TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài: “Ảnh hưởng của kali nitrat phun qua lá đến năng su
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
NGUYỄN HOÀNG DUY
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI NITRAT PHUN QUA LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NHÃN XUỒNG CƠM VÀNG (Dimocarpus Longan Lour) TẠI
XÃ AN KHÁNH HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Cần Thơ - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
NGUYỄN HOÀNG DUY
ẢNH HƯỞNG CỦA KALI NITRAT PHUN QUA LÁ ĐẾN
NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT NHÃN XUỒNG
CƠM VÀNG (Dimocarpus Longan Lour) TẠI
XÃ AN KHÁNH HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS TS NGUYỄN BẢO VỆ NGUYỄN HOÀNG DUY MSSV: 3087605
Cần Thơ - 2012
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“Ảnh hưởng của kali nitrat phun qua lá đến năng suất và phẩm chất nhãn
Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus longan Lour) tại xã An Khánh huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp”
Do sinh viên NGUYỄN HOÀNG DUY thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Cán bộ hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“Ảnh hưởng của kali nitrat phun qua lá đến năng suất và phẩm chất nhãn
Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus longan Lour) tại xã An Khánh huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp”
Do sinh viên: NGUYỄN HOÀNG DUY thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày .tháng năm 2012
Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -
DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
LỜI CAM ĐOAN
Trang 5Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
(Ký tên)
Nguyễn Hoàng Duy
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên cho tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ đã tận tình hướng dẫn, động viên tinh thần và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành bài luận văn này
Chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Xuân Thu là cố vấn của lớp trồng trọt khóa 34 đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học
Đồng biết ơn quý Thầy (Cô) trong khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ đã giảng dạy truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Chân thành cảm ơn thầy Lê Vĩnh Thúc, thầy Nguyễn Hồng Phú và cô Bùi Thị Cẩm Hường (Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ) đã tận tình, giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Đến đây, tôi cũng xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến Cha, Mẹ và gia đình đã không ngại khó khăn gian khổ tiếp sức cho tôi tới giờ phút này
Thân gởi lời chúc sức khỏe – thành đạt đến lớp trồng trọt khóa 34, những người bạn đã động viên và giúp đở tôi trong suốt thời gian học tập
NGUYỄN HOÀNG DUY
Trang 7
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: NGUYỄN HOÀNG DUY Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 16-02-1989 Dân tộc: Kinh
Quốc tịch: Việt Nam
Nơi sinh: Sóc Trăng
Quê quán: Thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
Họ và tên cha: Nguyễn Hoàng Nhu Sinh năm: 1963
Nghề nghiệp: Bộ đội biên phòng tỉnh Sóc Trăng
Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị Tuyết Trinh Sinh năm: 1965
Nghề nghiệp: Nội trợ
Điện thoại: 0939 200 926
E-mail: nhduy05@student.ctu.edu.vn
II QUÁ TRÌNH HOC TẬP
Từ năm 1995-1996 đến năm 1999-2000 là học sinh tiểu học Trường tiểu học trung bình B, xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Từ năm 2000-2001 đến năm 2003-2004 là học sinh trung học Trường trung học phổ thông trung bình A, xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Từ năm 2004-2005 đến năm 2006-2007 là học sinh phổ thông học Trường trung học phổ thông Văn Ngọc Chính, xã thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
Từ năm 2008 đến nay là sinh viên Trường Đại Học Cần Thơ, ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Trang 8MỤC LỤC
Lời cam đoan……… iii
Lời cảm tạ……… iv
Lý lịch cá nhân……… v
Mục lục……… vi
Danh sác bảng……… ix
Danh sách hình……….…… … xi
Tóm lược……… xii
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ………2
1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây nhãn……… 2
1.1.1 Nguồn gốc………2
1.1.2 Sự phân bố………2
1.2 Đặc điểm thực vật cây nhãn ……….3
1.2.1 Rễ 3
1.2.2 Thân 3
1.2.3 Lá 4
1.2.4 Hoa 4
1.2.5 Trái 5
1.2.6 Hột 5
1.3 Đặc điểm của nhãn Xuồng Cơm Vàng 6
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất nhãn 7
1.4.1 Gió và đất đai 7
1.4.2 Nước 7
1.4.3 Nhiệt độ 8
Trang 91.4.4 Ánh sáng 8
1.4.5 Dinh dưỡng khoáng 9
1.5 Đặc tính hóa lý của Nitrat kali (KNO3) 9
1.6 Vai trò của Nitrat kali (KNO3) đối với cây trồng 9
1.6.1 Sự kích hoạt của Enzyme 10
1.6.2 Trong sự tổng hợp Protein……… 11
1.6.3 Hoạt động của khẩu và hiệu quả của sử dụng nước……… 11
1.6.4 Giúp tăng năng suất cây trồng……… ……… 12
1.7 Sự hấp thu dinh dưỡng qua lá 12
1.8 Hiệu quả của KNO3 lên phẩm chất trái 13
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 Phương tiện 15
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 15
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 15
2.2 Phương pháp 15
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 15
2.2.2 Các chi tiêu theo dõi 16
2.3 Xử lý số liệu 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
3.1 Ảnh hưởng của KNO3 đến sự tăng trưởng của 18
3.1.1 Kích thước trái 18
3.1.2 Số trái trên chùm .21
3.2 Ảnh hưởng của KNO3 đến chất lượng trái sau thu hoạch 23
3.2.1 Kích thước trái 23
3.2.2 Trọng lượng trái 27
Trang 103.2.3 Số trái/chùm và trọng lượng chùm trái 28
3.2.4 Năng suất nhãn 31
3.2.5 Tỷ lệ đậu trái 32
3.2.6 Màu sắc vỏ trái 34
3.2.7 Độ dày thịt trái 35
3.2.8 Độ brix 37
3.2.9 Trọng lượng thịt trái và trọng lượng vỏ+hột 38
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
4.1 Kết luận……… 43
4.2 Đề nghị………43
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 44
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
3.1 Đường kính (cm) của trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
3.2 Chiều cao trái (cm) của nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3
với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện
3.3 Tỉ lệ kích thước của trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3
với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện
3.4 Số trái trên chùm của trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
3.5 Chiều cao trái (cm) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3 với
số lần phun khác nhau trước khi thu hoạch tại xã An Khánh huyện
3.6 Số trái/chùm và ước lượng trọng lượng chùm trái (g) của nhãn
Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3 với số lần phun khác nhau sau
khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp 26 3.7 Tỷ lệ đậu trái (%) của trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
3.8 Độ dày thịt trái (cm) của nhãn Xuồng Cơm Vàng với số lần phun
KNO3 khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu
Trang 123.9 Trọng lượng vỏ + hột (g) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
3.10 Tỉ lệ ăn được (%) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun với số lần
phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
37
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
2.1 Hình ảnh khi lấy chỉ tiêu trong phòng thí nghiệm về kích thước trái
3.1 Đường kính trái (cm) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3
với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện
3.2 Tỉ lệ kích thước nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3 với số
lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu
3.3 Trọng lượng trái (g) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3
với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện
3.4 Trọng lượng chùm trái (g) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
3.5 Năng suất (kg/cây) nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO3 với
số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện
3.6 Độ khác màu sắc (∆E) trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp 34 3.7 Độ brix dịch trái (%) trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
Trang 143.8 Trọng lượng thịt trái (g) trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun
KNO3 với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh
Trang 15NGUYỄN HOÀNG DUY, 2012 “Ảnh hưởng của kali nitrat phun qua lá đến năng
suất và phẩm chất nhãn Xuồng Cơm Vàng (Dimocarpus Longan Lour) tại xã An Khánh huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Trồng Trọt, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Bảo Vệ
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của kali nitrat phun qua lá đến năng suất và phẩm
chất nhãn Xuồng Cơm Vàng tại xã An Khánh huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm tìm ra lần phun KNO 3 phù hợp cho nhãn Xuồng Cơm Vàng trên đất phù sa huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp khi trái đạt kích thước khoảng 0,5 cm Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với
4 nghiệm thức và 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 cây, xử lý KNO 3 (1%) với các lần phun khác nhau bao gồm: nghiệm thức 1 phun 1 lần (10 tuần sau khi đậu trái), nghiệm thức 2 phun 2 lần (6 và 10 tuần sau khi đậu trái), nghiệm thức
3 phun 3 lần (2, 6 và 10 tuần sau khi đậu trái), nghiệm thức 4 đối chứng không phun.Xử lý KNO 3 giai đoạn sau khi đậu trái không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trái, tỷ lệ đậu trái, số trái/chùm, trọng lượng trái/chùm và độ dày thịt trái Qua kết quả cho thấy xử lý KNO 3 3 lần với nồng độ 1% vào thời điểm 2 tuần, 6 tuần và
10 tuần sau khi đậu trái làm gia tăng về phẩm chất trái như độ Brix dịch trái cao (21,3%), làm cho độ khác màu trái đẹp, vàng và sáng hơn (44,4), trọng lượng thịt trái tăng lên (12,7 g), trọng lượng trái và đường kính trái khi thu hoạch cũng tăng lên (lần lượt là 20,4 g và 3,33 cm) và làm cho trọng lượng chùm trái gia tăng (273g), năng suất cao (37,4 kg/cây)
Trang 16MỞ ĐẦU
Nhãn (Dimocarpus longan Lour) là cây trồng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phát
triển rất tốt trong điều kiện nhiệt đới, đây là loại cây ăn trái khá phát triển ở Đồng bằng sông Cửu Long và được ưa chuộng trong cả nước Nhãn hàm lượng đường chiếm 17-20%, được sử dụng ăn tươi, trái nhãn còn được làm các vị thuốc trong đông y,… Diện tích trồng nhãn ngày càng được mở rộng ở hầu hết các tỉnh từ đồng bằng ven biển đến các khu vực ven sông, mang lại hiệu quả kinh tế cao Do đó, trồng giống nhãn chất lượng tốt có ý nghĩa rất quan trọng và cần được quan tâm hiện nay
Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Đồng Tháp là vùng đất trù phú phía Nam sông Tiền, diện tích tự nhiên là 245,94 km2 Với tiềm năng phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả; huyện Châu Thành có 18.378 ha đất Nông nghiệp Trong đó, diện tích cây hàng năm là 12.400 ha, cây lâu năm là 5.471 ha và nhãn chiếm hơn 2.400 ha
Bên cạnh các giống nhãn quen thuộc được trồng phổ biến là nhãn Long và nhãn Tiêu Da bò, giống nhãn mới là nhãn Xuồng Cơm Vàng (hay còn được gọi là nhãn Edor) được nhập từ Thái Lan và được nhân giống bằng cách chiết, đang rất được quan tâm và ngày càng được mở rộng về diện tích Giống nhãn Xuồng Cơm Vàng có nhiều ưu điểm vượt trội so với các giống nhãn khác về cả năng suất và chất lượng sản phẩm Đặc biệt là giá thành sản phẩm của nhãn Xuồng Cơm Vàng cao gấp 2-5 lần so với nhãn Long và nhãn Tiêu Da Bò
Tuy nhiên, khó khăn trong quy trình canh tác nhãn hiện nay của huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp là cung cấp dinh dưỡng cho nhãn như thế nào để có năng
suất cao, hạn chế trái nhỏ và phẩm chất kém Chính vì vậy mà đề tài “Ảnh hưởng của kali nitrat phun qua lá đến năng suất và phẩm chất nhãn Xuồng Cơm
Vàng (Dimocarpus longan Lour) tại huyện Châu Thành – Đồng Tháp” được
thực hiện nhằm tìm ra số lần phun kali nitrat (nồng độ 1%) qua lá sau khi đậu trái hiệu quả nhất cho nhãn Xuồng Cơm Vàng trên đất phù sa xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Trang 17CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của nhãn
1.1.1 Nguồn gốc
Cây nhãn có tên khoa học là Dimocarpus longan Lour hay Euphoria longana
Lamk Cây nhãn là cây trồng nhiệt đới và cận nhiệt đới, cùng họ với cây vải và
chôm chôm, thuộc họ Sapindaceae (bồ hòn), giống Euphoria Giống Euphoria có khoảng 7 loài nhưng chỉ có Euphoria longana là được trồng rộng rãi (Menzel và
ctv., 1990)
Có nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng cây nhãn có nguồn gốc từ Trung Quốc,
vì người ta nhận thấy rằng cây nhãn được trồng nhiều ở Quảng Đông, Quảng Tây từ lâu đời và diện tích lớn Ý kiến khác được đưa ra bởi Chandler (1958) thì cây nhãn
là cây bản xứ của vùng đất thấp Ấn Độ, Miến Điện và Trung Quốc, dần dần được trồng rộng rãi ở nhiều nước như Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam, Lào và
cả vùng Florida của Hoa Kỳ
1.1.2 Sự phân bố
Cây nhãn được trồng từ rất lâu đời, phân bố rộng rãi ở nhiều nước nhưng đa
số đều được trồng rãi rác, không đáng kể, chỉ có Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam là nhãn được trồng qui mô đáng kể (Vũ Công Hậu, 1999), còn các nước ở châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương và một số nước nhiệt đới khác thì cây nhãn mới được du nhập vào nên trồng với diện tích rất hạn chế (Trần Thế Tục, 1998)
Ở nước ta cây nhãn được trồng khá phổ biến dọc theo chiều dài của đất nước
từ Bắc chí Nam, do thu được hiệu quả kinh tế cao nên những năm gần đây diện tích trồng nhãn phát triển khá nhanh Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhãn xuất hiện lâu đời ở các khu vực đất giồng (địa hình cao) thuộc các tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Tiền Giang và Bà Rịa–Vũng Tàu Hiện nay, cây nhãn được trồng rộng rãi và thích nghi trên nhiều vùng đất sinh thái khác nhau từ vùng đất giồng, đất nhiễm mặn và phát triển rất tốt trên các vùng đất phù sa bồi (Trần Thị
Trang 18Ngọc Đầy, 2009);Và là cây ăn trái có triển vọng phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.2 Đặc điểm thực vật
1.2.1 Rễ
Rễ nhãn không có lông hút, do đó bón phân cho nhãn nhiều lần và với số lượng phân nhỏ tốt hơn bón ít lần với số lượng phân bón nhiều Ngoài ra rễ nhãn còn có đặc tính giòn và dễ gãy, vì vậy khi vận chuyển cây con phải cẩn thận tránh cho cây khỏi bị sốc (Lê Thanh Phong, 1998) Dựa vào chức năng của rễ, đối với cây nhãn có thể chia làm 3 loại: rễ tơ (còn gọi là rễ hút), rễ quá độ và rễ vận chuyển (Trần Thế Tục, 2000)
Rễ nhãn có 3 thời điểm hoạt động mạnh là cuối tháng 3-4, giữa tháng 5-6 (mạnh nhất) và giữa tháng 10 Hoạt động của bộ rễ nhãn chịu nhiều yếu tố chi phối nhất là nhiệt độ, đất và nước Nhiệt độ đất từ 100C trở lên là rễ bắt đầu hoạt động, nhiệt độ từ 23-280C là thích hợp nhất, 29-300C là nhiệt độ mà rễ hoạt động chậm dần và ở 33-340C bộ rễ hình như ngừng sinh trưởng Yêu cầu về nước là 70%, nước
tự do 14-23% thì nhãn sinh trưởng thuận lợi và mạnh nhất (Phạm Văn Duệ, 2005)
1.2.2 Thân
Cây nhãn có một số đặc điểm hình thái giống như cây chôm chôm, đặc biệt
là cây vải vì cùng họ Sapindaccae Cây nhãn cao 5-10 m (có thể cao đến 20 m) tán tròn đều và mọc thẳng hơn khi trồng bằng hột, vỏ thân sần sùi, một vài giống có thân láng như cây vải, gỗ nhãn thì giòn Trên cây nhãn, chồi ngọn và chồi bên đều
có thể phát triển thành cành Việc hình thành thân cành của nhãn do sự kéo dài của mầm ở đỉnh ngọn Sự ra đọt trên cùng một cành cách biệt nhau rõ ràng (còn gọi là cơi đọt) và tùy thuộc vào điều kiện nước, phân bón và thời tiết Cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, màu nâu sậm và trên vỏ cành có đường vết nứt (Trần Thế Tục, 2000)
1.2.3 Lá
Lá nhãn thuộc loại lá kép lông chim, lá đơn mọc đối xứng hay so le Đa số các giống nhãn có từ 3-5 đôi lá, lá nhãn hình mác, mặt lá xanh đậm, lưng lá xanh
Trang 19nhạt, cuống lá ngắn, gân chính và gân phụ nổi rõ Lá non màu đỏ, tím hay đỏ nâu tùy giống và thay đổi theo thời tiết Lá nhãn từ lúc bắt đầu đến thành thục biến động khoảng 40-50 ngày tùy theo nơi trồng, điều kiện dinh dưỡng và mùa vụ Tuổi thọ của lá khoảng 1-3 năm (Trần Thế Tục, 2000)
1.2.4 Hoa
Phát hoa mọc ở đầu ngọn cành dài từ 8-40 cm, rộng đến 30 cm không mang
lá, thẳng và có nhánh nhỏ mang hoa phân chia với gốc độ rộng Hoa nhỏ màu trắng vàng, có 5 lá đài, 5-6 cánh hoa, chỉ nhụy đực có lông tơ, bao phấn thì không có lông
tơ, bầu noãn được chia thành 2, đôi khi 3 phần Trên một phát hoa có rất nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn của cây và mùa vụ trong năm Có thể từ vài trăm đến 2000-
3000 hoa (Trần Thế tục, 2000)
Hoa nhãn có 3 loại: hoa lưỡng tính, hoa đực và hoa cái
Hoa lưỡng tính: có nhị đực và nhụy cái phát triển bình thường, có khả năng thụ phấn thụ tinh để phát triển thành trái
Hoa đực: nhụy cái bị thoái hóa, có 7-8 chỉ nhị phát triển có bao phấn, khi thành thục bao phấn nứt ra, phấn hoa tung ra ngoài để thụ phấn cho hoa khác, 1-3 ngày sau khi nở thì bắt đầu tàn
Hoa cái: cũng có 7-8 chỉ nhị nhưng nhị đực đã thoái hóa, ở giữa có nhụy cái phát triển Khi thành thục đầu nhụy chẻ làm đôi, sau khi hoa nở nhụy hoa tiết ra mật ngọt Sau khi thụ phấn, thụ tinh 2-3 ngày thì cánh hoa rụng đi, bầu noãn phát triển
có màu xanh (Trần Thế Tục, 2002)
Thời gian nở hoa trên một phát hoa khoảng 15-30 ngày và mỗi hoa là 1-3 ngày Trên một phát hoa thông thường hoa đực nở trước rồi đến hoa cái và hoa lưỡng tính, kết thúc là hoa đực Sự nở hoa của nhãn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Hoa thụ phấn nhờ côn trùng (kiến, ruồi, ong) hiệu quả nhất là trong thời gian từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều (Nguyễn Thanh Triều, 2009) Phát hoa nhãn có rất nhiều hoa nhưng tỉ lệ đậu trái rất thấp và thường rụng ở giữa đoạn hai tuần sau khi đậu trái (trái non có đường kính khoảng 1 cm) và khi trái bắt đầu vô cơm (1,5 tháng trước khi thu hoạch hoặc 1,5-2 tháng sau khi đậu trái) (Trần Văn Hâu, 2008)
Trang 201.2.5 Trái
Trái thuộc loại phì quả, có đường kính 1-3 cm, màu xanh mờ khi còn non, khi chín có màu vàng sáng, nâu trắng hay xanh tùy giống Vỏ trái nhãn thường trơn nhẵn, có giống vỏ hơi xù xì màu vàng xám hay xanh nhạt Giữa vỏ trái và hột có lớp cơm trái (tử y) có màu trắng hoặc trắng sữa, thơm và ngọt Cơm trái ít dính vào hột,
có thể chiếm đến 75% trọng lượng trái Hàm lượng đường tổng số của cơm trái thay đổi từ 15-20% khi chín (Trần Thế Tục, 2000) Trọng lượng trái thay đổi từ 5-20 g/trái (trọng lượng tốt nhất để bán tươi là trên 12-18 g/trái, vỏ trái mỏng, láng và
dai) (Dương Minh và ctv., 2001) Trái có thời gian phát triển từ lúc thụ phấn thụ tinh cho đến lúc chín kéo dài khoảng 3-5 tháng tùy theo giống và điều kiện khí hậu (Nguyễn Thanh Triều, 2009)
1.2.6 Hột
Hột nhãn có hình tròn, tròn dẹp, màu đen hay nâu đen, bóng, có giống màu trắng nhưng rất hiếm (nhãn bạch sa) Ở giống Long nhãn, một đầu nơi hột tiếp giáp với cuống nứt ra có màu trắng, các giống khác thì không có đặc điểm này (Nguyễn Thanh Triều, 2009)
Lá mầm trong hột màu trắng, có nhiều tinh bột, phôi màu vàng Độ lớn của hột cũng rất khác nhau giữa các giống, thường từ 1,6-2,6 g, chiếm 17,3-42,9% trọng lượng trái Cũng có giống hột rất bé, hầu như không có hột, do kết quả thụ phấn thụ tinh kém (Trần Thế Tục, 2002)
1.3 Đặc điểm của nhãn Xuồng Cơm Vàng
Nhãn Xuồng Cơm Vàng có tên khoa học là Dimocarpus Longan Lour Và có
tên tiếng Anh là Xuong Com Vang Longan Giống nhãn này được tuyển chọn qua công tác bình tuyển giống nhãn năm 1996 và hội thi cây nhãn giống tốt do Viện Cây
Ăn quả miền Nam tổ chức vào năm 1997 Cá thể ưu tú của giống này được trồng tại
Bà Rịa – Vũng Tàu và được phát triển rộng tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Sau khi đoạt giải A trong hội thi cây nhãn giống tốt vào năm 1997, cá thể ưu
tú của giống này mang mã số NXCVT 20 Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận và đưa vào sản xuất ở các tỉnh phía Nam
Trang 21Theo Bùi Thị Mỹ Hồng (2005), giống nhãn Xuồng Cơm Vàng có thân sinh trưởng trung bình, cành mọc xuyên lá nhỏ và hẹp, dạng thuôn dài, đuôi lá tròn, bìa
lá cong úp xuống; trái có hình dạng xuồng, trọng lượng trái có hình dạng từ 16-25 g/trái, ngay vị trí cuống quả lỏm xuống, vỏ trái màu vàng da bò, bề mặt vỏ trái có nhiều chấm nhỏ màu nâu đen, độ dài thịt trái từ 5,5-6,2 mm, tỷ lệ phần trăm ăn được là 60-70% so với trọng lượng trái Cũng theo Bùi Thị Mỹ Hồng (2005), trong điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp đường kính trái của nhãn Xuồng Cơm Vàng có thể đạt 34 mm nếu được chăm sóc tốt, bón phân cân đối Thịt trái nhãn Xuồng Cơm Vàng màu trắng hanh vàng , ráo, dòn, vị ngọt và độ brix từ 21-24%
Giống nhãn Xuồng Cơm Vàng dễ ra hoa trong điều kiện, cây chiết cành cho trái sau khi trồng khoảng 1,5-2 năm, mùa thu hoạch chính từ tháng 7-8 dương lịch,
từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 4-4,5 tháng, cây 20 năm tuổi có thể thu hoạch từ 100-140 kg/cây/năm Nhược điểm của giống nhãn Xuồng Cơm Vàng là trái rất dễ bị rụng và cây chiết sinh trưởng kém trên vùng đất thịt hay đất thịt pha cát (Viện Cây
Ăn Quả Miền Nam, 2009)
So với nhãn Tiêu Da Bò và nhãn Long thì nhãn Xuồng Cơm Vàng cho số vụ thu hoạch trong năm ít nhưng về phẩm chất trái to hơn, cấu trúc thịt ngon hơn nên được người tiêu dung ưa chuộng hơn Vì lẽ đó mà diện tích trồng nhãn Xuồng Cơm Vàng ngày càng tăng, đặc biệt phát triển mạnh ở vùng đất phù sa huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất nhãn
1.4.1 Gió và đất đai
Gió Tây thường gây nóng, khô làm nướm nhụy mất nước ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh và làm rụng trái Bão cũng làm gãy cành, rụng trái làm giảm năng suất (Trần Thế Tục, 2000) Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), để thu được năng suất cao, phẩm chất tốt, tuổi thọ cây kéo dài thì nên chọn những chân đất tơi xốp, nhiều mùn, đất phù sa, luôn có độ ẩm cho cây, pH khoảng 5-6,5 Đất trồng nhãn phải lên liếp cao, xung quanh có bờ bao để có thể bơm nước ra khỏi vườn khi cần thiết Nếu bị ngập úng kéo dài, cây có thể bị chết, nhất là một số giống nhãn cải tiến gần đây thường cho năng suất cao, phẩm chất ngon như nhãn Xuồng Cơm Vàng
Trang 22ẩm tự nhiên quanh năm phải tạo điều kiện để cây nhãn không bị hạn, đặc biệt khi cây ra hoa kết quả hoặc giai đoạn sinh trưởng mạnh Trong giai đoạn nhãn đang ra
hoa, nếu mưa nhiều làm cho hoa bị rụng và đậu trái ít (Menzel và ctv., 1990)
1.4.3 Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển ra hoa đậu trái
và vùng phân bố của nhãn Nhiệt độ thích hợp cho sự ra hoa và đậu trái ở Thái Lan
từ 20-250C, nhiệt độ trên 400C làm trái thiệt hại và gây ra sự rụng trái non (Menzel
và ctv., 1990) Những vùng có nhiệt độ bình quân/năm từ 200C trở lên là thích hợp với cây nhãn Hoa nhãn nở yêu cầu nhiệt độ cao 20-270C, nếu gặp nhiệt độ thấp thì việc thụ phấn và thụ tinh sẽ gặp trở ngại dẫn đến năng suất thấp Mùa thu hoạch trái
có nhiệt độ cao phẩm chất trái sẽ tốt (Trần Thế Tục, 2000)
Theo Trần Văn Hâu (2005), nhiệt độ thấp ảnh hưởng trực tiếp hay cảm ứng lện sự ra hoa khó phân biệt được, cây đa niên đòi hỏi nhiệt độ lạnh là bắt buộc trong khi cây hàng niên đòi hỏi không bắt buộc Điều kiện nhiệt độ thấp làm ảnh hưởng
sự sinh trưởng của cây, mất sự hô hấp, thúc đẩy sự phân giải tinh bột và các chất dự trữ khác có thể cải thiện trực tiếp sự đồng hóa cung cấp cho đỉnh chồi và thúc đẩy quá trình theo hướng sinh sản Trong thời gian nhãn đang ra nụ hoa mà gặp nhiệt độ cao, lá ở chùm hoa phát triển sẽ ảnh hưởng đến nụ hoa và hoa, dễ làm cho nhãn mất khả năng đậu trái Ngược lại, nếu gặp nhiệt độ thấp việc thụ phấn, thụ tinh của hoa
sẽ gặp trở ngại dẫn đến năng suất thấp (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Trang 231.4.4 Ánh sáng
Ánh sáng cũng góp phần quan trọng trong sinh trưởng phát triển của cây nhãn, cường độ ánh sáng cũng liên quan đến sự thay đổi nhiệt độ Cây nhãn cần nhiều ánh sáng và sự thông thoáng, trong quá trình sinh trưởng và phát triển nhãn cần nhiều ánh sáng trực xạ hơn tán xạ Ánh sáng còn giúp đậu trái, vỏ bóng và trái
có vị ngon, ngọt (Bùi Thị Mỹ Hồng, 2002) Theo Vũ Công Hậu (2000), cây nhãn không chịu được ở những nơi quá khô, ánh nắng gây gắt cũng như những nơi thường xuyên rét đậm Ở miền Nam cây nhãn chịu ánh nắng rất tốt, nhãn cần đầy
đủ ánh sáng, vì nhãn ra hoa ở chồi tận cùng, chỉ có những cành nhận đầy đủ ánh sáng mới cho trái tốt (Vũ Công Hậu, 2000)
1.4.5 Dinh dưỡng khoáng
Nguồn cung cấp thức ăn cho cây nhãn được lấy từ các chất dinh dưỡng có trong đất và các loại phân bón (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999).Đối với cây nhãn, vấn
đề phân bón ảnh hưởng đến phẩm chất trái bao gồm hình dáng, kích thước trái, trọng lượng trái, cấu trúc vỏ trái, độ dày vỏ, màu sắc vỏ, độ dày cơm và độ ngọt
(Trần Thượng Tuấn và ctv., 1992) Cây nhãn ra hoa trên chồi tận cùng nên sự tạo
chồi mới có ý nghĩa quyết định sự ra hoa Đọt mập, dài thường dễ ra hoa hơn đọt
ốm yếu hoặc bị sâu bệnh tấn công Do đó, vấn đề bón phân cân đối đạm, lân và kali cho cây ra đọt tốt sau khi thu hoạch là một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định đến quá trình ra hoa của cây
1.5 Đặc tính hóa lý của kali nitrat (KNO 3 )
Kali là một kim loại màu trắng bạc, dẫn điện và nhiệt tốt, nhiệt độ nóng chảy
630C nhưng kim loại rất mềm và nhẹ, ngay cả dầu hỏa là một dung môi rất nhẹ mà kali vẫn không chìm Do đặc tính hóa học phản ứng với nước và oxy để tạo thành kiềm bởi vậy khi cho kali vào nước, phản ứng xảy ra rất nhanh và sinh nhiệt nên ta thấy kali chạy trên mặt nước và sinh ra tiếng nổ đồng thời cháy với ngọn lửa màu tím nhạt (Nguyễn Hạc Thúy, 2003)
Trang 241.6 Vai trò của kali nitrat (KNO 3 ) đối với cây trồng
Kali nitrat (KNO3) là một loại muối có màu trắng dễ tan trong nước, KNO3 không chỉ cung cấp hàm lượng kali cho cây trồng (46% K2O) mà còn chứa một lượng đạm
dễ tiêu (13% N) để cây trồng có thể sử dụng trực tiếp Hàm lượng đạm cao kích thích sự sinh trưởng, tăng trọng lượng trái nhưng hàm lượng các chất dự trữ giảm, dẫn đến hàm lượng trong trái giảm và nếu hàm lượng nitrat tích lũy trong trái cao có thể gây độc cho người sử dụng Vì vậy sử dụng KNO3 hết sức thận trọng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2004), kali là dưỡng chất khoáng cần thiết cho cây trồng, được hấp thu với một lượng lớn Nhu cầu kali sinh trưởng tối hảo là 2-5% trọng lượng khô của thân lá, quả tươi và củ Sự hấp thu kali rất chọn lọc và gần như gắn liền với các hoạt động trao đổi chất, kali có tính di động cao trong cây ở tất cả các mức độ như trong tế bào, trong mô và sự vận chuyển qua
hệ thống mô gỗ và libe, kali có nhiều trong tế bào chất, vài trò chủ yếu là tạo tiềm năng thẩm thấu của tế bào và mô của cây Ngoài ra, kali còn có chức năng trong việc kéo dài tế bào và điều hòa sức trương của tế bào Ion K+ hoạt động chủ yếu như tác nhân mang điện tích có tính di động cao, nó hình thành ở những phức hệ yếu ớt
và nó có thể sẵn sàng trao đổi (Jone và ctv., 1979 trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và
Nguyễn Huy Tài, 2004)
1.6.1 Vai trò của kali nitrat (KNO3) đối với sự kích hoạt của enzyme
Trên 50 enzyme lệ thuộc hoàn toàn vào kali, hoặc được kích thích bởi kali (Suelter, 1970) Kali kích hoạt enzyme bằng cách gây ra sự thay đổi hình thành cấu tạo của protein trong enzyme Nhìn chung, sự thay đổi hình thể cấu tạo của enzyme
do kali gây ra làm gia tăng tốc độ phản ứng xúc tác (Evans và Wildes, 1971; trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Sự thay đổi biến dưỡng của cacbohydrate có liên quan tới nhu cầu cần nhiều kali của những enzyme điều hòa, đặc biệt là enzyme pyvuvate kinase và 6-phosphofruto kinase Ion K+ còn kích hoạt enzyme ATPase liên kết màng, kali được ghi nhận kích hoạt hơn 60 enzyme ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của cây Ngoài
Trang 25ra, kali vừa đóng vài trò là một coenzyme, vừa đóng vài trò như chất xúc tác làm gia tăng tốc độ phản ứng (Vũ Hữu Yêm, 1995; Nguyễn Hạc Thúy, 2003)
Kali không chỉ kích hoạt enzyme khử nitrat mà còn cần thiết cho sự tổng hợp enzyme này Do vậy, cây có đủ kali sẽ giảm thiểu tác hại bón thừa phân đạm (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Kali là thành phần liên kết độ cứng chắc của cây, giúp sự vận chuyển dinh dưỡng trong cây, tăng hàm lượng ptotein, tăng hàm lượng tinh bột và hàm lượng đường trong nông sản (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
1.6.2 Vai trò của kali nitrat (KNO3) trong sự tổng hợp protein
Kali cần thiết cho sự tổng hợp protein ở thực vật thượng đẳng, kali tham gia vào nhiều bước của tiến trình giải mã, bao gồm sự liên kết RNA vận chuyển tới ribosome (Evans và Wildes, 1971; trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004).Vai trò của kali trong việc tổng hợp protein không chỉ có sự tích lũy các hợp chất đạm ở cây thiếu kali, nhưng cũng thấy có sự kết hợp của đạm vô cơ vào trong protein
1.6.3 Hoạt động của khí khẩu và hiệu quả của sử dụng nước
Kali giúp tăng thẩm thấu qua màng tế bào và ổn định pH, đóng mở khí khẩu
và điều hòa lượng nước qua khí khẩu (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Theo Humble và Hisiao (1970), nồng độ ion K+ gia tăng trong tế bào khí khẩu làm tăng sự hút nước từ các tế bào lân cận và tăng sức trương tương ứng trong tế bào khí khẩu, do đó làm cho khí khẩu mở ra và sự đóng khí khẩu làm cho ion K+ thoát ra ngoài và tương ứng với sự giảm áp suất thẩm thấu của các tế bào khí khẩu Theo Viện Lân và Kali Canada (1995), kali giữ vài trò quan trọng trong sự kích hoạt quang hợp, giúp cho sự di chuyển các chất do quang hợp, hoạt hóa các enzyme và nhiều tiến trình khác trong cây Kali có vai trò trong sự cố định CO2 ở lục lạp, khi tăng nồng độ kali lên cao thì kích thích sự cố định CO2 tăng lên
Các yếu tố liên quan đến cải thiện hiệu quả sử dụng nước và tính kháng hạn với liều lượng kali thích hợp sẽ làm gia tăng phát triển rễ trong đất, giữ sự cân bằng nước trong cây, khi cung cấp lượng kali thích hợp sẽ làm giảm độ thoát hơi nước
Trang 26Khi cây trồng thiếu nước, lá già rụng sớm và các lá non sẽ giảm kích thước,
cytokinin và ethylen gia tăng làm cho trái chín nhanh (Lê Văn Hòa và ctv., 2001)
Cũng giống như đạm và lân, kali di động từ lá già sang lá non do triệu chứng thiếu kali thường nhìn thấy ở các lá già (Đường Hồng Dật, 2002) Thiếu kali hàm lượng nước trong cây giảm, tế bào rễ cây già nhanh, áp suất thẩm thấu giảm, tính thấm nước và độ dính của chất nguyên sinh cũng giảm Kali còn có vai trò chủ yếu làm tăng khả năng chống chịu đối với một số loại bệnh, kali giúp cây cứng chắc, ít
đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét, Ngoài ra nếu cây trồng đủ kali thì cây tiết kiệm được một lượng nước thất thoát rất lớn đối với cây trồng (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
1.6.4 Giúp tăng năng suất cây trồng
Kali đóng vài trò quan trọng trong quá trình hình thành chức năng của protein, chất béo, cacbohydrate, diệp lục tố, duy trì sự cần bằng nước và muối khoáng trong tế bào cây Khi thiếu kali, trái sẽ nhỏ, vỏ mỏng và ngược lại khi dư kali, trái to, vỏ dày và thô Theo Đường Hồng Dật (2002), kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần tăng năng suất cây trồng, kali làm tăng hàm lượng đường trong trái, làm cho màu sắc trái đẹp tươi, làm cho hương vị trái thơm và làm tăng khả năng bảo quản của trái Nồng độ kali cao trong ống sàng có liên quan đến cơ chế chuyển tải sucrose ở mạch libe để tạo áp lực thẩm thấu trong việc chuyển tải các sản phẩm quang hợp từ lá đến nơi dự trữ tăng (Vũ Hữu Yêm,1995; Nguyễn Bảo
Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Nếu cây trồng thiếu kali thì cây phát triển thân yếu
ớt, và rễ của chúng trở nên dễ nhiễm vi sinh vật gây bệnh thối rễ làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
Sự lựa chọn loại phân kali tùy thuộc vào sự kết hợp hóa chất (chloride, sunphat, nitrat) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), cho rằng khi cung cấp KNO3 thì tốc độ di chuyển của nhựa hầu như cao gấp hai lần so với cung cấp một lượng tương đương K2SO4 Dạng phân kali thường phun lên lá là dạng KNO3 Phun kali vào giai đoan khoảng một tháng trước khi thu hoạch sẽ làm giảm
độ chua (Huỳnh Việt Thy, 2009)
Trang 271.7 Sự hấp thu dinh dưỡng qua lá
Ngoài những loại phân bón vào đất được rễ hấp thu thì bên cạnh đó còn có những loại phân dùng cung cấp cho cây thông qua việc phun qua lá, ngâm hạt
giống, bơm vào thân (Lê Văn Hòa và ctv., 2001) Việc cung cấp dinh dưỡng qua lá
cho cây trồng là phương pháp cung cấp chất dinh dưỡng nhanh hơn so với cung cấp qua rễ, nhưng việc hấp thu chất khoáng ở mức độ hấp thu không cao so với rễ Tuy nhiên cung cấp chất dinh dưỡng qua lá mang tính nhất thời và gặp phải một số vấn
đề như: (1) vận tốc hấp thu chậm, đặc biệt đối với những lá có lớp cutin dày (cam, quýt, cà phê); (2) dưỡng chất bị rửa trôi đi ở những lá không thấm nước, rửa trôi do mưa; (3) dung dịch phun qua lá khô nhanh; (4) sự chuyển vị của một vài dưỡng chất khoáng nào đó bị hạn chế (như sự chuyển vị của canxi); (5) đối với khoáng đa lượng cung cấp nhiều lần bị hạn chế qua một lần phun Do vậy cung cấp chất dinh dưỡng qua lá nên cung cấp với nồng độ thích hợp cho từng loại cây, nếu nồng độ cao quá sẽ làm cho lá bị tổn thương, lá bị cháy dẫn đến sự mất cân bằng trong mô lá (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Ở những vùng đất bán khô hạn, lớp đất mặt bị thiếu nước kéo theo làm giảm hữu dụng của các dưỡng chất trong suốt thời gian sinh trưởng của cây, trong điều kiện này việc phun các dưỡng chất vào lá sẽ có hiệu quả hơn là bón vào đất Rễ giảm hoạt động ở giai đọan sinh sản, do sự cạnh tranh carbohydate giữa rễ và bông,
do đó việc phun dinh dưỡng qua lá có thể bù đắp sự thiếu dinh dưỡng này (Trobisch
và Shilling, 1970) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), mặc dù có trở ngại trong việc cung cấp dinh dưỡng qua lá, nhưng vẫn có lợi như: ở đá vôi có sắt hữu dụng rất thấp và thiếu sắt rất phổ biến qua triệu chứng “lime chlorosis” Do vậy, việc phun dinh dưỡng qua lá có hiệu quả hơn, dù ở dạng chelate đắt tiền và cũng là phương pháp làm giảm tính độc của Mangan Hiện nay việc áp dụng kĩ thuật cung cấp dinh dưỡng qua lá bằng cách phun qua lá đã áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp và góp phần không nhỏ đối với cây trồng Khi sử dụng phân bón qua lá thì vấn đề cần thiết là phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu
Trang 281.8 Hiệu quả của nitrat kali (KNO 3 ) lên phẩm chất trái
Kali rất cần thiết cho phẩm chất trái, cây đủ kali sẽ cho trái to, ngọt, đặc biệt
là vỏ trái có khả năng chịu đựng tốt trong việc vận chuyển cũng như trong bảo quản (Đường Hồng Dật, 2003) Tuy nhiên, khi thừa kali thì trái sẽ to, chua và không có hương vị nguyên chất, vỏ trái sẽ dày, nhám Lượng kali cần thiết cung cấp cho cây khoảng 1-2 kg/cây/năm ở dạng chảy nhỏ giọt hoặc cung cấp dạng NPK với liều lượng khoảng 100-350 g/cây (Weir, 2002) Không sử dụng nhiều kali khi đất có độ mặn vì kali có khả năng bị giữ lại trong đất, lượng phân kali phù hợp sẽ làm tăng kích cỡ và lượng acid của trái Theo Huỳnh Việt Thy (2009), cho rằng việc phun KNO3 lên lá nồng độ 0,5% và 1% vào 30 ngày và 45 ngày trước khi thu hoạch làm giảm TA trong trái dâu Hạ Châu Ngoài việc phun KNO3 với nồng độ 4% đã là tăng kích thước trái cam Shamouti và sự gia tăng này có liên quan đến hàm lượng kali và
không liên quan đến hàm lượng nitrat (Evneret và ctv, 1993) Theo Võ Thị Bích
Thủy (2005), trong hai dạng phân kali được sử dụng là KNO3 và KCl thì dạng KNO3 (bón ở thời điểm 4 và 7 ngày trước thu hoạch) thì cho hàm lượng chất khô trong thịt trái và độ Brix thịt trái cao hơn bón dạng KCl (được bón 4 lần/vụ) Tương
tự kết quả của Nguyễn Văn Bình (2004), bón KNO3 và KCl kết hợp với hai lần bón trên dưa lê ( 4 và 7 ngày trước khi thu hoạch) cho độ ngọt cao hơn một lần (4 ngày trước thu hoạch)
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy việc cung cấp kali cho cây đã làm gia tăng phẩm chất trái dưa lê, dưa hấu và xoài sau thu hoạch (Võ Thị Bích Thủy, 2005; Trần Thị Kim Ba, 2007) Đối với mía thì kali có vai trò quan trọng trọng việc làm gia tăng trữ đường và độ ngọt Trên xoài cát Hòa Lộc, khi xử lý qua lá tiền thu hoạch có hiệu quả trong việc gia tăng phẩm chất trái sau thu hoạch trái như gia tăng
độ cứng trái, hàm lượng đường tổng số, hàm lượng tinh bột của trái so với đối
chứng (Trần Thị Kim Ba, 1998; Trần Thị Kim Ba và ctv., 2005) Xử lý kali đã làm
cho xoài Châu Nghệ gia tăng hàm lượng vitamin C trong thịt trái khoảng 28% so với đối chứng (Lê Xuân Biên, 2007)
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
+ Nghiệm thức 1: phun KNO3 1 (1%) vào thời điểm 10 tuần sau khi đậu trái + Nghiệm thức 2: phun KNO3 2 lần (1%) vào thời điểm 6 và 10 tuần sau khi đậu trái
Trang 30+ Nghiệm thức 3: phun KNO3 3 lần (1%) vào thời điểm 2, 6 và 10 tuần sau khi đậu trái
+ Nghiệm thức 4: không phun KNO3 ( Nghiệm thức đối chứng)
Phun ướt đều tán cây khoảng 2 lít dung dịch/cây
2.2.2 Các chi tiêu theo dõi
Xác định trái đã chín (dựa vào ngày ra hoa), thu hoạch trước ở những cây không làm thí nghiệm để kiểm tra độ chín của trái trước khi thu hoạch những cây thí nghiệm Ngoài cách dựa vào ngày ra hoa, có thể xác định trái chín bằng cách quan sát vỏ trái có màu vàng sậm, hơi mềm và có mùi thơm
Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm gồm có:
+ Số trái trên chùm (trái): đếm số trái trên 10 chùm đã được đánh dấu
+ Xác định tỷ lệ đậu trái (%): số trái khi thu hoạch : số trái ban đầu x 100 + Trọng lượng trái (g): Cân 10 trái ngẫu nhiên trên mỗi nghiệm thức
+ Trọng lượng vỏ, hột (g): trái nhãn được cắt làm đôi, tách bỏ phần thịt trái, cân trọng lượng vỏ, hột
+ Năng suất: trọng lượng trái x số trái/cây x số chùm/cây
+ Trọng lượng thịt trái (g): trọng lượng trái - trọng lượng vỏ, hột
+ Chiều cao trái (cm): Đo bằng thước kẹp, chọn 10 trái ngẫu nhiên, đo từ cuống trái xuống đáy trái
+ Đường kính trái (cm): Đo bằng thước kẹp, đo 2 lần thẳng góc lấy giá trị trung bình trên 10 trái ngẫu nhiên
+ Màu sắc vỏ trái: khi thu hoạch chọn ngẫu nhiên 10 trái/chùm/cây để quan sát màu sắc vỏ trái bằng cách đo 3 vị trí khác nhau ở hai bên và đáy trái lấy giá trị trung bình Đo màu sắc vỏ trái bằng máy so màu Minolta model CR200 do Nhật Bản sản xuất theo các giá trị E*, L*, a*, b* và lấy giá trị ∆E
+ Độ dày thịt trái (cm): cắt trái làm đôi theo bề hoành, dùng thước kẹp đo từ phía trong vỏ trái đến phần giáp hột
Trang 31+ Độ Brix dịch trái (%): ép thịt trái được phần dịch nhỏ trực tiếp vào giữa lăng kính (sử dụng khúc xạ kế ATAGO do Nhật Bản sản xuất) ghi kết quả hàm lượng chất khô hòa tan theo phần trăm
Hình 2.1: Hình ảnh khi lấy chỉ tiêu trong phòng thí nghiệm về kích thước trái và
độ dày thịt trái
2.3 Xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được nhập, vẽ biều đồ bằng chương trình Excel và phân tích bằng phần mềm SPSS
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA KNO 3 ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA TRÁI
3.1.1 Kích thước trái
* Đường kính trái
Qua trình bày Bảng 3.1 cho thấy đường kính trái nhãn Xuồng Cơm Vàng có
xu hướng tăng theo thời gian tăng trưởng và giữa các nghiệm thức không khác biệt
ý nghĩa thống kê
Bảng 3.1 Đường kính (cm) của trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO 3
với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Thời gian (tuần sau khi đậu trái) Nghiệm thức phun KNO 3
2,05 2,06 2,08 2,05
3,06 3,07 3,11 3,08
2,06
ns 1,53
3,08
ns 5,62
ns: không khác biệt có ý nghĩa thống kê
(1): phun 1 lần trước khi thu hoạch
(2): phun 2 lần trước khi thu hoạch
(3): phun 3 lần trước khi thu hoạch
(4): (ĐC): không phun trước khi thu hoạch
Trang 33* Chiều cao trái
Qua trình bày Bảng 3.2 cho thấy chiều cao trái nhãn Xuồng Cơm Vàng cũng
có xu hướng tăng theo thời gian tăng trưởng và giữa các nghiệm thức không khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê
Bảng 3.2 Chiều cao trái (cm) của nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO 3 với
số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Thời gian (tuần sau khi đậu trái) Nghiệm thức phun KNO 3
2,14 2,15 2,17 2,13
2,86 2,84 2,89 2,87 Trung bình
F
CV (%)
1,33
ns 4,11
2,15
ns 1,47
2,87
ns 2,21
ns: không khác biệt có ý nghĩa thống kê
(1): phun 1 lần trước khi thu hoạch
(2): phun 2 lần trước khi thu hoạch
(3): phun 3 lần trước khi thu hoạch
(4): (ĐC): không phun trước khi thu hoạch
* Tỉ lệ kích thước (đường kính/chiều cao)
Qua trình bày Bảng 3.3 cho thấy tỉ lệ kích thước nhãn Xuồng Cơm Vàng cũng có xu hướng tăng theo thời gian tăng trưởng và giữa các nghiệm thức không khác biệt ý nghĩa qua phân tích thống kê
Trang 34Bảng 3.3 Tỉ lệ kích thước của trái nhãn Xuồng Cơm Vàng được phun KNO 3
với số lần phun khác nhau sau khi đậu trái tại xã An Khánh huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Thời gian (tuần sau khi đậu trái) Nghiệm thức phun KNO 3
0,95 0,95 0,96 0,96
1,07 1,08 1,08 1,07
0,96
ns 3,29
1,08
ns 2,94
ns: không khác biệt có ý nghĩa thống kê
(1): phun 1 lần trước khi thu hoạch
(2): phun 2 lần trước khi thu hoạch
(3): phun 3 lần trước khi thu hoạch
(4): (ĐC): không phun trước khi thu hoạch
Theo Trần Văn Hâu và Huỳnh Thanh Vũ (2006), kích thước trái tăng đều từ sau khi đậu trái cho đến tuần thứ 10 sau khi đậu trái Trọng lương trái tăng chậm trong 6 tuần đầu (do sự tăng trưởng của hạt sau khi đậu trái) nhưng từ tuần thứ 6 kích thước trái tăng nhanh, đường kính trái và chiều cao của trái đạt kích thước tối
đa khoảng 10 tuần sau khi đậu trái do sự phát triển của thịt trái, sau đó trái nhãn đi vào giai đoạn chín
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2004), khi cung cấp đúng lúc và đầy đủ dưỡng chất kali sẽ giúp cây sử dụng tốt nguồn đạm và lân, đồng thời gia tăng các hợp chất protein và acid nhân thông qua sự kích hoạt của enzyme, giúp phát triển tối đa các
tế bào được biến dưỡng trong cơ quan sinh sản, từ đó gia tăng kích thước của trái Theo Trần Văn Hâu (1999) thịt trái nhãn chỉ phát triển khi hạt ngừng tăng trưởng