Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA KALI NITRATE PHUN QUA LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG Dimocarpus longan Lour TẠI XÃ PHÖ HỰU, HUY
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
CƠM VÀNG (Dimocarpus longan Lour) TẠI
XÃ PHÚ HỰU, HUYỆN CHÂU THÀNH,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
K KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
CƠM VÀNG (Dimocarpus longan Lour) TẠI
XÃ PHÚ HỰU, HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH TRỒNG TRỌT
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGs.TS Nguyễn Bảo Vệ Lê Văn Nguyên
Trang 3Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI NITRATE PHUN QUA LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NHÃN XUỒNG
CƠM VÀNG (Dimocarpus longan Lour) TẠI
XÃ PHÖ HỰU, HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP
Do sinh viên Lê Văn Nguyên thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần thơ, ngày.… tháng.… năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng Trọt với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI NITRATE PHUN QUA LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NHÃN XUỒNG
CƠM VÀNG (Dimocarpus longan Lour) TẠI
XÃ PHÖ HỰU, HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP
Do sinh viên Lê Văn Nguyên thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Thành viên hội đồng ……… ……… ………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Văn Nguyên
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Lê Văn Nguyên Giới tính: Nam
Nơi sinh: Thạnh Trị – Sóc Trăng
Họ và tên cha: Lê Văn Đơ
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Hằng
Quê quán: số nhà 28 , ấp 23, xã Vĩnh Thành, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng
Quá trình học tập:
Năm 1996-2001: học tại trường Tiểu học “Vĩnh Lợi”
Năm 2001-2005: học tại trường THCS “Vĩnh Lợi”
Năm 2005-2006: học tại trường THPT “Lê Văn Tám”
Năm 2006-2008: học tại trường THPT “Trần Văn Bảy”
Năm 2008-2012: sinh viên ngành Trồng Trọt khóa 34, Khoa Nông nghiệp &
Trang 7LỜI CẢM TẠ Kính dâng!
Cha mẹ đã hết lòng nuôi con khôn lớn nên người, giúp đỡ tao điều kiện cho
con được học tập
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến!
Thầy Nguyễn Bảo Vệ và cô Bùi Thị Cẩm Hường đã luôn theo dõi, hết lòng
hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cô cố vấn Nguyễn Thị Xuân Thu đã quan tâm dìu dắt, động viên và giúp đỡ
tập thể lớp Trồng Trọt K34 trong suốt quá trình học tập
Gia đình ông Trần Văn Tuấn, xã Phú Hựu huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp đã giúp đỡ cho em hoàn thành thí nghiệm
Chân thành biết ơn!
Quý Thầy, Cô trong bộ môn Khoa Học Cây Trồng-Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng-Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức, kinh
nghiệm quý báo cho em
Các bạn Tăng Tuấn Anh, Nguyễn Thị Ngọc Lành, Nguyễn Ngọc Dung,
Nguyễn Trọng Ái, Dương Thị Ngọc Dệ, Dương Thị Phương Thảo, Chau Đa, Lâm
Minh Duy và các bạn học cùng lớp Trồng Trọt K34, đã giúp đỡ em trong suốt quá
trình làm luận văn
Lê Văn Nguyên
Trang 8LÊ VĂN NGUYÊN 2012 “Ảnh hưởng của kali nitrate phun qua lá đến năng
suất và phẩm chất của nhãn Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus longan Lour) tại
xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp ” 37 trang Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Trồng Trọt, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
Cán bộ hướng dẫn: PGs Ts Nguyễn Bảo Vệ
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của kali nitrate phun qua lá đến năng suất và phẩm chất
của nhãn Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus longan Lour) tại xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra số lần phun KNO 3 qua lá sau khi đậu trái (nồng độ 1%) hiệu quả nhất cho nhãn Xuồng Cơm Vàng trên đất phù sa xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp theo mùa thuận 2010 Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 4 lần lặp lại, mỗi lặp lại 1 cây, các nghiệm thức được như sau: Nghiệm thức 1 (NT1): phun KNO 3 (1%) vào thời điểm 10 tuần sau khi đậu trái (1 lần phun) Nghiệm thức 2 (NT2): phun KNO 3 (1%) vào thời điểm 6 và 10 tuần sau khi đậu trái (2 lần phun) Nghiệm thức 3 (NT2): phun KNO 3 (1%) vào thời điểm 2,
6 và 10 tuần sau khi đậu trái (3 lần phun) Nghiệm thức đối chứng (ĐC) (NT4): không phun KNO 3
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Đường kính, chiều cao, tỷ lệ đường kính/chiều cao, tỷ lệ đậu trái và số trái trên chùm không khác biệt giữa các nghiệm thức theo thời gian tăng trưởng Tuy nhiên, đường kính trái ở giai đoạn 10 tuần sau khi đậu trái, ở nghiệm thức 3 lần phun có đường kính trái (3,03 cm) Ở nghiệm thức 3 lần phun tại thời điểm thu hoạch cho đường kính trái (3,22 cm), trọng lượng trái (20,9 g), trọng lượng chùm (224 g), năng suất (30,7 kg/cây), màu sắc vỏ trái (45,3), độ Brix dịch trái (21,4%) và trọng lượng thịt trái (13,4 g) Tuy nhiên chiều cao trái, tỷ
lệ đường kính/chiều cao, số trái trên chùm, độ dày thịt trái, trọng lượng vỏ hột và tỷ
lệ phần trăm ăn được không khác biệt giữa các nghiệm thức
Trang 91.1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ CÂY NHÃN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT
1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây nhãn trên thế giới 21.1.2 Nguồn gốc và sự phân bố cây nhãn ở Việt Nam 31.2 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA CÂY NHÃN 3
Trang 103.1 ẢNH HƯỞNG KNO3 ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA TRÁI 19
3.2.9 Trọng lượng thịt trái 333.2.10 Trọng lượng vỏ + hột và tỷ lệ phần trăm ăn được 34
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
3.1
Đường kính trái (cm) nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý
KNO3 với số lần phun khác nhau theo thời gian tăng trưởng
tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
19
3.2
Chiều cao trái (cm) nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý
KNO3 với số lần phun khác nhau theo thời gian tăng trưởng
tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
20
3.3
Tỷ lệ đường kính/chiều cao trái nhãn Xuồng Cơm Vàng
được xử lý KNO3 với số lần phun khác nhau theo thời gian
tăng trưởng tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
21
3.4
Số trái trên chùm nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3
với số lần phun khác nhau sau theo thời gian tăng trưởng tại
xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
22
3.5
Chiều cao trái và tỷ lệ đường kính/chiều cao trái nhãn Xuồng
Cơm Vàng được xử lý KNO3 với số lần phun khác nhau tại
xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
24
3.6
Số trái trên chùm và tỷ lệ đậu trái nhãn Xuồng Cơm Vàng
được xử lý KNO3 với số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu -
Châu Thành - Đồng Tháp
25
3.7
Độ dày thịt trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3
với số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành -
Đồng Tháp
31
3.8
Trọng lượng vỏ + hột và tỷ lệ phần trăm ăn được nhãn
Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với số lần phun khác
nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
34
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
2.1 Số trái trên chùm nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với
số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 17
2.2 Đo chiều dài trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với số
lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 17
2.3 Đo đường kính trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với
số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 18
2.4 Đo độ dày thịt trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với
số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 18
3.1 Đường kính trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với số
lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 23
3.2 Trọng lượng trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với
số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 27
3.3
Trọng lượng chùm trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3
với số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng
Tháp
28
3.4 Năng suất nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với số lần
phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 29
3.5 Màu sắc vỏ trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với số
lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 30
3.6 Độ Brix dịch trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3 với
số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp 32
3.7
Trọng lượng thịt trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3
với số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng
Tháp
33
3.8
Mẫu thịt, vỏ, hột trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO3
với số lần phun khác nhau tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng
Tháp
35
Trang 13MỞ ĐẦU
Nhãn (Dimocarpus longan Lour) là cây ăn trái có giá trị kinh tế cao được
trồng nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 53.900 ha (Bộ Nông nghiệp
& PTNT, 2008) Giống nhãn đầu tiên được trồng là nhãn Long kế đến là nhãn Tiêu
Da Bò, hiện nay giống nhãn Xuồng Cơm Vàng được trồng ngày càng nhiều do chất lượng tốt, trái to, độ dày thịt cao, hột nhỏ, giá bán cao hơn các loại nhãn khác
Huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp là vùng đất trù phú phía Nam sông Tiền, diện tích tự nhiên chiếm khoảng 245.95 km2 , với tiềm năng phát triển nông nghiệp Huyện Châu Thành có 18.378 ha đất nông nghiệp Trong đó, diện tích cây hàng năm là 12.907 ha, cây lâu năm là 5.471 ha; trong số đó cây nhãn chiếm hơn 2.400
ha Nhãn Xuồng Cơm Vàng có nguồn gốc ở TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đạt giải nhất hội thi trái ngon 1997, và được trồng nhiều nhất ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Người dân trồng nhãn dựa vào kinh nghiệm là chính nên năng suất thường không ổn định, chất lượng không đồng đều nên dễ dẫn đến tình trạng vào vụ thu hoạch rộ trái nhãn bị mất giá Hiện nay do nhu cầu của thị trường, các nhà vườn luôn tìm cách gia tăng năng suất thu hoạch bằng biện pháp xử lý ra hoa liên tục, tập trung bón nhiều phân đạm, nhưng không cung cấp hoặc cung cấp ít phân kali cho cây, nên năng suất và phẩm chất hàng năm không ổn định Trong khi đó kali là một dưỡng chất có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và phẩm chất của nông sản (Suelter, 1970), nhất là trên cây ăn trái như làm tăng độ cứng, tăng hàm lượng tinh bột, tăng lượng đường trong trái (Daryl và Brown, 1993) Đặc biệt là cung cấp kali qua lá vào giai đoạn nuôi trái giúp cây khắc phục hiện tượng thiếu dinh dưỡng do khả năng hấp
thu của bộ rễ bị hạn chế Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của kali nitrate phun qua lá
đến năng suất và phẩm chất của Nhãn Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus longan
Lour) tại xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện
nhằm mục tiêu tìm ra số lần phun kali nitrate phun qua lá sau khi đậu trái (nồng độ 1%) hiệu quả nhất cho nhãn Xuồng Cơm Vàng trên đất phù sa xã Phú Hựu, huyện
Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Trang 14CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ CÂY NHÃN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây nhãn trên thế giới
Cây nhãn có tên khoa học là Dimocarpus longan Lour hay Euphoria longana
Lour Nhãn cùng họ với cây vải và chôm chôm, thuộc giống Euphoria họ Sapindaceae (Bồ hòn) Giống Euphoria gồm có khoảng 7 loài chỉ có Euphoria longan là được trồng phổ biến (Đường Hồng Dật, 2000)
Nguồn gốc của cây nhãn cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, có tác giả cho rằng nguồn gốc của cây nhãn ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) De Candolle cho rằng nhãn có nguồn gốc ở Ấn Độ sau đó mới đưa sang Malaysia và Trung Quốc Leenhouto cho rằng Lalimantan (Indonesia) cũng là một cái nôi của cây nhãn (Vũ Công Hậu, 2000) Nhãn là cây nhiệt đới và á nhiệt đới, có thể được trồng từ xích đạo đến vĩ tuyến 26-36, nhưng chỉ có một số nước trồng nhãn với diện tích lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Indonesia,
Ấn Độ, Mỹ,…(Nguyễn Danh Vàn, 2008) Còn các nước châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới thì trồng với diện tích nhỏ không đáng kể
Theo Trần Thế Tục (2000), Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn và sản lượng lớn nhất thế giới Nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây , Quảng Đông, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu,…Trồng nhiều nhất và lâu đời nhất ở Phúc Kiến chiếm 48% diện tích toàn quốc Ở Thái Lan diện tích trồng nhãn khoảng 31.855 ha với sản lượng hàng năm khoảng 87.000 tấn, trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Chiang Mai, Lam Phun, Phrae với các giống chủ yếu là Daw, Chompoo, Haew, Biew kiew (Choo, 2000)
Trang 151.1.2 Nguồn gốc và sự phân bố cây nhãn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây nhãn lâu đời nhất được tìm thấy ở tỉnh Hưng Yên cách đây hơn 300 năm (Vũ Công Hậu, 2000) Diện tích trồng nhãn ở nước ta hiện nay khoảng 93.500 ha (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2008) Theo Trần Thế Tục (2002), diện tích trồng nhãn tại Đồng bằng Bắc Bộ khoảng 31.250 ha, được trồng phổ biến
ở các tỉnh Thái Bình, Hòa Bình, Sơn La, Hưng Yên, Vĩnh Phúc Hiện nay diện tích trồng nhãn ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh như: Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền Giang,…Do nhu cầu tiêu thụ nhãn trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng Ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp có diện tích trồng nhãn khoảng 2.400 ha, tập trung chủ yếu ở các xã như: An Nhơn, Phú Hựu, Tân Nhuận Đông, An Khánh, An Hiệp
1.2 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA CÂY NHÃN
1.2.1 Rễ
Rễ nhãn cũng như rễ vải thuộc nhóm cây ăn trái có rễ nấm, rễ hút phình to, không có lông hút, do đó việc bón phân cho nhãn nhiều lần với số lượng phân nhỏ
sẽ tốt hơn bón ít lần với số lượng phân nhiều Ngoài ra, rễ nhãn còn có đặc tính giòn
và dễ gãy, vì vậy khi vận chuyển cây con cần phải cẩn thận tránh cho cây khỏi bị
sốc (Lê Thanh Phong, 1998) Theo Trần Thế Tục và ctv (1998), cấu tạo của rễ gồm
có rễ cọc và rễ ngang Thông thường rễ cọc có thể ăn sâu 2-3 m, cá biệt sâu 5 m, rễ ngang phân bố tầng đất 0-70 cm dưới hình thức chiếu tán cây Còn ở ngoài tán thì chỉ ở tầng sâu 10-30 cm Hoạt động của bộ rễ nhãn trong năm có 3 cao điểm, đợt 2
rễ sinh trưởng mạnh nhất vào giữa tháng 5 đến giữa tháng 6
1.2.2 Thân
Cây nhãn cao khoảng 5-10 m (có thể đến 20 m), tán tròn đều và mọc thẳng hơn khi trồng bằng hột, vỏ thân thường sần sùi, ít khi láng như cây vải, nhưng gỗ thì giòn hơn Việc hình thành thân cành của nhãn có những điểm khác với cây ăn trái khác là khi cây ngừng sinh trưởng mầm ngọn ở đỉnh được các lá kép rất non bọc lấy, khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi mầm ở đỉnh này kéo dài thêm Cành
Trang 16thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, màu nâu sậm và trên vỏ cành có những đường vân nứt (Trần Thế Tục, 2002)
1.2.3 Lá
Lá nhãn thuộc loại lá kép lông chim Lá đơn mọc đối xứng hay so le Đa số các giống nhãn có từ 3-5 đôi lá, có giống từ 1-2 đôi, thường gặp là 4 đôi lá, 7 đôi lá trở lên rất hiếm thấy Lá nhãn hình mác, mặt lá xanh đậm, lưng lá xanh nhạt, cuống
lá ngắn, gân chính và gân phụ nổi rõ Độ dài lá chét trung bình 13,2 cm, độ rộng là 3,2 cm và cuống lá là 0,62 cm (Trần Thế Tục, 2002)
1.2.4 Hoa
Theo Trần Thế Tục (2002), phát hoa mọc ở đầu ngọn cành dài 8-40 cm, rộng đến 30 cm không mang lá, thẳng và có những nhánh nhỏ mang hoa phân chia với góc độ rộng, trên chùm hoa có thể có vài trăm đến 2-3 nghìn hoa Theo Trần Thế Tục (2000), hoa nhãn có 4 loại: hoa cái, hoa đực, hoa lưỡng tính và hoa dị hình, khi hoa nở có mùi thơm nhẹ Theo Groff (1921), hoa nhãn có màu nâu vàng lợt, hoa có 5-6 cánh màu vàng nhạt, chỉ nhụy đực có lông tơ, bao phấn thì không có lông tơ, bầu noãn được chia thành hai, đôi khi ba phần Ra hoa nhiều đợt, có 2 đợt tập trung vào tháng 3, 4 và tháng 7, 8
1.2.5 Trái
Theo Dương Minh và ctv (2001), trái nhãn thuộc loại quả bì, có đường kính
1-3 cm, có khi lên đến 3,4 cm như nhãn Xuồng Cơm Vàng, màu xanh mờ khi còn non, khi chín có màu vàng sáng, nâu trắng hay xanh tùy theo giống Chùm trái có thể mang 80 trái, trọng lượng trái từ 5-20 g/trái Theo Trần Thế Tục (2000), vỏ trái thường trơn nhẵn, cũng có giống vỏ hơi xù xì Trái có hình cầu, tròn dẹp, cân đối hay hơi lệch, cuống trái hơi lõm Trái chín khoảng 3-5 tháng sau khi hoa nở
Trang 17thịt trái dính vào hột, có thể chiếm đến 75% trọng lượng trái Hàm lượng đường tổng số của thịt trái thay đổi từ 15-25%
1.2.6 Hột
Hột nhãn có hình tròn, tròn dẹp, màu đen hay nâu đen, bóng, phản quang, có giống màu trắng nhưng rất hiếm (nhãn bạch sa) Lá mầm trong hột màu trắng, có nhiều tinh bột, phôi màu vàng Độ lớn hột cũng khác nhau tùy theo giống, có giống hột rất lớn (nhãn Long) nhưng cũng có giống hột rất nhỏ (nhãn Tiêu) hoặc hầu như không có hột do kết quả thụ tinh kém Trung bình trọng lượng hột nhãn từ 1,6-2,6 g,
độ Brix 20-23, trọng lượng hột 1,8-2,4 g Cấu trúc thịt khá ráo, dai, mùi vị ngọt
trung bình và ít thơm Thời gian từ lúc ra hoa đến thu hoạch khoảng 5 tháng
1.3.2 Nhãn Long
Theo Nguyễn Danh Vàn (2002), trước đây giống này được trồng phổ biến ở miền Nam Nhãn Long có trái to, trọng lượng trái 13-16 g, hột lớn có trọng lượng 4,0-5,2 g để lộ vệt nứt trắng, cơm mỏng 3-4 mm, tỷ lệ thịt trái khoảng 45-50%, trái
có trọng lượng trung bình 13-16 g Cấu trúc thịt trái nhão, nước nhiều, ăn rất ngọt, thơm Vỏ trái màu vàng sáng hoặc vàng ngà, có đường ráp vỏ Thu hoạch trái chính
vụ vào tháng 6-8, và thu hoạch trái mùa nghịch tháng 12-1 thời gian ra hoa đến thu
hoạch 4 tháng (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
Trang 18công nhận và đưa vào sản xuất ở các tỉnh phía Nam
Theo Bùi Thị Mỹ Hồng (2005), nhãn Xuồng Cơm Vàng có thân sinh trưởng trung bình, cành mọc xuyên, lá nhỏ và hẹp, dạng thuôn dài, đuôi lá tròn, bìa lá cong
úp xuống, trái hình dạng xuồng, trái trên chùm to đều, trọng lượng trái trung bình 16-25 g, ngay vị trí cuống trái lõm xuống Thịt trái có màu trắng hanh vàng, dày thịt 5,5-6,2 mm, tỷ lệ phần trăm thịt (phần trăm ăn được)/trái đạt 60-70%, độ Brix 21-24%, trọng lượng hột 3-4 g Cấu trúc thịt ráo, dai giòn Mùi vị ngọt, khá thơm, dùng
để ăn tươi là chính Vỏ trái khi chín có màu vàng da bò
Theo Nguyễn Phước Tuyên và ctv (2001), giống nhãn Xuồng Cơm Vàng ra
hoa tự nhiên, cho một vụ trái trong năm vào tháng 7-8, Cây chiết cành cho trái sau 1,5-2 năm, thời gian ra hoa đến thu hoạch 4-4,5 tháng Cây 20 năm tuổi có thể thu hoạch từ 100-400 kg/cây/năm Nhược điểm của nhãn Xuồng Cơm Vàng là tỷ lệ rụng trái non cao và cây chiết sinh trưởng kém trên vùng đất thịt hay đất thịt pha sét
So với nhãn Tiêu Da Bò, nhãn Long thì nhãn Xuồng Cơm Vàng năng suất và
số vụ trong năm ít hơn nhưng về phẩm chất thì trái to hơn, thịt trái ngon hơn Do đó, người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng nhãn Xuồng Cơm Vàng hơn Vì vậy, diện tích trồng nhãn Xuồng Cơm Vàng ngày càng tăng, đặc biệt là huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Trang 191.3.4 Nhãn Edor (Edaw)
Nhãn Edor có nguồn gốc từ Thái Lan Giống này thường được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc Thái Lan, nơi có những tháng mùa đông rất mát mẻ là điều kiện cần thiết cho sự ra hoa Trái có dạng hình cầu, dẹp, vỏ nâu vàng, thịt trắng hồng, vị rất ngon, hương thơm dịu (Wong, 2000) Theo Trần Thị Ngoc Đầy (2009), trọng lượng trái trung bình 10,4 g/trái, dày thịt khoảng 7,01-8,59 mm, trọng lượng hột là 1,2 g trọng lượng thịt trái chiếm 76,6% Độ Brix trung bình 23% Năng suất trung bình của nhãn Edor dưới 5 năm tuổi là 70 kg/cây/năm, đối với cây 5-9 năm tuổi là 114 kg/cây/năm Nhãn Edor được trồng tại huyện Châu Thành tỉnh Đồng
Tháp ra hoa một vụ trong năm, chỉ khi xử lý mới ra hoa
1.3.5 Nhãn Giồng Vĩnh Châu
Theo Trần Văn Hâu (2008), trọng lượng trái trung bình từ 9-10 g, vỏ mỏng nhưng hột to nên tỷ lệ ăn được tương đối thấp 53-55% so với nhiều giống khác Tuy
nhiên, nhãn Giồng có độ ngọt cao trên dưới 22%, có mùi thơm đặc trưng
1.4 VAI TRÕ CỦA KALI ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG
Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), kali là dưỡng chất khoáng cần thiết cho cây trồng, được hấp thu với một lượng lớn Nhu cầu kali cho sinh trưởng tối hảo là 2-5% trọng lượng khô của thân lá, trái tươi và củ Sự hấp thu kali của cây có tính chọn lọc cao và đi kèm với hoạt động biến dưỡng khác Đặc trưng của kali là có tính di động cao ở mọi mức độ, trong mỗi tế bào, trong mô, cũng như trong sự vận chuyển xa qua mạch gỗ và mạch libe K+ có nhiều trong tế bào chất, vai trò chủ yếu là tạo ra tiềm năng thẩm thấu của tế bào và mô của cây Ngoài ra, kali còn có chức năng trong việc kéo dài tế bào và điều hòa sức trương của tế bào có liên quan đến hàm lượng kali trong không bào K+ hoạt động chủ yếu như tác nhân mang điện tích có tính di dộng cao, hình thành những phức hệ yếu và sẵn sàng trao
đổi (Jones và ctv.,1979)
1.4.1 Trong sự kích hoạt enzyme
Ngoài chức năng của kali là làm ổn định và điều hòa tính thẩm thấu, kali còn cần thiết để kích hoạt các enzyme và tiến trình vận chuyển ở màng Theo Suelter
Trang 20(1970), có trên 50 enzyme lệ thuộc một cách hoàn toàn vào K+ , hoặc được kích thích bởi K+ Hiện nay theo Daryl và Brown (1993), kali được ghi nhận đã kích hoạt hơn 60 enzyme ảnh hưởng đến sự trao đổi chất trong cây Ngoài ra, kali vừa đóng vai trò là một coenzyme, vừa đóng vai trò như là một chất xúc tác là gia tăng tốc độ
phản ứng (Vũ Hữu Yêm, 1995; Nguyễn Hạc Thúy và ctv., 2003) Kali không chỉ
kích hoạt enzyme khử nitrate mà còn cần thiết cho sự tổng hợp enzyme này Do vậy, có đủ kali sẽ giảm thiểu được tác hại bón quá nhiều đạm (Vũ Hữu Yêm, 1995; Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Cũng theo Daryl và Brown (1993), kali
là thành phần liên kết độ cứng chắc của cây Giúp cho sự vận chuyển dinh dưỡng trong cây, tăng hàm lượng protein, tăng hàm lượng tinh bột và hàm lượng đường trong nông sản
1.4.2 Trong quá trình quang hợp
Theo Daryl và Brown (1993) và Viện lân và kali Canada (1995), kali giữ vai trò quan trọng trong sự kích hoạt quang hợp, giúp cho sự di chuyển các chất do quang hợp, điều khiển sự đống mở khí khổng, hoạt hóa các enzyme và nhiều tiến trình khác trong cây Kali có vai trò trong sự cố định CO2 ở lục lạp, khi tăng nồng
độ kali sẽ kích thích sự cố định CO2 tăng lên gấp 3 lần Sự gia tăng hàm lượng kali
ở lá kèm theo sự gia tăng tốc độ quang hợp, quang hô hấp và hoạt tính enzyme
ribulose bisphosphate carboxylase, nhưng lại làm giảm hô hấp trong tối (Bottrill và ctv., 1970) Kali tạo điều kiện cho sự phát triển của bó mạch và thúc đẩy quá trình
ligin hóa giúp cây vững chắc hơn, mặt khác phát triển các bó mạch giúp vận chuyển các chất dinh dưỡng và sản phẩm quang hợp được tốt hơn (Vũ Hữu Yêm, 1995;
Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Theo Pfluger và Wiedemanm (1997), nồng độ cao của kali trong tế bào chất
và lục lạp cần thiết để trung hòa các chất tan như anion acid hữu cơ, anion vô cơ và các anion phân tử đa lượng không hòa tan Ngoài ra, kali còn giúp cho sự ổn định
pH từ 7-8 trong tế bào chất, lụp lạp điều kiện thích hợp cho phản ứng của các enzyme trong các quang tổng hợp Kali có thể di chuyển vào giữa các gian bào để trung hòa các acid ngay trong quá trình được tạo thành và len vào trong lòng các
Trang 21phiến lục lạp lôi cuốn các sản phẩm phụ của quá trình quang hợp, giúp cho quá trình quang hợp được diễn ra liên tục (Vũ Hữu Yêm, 1995)
1.4.3 Cải thiện hiệu quả sử dụng nước
Kali giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh pH, đóng mở khí khẩu và điều hòa lượng nước qua khí khổng, cơ chế kiểm soát chế độ nước của
thực vật (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000; Lê Văn Tri, 2001; Nguyễn Bảo Vệ và
Nguyễn Huy Tài, 2004) Nguyên nhân là do kali làm tăng sự ngậm nước của keo nguyên sinh chất và tăng khả năng giữ nước, sự mở khẩu được thực hiện khi hàm lượng kali trong tế bào khẩu gia tăng K+
trong tế bào khẩu làm tăng sự hút nước từ các tế bào lân cận làm tăng sức trương, khi đó khí khẩu mở ra, còn khi đóng thì lượng kali thì lượng kali trong tế bào khẩu di chuyển ra ngoài (Humble và Hsiao, 1970)
Như vậy, sự đóng mở khí khẩu liên quan đến sự ra vào của K+ giúp cây trồng không bị mất quá nhiều nước trong điều kiện khô hạn Do đó, bón đủ kali giúp cây
trồng tiết kiệm nước (Vũ Hữu Yêm, 1995; Lê Văn Hòa và ctv., 2001; Nguyễn Bảo
Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Ngoài ra, kali là hợp phần kháng lại bệnh cây trồng, giúp cây chống đổ ngã, tăng khả năng chống chịu thời tiết bất lợi (Đường Hồng Dật, 2000)
Các yếu tố liên quan đến cải thiện hiệu quả sử dụng nước và tính kháng hạn, với lượng kali thích hợp sẽ làm gia tăng phát triển rễ trong đất, giữ sự cân bằng nước trong cây, khi cung cấp lượng kali thích hợp làm giãm mức độ thoát hơi nước Khi cây trồng thiếu nước cytokinin và ethylene gia tăng làm cho trái chín nhanh (Lê
Văn Hòa và ctv., 2001)
1.4.4 Gia tăng năng suất và sản phẩm nông sản
Theo Đường Hồng Dật (2002), kali giúp tăng phẩm chất nông sản và góp phần tăng suất cây trồng, kali làm tăng hàm lượng đường trong trái, làm cho màu sắc trái đẹp tươi, làm cho hương vị trái thơm và làm tăng khả năng bảo quản của trái
là do ion K+ đóng vai trò quan trọng trong sự cân bằng cation/anion Kali giúp cho quá trình phân chia tế bào và các quá trình sinh tổng hợp các chất hữu cơ Ảnh
Trang 22hưởng mạnh tới sự trao đổi glucid trong cây, giúp cho quá trình hình thành glucid trong quang hợp cũng như quá trình chuyển hóa glucid trong cây Kali rất cần cho
sự tổng hợp protein Ngoài ra, theo Kraus và Beringer (1988), kali còn giữ vai trò quan trọng trong sự phân phối carbohydrate cần cho sự tổng hợp năng lượng giúp cây sinh trưởng và phát triển, có vai trò trong việc cân bằng cation/anion, chức năng trong việc dẫn truyền trong mạch libe các sản phẩm của quá trình đồng hóa và kali
có liên quan trực tiếp trong việc hoạt hóa các enzyme (Lê Xuân Biên, 2008) Kali và nitrate là cation đồng hành di chuyển rất nhanh lên chồi Sự hấp thu của các cation đồng hành chịu ảnh hưởng của sự khử nitrate và khử ATP từ quang hợp Do vậy, trong điều kiện thời tiết bất lợi K+ đóng vai trò rất quan trọng trong sự chuyển vị nitrate Nồng độ kali cao trong ống sàng có liên quan đến cơ chế chuyển tải sucrose
ở mạch libe để tạo áp lực thẩm thấu trong việc chuyển tải các sản phẩm quang hợp
từ lá đến nơi dự trữ tăng (Vũ Hữu Yêm, 1995; Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Ở cây thiếu kali, một vài sự thay đổi hóa học xảy ra như làm giảm sự tích lũy các carbohydrate hòa tan, giảm mức độ tinh bột và tăng sự tích lũy các hợp chất N hòa tan tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh và vi khuẩn ở mô cây, hoạt động của các enzyme amylase và invertase bị kìm hãm rất mạnh (Launchi
và Pangkool, 1978) Cây thiếu kali đốt ngắn, hoa ít, phát triển còi cọc, thân yếu dễ
bị đổ ngã, trái và hột bị teo thắt lại, rễ cây dễ bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh thối rễ
Do đó ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và phẩm chất nông sản (Nguyễn Xuân
Trường và ctv., 2000)
1.4.5 Ảnh hưởng đến chất lượng
Chất lượng nông sản sau thu hoạch được cải thiện rất tốt nhờ vào phân bón Nhưng nếu lạm dụng quá mức của một loại dinh dưỡng, đặc biệt là nitrogen, thường dẫn đến giảm chất lượng nông sản, khó bảo quản (Vũ Hữu Yêm, 1995) Đồng thời ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người sử dụng sản phẩm, do hàm lượng nitrate trong nông sản cao (Trần Thị Kim Ba, 2007) Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh về tầm quan trọng của việc cân bằng dinh dưỡng trong canh tác đối với sự hình thành chất lượng nông sản Trong điều kiện cây đủ dinh dưỡng kali thì hàm lượng đường trong
Trang 23rau và quả, tinh bột trong củ khoai tây được nâng lên, độ bền của sợi lanh và những cây lấy sợi khác tốt hơn, áp suất thẩm thấu của dịch bào được tăng lên Đo đó, tính
chịu rét của cây trồng cũng được tăng lên (Nguyễn Hạc Thúy và ctv., 2003)
Theo Võ Thị Bích Thủy (2005), khi tăng lượng kali bón cho dưa lê từ 80 kg
K2O/ha lên 160 kg K2O/ha thì có tác dụng trong việc gia tăng độ Brix của thịt trái, thời gian tồn trữ trái và hàm lượng chất khô trong thịt trái Cũng theo Võ Thị Bích Thủy (2005), trong hai dạng kali được sủ dụng là KNO3 và KCl thì dạng KNO3
(Bón ở thời điểm 4 và 7 ngày trước thu hoạch) cho hàm lượng chất khô trong thịt trái và độ Brix thịt trái cao hơn bón dạng KCl (được bón 4 lần/vụ) Qua nhiều nghiên cứu của Nguyễn Trịnh Nhất Hằng và Nguyễn Minh Châu (2001), cho thấy bón phân kali dạng KNO3, KCl cho màu sắc trái thanh long đỏ đẹp, hàm lượng TSS tăng cao hơn so với đối chứng
Trên giống xoài cát Hòa Lộc, theo Mai Thu Hương (2004) và Trần Thị Kim
Ba (2007), cho thấy việc cung cấp kali qua lá vào giai đoạn tiền thu hoạch có tác dụng hiệu quả trong việc gia tăng phẩm chất trái xoài sau thu hoạch Đặc biệt ở các nghiệm thức xử lý KNO3 và K2CO 3 4g K/l cho hiệu quả cao hơn trong việc tăng độ cứng thịt trái, hàm lượng đường tổng số, hàm lượng tinh bột, hàm lượng chất khô
Theo Braunschweig (1990), sự chọn lựa loại phân kali tùy thuộc vào sự kết hợp hóa chất (chloride, sulphat, nitrate) và sự thỏa mãn các chất dinh dưỡng khác (sodium và magnesium) Sự đi kèm của các anion không ảnh hưởng đến hiệu lực của kali ngoại trừ sự tăng nồng độ của KNO3 trong cây Chloride ảnh hưởng đến sự quan hệ nước của cây và không ảnh hưởng đến sự biến dưỡng Tuy nhiên, nồng độ quá cao có thể gây độc Sulfur trong K2SO4 là một chất dinh dưỡng cần thiết cho cây, là chất tạo mùi đặc trưng cho một số loại cây trồng (Châu Trùng Dương (2007)
Dạng phân kali phun qua lá thường sử dụng là KNO3 , đây là một loại muối
có màu trắng, dễ tan trong nước KNO3 không chỉ cung cấp hàm lượng kali cao cho cây trồng (46% K2O) mà còn chứa hàm lượng N dể tiêu (14%) mà cây trồng có thể
sử dụng trực tiếp Hàm lượng N cao kích thích sự tăng trưởng, tăng trọng lượng trái nhưng hàm lượng các chất dự trữ giảm, dẫn đến hàm lượng đường trong trái giảm
Trang 24và hàm lượng nitrate tích lũy trong trái cao có thể gây độc cho người sử dụng Vì vây, sử dụng KNO3 phải hết sức thận trọng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
1.5 SỰ HẤP THU DINH DƯỠNG QUA LÁ
Việc hấp thu dinh dưỡng chủ yếu từ rễ Tuy nhiên lá và các bộ phận non của cây cũng có thể hấp thu dưỡng chất khoáng dù ở mức độ hấp thu không cao so với
rễ Bên cạnh những loại phân bón vào đất được rễ hấp thu cho cây thì cũng có loại phân cung cấp dinh dưỡng cho cây thông qua việc phun qua lá (Taiz và Zeiger, 1998) Việc cung cấp dinh dưỡng cho cây, đặc biệt là chất khoáng có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như: bón qua đất, phun qua lá, ngâm hột giống,
nhúng rễ, bơm vào thân (Lê Văn Hòa và ctv., 2001) Cung cấp dưỡng chất qua lá
cho cây trồng là phương pháp cung cấp dinh dưỡng nhanh hơn so với phương pháp cung cấp qua rễ Tuy nhiên việc bón dinh dưỡng khoáng qua lá mang tính nhất thời
và có một số hạn chế như vận tốc hấp thu khoáng chậm, đặc biệt đối với những lá
có lớp cutin dày (cây họ cam quýt, cà phê); dưỡng chất bị trôi đi ở những lá không thấm nước hay bị rửa trôi do mưa; dung dịch phun lá bị khô nhanh; sự chuyển vị của một vài dưỡng chất khoáng nào đó từ nơi được cung cấp đến bộ phận khác của cây bị hạn chế (chẳng hạn như sự chuyển vị của Ca); đối với khoáng đa lượng thì số lượng cung cấp bị hạn chế qua một lần phun Ngoài ra, việc cung cấp dinh dưỡng qua lá thường ở nồng độ thấp, nếu cao sẽ dể gây tổn thương qua lá, lá bị cháy
Mặc dù có trở ngại trong việc cung cấp dinh dưỡng qua lá, nhưng cũng có lợi ích đối với đất khoáng hữu dụng thấp: ở đất đá vôi, có lượng Fe hữu dụng thấp và thiếu Fe rất phổ biến do hiện tượng “lime chlorosis” Việc phun dinh dưỡng qua lá
có hiệu quả hơn bón vào đất, dù ở dạng chelate đất tiền; lớp đất mặt bị khô; ở những vùng đất bán khô hạn, lớp đất mặt thiếu nước kéo theo làm giảm nồng độ hữu dụng các dưỡng chất trong suốt thời gian sinh trưởng của cây (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004); rễ giảm hoạt động ở giai đoạn sinh sản: do sự canh tranh carbohydrate giữa rễ và bông; do đó việc phun dinh dưỡng qua lá có thể bù đắp sự thiếu dinh dưỡng này (Trobish và Schilling, 1970)
Trang 25Ngày nay, việc áp dụng kỹ thuật cung cấp dinh dưỡng qua lá bằng cách phun
đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp và góp phần không nhỏ đối với sự phát triển của cây trồng Khi sử dụng phân bón qua lá cần phải hiểu biết rõ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu Từ đó áp dụng biện pháp xử lý sao cho đạt hiệu quả cao nhất (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
1.6 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP 1.6.1 Vị trí địa lý
Châu Thành là một huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đồng Tháp, có diện tích tự nhiên là 245,94 km2 Tọa độ địa lý 10009‟ đến 10018‟ vĩ độ Bắc, từ
105042‟ đến 105055‟ kinh đông Phía Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang; phía Tây Bắc giáp huyện Cao Lãnh và thị xã Sa Đéc; phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long Châu Thành có địa hình khá bằng phẳng, có hướng dốc nghiêng dần từ sông Tiền vào nội đồng theo hướng Bắc-Nam Cao độ phổ biến từ 0,8-1,2 m Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống kênh gạch chằn chịt, thuận lợi cho việc tưới tiêu phát triển
nông nghiệp (UBND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, 2001)
1.6.2 Khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, quanh năm nóng ẩm, lượng mưa phong phú, các yếu tố khí hậu có sự phân hóa rõ rệt theo mùa Châu Thành là vùng có số giờ nắng cao, bình quân 208 giờ/tháng Tháng 3 có số giờ nắng cao nhất
282 giờ Tháng 9 có số giờ thấp nhất chỉ khoảng 142-148 giờ Trong năm có hai hướng gió chính: gió mùa Tây-Nam (tháng 4 đến tháng11) thổi từ Vịnh Thái Lan vào mang nhiều hơi nước nên gây mưa, gió mùa Đông-Bắc (tháng 12 đến tháng 4) thổi từ lục địa nên khô hanh Trong năm có hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4-11 Mùa khô từ tháng 11-4 năm sau Lượng mưa trung bình năm là 1.739 mm, phân bố không đều, 99% lượng mưa trong năm tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 Độ ẩm trung bình năm khoảng 83%, cao nhất vào tháng 9-10 với khoảng 88%, thấp nhất vào tháng 12 với 81% (UBND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, 2001)
Trang 261.6.3 Đất đai
Theo kết quả nghiên cứu về đất đai của Viện Nông Hóa Thổ Nhƣỡng - Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2007), cho rằng Châu Thành có 2 nhóm đất chính là: đất phù sa 16.120 ha chiếm 68,68% diện tích toàn huyện, đất phèn 4.981 ha chiếm 21,28% diện tích toàn huyện và diện tích sông rạch 2.303 ha chiếm 9,84% toàn diện tích huyện (UBND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, 2008)
Trang 27CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN - PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian: Thí nghiệm được thực hiện từ 08-12/2010
Địa điểm: Tại vườn nhãn Xuồng Cơm Vàng của nông dân Trần Văn Tuấn ở vùng đất phù sa thuộc xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Mẫu trái được thu và chuyển về phòng thí nghiệm của Bộ môn Khoa Học Cây Trồng-Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng-Đại Học Cần Thơ để phân tích mẫu
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
Vườn nhãn Xuồng Cơm Vàng (ghép trên gốc nhãn Tiêu Da Bò trồng bằng hột) bảy năm tuổi, vườn có hệ thống mương tưới và đê bao chống lũ chủ động Hóa chất dùng trong thí nghiệm là Kali nitrate (KNO3)
+ Nghiệm thức 1 (NT1): phun KNO3 (1%) vào thời điểm 10 tuần sau khi đậu trái (1 lần phun)
+ Nghiệm thức 2 (NT2): phun KNO3 (1%) vào thời điểm 6, 10 tuần sau khi đậu trái (2 lần phun)
Trang 28+ Nghiệm thức 3 (NT3): phun KNO3 (1%) vào thời điểm 2, 6 và 10 tuần sau khi đậu trái (3 lần phun)
+ Nghiệm thức đối chứng (ĐC) (NT4): không phun KNO3
Phun ướt đều tán cây khoảng 4 lít dung dịch/cây
2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Mỗi cây được treo 10 chùm được phân bố đều cả các hướng trên cây
2.2.2.1 Đường kính và chiều dài trái theo thời gian tăng trưởng
Đo kích thước trái 2 tuần/lần tính từ sau khi đậu trái 2 tuần trên 10 chùm, chọn ngẫu nhiên 3 trái trên chùm để đo Đo bằng thước kẹp, đo đường kính trái hai lần thẳng góc giữa trái, lấy giá trị trung bình và đo chiều dài trái
Chiều dài trái: Đo một lần từ cuống trái đến đít trái (Hình 2.2)
Đường kính trái: đo bằng thước kẹp, đo 2 lần thẳng góc lấy giá trị trung bình (Hình 2.3)
Độ dày thịt trái: cắt trái làm đôi theo bề hoành, dùng thước kẹp đo từ phía trong vỏ đến giáp phần hột (Hình 2.4)
Trọng lượng thịt trái: lấy trọng lượng trái trừ cho trọng lượng vỏ hột rồi suy
Trang 29Hình 2.1 Số trái trên chùm nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO 3 với số lần phun
khác nhau theo thời gian tăng trưởng tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
khác nhau theo thời gian tăng trưởng tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
Trang 30Hình 2.3 Đo đường kính trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được xử lý KNO 3 với số lần
phun khác nhau theo thời gian tăng trưởng tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
phun khác nhau theo thời gian tăng trưởng tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
2.2.3 Xử lý thống kê
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel Tính toán thống kê bằng phần mềm SPSS, dùng phép thử Duncan để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa 5%
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 ẢNH HƯỞNG KNO 3 ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA TRÁI
3.1.1 Kích thước trái
Đường kính trái có xu hướng gia tăng theo thời gian và không có sự khác biệt qua phân tích thống kê ở thời điểm 2 và 6 tuần sau khi đậu trái, đường kính trái dao động lần lượt là 0,94-1,12 và 1,88-1,99 cm, trung bình lần lượt là 1,01 và 1,93
cm Tuy nhiên có sự khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% giai đoạn
10 tuần sau khi đậu trái Ở thời điểm 10 tuần sau khi đậu trái nghiệm thức 3 lần phun đường kính trái cao nhất (3,03 cm) nhưng không khác biệt với nghiệm thức 2 lần phun (2,99 cm) và nghiệm thức 2 lần phun không khác biệt với nghiệm thức 1 lần phun (2,90 cm) và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng (2,89 cm) (Bảng 3.1)
phun khác nhau theo thời gian tăng trưởng tại xã Phú Hựu - Châu Thành - Đồng Tháp
ns: không khác biệt có ý nghĩa thống kê;
*: khác biệt có ý nghĩa thống kê 5%;
(1): phun 1 lần trước khi thu hoạch;
(2): phun 2 lần trước khi thu hoạch;
(3): phun 3 lần trước khi thu hoạch;
(ĐC): không phun