Bề dày thịt trái (mm): Trái nhãn được cắt làm đôi, dùng thước kẹp đo từ phía trong vỏ đến giáp phần hột

- Đường kính hạt: Đo bằng thước kẹp

- Tỉ lệ thịt trái (%): Cân trọng lượng trái ,vỏ và hạt từ đó suy ra tỉ lệ thịt trái

- Hàm lượng chất khô (%): Tỉ lệ giữa trọng lượng thịt nhãn sau khi sấy và trước khi sấy

- Tổng chất rắn hòa tan (TSS) (%): Cân đúng 5 g mẫu nghiền mịn sau đó cho nước cất vào đúng thể tích 50 ml, đo bằng khúc xạ kế (ATAGO, Nhật Bảng sản xuất) Tính bằng công thức: TSS (%) = o Brix x (1+V/W) trong đó V: thể tích hòa tan (50 ml); W: trọng lượng mẫu (5 g)

Trang 27

2.2.4 Chỉ tiêu bảo quản

- Đo màu mẫu trước khi bảo quản

- Trọng lượng hàng ngày trong thời gian bảo quản

Cây ra hoa tự nhiên vào tháng 5 hàng năm Dùng kỹ thuật xử lý ra hoa giúp nhãn XCV ra hoa sớm hơn khoảng một đến hai tháng Xử lý bằng cách sau khi cơi đọt thứ ba ra “lá lụa” sử dụng KClO3 bằng cách pha với nước tưới đều gốc cách gốc 50 – 70 cm, sau một đến ba ngày dùng kéo “sứa” xung quanh cành thành một đường tròn, chú ý chừa nhánh thở Sau khoảng 15 ngày thì cây bắt đầu nhú bông phun KNO3 0,1% cho cây ra hoa đều sau đó tiến hành bón phân nuôi hoa và trái Bón phân nuôi hoa dùng 16 – 16 – 8, nuôi trái dùng 20 – 20 – 15 cách hai tuần bón một lần Chú ý ngưng trước thu hoạch 15 ngày

Phòng trừ sâu bệnh: Các loại sâu thường là sâu ăn lá, sâu ăn hoa, sâu đục cuống trái, ruồi đục trái,… Khi nhãn ra hoa thường bị bệnh thán thư cần chú ý phòng trừ bằng

Antracol Khi đậu trái thường bị bệnh do nấm phytopthora tấn công tầng rời làm

rụng hàng loạt nhất là điều kiện mưa nhiều ẩm độ cao và nhãn gần thu hoạch, Phun định kỳ Ridomin gold hoặc phun theo diễn biến của bệnh

Ngày đăng: 12/04/2018, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm