Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP ĐÀI LOAN TÍM VÀ MÃ LAI LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI ĐU ĐỦ ĐÀI LOAN F1 Carica papaya L.. TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN THỊ PHƠ LIN
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP ĐÀI LOAN TÍM
VÀ MÃ LAI LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT
TRÁI ĐU ĐỦ ĐÀI LOAN F1
(Carica papaya L.)
Luận văn tốt nghiệp Ngành: TRỒNG TRỌT
Cần Thơ - 2011
Trang 2Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP ĐÀI LOAN TÍM
VÀ MÃ LAI LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT
TRÁI ĐU ĐỦ ĐÀI LOAN F1
(Carica papaya L.)
Do sinh viên Trần Thị Phơ Lin thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Cán bộ hướng dẫn
PGS Ts Trần Văn Hâu
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP ĐÀI LOAN TÍM
VÀ MÃ LAI LÊN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT
TRÁI ĐU ĐỦ ĐÀI LOAN F1
(Carica papaya L.)
Do sinh viên Trần Thị Phơ Lin thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp đươc Hội đồng đánh giá ở mức
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trần Thị Phơ Lin
Trang 5LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Nơi sinh: Sơn Phú, Giồng Trôm, Bến Tre
Quê quán: Hòa Lộc, Tam Bình, Vĩnh Long
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha, Mẹ đã suốt cuộc đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của con
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý
báu giúp em hoàn thành bài luận văn này
Thân ái gửi về
Các bạn sinh viên lớp Trồng Trọt 1 và Trồng Trọt 2 K33 lời chúc sức khỏe
và thành đạt trong tương lai
Trang 7TRẦN THỊ PHƠLIN, 2011: Ảnh hưởng của gốc ghép Đài Loan Tím và Mã Lai
lên năng suất và phẩm chất trái đu đủ Đài Loan F1 (Carica papaya L.) Luận văn
tốt nghiệp kỹ sư Trồng trọt khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Người hướng dẫn khoa học: PGs Ts Trân Văn Hâu
và SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 5 lần lặp lại gồm 2 loại gốc ghép đu đủ: 1/ Mã Lai; 2/Đài Loan Tím; 3/ Đài Loan F1 (ghép với chính nó); 4/Đài Loan F1 không ghép (đối chứng) Diện tích thí nghiệm là 88 m2
(11 x 8 m), được chia thành
5 lô, mỗi lô là 1 liếp trồng và có diện tích 16 m2 (2 x 8 m) với khoảng cách trồng là 1,8 x 1,8 m Chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao cây, đường kính gốc thân, tốc độ ra lá, chiều dài cuống lá, đường kính lá, đường kính tán trước khi ghép và sau khi ghép
Số lượng hoa, tỷ lệ hoa lưỡng tính/đực/cái trên một cây, tổng số trái trên cây, năng suất trái trên cây, chiều dài trái khi chín, đường kính trái, trọng lượng trái, trọng lượng hạt khi chín, màu sắc thịt trái, hàm lượng nước trong thịt trái, độ dày thịt, độ Brix Kết quả thí nghiệm cho thấy sau khi ghép 20-30 ngày sự tăng trưởng chiều cao, tốc độ ra lá, đường kính gốc thân, chiều dài cuống lá, đường kính lá, đường kính tán cây của cây ghép tăng trưởng chậm hơn cây gieo từ hạt nhưng khác biệt giữa hai loại gốc ghép không có ý nghĩa Sau khi trồng thì sự tăng trưởng chiều cao, tốc độ ra lá, đường kính gốc thân, chiều dài cuống lá, đường kính lá, đường kính tán cây, năng suất và thành phần năng suất khác biệt không ý nghĩa Gốc ghép Mã Lai
và Đài Loam tím không có ảnh hưởng lên sự ra hoa, năng suất và phẩm chất trái đu
đủ lai F1
Trang 91.6.1 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép 11
1.6.4 Ảnh hưởng của gốc ghép lên đặc tính hình thái, sinh
1.6.4.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên khả năng chống chịu của
Trang 103.2.1 Đường kính thân, số lá và chiều cao cây đu đủ lúc ghép 25
3.2.2.7 Ngày ra hoa đầu tiên, thời gian từ khi ra hoa đến khi bắt
3.2.2.8 Tỷ lệ hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính trên một cây 34
3.2.3.3 Trọng lượng trung bình trái, trọng lượng hạt của trái
3.2.4.2 Hàm lượng nước trong thịt trái, độ dày thịt, độ Brix 40
Trang 11Hình 2.1 Biểu đồ tình hình nhiệt độ và ẩm độ trung bình tháng được
ghi nhận tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
16
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD
(02-12/2010)
17
Hình 2.3 Màu sắc trái trái đu đủ làm thí nghiệm: (a) Màu sắc trái đu
đủ tại thời điểm thu hái (b) Màu sắc trái đu đủ tại thời điểm phân tích
20
Hình 3.1 Sự tăng trưởng cây đu đủ ghép trên các gốc ghép khác nhau
qua các ngày sau khi ghép tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
27
Hình 3.2 Chiều cao cây đu đủ ở thời điểm 30 NSKG tại tại khoa Nông
Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
28
Hình 3.3 Tốc độ ra lá của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép khác nhau
qua các ngày sau khi ghép tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
29
Hình 3.4 Chiều dài cuống lá (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc
ghép khác nhau qua các ngày sau khi ghép tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
31
Hình 3.5 Đường kính tán (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép
khác nhau qua các ngày sau khi ghép tại khoa Nông Nghiệp
Hình 3.7 Hình dạng trái đu đủ ghép trên gốc ghép khác nhau tại khoa
Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010) (a): Trái dài đuôi bầu;
38
Trang 12(b) Trái dài đuôi nhọn; (c) Trái hình cầu
Hình 3.8 Độ thay đổi màu vỏ, màu thịt của trái đu đủ ghép khi chín tại
khoa Nông Nông Nghiệp & SHƢD (02-12/2010)
40
Trang 13Bảng 1.2 Tỷ lệ (%) cây đu đủ xuất hiện đời sau sau khi thụ phấn giữa
hoa đực (M), hoa cái (F), hoa lưỡng tính (B)
7
Bảng 3.1 Đường kính thân, số lá và chiều cao cây (cm) của cây đu đủ
trước khi ghép tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD 12/2010)
(02-25
Bảng 3.2 Tỷ lệ (%) cây đu đủ sống sau khi ghép trên gốc ghép khác
nhau qua các giai đoạn khảo sát tại khoa Nông Nghiệp &
SHƯD (02-12/2010)
26
Bảng 3.3 Sự tăng trưởng chiều cao (cm) của cây đu đủ ghép trên các
gốc ghép khác nhau qua các ngày sau khi trồng tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
27
Bảng 3.4 Tốc độ ra lá của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép khác nhau
qua các ngày sau khi trồng tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
29
Bảng 3.5 Đường kính gốc thân (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc
ghép khác nhau qua các ngày sau khi ghép tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
30
Bảng 3.6 Đường kính gốc thân (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc
ghép khác nhau qua các ngày sau khi trồng tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
30
Bảng 3.7 Chiều dài cuống lá (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc
ghép khác nhau qua các ngày sau khi trồng tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02-12/2010)
31
Bảng 3.8 Đường kính lá (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép
khác nhau qua các ngày sau khi ghép tại khoa Nông Nghiệp
& SHƯD (02-12/2010)
32
Trang 14Bảng 3.9 Đường kính lá (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép
khác nhau qua các ngày sau khi trồng tại khoa Nông Nghiệp
& SHƯD (02-12/2010)
32
Bảng 3.10 Đường kính tán (cm) của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép
khác nhau qua các ngày sau khi trồng tại khoa Nông Nghiệp
& SHƯD (02-12/2010)
33
Bảng 3.11 Ngày ra hoa đầu tiên, thời gian từ khi ra hoa đến khi bắt đầu
thu hoạch và thời gian thu hoạch trái của cây đu đủ ghép các gốc ghép đu đủ khác nhau tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
34
Bảng 3.12 Tỷ lệ hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính trên các gốc ghép đu
đủ khác nhau ở giai đoạn từ khi bắt đầu trổ đến khi thu hoạch trái đầu tiên tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
34
Bảng 3.13 Tỷ lệ đậu trái (%) của cây đu đủ ghép trên các gốc ghép khác
nhau tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
35
Bảng 3.14 Tổng số trái và năng suất trái đu đủ khi chín của cây đu đủ
ghép trên các gốc ghép khác nhau tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
36
Bảng 3.15 Kích thước trái đu đủ (cm) khi chín của cây đu đủ ghép trên
các gốc ghép khác nhau tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
37
Bảng 3.16 Trọng lượng trái, trọng lượng hạt khi chín của trái đu đủ
ghép trên các gốc ghép khác nhau tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
39
Bảng 3.17 Độ thay đổi màu vỏ, màu thịt (E) khi chín của trái đu đủ
ghép trên các gốc ghép khác nhau tại khoa Nông Nghiệp &
SHƯD (02-12/2010)
39
Bảng 3.18 Hàm lượng nước trong thịt trái, độ dày thịt, độ Brix của trái
đu đủ ghép trên các gốc ghép khác nhau tại khoa Nông Nghiệp và SHƯD (02-12/2010)
40
Trang 15DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
NSKG: Ngày sau khi ghép
NSKT: Ngày sau khi trồng
Trang 17MỞ ĐẦU
Đu đủ có tên khoa học là Carica papaya L thuộc họ Caricaceae Ở Việt Nam,
đu đủ được trồng từ Bắc đến Nam Diện tích trồng đu đủ cả nước ước khoảng 10.000-17.000 ha, với sản lượng khoảng 200-350 ngàn tấn trái (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002) Ở miền Nam thì thành phố Cần Thơ và tỉnh Tiền Giang là hai địa phương có diện tích trồng đu đủ nhiều nhất (Đỗ Thái Nguyên, 2010) Điều kiện
tự nhiên ưu đãi nên việc phát triển đu đủ tại đây được nhiều thuận lợi Tuy nhiên, việc canh tác đu đủ có rất nhiều yếu tố tác động cần phải được quan tâm, trong đó
kỹ thuật canh tác và giống là hai yếu tố quan trọng quyết định rất lớn đến việc sản xuất đu đủ thành công Phương pháp nhân giống đu đủ phổ biến nhất hiện nay là trồng từ hạt Tuy nhiên, việc trồng đu đủ từ hạt có nhược điểm là do cây đu đủ là cây thụ phấn chéo nên cây con bị biến dị nhiều dẫn tới năng suất và phẩm chất không ổn định (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Ở một số nước trên thế giới, việc trồng
đu đủ bị giới hạn về năng suất và phẩm chất do ảnh hưởng bởi bệnh đốm vòng, chết héo cây, ảnh hưởng bởi khô hạn và ngập úng Để khắc phục những yếu tố hạn chế trên nhằm gia tăng năng suất và phẩm chất trái đu đủ người ta đã tiến hành nghiên cứu lai tạo giống mới chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường, áp dụng kết hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác cải tiến như trồng từ hạt F1, đu đủ ghép…trong đó việc nghiên cứu đu đủ ghép gây được nhiều sự chú ý và nghiên cứu
(Nguyễn Trịnh Nhất Hằng và Nguyễn Minh Châu, 2002)
Vì vậy đề tài “Ảnh hưởng của gốc ghép Đài Loan tím và Mã Lai lên năng suất
và phẩm chất trái đu đủ Đài Loan F1” được nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm ra gốc ghép có khả năng tiếp hợp tốt nhất và những ảnh hưởng của chúng trên sự tăng trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất của trái đu đủ Đài Loan F1
Trang 18CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ
Theo Morton (1987), đu đủ có nguồn gốc từ miền Nam Mexico và các nước láng giềng Trung Mỹ Từ năm 1525, hột đu đủ đã được người Tây Ban Nha Oviedo đưa đến vùng bờ biển Panama sau đó đến Cộng hòa Dominican, dần dần lan sang các nước Tây Ấn, Bahamas, Bermuda vào năm 1616 Người Tây Ban Nha gọi những hột này là “papaya” và mang đến trồng tại Philippines, từ đó lan rộng đến
các nước Ấn Độ và Malacca Đu đủ có tên khoa học là Carica papaya L thuộc họ Caricacea, tên tiếng Anh là papaya hoặc pawpaw Đu đủ được ghi nhận ở vùng
Mexico trước năm 1492, sau đó được phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới trong phạm vi vĩ độ 320 Bắc và 320 Nam (Litz, 1984), nơi có nhiệt độ bình quân trên 150C (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
Các nước trồng đu đủ nhiều có thể kể đến là Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Myanma, Malaysia (Châu Á); Tazania, Uganda (Châu phi); Brazil, Hoa
Kỳ (Châu Mỹ); Úc, Newzeland (Châu Đại Dương) Sản lượng đu đủ trên thế giới theo FAO (2007) là khoảng 7 triệu tấn Xu hướng của thị trường thế giới về các loại trái cây tươi và sản phẩm chế biến các loại trái cây nhiệt đới ngày càng tăng, trong
đó có đu đủ Nhập khẩu đu đủ tươi toàn cầu tăng 46% đạt 118 nghìn tấn vào năm
2005 Trong số các nước phát triển, Mỹ là nước nhập khẩu đu đủ nhiều nhất khoảng
40 nghìn tấn vào năm 2005 (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Ở Việt Nam, đu đủ được trồng hầu hết ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam Tuy nhiên, chúng được trồng nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng, dọc theo các con sông, trên các loại đất phù sa, dốc tụ, phù sa cổ và các loại đất khác Những vùng trồng nhiều đu đủ có thể kể đến là Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc (miền Bắc); Lái Thiêu, Tiền Giang, Sông Bé, các tỉnh Tây Nguyên,… (miền Nam) Diện tích trồng đu đủ của cả nước khoảng 10.000 - 17.000 ha, với sản lượng khoảng 200-350 nghìn tấn đu đủ (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Trang 191.2 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY ĐU ĐỦ
Theo Australian Government Office of the Gene Technology (2008), giá trị dinh dƣỡng tính trên 100 g phần thịt trái đu đủ nhƣ sau:
Bảng 1.1 Giá trị dinh dƣỡng của trái đu đủ tính trên 100 g phần thịt trái
Nhựa đu đủ có chứa một loại enzyme phân hủy prôtein mang tên là “papain” rất tốt cho quá trình tiêu hóa Ngoài ra, papain còn đƣợc sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất rƣợu bia Tại Haiti, đu đủ đƣợc dùng để chữa viêm khớp, thấp
Trang 20khớp; còn tại Mauritius, Mexico và Philippines thì người ta dùng đu đủ để chữa trị hen suyễn (Larson, 2007) Nước ép của trái đu đủ xanh đã được sử dụng trong việc bào chế ra các loại thuốc với mục đích chữa trị và hỗ trợ hệ thống tiêu hóa Một số nghiên cứu ghi nhận trong trái đu đủ có chứa chất chống ung thư và giúp ngăn ngừa sỏi mật (Trần Thành Dự, 2010)
Cacpain (có nhiều trong lá đu đủ) có tác dụng như digitalin là một thuốc trợ tim Hạt đu đủ chứa myrosin và kali myronat khi kết hợp với nhau tạo thành tinh dầu màu diêm sinh hắc Hạt thường dùng làm thuốc trị giun, hạ nhiệt, lợi trung tiện Trong rễ có nhiều kali myronat, trong lá có nhiều myrosin Rễ dùng trị sốt rét, tiêu đờm, giải độc Lá dùng tiêu đinh mụn (Võ Văn Chi, 2000)
1.3 MỘT SỐ GIỐNG ĐU ĐỦ ĐƯỢC TRỒNG Ở NƯỚC TA
Trong những năm qua, Viện Cây ăn quả miền Nam đã thu thập nhiều giống đu
đủ trong nước và một số giống nhập nội từ Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Mỹ (Hawaii) Các giống đu đủ địa phương được trồng phổ biến như đu đủ Đài Loan tím, Hồng Kông Da Bông, đu đủ Vỏ Vàng,… Một số giống địa phương có phẩm chất ngon và một số giống nhập nội được sử dụng làm nguồn gen trong công tác lai tạo như giống Eksotika, Phillipines, HCAR 164, Sainampeung, Khakdum, Solo, đu
đủ Cuống tím, đu đủ Địa phương 3, Địa phương 4, Địa phương 5, giống lai đu đủ F1được trồng khá phổ biến Ngoài ra còn có thêm hai giống VNĐĐ9 và VNĐĐ10 đã được hội đồng KHCN (Viện cây ăn quả miền Nam, 2009) đã nghiệm thu và công nhận tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất Giống VNĐĐ9 là kết quả của tổ hợp lai giữa giống đu đủ Đài Loan quả dài với giống đu đủ bản địa được thu thập từ tỉnh Sóc Trăng; giống VNĐĐ10 được lai giữa giống đu đủ Trung Quốc quả dài với giống đu đủ bản địa của tỉnh Quảng Ninh và hiện nay đang được trồng nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Phú Thọ và Hà Nội đều sinh trưởng, phát triển tốt, tỏ ra thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu những nơi làm thí nghiệm (Đỗ Thái Nguyên, 2010)
1.4 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÂY ĐU ĐỦ
1.4.1 Rễ
Đu đủ có hệ thống rễ đuôi chuột Rễ đu đủ nhỏ, giòn, dễ bị tổn thương do cơ giới cũng như ngập úng và khô hạn và thường phân bố rất nông, tập trung trong phần đất 0-30 cm, có thể phân bố ở tầng đất sâu hơn 50-60 cm nếu đất thoáng khí
Rễ phân bố rộng tương đương với độ rộng của tán lá trên mặt đất (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002) Theo Storey (1985, trích dẫn bởi Jaime, 2007) nếu đất thường xuyên ngập úng thì cây đu đủ sẽ chết sau 3-4 ngày
Trang 211.4.2 Thân
Theo Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư (2002) thì cây đu đủ là loại thân thảo nhiệt đới có thể đạt chiều cao từ 2-10 m, đường kính gốc có thể đạt 30 cm Cây ít hoặc không phân nhánh và có các đốt sít nhau và được phân biệt bởi các sẹo lá đã rụng
Độ cứng của thân cây là do các mô mạch dẫn tạo thành lớp bó mạch bao quanh và nếu lớp mô này bị tổn thương hoặc bị bệnh thì thân cây có thể bị gãy, đổ dễ dàng Trên thân có các mô phân sinh bên có thể hình thành chồi, song phần lớn chúng đều
ở trạng thái ngủ
1.4.3 Lá
Lá đu đủ có bản rộng và chia thành thùy Số lượng các thùy lá thay đổi và tăng dần theo vị trí lá trên thân và thường đạt số thùy lá ổn định khi cây đã đạt 8-9 lá với
số thùy biến động từ 7-9 thùy Phiến lá đạt kích thước từ 60-100 cm và cuống lá đạt
độ dài 70-90 cm Trong các tháng có nhiệt độ cao, dinh dưỡng nước đầy đủ, đu đủ
có thể ra 9-14 lá tuỳ giống Khi cây có từ 22-27 lá thật cây bắt đầu ra hoa, số lá trên cây có liên quan chặt chẽ đến năng suất của cây Người ta đã làm thí nghiệm ngắt bớt số lá của cây đu đủ, kết quả cho thấy số lá càng ít, hoa đực càng nhiều (Chu Thị Thơm và Phan Thị Lài, 2005) Một cây trung bình đạt 13-17 lá xanh hoạt động thì
tỷ lệ đậu trái và phát triển bình thường, nếu đạt được 25-30 lá hoạt động thì năng suất sẽ cao và ổn định (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
1.4.4 Hoa
Đu đủ thường là cây đồng chu (Tôn Thất Trình, 2000; Oschae và ctv.,1975, trích
dẫn bởi Singh, 1990) hoa đu đủ có nhiều dạng nhưng thường được chia thành ba nhóm chính :
Nhóm A : Gồm cụm hoa đơn tính cái (Hình 1.1a), cụm hoa ngắn, chỉ mang hoa đơn tính cái
Nhóm B: Gồm cụm hoa lưỡng tính, cụm hoa ngắn, có thể mang hoa lưỡng tính 5 nhị (Hình 1.1b), lưỡng tính thon dài, lưỡng tính bất dục và lưỡng tính dị hình
Nhóm C: Gồm cụm hoa đực (Hình 1.1c), cụm hoa có cuống dài, mang chủ yếu
là hoa đực, có thể mang một vài hoa lưỡng tính thon dài ở đầu ngọn cành hoặc nhánh của cụm hoa
Cây đu đủ là cây phân tính khác gốc (Singh, 1990) Theo Nguyễn Thành Hối và
ctv (1997) thì dựa vào đặc điểm mang hoa mà thông thường có ba loại cây đu đủ là
cây đực, cây cái và cây lưỡng tính
Cây đực: chỉ mang hoa đực, hoa nhỏ, dài khoảng 2-3 cm, có 5 cánh dính lại với nhau thành một hình ống, chỉ có nhị đực không có nhụy cái, sẽ rụng sau khi nở Hoa
Trang 22có màu trắng vàng mọc thành chùm trên phát hoa dài (Nakasone và Paull, 1998) hoặc mọc sát nách lá và không có cuống Dạng hoa đực thường phát triển từ cây đực và cây lưỡng tính Trong sản xuất thì cây đực không có ý nghĩa về năng suất, song lại là cây cung cấp phấn cho cây cái và cây lưỡng tính, giúp tăng sự đậu trái cho cây trong vườn (Ray, 2002)
Cây cái: Hầu như trên cây chỉ mang toàn hoa cái (Trần Thị Phương Thảo, 2009) hoa dài 3-5 cm, đường kính 4-6 cm, cuống to và mập Hoa có bầu noãn lớn 2-3 cm, nướm nhụy cái lớn, không có nhị đực Đây là loại hoa có giới tính ổn định và không
bị thay đổi bởi bất kỳ nhân tố môi trường nào (Nakasone và ctv., 1982) Hoa cái ít
có khả năng tạo trái, chỉ cho một vài trái trên cây do bầu noãn tự phát triển, nhưng các trái này thường nhỏ và không có hột (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Cây sẽ cho nhiều trái hơn khi hoa cái được nhận phấn từ các loại hoa ở cây khác bay tới
(Nguyễn Thành Hối và ctv.,1997)
Cây lưỡng tính: mang hoa lưỡng tính và hoa đực, hoa lưỡng tính có kích thước trung gian to hơn hoa đực và nhỏ hơn hoa cái, có 5 cánh dính với nhau ở phần dưới cánh hoa tạo thành ống Hoa có 5-10 nhị đực, bầu noãn phát triển, có 2-5 lá noãn giúp hoa đậu trái cao Đặc tính nổi bật nhất của cây lưỡng tính là tính di truyền không ổn định, ở các đời sau thường lẫn lộn có cây lưỡng tính, cây đực và cây cái với tỷ lệ khác nhau (Vũ Công Hậu, 2000) Hoa có khả năng tự thụ và thụ phấn chéo
vì vậy mà một số tác giả cho rằng có sự chuyển đổi giới tính ở các giống đu đủ (OECD, 2003)
Trang 23Dùng phấn hoa lưỡng tính thụ phấn với hoa lưỡng tính thì một phần ba cây con
là cây cái, hai phần ba cây con là cây lưỡng tính
Dùng phấn hoa lưỡng tính thụ phấn với hoa cái và ngược lại đều cho kết quả giống nhau, một phần ba cây con là cây cái, một phần ba cây con là cây đực và một phần ba cây con là cây lưỡng tính
Bảng 1.2 Tỷ lệ (%) cây đu đủ xuất hiện đời sau sau khi thụ phấn giữa hoa đực (M), hoa cái
Nguồn Storey (1976), Garrett (1995)
Theo nghiên cứu này thì phương án 2 và 4 sẽ cho những cây ra trái nhiều nhất Nếu không thụ phấn bằng tay, nhà vườn cũng có thể để lại trong vườn vài cây đực
đủ bảo đảm các cây khác đều thụ phấn và ra trái (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Hiện tượng tự bất tương hợp (sefl-incompatibility) ít khi được ghi nhận trên đu
đủ, tuy nhiên Ray (2002) đã đề cập đến thí nghiệm của Nakasone (1986) nói đến sự bất tương hợp trên đu đủ lưỡng tính: 50% hoa tự thụ phấn không thể đậu trái, điều này cho thấy có một mức độ tự bất tương hợp trên đu đủ, không phải vấn đề vị trí đơn thuần của nhị và nhụy
Trang 24tùy mùa vụ và giống Đối với cây đu đủ, phẩm chất trái đu đủ phụ thuộc rất nhiều vào thời gian chín và mức độ được thụ phấn, thụ tinh hình thành hạt trong trái nhiều hay ít Trái chín trong thời gian ít mưa, nhiệt độ cao và có nhiều hạt thì phẩm chất của trái càng ngon (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Hạt của trái đu đủ có thể đạt 1000-1400 hạt trong điều kiện được thụ phấn thụ tinh tốt Hạt có màng mỏng bao quanh nên dễ mất sức nảy mầm Hạt nảy mầm tốt khi nhiệt độ đạt 350C, dưới 230C hay cao hơn 440C đều ức chế sự nảy mầm của hạt
mủ cho đến ngày thứ 120-130 Trái cho chất lượng ngon nhất vào ngày thứ 145, khi
vỏ trái bắt đầu vàng Tuy nhiên vào ngày thứ 120 khi vỏ trái từ xanh đậm sang xanh nhạt thì có thể thu hoạch và cũng theo tài liệu này khuyến cáo chỉ nên thu hoạch khi trái đã có màu vàng xuất hiện khoảng 6% bề mặt vỏ trái, lúc này TSS là 11,5%, nếu
để khi trái sắp rụng (165 ngày) thì TSS khoảng 15% Thí nghiệm của Akamine và Goo (1971) cũng có kết quả tương tự, thu hoạch ở thời điểm màu vàng xuất hiện 3% bề mặt vỏ trái, TSS là 11,5% và khi vỏ trái xuất hiện màu vàng 80% thì TSS là 14,5%
1.5 NHU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY ĐU ĐỦ
1.5.1 Nhiệt độ
Cây đu đủ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới nên yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt lên sự sinh trưởng vả phát triển của cây Các vùng có nhiệt độ bình quân trong năm lớn hơn 200C được coi là vùng trồng đu đủ có hiệu quả kinh tế Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây đu đủ là 25-300C Nhiệt độ dưới 150C làm sự ra lá chậm, trái lớn chậm và phẩm chất trái kém Nhiệt độ ban đêm từ 12-140C trong nhiều giờ thì làm
cây không phát triển và khó hình thành hoa (Nakasone và ctv., 1982), trái chậm phát
triển (Nakasone and Paull, 1998) Nhiệt độ dưới - 20C được coi là nhiệt độ gây chết đối với cây, nhiệt độ hơn 440C với cường độ chiếu sáng mạnh làm cây mất nước và gây héo lá, nhiệt độ lớn hơn 350C làm tăng khuynh hướng sản xuất hoa đực (Nguyễn Hoàng Anh, 2009) Ở các vùng nhiệt đới gần xích đạo, đu đủ có thể trồng
ở độ cao 600-1000 m so với mặt nước biển, song ở vùng Á nhiệt đới đu đủ trồng ở nơi càng cao thì phẩm chất trái càng kém (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002) Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vào các tháng quá khô (tháng 2-4 dl), nhiệt độ 30-350C
và các tháng mưa dầm (tháng 7-9 dl), thiếu nắng, mưa nhiều (250-300 mm/tháng)
Trang 25gây úng rễ, đều làm đu đủ sinh trưởng kém, ít đậu trái và giảm năng suất (Nguyễn
Thành Hối và ctv., 1997)
1.5.2 Ánh sáng
Đu đủ là cây ưa sáng nên dễ dàng vượt qua ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng cao nếu cây đầy đủ nước Tuy nhiên yêu cầu về ánh sáng của cây không giống nhau trong các giai đoạn phát triển Đu đủ đòi hỏi cường độ chiếu sáng thấp ở giai đoạn cây con (nhất là trong vườn ương) và cường độ chiếu sáng cao trong giai đoạn sinh trưởng mạnh, ra hoa, tạo trái (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
1.5.3 Nước
Đu đủ là cây yêu cầu nước cao nhưng rất kém chịu ngập, do cấu trúc của lá và lớp bảo vệ trên bề mặt lá đu đủ nên cũng chịu hạn kém Lượng mưa yêu cầu từ 1.300-2.000 mm trong năm và phân bố đều (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001) Cây cần nhiều nước ở giai đoạn vươn cao (sau khi trồng khoảng 4-5 tháng), giai đoạn ra hoa
và giai đoạn lớn nhanh của trái (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
1.5.4 Đất đai
Ẩm độ đất là một nhân tố môi trường quan trọng tác động đến sự sống, phát
triển, sự biến đổi giới tính và chất lượng của trái đu đủ Awada và ctv., (1961) đã
làm thí nghiệm về ảnh hưởng của ẩm độ đất đến hoạt động của cây, kết quả cho thấy cây trồng trên đất có tưới nước nhiều (ẩm độ đất 34-40%) thì phát triển mạnh hơn, năng suất cao hơn cây trồng trên đất tưới ít nước Đu đủ có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là đất tơi xốp, thoát nước tốt, tầng canh tác dày (> 70 cm) Theo Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư (2002) thì hàm lượng không khí trong đất đạt 4% và độ pH từ 6,5-7 được coi là thích hợp để trồng đu đủ Ngoài
ra ẩm độ đất phải đạt 60-70%, độ ẩm không khí đạt 85-90% thì tối ưu cho sự phát triển của cây (Chu Thị Thơm và Phan Thị Lài, 2005)
1.5.5 Sâu bệnh hại đu đủ
1.5.5.1 Côn trùng
Nhện đỏ (Tetrenychus sp.) có nhiều loài thường gây hại nặng trong mùa nắng, do
kích thước nhỏ chúng thường bám ở mặt dưới lá và trên trái, nhện có màu hồng lợt đến đỏ sậm, rất nhỏ (dưới 1 mm) nên phải quan sát kỹ mới phát hiện được (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Rệp sáp (Pseudococcus spp.) thường là loại rệp sáp có màu trắng xám phát triển
nhiều trong mùa nắng Chúng thường gây hại bằng cách bám sát vào ngọn, thân, lá, trái, bông chích hút nhựa cây, lá làm trái kém phát triển và dễ bị nấm bồ hóng
(Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997)
Trang 26Ruồi đục trái (Dacus dorsalis) ruồi thường chỉ gây hại nặng khi trái để chín cây Ruồi đục vào trái để đẻ trứng, giòi nở ra gây thối trái (Nguyễn Thành Hối và ctv.,
1997)
1.5.5.2 Bệnh hại
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv.(1997) trong quá trình sinh trưởng và phát triển,
cây đu đủ có thể nhiễm các loại bệnh sau:
Bệnh thối gốc do nấm Pythium aphanidermatum (Edson) Fitz gây ra, đây là bệnh
hại ở nhiều nơi và thường phát triển nặng vào đầu mùa mưa Cây bị bệnh có màu vàng, rũ và rụng đi; trái cũng bị rụng; gốc thân nơi tiếp giáp mặt đất, bị úng thành mảng rồi lan dần ra khắp chu vi thân đổi sang màu nâu, hay đen rồi bị thối đi Do gốc bị thối, cây sẽ bị ngã ngang và chết, do bệnh lan dần xuống nên rễ cũng bị hư Bệnh phát triển khi trời nóng ẩm, ẩm độ quanh gốc càng cao, bệnh phát triển càng mạnh
Bệnh cháy lá do nấm Helminthosporium rostratum Richardson Fraser (Drechslera rostratum Drechsl.) gây ra, cây bệnh phần chóp của lá bên dưới có các
đốm úng nước, lan dần vào bên trong lá làm lá bị nâu và khô đi, nếu nhiễm nặng cuống lá bị héo, mềm và lá bị rụng
Bệnh đốm lá do nấm Phyllosticta sulata Trên đốm bệnh có hình tròn, hình trứng,
hình thon dài hay bất dạng Vùng giữa vết bệnh có màu bạc trắng; viền có màu vàng hay màu nâu, vùng bệnh khô và mỏng dần do rách Mầm bệnh lưu tồn rất lâu trong các xác lá cây bệnh và phát tán theo chiều gió để lây lan
Bệnh khảm: do virus Papaya mosaic gây ra Cây mới trồng thường bị nhiễm
bệnh này, phổ biến ở cây đu đủ được 1-2 năm tuổi Cây bệnh có lá bị khảm gồm nhiều vết xanh vàng lẫn lộn, khảm càng nặng lá biến sang màu vàng Lá bệnh bị nhỏ lại, biến dạng, số thùy lá gia tăng, nhăn phồng, lá già bị rụng nhiều, chỉ chừa lại chùm lá bị khảm vàng ở ngọn Trái nhỏ biến dạng, chai sượng Bệnh này không lây truyền qua hạt chủ yếu qua vết thương và côn trùng chích hút
Bệnh phấn trắng do nấm Oidium caricae Noack gây ra, mặt dưới lá có màu
trắng, nếu nhiễm nặng lá sẽ phát triển kém, có thể bị biến dạng chút ít, trái cũng bị các đốm phấn trắng tròn hay bầu dục và phát triển kém
Bệnh đốm vòng: do virus Papayya ringspot gây ra Đặc điểm chính của bệnh là
làm lùn cây, sản lượng trái bị giảm, lá bị khảm và biến dạng Bệnh lây lan do nhóm côn trùng chích hút nhất là các loại rầy mềm
Bệnh do tuyến trùng Meloidogyne incognita và Rotylenchulus reniformis gây ra,
cả hai loại tuyến trùng này đều phá hại rễ và gây thiệt hại cho đu đủ Cây con nhiễm nặng có thể bị chết, cây lớn có thể giảm sức tăng trưởng
Trang 27Bệnh héo rũ do nấm Phytophthora spp gây ra, nấm bệnh tấn công phá hủy bộ rẽ
cây làm cho rễ không hút được nước, dinh dưỡng nên cây sẽ bị héo, nếu nặng có thể làm cho cây chết (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.6 PHƯƠNG PHÁP GHÉP
1.6.1 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép
Ghép là một phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách đem gắn một bộ phận của cây giống (một mắt hay một đoạn cành) sang một cây khác (cây gốc ghép) để tạo nên một cây mới giữ được đặc tính ban đầu (Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận, 1998)
Khi ghép phải áp sát tượng tầng của gốc với cành (mắt) tháp với nhau, khi đó lớp tế bào tượng tầng ngoài của gốc và cành (mắt) tháp tạo ra những tế bào nhu mô dính lại với nhau tạo thành mô sẹo Các tế bào nhu mô của mô sẹo phân hóa thành những tế bào tượng tầng mới kết hợp với tượng tầng nguyên thủy của gốc và cành (mắt) ghép Các tế bào tượng tầng mới tạo ra những mô mạch mới, gỗ bên trong và libe bên ngoài, hình thành sự kết hợp giữa gốc và cành (mắt) làm dinh dưỡng và nước được vận chuyển qua lại với nhau (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Bộ rễ của gốc ghép hút nước và chất khoáng đồng thời tạo acid hữu cơ và amino acid cung cấp cho thân, cành, lá của phần ghép phía trên, ngược lại những sản phẩm đồng hóa được do phần ghép phía trên nhờ quang hợp cung cấp trở lại
cho bộ rễ (Phan Ngưỡng Tinh và ctv., 2001)
1.6.3 Những ưu điểm của phương pháp ghép
Cây ghép sinh trưởng và phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai,…của cây gốc ghép Cây ghép giữ được đặc tính của cây giống muốn nhân, điều này có được do mắt ghép được lấy trên giống cây thành thục, các đặc tính di truyền đã ổn định Cây
Trang 28ghép sớm ra hoa kết quả vì cành (mắt) ghép chỉ tiếp tục giai đoạn phát triển của cây
mẹ (cây giống) (Võ Ngọc Trân, 2001)
Tăng cường khả năng chống chịu của cây đối với điều kiện ngoại cảnh bất thuận như hạn, úng, rét, sâu bệnh…
Điều tiết sự sinh trưởng của cây ghép, khi chọn được những tổ hợp ghép thích hợp có thể điều chỉnh cây cao hay lùn đi Có khả năng phục hồi sinh trưởng của cây, duy trì giống cây quý
Hệ số nhân giống cao, trong một thời gian ngắn có thể sản xuất nhiều cây giống đáp ứng yêu cầu của sản xuất (Võ Ngọc Trân, 2001)
1.6.4 Ảnh hưởng của gốc ghép lên đặc tính hình thái, sinh lý và di truyền của mắt ghép
Sau khi ghép sống, gốc ghép và thân cành ghép là một cơ thể thống nhất hoàn chỉnh Tuy gốc ghép không để cành lá nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ rất phức tạp và nhiều mặt (Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận, 1998)
1.6.4.1 Ảnh hưởng của gốc ghép lên đặc tính hình thái của mắt ghép
Hirata và ctv (1995) đã tổng kết lịch sử nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép lên
sự biến đổi đặc tính hình thái của mắt ghép trên cây ớt, cà chua, cà phổi, thuốc lá, đậu nành, củ cải đường, cỏ alfalfa, táo (apple) Những gốc ghép này cho thấy rằng gốc ghép đã làm thay đổi đặc tính hình thái như hình dạng, màu sắc và kiểu sắp xếp của lá, hoa, trái và cây Những thay đổi gây ra bởi việc tháp là cùng loài hoặc khác loài như táo trên gốc lê, cà chua trên gốc cà phổi
Quan sát trong vườn ương cũng như trong vườn sản xuất của nông dân, Lê Thị
Thu Hồng và ctv (2002) nhận thấy cây bưởi Năm roi và bưởi Da Xanh tháp trên
gốc cây cần thăng đều tạo ra dạng lá bất thường (lá bị đổi màu) Mắt ghép là cây hạnh ghép trên gốc cần thăng cũng tạo ra lá có màu sắc khác nhau (lá cẩm thạch), trái có sọc và có dạng dài hơn bình thường (Nguyễn Văn Thật, 2002)
1.6.4.2 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng của thân cành ghép
Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự sinh trưởng của mắt ghép đã được ứng dụng để kiểm soát tán cây trong kỹ thuật trồng dày, trong đó còn có kỹ thuật sử dụng gốc
ghép trung gian Vazquez-Caldivia và ctv (2000) đã sử dụng mắt ghép, gốc ghép
trung gian và gốc ghép theo thứ tự sau Ataulfo/Esmeralda/Creole, trong đó giống Ataulfo là giống có đặc tính sinh trưởng mạnh, cho trái đều, trong khi gốc ghép trung gian Esmeralda là giống đa phôi, có sự sinh trưởng chậm, nhằm kiểm soát tán cây giống Ataulfo Qua công thức này cho thấy với việc sử dụng gốc ghép trung gian đã làm chậm thời gian khép tán và cho phép trồng xoài với mật độ dày hơn
Trang 29Tương tự trên cây táo (apple) dùng gốc ghép trung gian là giống lùn M9 đã làm
giảm sự sinh trưởng 20% (Samad và ctv., 1998) Các giống cam, quýt đều sinh trưởng yếu đi, tán cây thấp hơn khi ghép trên gốc ghép là cây Poncirus trifoliata và ngược lại thân ghép sinh trưởng mạnh, tán cao hơn khi gốc ghép là bưới chùm (C paradisi) (Võ Ngọc Trân, 2001)
1.6.4.3 Ảnh hưởng của gốc ghép lên sự ra hoa của thân cành ghép
Hirata và ctv (2000) cũng tìm thấy ảnh hưởng của gốc ghép lên sự ra hoa của
cây gép qua việc lai khác loài giữa cây củ cải và cây bắp cải đỏ Cây bắp cải đỏ ra hoa chậm hơn cây củ cải 3 tháng do cây bắp cải đỏ là cây đòi hỏi phải có sự thụ hàn mạnh mới ra hoa Kết quả cho thấy các dạng Chimeras ra hoa chậm hơn cây củ cải 1-2 tháng Nói chung, sự hiện diện của mô cây cải bắp sẽ làm cho cây ra hoa chậm hơn Ở Thái Lan, giống xoài Choke Anan là giống xoài ra hoa quanh năm trong khi giống Kiew-Savoey được xem là giống khó ra hoa nhưng Pojanagaroon (2000, trích trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2004) tìm thấy khi tháp trên gốc xoài Choke Anan, xoài Kiew-Savoey và xoài Nam Dok Mai có tỷ lệ ra hoa, tổng số phát hoa và trái nhiều hơn Khảo sát ảnh hưởng của tám loại gốc ghép lên sự ra hoa xoài Alphonso,
Kurian và ctv (1996) tìm thấy ghép trên gốc có đặc tính lùn (Vellaikolamban) cây
ghép sẽ sinh trưởng dinh dưỡng kém và ra hoa nhiều hơn so với ghép trên gốc có đặc tính sinh trưởng mạnh như Muvandan, Bappakai và Olour
Cam Valencia ghép trên gốc chanh thường và chanh Lime cho quả sớm hơn ghép trên quýt Cleoptre (Bittez-Califonia, 1968, trích dẫn bởi Võ Ngọc Trân, 2001) Cam Tiêu ghép trên gốc chanh Đỏ năm thứ 2 đã cho 90 quả/cây, trong khi đó ghép trên các loại gốc ghép khác vẫn chưa có quả Theo Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận (1998) người ta ghép nho châu Á lên gốc nho châu Mỹ để chống sâu Phylloxera làm cây chín sớm hơn, cây lùn xuống để không chiếm nhiều đất và để khắc phục mốt số nhược điểm của cây dùng làm cành ghép
1.6.4.4 Ảnh hưởng của gốc ghép lên phẩm chất trái
Theo Barry và ctv (2002), trái cam ngọt Valencia thu hoạch từ cây ghép trên
gốc ghép sinh trưởng manh thì thường lớn và có nồng độ chất rắn hòa tan trong trái thấp hơn so với trái thu hoach từ cây tháp trên gốc ghép sinh trưởng yếu hơn Khi nghiên cứu ảnh hưởng của bốn loại gốc ghép lên năng suất và phẩm chất táo Mutsu, Daugaard và Callesen (2002, trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2004) nhận thấy gốc ghép ảnh hưởng lên màu sắc của trái khi tồn trữ mà điều này dẫn đến sự thay đổi
nồng độ acid và tổng số chất rắn hòa tan trong trái Smith và ctv (1997) tìm thấy
năng suất tích lũy trong bốn năm của cây xoài Kensington Pride tháp trên hai loại gốc ghép khác nhau chênh lệch nhau gấp hai lần
Trang 30Khi sử dụng gốc ghép trung gian là giống lùn M9 trên cây táo, Samad và ctv
(1998) tìm thấy rằng trọng lượng trái, chiều dài trái, tỷ lệ chiều dài/đường kính trái hoặc màu sắc trái không thay đổi trong năm thứ nhất nhưng khác biệt rất có ý nghĩa trong năm thứ hai Gốc ghép trung gian custard apple có đặc tính lùn cũng được áp dụng làm giảm kích thước tán cây và cải thiện sự ra hoa trên cây mãng cầu ta
(Annona spp Hybrid) cv African Pride (George và Nissen, 2002)
1.6.4.5 Ảnh hưởng của gốc ghép lên khả năng chống chịu của cây ghép
Ảnh hưởng đến tính chịu hạn: Cam Hamlin ghép trên gốc chanh Sần có khả năng chịu hạn cao nhất
Ảnh hưởng đến tính chịu úng, chịu phèn: Ghép gốc bình bát lên các giống mãng cầu xiêm để tăng khả năng chịu úng, chịu phèn
Ảnh hưởng đến tính chịu rét: Cam, quýt được ghép trên P trifoliata làm tăng
1.7 QUAN ĐIỂM TUYỂN CHỌN GỐC GHÉP ĐU ĐỦ
Sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm chất, tính chống chịu và tuổi thọ của cây ghép chịu ảnh hưởng rất lớn của cây gốc ghép Bởi vậy ở từng điều kiện sinh thái cụ thể cần nghiên cứu xác định cho được tổ hợp ghép phù hợp cho mỗi giống thì chúng ta mới hy vọng phát huy được đầy đủ những cây giống tốt phục vụ cho sản xuất Mỗi giống làm gốc ghép tốt phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Gốc ghép sinh trưởng khỏe và có khả năng thích ứng rộng với điều kiện địa phương
Giống làm gốc ghép phải có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, tùy theo đặc điểm của vùng trồng mà chọn gốc ghép có tính chống chịu thích hợp như chịu hạn, chịu úng, chịu rét…
Giống gốc ghép phải là giống sinh trưởng nhanh, dễ gây giống, ít mọc mầm phụ
Trang 311.8 ĐẶC TÍNH CÁC GIỐNG ĐU ĐỦ DÙNG LÀM GỐC GHÉP
Đu đủ Mã Lai: Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), giống đu đủ Mã Lai
sinh trưởng tốt, cho trái to 2,5-3 kg/trái, ruột đỏ, ngọt Tuy nhiên, khi chín trái rất mau mềm nên hơi khó khăn trong quá trình vận chuyển đi xa Giống Mã Lai cũng thường thấy có hai dạng, một dạng có đầu mặt trái nơi tiếp giáp cuống có dạng phẳng và một dạng thì lõm hẳn xuống Đây là giống đu đủ địa phương, thích ứng tốt với điều kiện canh tác ở Việt Nam nhưng có nhược điểm là cao cây, cho quả muộn
và xuất hiện cây đu đủ đực trong quần thể (Nguyễn Văn Hoan và ctv., 2010)
Đu đủ Đài Loan tím: Đây cũng là giống địa phương và là giống được trồng phổ
biến ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Cây sinh trưởng và phát triển mạnh vào giai đoạn đầu sau khi trồng Cây cao trung bình từ 170-200 cm Cây có khả năng chống chịu khá tốt với bệnh, cây nhiễm bệnh trễ và mặc dù cây bị bệnh nhưng vẫn cho trái tốt (Trần Thị Oanh Yến, 2004) Từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ 10-12 tuần Vị trí mang trái đầu tiên cách mặt
đất 75-80 cm (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
Trái phát triển từ hoa lưỡng tính có hình trụ dài, hơi thon về phía cuống trái Trái phát triển từ hoa cái có dạng hình tròn, hơi nhọn về phía đầu trái, thịt trái mỏng hơn
so với trái lưỡng tính Trọng lượng trái trung bình 1.100-1.300 g Vỏ trái khi chín có màu vàng, thịt trái màu đỏ tía, màu đỏ nhạt hơn về phía gần vỏ trái, vị ngọt ngon (độ Brix từ 11,0-12,5%, độ chắc thịt trái từ 1,1-1,5 kg/cm2) Cây cho năng suất từ
18 - 20 kg/cây/năm, nếu được chăm sóc tốt có thể đạt năng suất trên 30 kg/cây/năm
Giống nhiễm bệnh đốm vòng ở mức trung bình (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Địa điểm-thời gian
Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới khoa Nông Nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 02/2010 đến tháng 12/2010
2.1.2 Vật liệu
Các giống đu đủ Mã Lai và đu đủ Đài Loan tím (được tuyển chọn từ những vườn đu đủ có năng suất cao và có biểu hiện kháng sâu bệnh tốt tại các huyện Cái Bè- Tiền Giang, Phong Điền - Cần Thơ), Đài Loan F1 (công ty Nông Hữu)
Tro trấu, các loại phân bón, thuốc trừ sâu bệnh…
2.1.3 Thiết bị
Máy đo màu (Minolta, CR-200, Nhật), tủ sấy, máy đo độ Brix (Atago, Nhật), cân kỹ thuật OHAUS - CS5000 (5000 ± 2 g), thước kẹp, thước dây và các dụng cụ cần thiết khác
2.1.4 Số liệu khí tượng
10 20 30 40
Hình 2.1 Biểu đồ tình hình nhiệt độ và ẩm độ trung bình tháng được ghi nhận
tại khoa Nông Nghiệp & SHƯD (02 – 12/2010)
Trang 33RI RII RIII RIV RV
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại ứng với một cây
Thí nghiệm gồm các nghiệm thức sau:
1: Trồng đu đủ Đài Loan F1 ghép với gốc Đài Loan F1
2: Trồng đu đủ Đài Loan F1 ghép với gốc Mã Lai
3: Trồng đu đủ Đài Loan F1 ghép với gốc Đài Loan tím
4: Trồng đu đủ Đài Loan F1 không ghép (đối chứng)
T1, T2, T3, T4: tương ứng với các nghiệm thức (1, 2, 3, 4)
RI, RII, RIII, RIV, RV tương ứng với 5 lần lặp lại
Trang 342.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp
Ghi nhận
Thời gian nẩy mầm, tỷ lệ nẩy mầm của hạt giống làm gốc ghép
Sâu bệnh: các loại sâu, bệnh hại trong suốt quá trình làm thí nghiệm, đặc biệt là
các bệnh do virus: khảm, đốm vòng, chùn đọt…
Đặc tính nông học sau khi ghép đến trước khi trồng (0-60 ngày kể từ khi
gieo)
Tỷ lệ sống của cây sau khi ghép: mỗi nghiệm thức được ghép 25 cây, chia thành
5 lô, mỗi lô gồm 5 cây Quan sát tỷ lệ sống của cây đu đủ sau khi ghép qua 7, 14 và
Chiều cao cây đu đủ sau khi ghép(cm): dùng thước dây cứng đo cây từ mặt đất đến ngọn, 10 ngày đo 1 lần
Đường kính gốc thân cây đu đủ sau khi ghép (cm): dùng thước kẹp cứng đo đường kính thân cây cách mặt đất 10 cm, 10 ngày đo 1 lần
Tốc độ ra lá cây đu đủ sau khi ghép: đếm số lá mới xuất hiện, 10 ngày lấy chỉ tiêu một lần
Chiều dài cuống lá cây đu đủ sau khi ghép (cm): chọn 4 lá có cuống dài nhất theo hình chữ thập, dùng thước dây đo từ vị trí tiếp giáp cuống lá với thân đến vị trí tiếp giáp cuống lá với lá, 10 ngày đo một lần
Đường kính lá cây đu đủ sau khi ghép (cm): chọn 4 lá có cuống dài nhất theo hình chữ thập, dùng thước dây cứng đo bề ngang rộng nhất của lá, 10 ngày đo một lần
Đường kính tán cây cây đu đủ sau khi ghép (cm): dùng thước dây cứng đo đường kính tán rộng nhất của cây theo hình chữ thập, 10 ngày đo một lần
Đặc tính nông học sau khi trồng (60 ngày trở về sau)
Chiều cao cây (cm): dùng thước dây cứng đo cây từ mặt đất đến ngọn, 30 ngày
đo một lần
Trang 35Đường kính gốc (cm): dùng thước kẹp cứng đo đường kính thân cây cách mặt đất 10 cm, 30 ngày đo một lần
Tốc độ ra lá: đếm số lá mới xuất hiện, 30 ngày đếm một lần
Chiều dài cuống lá (cm): chọn 4 lá có cuống dài nhất theo hình chữ thập, dùng thước dây đo từ vị trí tiếp giáp cuống lá với thân đến vị trí tiếp giáp cuống lá với lá,
30 ngày đo một lần Lấy số liệu trung bình
Đường kính lá (cm): chọn 4 lá có cuống dài nhất theo hình chữ thập, dùng thước dây cứng đo bề ngang rộng nhất của lá, 30 ngày đo một lần Lấy số liệu trung bình Đường kính tán cây (cm): dùng thước dây cứng đo đường kính tán rộng nhất của cây, đo 2 lần vuông góc tính từ thân cây đu đủ, lấy số liệu trung bình, 30 ngày đo một lần
Thời gian bắt đầu ra hoa đầu tiên: Theo dõi và ghi nhận ngày ra hoa đầu tiên của cây đu đủ ở các nghiệm thức tính từ thời điểm sau khi trồng
Số lượng hoa, tỷ lệ hoa lưỡng tính/đực/cái trên một cây
Tỷ lệ đậu trái (tính từ khi trổ hoa đầu tiên đến khi thu hoạch trái đầu tiên)
Tỷ lệ đậu trái =
Chỉ tiêu năng suất và thành phần năng suất trái đu đủ
Tổng số trái trên cây: đếm tổng số trái từ khi bắt đầu đậu trái đến khi thu hoạch trái đầu tiên
Thời gian bắt đầu thu hoạch: Theo dõi và ghi nhận ngày bắt đầu thu hoạch trái
đu đủ đầu tiên của cây đu đủ ở các nghiệm thức tính từ thời điểm ra hoa đầu tiên Thời gian thu hoạch: Theo dõi và ghi nhận ngày bắt đầu thu hoạch trái đu đủ đầu tiên đến khi bằng tổng số trái đu đủ đếm trên cây ở các nghiệm thức
Năng suất trái trên cây (kg): Thu hoạch trái khi chín sau đó cân trọng lượng Trái được hái liên tục đến khi bằng tổng số trái đếm trên cây Năng suất trái trên cây bằng tổng trọng lượng từng trái
Số trái phân tích: mỗi cây chọn 5 trái và trái được hái ở vị trí thứ 6 từ dưới lên của cây đu đủ
Chiều dài trái khi chín (cm): Dùng thước dây đo chiều dài trái, tính từ đầu trái đến đuôi trái
Đường kính trái (cm): Dùng thước kẹp đo đường kính rộng nhất trên trái
Tổng số trái trên cây Tổng số hoa cái + hoa lưỡng tính
x 100
Trang 36Trọng lượng trái, trọng lượng hạt khi chín: Cân trái bằng cân kỹ thuật OHAUS - CS5000 (5000 ± 2 g)
Phẩm chất trái đu đủ khi chín
Thu trái khi thấy xuất hiện 6% vỏ trái có xuất hiện màu vàng (trái đu đủ “mỏ vịt”), sau đó để chín tự nhiên đến khi vỏ vàng hoàn toàn thì tiến hành thí nghiệm (Hình 2.3)
Hình 2.3 Màu sắctrái trái đu đủ làm thí nghiệm: (a) Màu sắc trái đu đủ tại thời điểm thu hái
(b) Màu sắc trái đu đủ tại thời điểm phân tích
Màu sắc vỏ : Đo bằng máy đo màu hiệu Minolta CR-10, đo tại ba vị trí khác nhau trên vỏ trái, giá trị màu sắc được đánh giá theo hệ thống CIE (L*, a*, b*) với công thức:
L*t, a*t, b*t: màu mục tiêu ban đầu
L, a, b: màu của của vỏ trái ở thời điểm đo (đọc trên máy)
E*: là sự so sánh thực tế hoặc toàn bộ sự khác nhau của màu sắc giữa vị trí trên trái và vị trí màu thử còn gọi là độ khác nhau
Màu sắc thịt trái: đo tương tự như màu sắc vỏ trái
Trang 37Hàm lượng nước trong thịt trái (%): được xác định bằng phương pháp sấy khô được tiến hành như sau: Sấy khô hộp đựng mẫu đã rửa sạch và cân trọng lượng, sau
đó cân khoảng 5-6 g mẫu tươi cho vào hộp, sấy mẫu ở 50-600C trong thời gian 48 giờ, làm nguội trong bình hút ẩm khoảng 25-30 phút, cân trọng lượng hộp và mẫu sau khi sấy Để chắc chắn rằng mẫu đã khô, mẫu được cho trở lại vào tủ sấy 30 phút, lấy ra để nguội ở bình hút ẩm và cân lại như trên cho đến khi trọng lượng không đổi Ẩm độ thịt trái được tính theo công thức:
H (%) = W1− W2
W1− W0 x 100
Trong đó: W0:Trọng lượng hộp đựng mẫu (g)
W1: Trọng lượng hộp và mẫu trước khi sấy (g)
W2: Trọng lượng hộp và mẫu sau khi sấy (g)
Độ dày thịt: Cắt ngang trái, sau đó dùng thước kẹp đo bề dày thịt trái ở 5 vị trí ngẫu nhiên, lấy giá trị trung bình
Độ Brix (%): được đo bằng cách ép lấy dịch trái và đem đo bằng khúc xạ kế hiệu ATAGO do Nhật sản xuất, thang đo trong khoảng 0- 32%
2.2.3 Kỹ thuật canh tác
Chuẩn bị đất trồng
Đất trồng đu đủ được dọn sạch cỏ, lên liếp Chiều rộng mặt liếp 1,5 m, chiều dài
46 m Mỗi liếp cách nhau bởi một đường thoát nước rộng 0,3 m, sâu 0,3 m và trồng một hàng Sử dụng lớp đất mặt trộn với 3-5 kg tro trấu xơ dừa, 100 gr phân hữu cơ
vi sinh, đắp thành mô với kích thước dài x rộng x cao là 50x50x30 cm
Khoảng cách trồng: cây cách cây 1,8 m, hàng cách hàng 1,8 m
Xử lý hạt: Chà tróc vỏ lụa bên ngoài hạt, đem phơi trong mát và cất giữ nơi khô ráo Trước khi gieo nên ngâm hạt trong nước ấm 45-500C khoảng 10 phút Sau đó tiếp tục ngâm trong nước lã khoảng 2 giờ
Ương cây con
Hạt sau khi xử lý, được ương trong tro trấu Khoảng 7-10 ngày, hạt sẽ nẩy mầm Khi cây cao 3-4 cm thì cấy vào bầu
Đất làm bầu: 1/3 lớp đất mặt xốp, 1/3 tro trấu, 1/3 phân chuồng Cây con trong bầu khoảng 30 ngày thì đem ghép
Trang 38 Chuẩn bị cây ghép
Ba giống đu đủ Mã Lai, Đài Loan tím và Đài Loan F1 được trồng trong nhà lưới cùng thời gian Sau 30 ngày, chọn cây khỏe mạnh sạch bệnh và đồng nhất để tiến hành ghép (giống đu đủ Mã Lai và Đài Loan tím dùng làm gốc ghép, giống đu đủ Đài Loan F1 dùng làm chồi ghép)
Cách ghép: chọn những cây có độ đồng đều về kích thước Đối với những cây chọn làm gốc ghép, dung dao cắt ngang thân cách gốc khoảng 10 cm, sau đó chẻ dọc thân gốc ghép khoảng 2 cm Đối với những cây chọn làm chồi ghép, ta cũng cắt ngang thân cách gốc 10 cm, lấy chồi ngọn cắt vát hình chữ V với chiều dài vết cắt tương ứng với khoảng cách chẻ dọc trên thân gốc ghép sau đó ghép vào thân gốc ghép theo kiểu ghép nêm (Hình 2.4), dùng dây quấn chặt vị trí ghép, để cây nơi thoáng mát, phun tạo ẩm độ sau khi ghép
Hình 2.4 Các bước để thực hiện phương pháp ghép nêm
Theo dõi cây ghép nếu thấy bầu ương bị khô có thể tưới nước nhẹ vào gốc (tránh cho nước rơi vào vị trí ghép) Khi thấy chồi phát triển (khoảng 10 ngày sau khi ghép) thì tiếp tục chăm sóc bằng cách tưới nước và tưới phân, phòng trừ sâu bệnh cho cây cho đến khi cây có 4-5 lá, cao 25-30 cm thì đem trồng
Trang 39Cây trên 7 tháng tuổi sau khi trồng: 40 gr Urea, 50 gr Super lân và 50 gr KCl Bón 20 ngày 1 lần
Trong quá trình sinh trưởng, đu đủ có thể bị một số bệnh như sau:
Bệnh khảm, đốm vòng do virus, phòng ngừa tác nhân truyền bệnh bằng cách phun các loại thuốc như Trebon 10 EC, dầu khoáng DC-Tron Plus 98.8 EC, Actara… Nếu cây bị bệnh thì nhổ và tiêu hủy
Rệp sáp: làm hại lá và trái non, phòng trị bằng cách phun DC-Tron Plus 98.8
EC
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Nhập số liệu bằng Excel, các chỉ tiêu về định lượng được thống kê bằng phần mềm SPSS 18 Phân tích phương sai (ANOVA) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức, giá trị trung bình so sánh bằng phép thử LSD ở mức ý nghĩa 5% Các biểu đồ được vẽ bằng chương trình Excel
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 02-12/2010, trong những ngày sau khi gieo hạt đu đủ nhiệt độ khá cao, nhiệt độ được ghi nhận từ tháng 2 dến tháng 4 trung bình là 350C, trong khi đó ẩm độ lại khá thấp (58,93%) (phụ chương 1) Với nhiệt
độ và ẩm độ này thì rất bất lợi cho sự phát triển của cây con cũng như trong giai đoạn phục hồi sau khi ghép
Tỷ lệ nảy mầm của hột giống Mã Lai và Đài Loan tím là 96%, cao hơn giống Đài Loan F1 (60%) Thời gian nảy mầm của hột giống Đài Loan F1 là 9 ngày chậm hơn Mã Lai và Đài Loan tím 2 ngày Tốc độ phát triển của cây sau ghép tương đối chậm hơn so với đối chứng do cây cần thời gian phục hồi, cụ thể là tốc độ ra lá, phải mất 7 ngày cây mới ra lá mới, trong khi đó ở nghiệm thức đối chứng là 4 ngày Chiều cao cây tại thời điểm 0 ngày sau khi trồng của 3 nghiệm thức Đài Loan F1 ghép gốc Mã Lai, gốc Đài Loan tím và gốc Đài Loan F1 đều thấp hơn so với đối chứng
Ngày ra hoa đầu tiên được ghi nhận ở các nghiệm thức vào ngày 01/07/2010 (3 tháng sau khi trồng, 5 tháng sau khi ương) và tỷ lệ cây ra hoa của các nghiệm thức tương đối đều nhau
Tình hình sâu bệnh nhìn chung ở giai đoạn trong vườn ương (từ 0-60 ngày) cây con không bị nhiễm sâu bệnh, tuy nhiên ở giai đoạn 6 tháng sau khi trồng cây có biểu hiện vàng lá (trên 50% số lá bị vàng toàn bộ), đọt non kém phát triển Nguyên nhân là do nhện đỏ tấn công nhưng được khắc phục kịp thời nên không ảnh hưởng nhiều đến cây trồng