1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của các PHƯƠNG PHÁP làm mạ đến sự PHÁT TRIỂN và NĂNG SUẤT của GIỐNG lúa hđ1

65 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 534,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCLNGUYỄN THỊ CAM ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM MẠ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA HĐ1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

NGUYỄN THỊ CAM

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM MẠ

ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT

CỦA GIỐNG LÚA HĐ1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT

Cần Thơ - Năm 2007 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

NGUYỄN THỊ CAM

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP LÀM MẠ

ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT

CỦA GIỐNG LÚA HĐ1

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: TT0211

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH TRỒNG TRỌT

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa đuợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Cam

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

- Nơi sinh: Sóc Trăng

- Quê quán: Sóc Trăng

- Dân tộc: Kinh

- Điện thoại nhà: 079.867257, Điện thoại di động: 097 6349487

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP :

- Từ năm 1990 - 1994: Học tại Trường Tiểu Học Thị Trấn Phú Lộc

- Từ năm 1995 - 1998: Học tại Trường THCS Thị Trấn Phú Lộc

- Từ năm 1999 - 2001: Học tại Trường THPT Thị Trấn Phú Lộc

- Từ năm 2002 đến nay: Học tại Trường Đại học Cần Thơ

Cần Thơ, ngày tháng năm 2007

Người khai ký tên

Nguyễn Thị Cam

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

CẢM TẠ

Chân thành cám ơn

ThS Nguyễn Hồng Cúc đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện: kinh phí nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và lý luận khoa học để em hoàn thành luận văn

Ths Phạm Văn Phượng - cố vấn học tập, đã tạo điều kiện cho em định hướng và hoàn thành tốt khoá học

Anh Huỳnh Như Điền và các thầy cô, các anh chị làm việc tại Viện Nghiên Cứu Phát Triển ĐBSCL - Đại Học Cần Thơ

Chú Dương Thanh Bình và Chị Trần Thị Ngọc Sương làm việc tại Trung Tâm Giống Sóc Trăng đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thí nghiệm

Gia đình chú Ba Bảo đã tạo điều kiện tốt cho em hoàn thành thí nghiệm Cha mẹ, các anh chị và những người thân trong gia đình đã định hướng và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con học tập và thực hiện đề tài

Những người bạn đã giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại và

có thời gian phục hồi SKC chậm nhất Cây mạ ốm yếu, sau khi cấy mạ chết và nổi nhiều khoảng 20-40% Thời gian phục hồi là 5 NSKC đối với mật độ 250g/m2 và khoảng 7 NSKC đối với mật độ 500g/m2 Điều này dẫn tới sự chênh lệch về thời gian trổ giữa 5 phương pháp mạ Tuy nhiên, thời gian thu hoạch ít khác biệt hơn so với thời gian sinh trưởng của giống (95 ngày)

Kết quả phân tích thống kê cho thấy không có sự khác biệt về năng suất và thành phần năng suất giữa các phương pháp mạ, trừ yếu tố % hạt chắc có khác biệt với mức ý nghĩa 5%

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

Như vậy, so sánh sự phát triển và năng suất của giống lúa HĐ1 trên 5 phương pháp làm mạ tại Thạnh Trị - Sóc Trăng trong vụ đông xuân không có sự khác biệt Khả năng áp dụng các phương pháp này trong sản xuất lúa là như nhau, tùy thuộc vào đất đai, giống và điều kiện của nông hộ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

MỤC LỤC Trang

Danh sách bảng ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Nguồn gốc, tình hình sản xuất lúa trong nước và thế giới .2

1.1.1 Nguồn gốc cây lúa 2

1.1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 3

1.1.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 3

1.2 Đặc điểm hình thái của cây lúa 4

1.2.1 Rễ 4

1.2.2 Thân 5

1.2.3 Lá 6

1.2.4 Bông lúa 7

1.2.5 Hoa lúa 8

1.2.6 Hạt lúa 8

1.3 Dinh dưỡng cần cho cây lúa 8

1.3.1 Vai trò của Đạm đối với cây lúa 9

1.3.2 Vai trò của lân đối với cây lúa 9

1.3.3 Vai trò của Kali đối với cây lúa 10

1.4 Phương pháp và kỹ thuật gieo trồng 10

1.4.1 Mạ ướt 12

1.4.2 Mạ Khô 13

1.4.3 Các phương pháp làm mạ đặc biệt khác 14

1.4.4 Cấy lúa 16

1.5 Các yếu tố cấu thành năng suất 18

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20

2.1 Phương tiện 20 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

2.1.1 Đặc điểm và thời gian thí nghiệm 20

2.1.2 Giống 20

2.1.3 Phân bón 20

2.1.4 Thuốc bảo vệ thực vật 20

2.1.5 Các phương tiện khác: 21

2.2 Phương pháp thí nghiệm 21

2.2.1 Bố trí thí nghiệm: 21

2.2.2 Kỹ thuật làm mạ 22

2.2.3 Kỹ thuật canh tác 23

2.2.4 Chỉ tiêu nông học theo dõi 24

2.2.5 Thời gian sinh trưởng 25

2.2.6 Đánh giá sâu bệnh 25

2.2.7 Năng suất và thành phần năng suất: 27

2.2.8 Phương pháp phân tích kết quả 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Ghi nhận tổng quát 29

3.1.1 Đất đai 29

3.1.2 Nước 29

3.1.3 Cỏ dại 29

3.1.4 Tình hình khí tượng thuỷ văn 30

3.1.5 Sâu bệnh 31

3.2 kết quả thí nghiệm 32

3.2.1 So sánh sự phát triển của cây lúa qua 5 phương pháp mạ 32

3.2.2 Năng suất và thành phần năng suất 36

3.2.3 Đánh giá từng phương pháp mạ 40

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ CHƯƠNG 46 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

2 Sự biến thiên chiều cao cây qua các thời điểm trên 5 phương pháp mạ

của giống lúa HĐ1 tại Thạnh Trị - Sóc Trăng (10/2006 – 01/2007) 35

3 Sự biến thiên số chồi/buội qua các thời điểm trên 5 phương pháp mạ

của giống lúa HĐ1 tại Thạnh Trị - Sóc Trăng (10/2006 – 01/2007) 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

3 Ghi nhận các cấp thiệt hại do sâu đục thân hai chấm (Scirpophaga

incertular) từ đâm chồi tích cực đến lúc lúa trổ 26

4 Bảng phân cấp bệnh theo tỉ lệ bộ phận cây/cây nhiễm bệnh, trong điều tra qui luật phát sinh phát triển của bệnh hại cây trồng Bộ

môn BVTV-ĐHCT, 1986

26

5 Thành phần hoá học của đất (tại Phòng Tài Nguyên Môi

6 Ghi nhận tình hình sâu bệnh trên 5 phương pháp mạ thí nghiệm 32

7 Thời gian phục hồi và sinh trưởng của giống lúa HĐ1 qua 5

8 Năng suất và thành phần năng suất của 5 phương pháp mạ đối với

giống lúa HĐ1 tại Thạnh Trị - Sóc Trăng (10/2006 – 01/2007) 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

MỞ ĐẦU

Năm 1989 Việt Nam xuất khẩu được trên 1,4 triệu tấn gạo, gây bất ngờ cho các nước xuất khẩu gạo truyền thống trên thế giới như Thái Lan Những năm tiếp theo sản lượng gạo Việt Nam tăng ổn định, đã khẳng định được khả năng và lợi thế của Việt Nam trong sản xuất lúa gạo Có được như vậy đó là nhờ sự đổi mới chính sách đầu tư phát triển thủy lợi, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nhất là việc phát triển các giống lúa ngắn ngày năng suất cao, chất lượng tốt, giảm giá thành sản xuất (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng đã ứng dụng và nghiên cứu thành công những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc sản xuất và chọn tạo giống lúa mới chất lượng cao Tuy nhiên, các nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vẫn mang tính đơn

lẻ và rời rạc Bên cạnh những thành tựu thì một trong những yếu tố trở ngại trong tiến trình nâng cao chất lượng lúa gạo để hội nhập khu vực là công tác giống đặc biệt ở mức

độ cộng đồng và nông hộ Lượng giống lúa từ cơ quan nhà nước cung cấp cho hộ sản xuất hàng vụ khoảng 5% nhu cầu thực tế, phần lớn là nông dân tự để giống hay trao đổi lúa thịt làm giống Song song đó, hệ thống phân phối hạt giống ở ĐBSCL còn nhiều bất cập như: cung cầu chưa cân đối, dòng phân phối chưa nhịp nhàng, những chính sách và chế độ đối với nguồn phân phối giống chưa được quan tâm đúng mức

Từ năm 2000, chương trình bảo tồn phát triển đa dạng sinh học cộng đồng (CBDC) được thực hiện ở 12 tỉnh ĐBSCL dưới sự điều phối của Viện Nghiên Cứu Phát Triển ĐBSCL – Đại Học Cần Thơ (ĐHCT) và cơ quan nông nghiệp các tỉnh Hoạt động của chương trình rất đa dạng như: huấn luyện, chuyển giao khoa học kỹ thuật, nghiên cứu chọn tạo sản xuất lúa giống…Hoạt động của chương trình CBDC giúp bà con nông dân cộng đồng sản xuất lúa giống chất lượng cao, thông qua đó phổ biến cho bà con nhiều khoa học kỹ thuật sản xuất lúa giống Trong kỹ thuật sản xuất lúa giống bằng phương pháp cấy, khâu làm mạ cần được quan tâm chặt chẽ vì ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và năng suất lúa giống Để giúp bà con nông dân tăng thêm thu nhập trong sản xuất lúa và có phương pháp làm mạ thích hợp, Viện Nghiên Cứu Phát Triển ĐBSCL - ĐHCT kết hợp với Trung Tâm Giống Cây Trồng tỉnh Sóc Trăng tiến hành thí nghiệm “Ảnh hưởng của các phương pháp làm mạ đến sự phát triển và năng suất giống lúa HĐ1” tại Thạnh Trị - Sóc Trăng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 NGUỒN GỐC, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI

1.1.1 Nguồn gốc cây lúa

Cây lúa là cây trồng thân thiết và lâu đời của dân tộc ta và nhiều nước châu Á khác Đa số các nhà nghiên cứu thống nhất rằng cây lúa trồng hiện nay thuộc họ Hòa

Thảo (Graminea), tộc Oryzea, chi Oryza Về nguồn gốc của cây lúa trồng có rất nhiều

ý kiến mâu thuẩn nhau Makkey E cho rằng vết tích cây lúa cổ xưa nhất được tìm thấy trên các di chỉ đào ở vùng Penjob Ấn Độ Chowdhury và Ghosh thì cho rằng những hạt thóc hóa thạch cổ nhất của thế giới đã được tìm thấy ở Hasthinapur (bang Uttar Pradesh - Ấn Độ) Theo Grish D.H., cây lúa xuất phát từ Đông Nam Á, từ đó lan dần lên phía Bắc Đinh Dĩnh dựa vào lịch sử của cây lúa hoang ở trong nước lại cho rằng cây lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc Một số nhà nghiên cứu Việt Nam lại cho rằng nguồn gốc cây lúa là ở miền Nam nước ta và Campuchia Pampath và Kao lại cho rằng

sự hiện diện của nhiều loài lúa hoang ở Ấn Độ và Đông Nam Á chứng tỏ rằng Ấn Độ, Miến Điện hay Đông Dương là nơi xuất xứ của cây lúa trồng (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Bùi Huy Đáp (1999) cho rằng với chế độ gió mùa Châu Á có mùa khô kéo dài, hầu như không mưa và khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh ở Bắc Việt Nam đan xen tự nhiên gây ra các đột biến cộng với sự thuần dưỡng và chọn lọc của con người bằng kỹ

thuật trồng trọt qua các vụ …đã làm cho Oryza dại lâu năm phát triển Oryza trồng hàng năm Theo ông, hiện nay trên thế giới có 2 cây lúa trồng Cây lúa trồng Oryza sativa L được thuần hóa ở châu Á và cây lúa trồng Oryza Glaberrima Steud được

thuần hóa ở châu Phi Tuy nhiên, Nguyễn Chí Thuộc và ctv (1974) thì cho rằng cây lúa

trồng ngày nay là do loài lúa hoang được chọn lọc, sinh ra Đó là loài Oryza Sativa Variete Fatua

Tuy có nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng căn cứ vào các tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rãi của nhiều cây lúa hoang dại trong khu vực, nhiều người đồng ý rằng nguồn gốc cây lúa là Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

ở vùng đầm lầy Đông Nam Á Theo T T.Chang (1976) và De Datta (1981), trong 2 loại lúa trồng, loài lúa trồng quan trọng nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận

diện tích thế giới là Oryza sativa L

1.1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính, ở đâu trên khắp thế giới cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo Từ năm

1955 đến năm 1980 diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,36 triệu ha/năm

Từ 1980 trở về sau, diện tích lúa gần như ổn định ở mức 144 - 145 triệu ha, chủ yếu tập trung ở các nước châu Á (90,4%), lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc; Việt Nam đứng hàng thứ 6 Năng suất bình quân tăng khoảng 1,3 tấn/ha chỉ trong vòng 30 năm từ

1955 - 1985 đặc biệt là sau cuộc cách mạng xanh (1965 - 1970)

Năm 1990 dẫn đầu thế giới về năng suất lúa là Triều Tiên, Úc, Mỹ…Trong khi các nước có diện tích lúa lớn nhưng do ảnh hưởng điều kiện thời tiết, điều kiện đầu tư

….nên năng suất lúa vẫn còn rất thấp Điều này làm năng suất lúa bình quân trên thế giới cho đến nay ở khoảng 3,0 - 3,6 tấn/ha, bằng 1/2 năng suất lúa ở các nước phát triển

Ở châu Á, mặc dù năng suất lúa còn thấp nhưng do diện tích sản xuất lớn nên có thể nói châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới Việt Nam có tổng sản lượng lúa hàng năm đứng hàng thứ 5 - 7 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 - 3 trên thế giới hiện nay

(Nguồn từ Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

1.1.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam

Ở nước ta trên 3000 năm nay, lúa là cây lương thực quan trọng nhất, hiện nay và lâu dài sau này cũng vậy Diện tích trồng lúa chiếm 80% diện tích canh tác (Nguyễn Chí Thuộc và ctv, 1974)

Trong thời gian chiến tranh, diện tích trồng lúa cả nước biến động trong khoảng 4,4 - 4,9 triệu ha, năng suất có tăng nhưng rất chậm Từ sau năm 1975, diện tích lúa tăng lên khá nhanh và ổn định ở khoảng 5,5 - 5,7 triệu ha Cuối thập niên 1979, năng suất lúa nước ta giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của thiên tai, sâu bệnh,…Bước sang thập niên 1980, năng suất lúa do các công trình thủy lợi đặc biệt là ĐBSCL đã phát Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

huy được tiềm năng Năm 1982, nước ta chuyển từ nhập khẩu gạo sang tự túc được lương thực Đến 1989 gạo Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thế giới là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 sau Mỹ và Thái Lan

Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng ở Việt Nam qua các năm (IRRI, 1990).

Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)

* Số liệu từ chi Tổng Cục Thống Kê VN, 1990

Riêng Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ sau 1975 đến nay, việc sản xuất lúa đã vươn lên mạnh mẽ Năng suất bình quân cả năm của toàn đồng bằng đã gia tăng từ 2,28 tấn/ha (1980) đến 3,64 tấn/ha (1989) Với tổng diện tích gieo trồng lúa là 2,44 triệu ha trong tổng số 5,90 triệu ha (chiếm 41,3 %)

1.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÂY LÚA

Đệ (1998) rằng cây lúa có hai loại rễ: rễ mầm và rễ bất định

Rễ mầm là rễ mọc ra đầu tiên khi cây lúa nảy mầm Mỗi hạt lúa chỉ có một rễ mầm Rễ không ăn sâu, ít phân nhánh, dài khoảng 10-15cm Rễ sẽ chết đi sau 10 - 15 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

ngày, lúc cây mạ đựơc 3 - 4 lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Tác dụng chủ yếu của rễ là hút nước trong giai đoạn mầm hạt cung cấp cho phôi phát triển (Nguyễn Chí Thuộc và ctv, 1974)

Rễ bất định là rễ mọc từ các mắt trên thân lúa, mỗi mắt có từ 5 - 25 rễ Rễ mọc dài, có nhiều nhánh Tại mỗi mắt có 2 vòng rễ: vòng rễ trên to và khỏe, vòng rễ dưới nhỏ hơn và kém quan trọng hơn (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Trương Đích (2000) cho biết các rễ này có đường kính khoảng 0,5-1mm Ở đất xốp rễ có thể ăn sâu 1m, nhưng

ở đất ngập nước rễ chỉ sâu khoảng 40cm Tổng chiều dài của bộ rễ lúa sẽ tăng lên cùng với sự sinh trưỏng của thân lá Giống có bộ rễ ăn sâu, phần rễ ở lớp sâu dưới 30cm nhiều thì lúa có khả năng chịu hạn tốt hơn so với giống có rễ ăn nông Chức năng chính của rễ là hút nước, hút chất dinh dưỡng cung cấp cho cây và chống đổ ngã Sau thu hoạch, lượng rễ còn lại có tác dụng làm tăng độ xốp và chất hữu cơ cho đất

Nói chung, sự phát triển của bộ rễ tốt hay xấu tùy thuộc vào loại đất, điều kiện nước ruộng, tình trạng dinh dưỡng của cây và giống lúa Một bộ rễ tốt sẽ giúp cho cây phát triển tốt, sức chống chịu và thích nghi cao, cho năng suất như mong muốn

1.2.2 Thân

Hầu hết các ý kiến đều đồng ý rằng thân lúa gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau Lóng là phần thân rõng ở giữa 2 mắt và thường được bẹ lá ôm chặt Theo Shouichi Yoshida (1981), thân được bao trong bẹ lá trước trổ gié và một phần nhỏ của thân nằm ngay phía dưới bông nhô ra sau trổ gié Thông thường lóng dưới ít phát triển nên các mắt rất khít nhau, chỉ khoảng 3 - 8 lóng trên cùng bắt đầu vươn dài khi lúa có đòng đòng từ (2 - 2,5cm) (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Trương Đích (2000) cho biết khả năng vươn dài lóng tùy thuộc vào giống: các giống lúa nổi và chịu úng vươn dài lóng tốt hơn Ngoài ra, theo Hosoda và Iwasaki (1960); Vergara và ctv (1965), sự vươn lóng còn có liên hệ mật thiết với thời gian sinh trưởng Ở những giống chín sớm và chín vừa, sự vươn lóng thường bắt đầu khoảng tượng khối sơ khởi của bông Ở những giống chín muộn, nó bắt đầu trước sự tượng khối sơ khởi của bông Ở những giống mẫn cảm với quang kỳ, quang kỳ kéo dài làm tăng số lượng và chiều dài tổng cộng các lóng Ở những giống không mẫn cảm với quang kỳ, quang kỳ không có ảnh hưởng lên

sự vươn lóng Theo Sekiya (1953), trong điều kiện môi trường bất thường như sạ sâu

và nước sâu, làm vươn lóng ngay ở giai đoạn sinh trưởng sớm Để hạt sâu 2cm trong Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

đất không làm vươn lóng, nhưng đặt sâu hơn 3 cm có thể làm lóng thứ nhất và lóng thứ 2 vươn dài (Shouichi Yoshida, 1981) Tốc độ ra lóng khoảng 25 cm/ngày, bình thường 2 - 10 cm/ngày (Trương Đích, 2000) Đường kính ngoài của lóng khoảng 2 - 6mm, thay đổi theo vị trí lóng, loại thân (thân chính hay chồi) và điều kiện môi trường (Shouichi Yoshida, 1981)

Đặc tính chống đổ gãy của lúa phụ thuộc chủ yếu vào chiều dài của các lóng dưới thấp, độ cứng của giống, độ ôm chặt và chắc của bẹ lá (Trương Đích, 2000) Cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ lá ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó

đổ ngã và ngược lại (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Theo Nguyễn Chí Thuộc và ctv (1974), thân giữ cho cây đứng, vận chuyển và

dự trữ các chất dinh dưỡng, nước, các vật chất đồng hóa qua lá tới các cơ quan Thân

dự trữ đường bột cung cấp cho bông lúa Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng và ánh sáng, mầm chồi sẽ phát triển thành một chồi thật sự, thoát ra khỏi bẹ lá (Nguyễn Ngọc

Đệ, 1998) Thông thường mỗi thân chính có khoảng 5 - 20 nhánh (Nguyễn Chí Thuộc

và ctv, 1974) Đối với lúa cấy sự đẻ nhánh có ý nghĩa rất quan trọng đến năng suất thu hoạch vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến số bông trên đơn vị diện tích Những ruộng lúa cấy năng suất cao thường có khoảng 300 - 350 bông/m2 và số hạt chắc trên bông trên dưới 100 hạt Trong khi đối với lúa sạ thì năng suất cao hay thấp là do số bông chính

và tỷ lệ hạt chắc quyết định Vì vậy, số lượng hạt giống gieo, tỷ lệ nảy mầm và số hạt chắc trên bông quan trọng hơn đẻ nhánh (Trương Đích., 2000)

1.2.4 Lá

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), lá lúa mọc ở 2 bên thân lúa, lá ra sau nằm về phía đồi diện với lá ra trước đó Lá trên cùng gọi là lá cờ hay lá đòng Một lá lúa điển hình gồm bẹ lá, phiến lá, lá thìa, tai lá và cổ lá Bẹ lá là phần đáy lá kéo dài cuộn thành hình trụ bao cả phần non của thân Phiến lá hẹp, phẳng và dài hơn bẹ lá ở tất cả các lá trừ lá thứ 2 Lá thìa là vảy nhỏ, trắng hình tam giác giống như phần tiếp nối của bẹ lá

Ở đáy phiến lá, vùng tiếp giáp giữa phiến lá và bẹ lá có 1 băng trắng gọi là cổ lá Một cặp tai lá hình lưỡi liềm có lông ở vùng giữa cổ lá và bẹ lá (Shouichi Yoshida, 1981) Tuy nhiên cũng có giống không có lá thìa và tai lá (Trương Đích, 2000)

Mỗi giống có một tổng số lá nhất định Các giống chín sớm và vừa có từ 10 - 18

lá trên thân (Shouichi Yoshida, 1981) Ở các giống lúa quang cảm, tổng số lá có thể Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

thay đổi đôi chút tùy theo mùa trồng, biến thiên từ 16 - 21 lá Các giống lúa ngắn ngày thường có tổng số lá từ 14 - 16 lá Tốc độ ra lá, chiều dài và tuổi thọ của từng lá phụ thuộc vào giống, điều kiện môi trường và giai đoạn sinh trưởng của cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Chức năng quan trọng của cây lúa là quang hợp, làm nhiệm vụ tổng hợp và cung cấp chất dinh dưỡng cho hạt, rễ và các bộ phận khác của cây (Trương Đích, 2000)

1.2.5 Bông lúa

Bông lúa là cả một phát hoa gồm nhiều nhánh gié có mang hoa (Nguyễn Ngọc

Đệ, 1998) Theo Shouichi Yoshida (1981), bông lúa gồm các thành phần chính: gốc bông, trục bông, nhánh sơ cấp và thứ cấp, cuống bông, dỉnh thô sơ và gié hoa Trục chính gồm nhiều nhánh (gié cấp 1) Mỗi nhánh lại gồm những nhánh con (gié cấp 2) Trên nhánh con mang một hoa lúa (Nguyễn Chí Thuộc và ctv, 1974)

Nguyễn Ngọc Đệ (1998) cho biết, bông lúa có nhiều dạng: bông túm hoặc xòe, đóng hạt thưa hay dày, cổ hở hay cổ kín tùy đặc tính giống và điều kiện môi trường Bông lúa dài, ngắn tùy giống và điều kiện bên ngoài Nhánh bông và số hạt nhiều hay

ít tùy giống và điều kiện trồng trọt Sự phân bố hạt trên bông lúa dày hay thưa tùy các giống khác nhau, lúa chiêm thường có bông ngắn hơn lúa mùa Số hạt trên bông lúa từ

50 - 120 hạt đối với lúa chiêm và 60 - 120 hạt đối với lúa mùa (Nguyễn Chí Thuộc và ctv, 1974)

Khi bông lúa còn nằm trong bẹ lá gọi là đòng lúa Thời gian hình thành đòng đến khi trổ bông kéo dài từ 17 - 35 ngày (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Theo Trương Đích (1981), tổng thời gian cần thiết để phát triển một bông lúa hoàn chỉnh từ 27 - 46 ngày tùy thuộc vào giống và thời tiết khí hậu, trong đó đối với giống lúa chín sớm cần ít thời gian hơn giống trung ngày và giống chín muộn; vùng nhiệt đới cần ít ngày hơn vùng á nhiệt đới và vùng ôn đới thời gian trổ bông dài hay ngắn tùy giống, điều kiện môi trường và độ đồng đều trong ruộng Những giống lúa ngắn ngày thời gian trổ nhanh, trung bình từ 5 - 7 ngày Những giống dài ngày thì thời gian trổ kéo dài từ 10 - 14 ngày Một bông lúa từ khi bắt đầu xuất hiện đến khi trổ hoàn toàn mất 3 - 4 ngày hoặc lâu hơn (5 - 6 ngày) tùy giống và điều kiện môi trường (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

1.2.6 Hoa lúa

Hạt lúa khi chưa thụ phấn, thụ tinh và ngậm sữa thì gọi là hoa lúa Hoa lúa là hoa lưỡng tính Hoa lúa thuộc loại hoa dĩnh gồm trấu lớn (dưới), trấu nhỏ (trên), một bộ nhụy cái, một bộ nhị đực và vảy bao hoa Bộ nhụy cái gồm một bầu noãn và vòi nhụy chẻ đôi với hai nuốm ở tận cùng để hứng phấn (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Đầu nuốm hoa

có thể không màu hoặc màu tím, đỏ Nuốm hoa là con đường để ống phấn đi vào bầu nhụy, trong bầu nhụy có 1 phôi châu Bộ nhị đực gồm 6 chỉ nhị, mỗi nhị gồm cuống nhị

và bao phấn Bao phấn có 4 phòng có chừng 500 - 1000 hạt phấn (Nguyễn Chí Thuộc và ctv, 1974) Bên trong hai vỏ trấu, chỗ gần sát bầu noãn có hai mày hoa (vảy cá) giữ nhiệm vụ đóng mở hai vỏ trấu khi hoa nở (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

1.2.7 Hạt lúa

Hạt lúa (đúng hơn là trái lúa) thường được gọi là hột, gồm có trái thật hay gạo lức (dỉnh quả) và trấu, bao quanh gạo lức Gạo lức gồm phần lớn là phôi và nội phôi nhủ Bề mặt chứa nhiều lớp mô thực vật mỏng chuyên hóa bao bọc phôi và nội phôi nhủ (Shouichi Yoshida, 1981) Nhưng theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), hạt lúa gồm phần

vỏ lúa và hạt gạo Vỏ lúa gồm 2 vỏ trấu ghép lại (trấu lớn và trấu nhỏ) ở gốc 2 vỏ trấu gắn vào đế hoa mang hai tiểu dỉnh Hạt gạo gồm phôi và phôi nhũ Phôi nằm ở góc dưới hạt gạo, chỗ dính vào đế hoa và ở về phía trấu lớn Phôi nhũ chứa chất dự trữ, chủ yếu là tinh bột Bên ngoài hạt gạo được bao bọc bởi 1 lớp vỏ lụa mỏng chứa nhiều Vitamin, nhất là Vitamin nhóm B

Một hạt lúa nặng khoảng 12 - 44 mg ở ẩm độ 0% Chiều dài, chiều rộng và độ dày của hạt thay đổi nhiều giữa các giống Trọng lượng trung bình của trấu khoảng 21% trọng lượng toàn hạt (Shouichi Yoshida, 1981)

Như vậy, tùy giống lúa và điều kiện môi trường mà sự phát triển của từng bộ phận cây lúa khác nhau Do đó, cần phải hiểu rõ đặc tính của giống, đặc điểm hình thái của cây lúa để từ đó tìm ra những biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm đạt được năng suất như mong muốn

1.3 DINH DƯỠNG CẦN CHO CÂY LÚA

Như những cây trồng khác, cây lúa cũng cần đầy đủ dưỡng chất mới cho năng suất cao Do đó, phân bón là một trong những yếu tố quyết định năng suất cây trồng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

1.3.1 Vai trò của Đạm đối với cây lúa

Đạm (N) là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), đạm là cơ sở cấu tạo nên protein, tế bào, mô cây, thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ Đạm còn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển của thân và lá Bón đủ đạm, cây phát triển tốt , đẻ nhánh tập trung, đòng to, bông lớn, năng suất cao

Cây lúa có thể hấp thu và sử dụng đạm ở các dạng sau: amon, nitrat, urea và N-acid amin Ở gai đoạn sinh trưởng sớm và dùng N đến 200 ppm cây lúa sinh trưởng trong amon tốt hơn trong nitrat Theo Field và ctv (1965), sự hấp thu của cây lúa nghiêng về amon hơn nitrat trong dung dịch chứa cả 2 loại này Rễ tách rời từ mạ hấp thu amon cao gấp 5 - 20 lần so với nitrat Tuy nhiên, vẫn còn tùy thuộc vào pH đất (Shouichi Yoshida, 1981)

N-Theo De Datta (1979) tỉ lệ hấp thu đạm của cây lúa trên lượng đạm bón chỉ vào khoảng 30 - 50% ở vùng nhiệt đới, tùy thuộc vào tính chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian bón phân…(Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Hiệu quả của phân đạm cao khi bón đủ lân cho lúa Theo nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam tỷ lệ N:P là 1:0,5 Theo Nguyễn

Vi (1995) lượng N tiêu tốn để tạo ra 1 tấn thóc trên đất phù sa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long khoảng 16 - 17 kg trong điều kiện có bón lân (Trương Đích, 2000)

Đạm ảnh hưởng nhiều đến số bông/đơn vị diện tích, làm tăng số gié và số hạt trên bông Do đó, cần hiểu rõ tác dụng của phân ta mới có thể lựa chọn kỹ thuật bón thích hợp nhưng còn tùy thuộc vào giống, đất đai, mùa vụ và trình độ thâm canh (Nuyễn Xuân Trường và ctv, 2000)

1.3.2 Vai trò của lân đối với cây lúa

Lân (P) là nguyên tố cần thiết đối với lúa, đứng thứ 2 sau đạm Lân rất cần cho sự

đẻ nhánh của lúa và có trong men tham gia vào quá trình quang hợp (Trương Đích, 2000)

Lân là chất tạo năng lượng, là thành phần cấu tạo ATP và NADP…, thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây Lân rất cần thiết cho sự phát triển của rễ, giúp rễ mau hồi phục và ra rễ mới sau khi cấy Lân kích thích lúa nở bụi mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất hạt gạo, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn Lân còn là Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

thành phần cấu tạo acid nhân thường tập trung nhiều trong hạt Cây lúa cần nhất trong giai đoạn đầu nên cần bón lót trước khi sạ cấy Khi lúa trổ khoảng 37 - 83% chất lân được chuyển lên bông Hiệu quả phân lân ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối do lân cần cho sự nở buội Nhu cầu về lân của cây lúa thấp hơn đối với đạm (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Tuy nhiên, tùy giống, loại đất, thời tiết và mùa vụ mà lượng lân bón khác nhau Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000), đối với đất xám và đất bạc màu bón 60 - 80

kg P2O5/ha, đối với đất phèn bón 90 - 150 kg P2O5/ha Giống lúa lai đòi hỏi lượng lân bón cao hơn đối với giống lúa địa phương Vụ hè thu lượng lân cần bón nhiều hơn ở

vụ đông xuân và vụ mùa

Tóm lại, P giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành năng suất lúa Bón lót đủ P

là biện pháp quan trọng để để tăng năng suất lúa, đặc biệt là trên những đất thiếu lân

1.3.3 Vai trò của Kali đối với cây lúa

Nếu N là nguyên tố của sự sinh trưởng thì Kali (K) là nguyên tố của chất lượng Kali giúp cho quá trình vận chuyển và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp tăng khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh, chống đổ ngã, tăng khả năng chịu hạn và chịu rét Kali còn làm tăng số hạt chắc trên bông và làm hạt no đầy hơn (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Ngoài ra, K còn giúp cho lá đòng cứng chắc, tuổi thọ kéo dài nên làm nâng cao tỷ lệ hạt chắc, tăng trọng lượng 1000 hạt K cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, năng suất cao, hạt lép ít (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000)

Theo Nitos và Evan (1969), kali còn là thành phần chủ yếu trong các men hoạt động như enzime tổng hợp glucid Bón K làm tăng hiệu lực của đạm và lân, tăng cường tổng hợp glucid, tăng tỷ lệ C/N, thúc đẩy sự ra hoa (Trương Đích, 2000)

Tóm lại, phân bón có vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất, tăng chất lượng hạt giống Ngoài việc cung cấp đầy đủ còn cần chú ý đến việc bón phân cân đối

tỷ lệ N, P, K và chú ý các nguyên tố vi lượng để phát huy tối đa tiềm năng của giống

1.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT GIEO TRỒNG

Ở nước ta, hai phương pháp làm lúa chính thường được sử dụng là cấy và gieo thẳng (sạ) Trước tiên cần phân biệt giữa sạ và cấy Lúc nào cần phải sạ và lúc nào cần Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

phải cấy Đối với giống lúa ngắn ngày, nở buội kém, thâm canh tốt, chủ động được nước, đất ít cỏ thì sạ có nhiều ưu thế hơn cấy, có thể rút ngắn hơn 4 - 5 ngày so với cấy (Võ Tòng Xuân, 1984) Tuy nhiên, đối với lúa dòng F2 là thế hệ quan trọng nên cần phải cấy vì rất khó lựa chọn Khoảng cách cấy chuẩn ở quần thể F2 làm cho việc lựa chọn và khử lẫn dễ dàng hơn Những giống mới triển vọng nếu cấy ở dòng nhân giống đầu tiên thì 1 kg hạt giống cấy 1 tép với khoảng cách nhất định có thể sản xuất được 1 tấn hạt (PR Jenning và ctv, 1979) Trong điều kiện đất ruộng không bằng phẳng, dễ bị ngập nước và nhiều cỏ thì với lượng giống ít, việc cấy có thể đảm bảo năng suất hơn

so với sạ (Võ Tòng Xuân, 1984)

Hiện nay phương pháp sạ rất được phổ biến trong sản xuất trong khi biện pháp cấy chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu do biện pháp này có nhiều bất lợi hơn so với phương pháp sạ Nhược điểm của phương pháp này trước hết là tốn công lao động

để làm mạ, nhổ mạ và cấy Gieo mạ và cấy dễ dẫn tới việc nhổ mạ không đúng tuổi, dễ

bị mạ già, là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất, không phát huy được tiềm năng của giống, nhất là các giống lúa mới thấp cây, ngắn ngày Thời gian sinh trưởng của lúa cấy (tính từ ngày gieo mạ) so với lúa gieo thẳng (cùng gieo với mạ) có

đủ nước thường kéo dài thêm 7 - 10 ngày Lúc gặp những trường hợp không thuận (rét, hạn, mặn…) thì mạ mới cấy thường chống đỡ khó khăn (Bùi Huy Đáp, 1978) Ngoài ra, việc làm mạ còn dễ gặp hiện tượng mạ nhổ bị dập gan “đứt chồi”, đứt một phần hay đứt cả gốc rễ, tỷ lệ là 40% hoặc cao hơn đối với lúa ngắn ngày Sau khi cấy, dãnh mạ đứt chồi bị chết, hoặc dễ bị nhiễm bệnh nhất là bệnh lúa von (Nguyễn Văn Luật, 2001)

Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có những ưu điểm vượt trội hơn so với phương pháp gieo thẳng Do việc cấy theo hàng nên tiện cho việc chăm sóc và quản lý,

dễ làm cỏ, tăng hệ số nhân và ít tốn giống (Võ Tòng Xuân, 1984) Theo Bùi Huy Đáp (1978), lúa cấy dễ bám chặt vào đất nên có sức chống đỡ khá hơn lúa sạ Ngoài ra, việc cấy lúa còn tạo điều kiện chăm sóc cây lúa trong giai đoạn đầu tiên đầy đủ hơn, bón phân cho mạ vừa mất ít phân, vừa đảm bảo cho mạ sinh trưỏng bình thường

Tóm lại, gieo thẳng hay cấy đối với lúa nước phải căn cứ vào nhiều mặt: cơ sở vật chất kĩ thuật, tình hình chủ động được nước, chế độ canh tác và cơ cấu cây trồng Kết hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội về lao động, dân số, kinh tế…Tùy thuộc vào

sự tác động của những nhân tố trên mà các vùng sản xuất lúa với các điều kiện canh Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

tác khác nhau sẽ lựa chọn cách trồng lúa phù hợp Trong nghiên cứu này chỉ chú ý đến phương pháp cấy nhằm mục đích so sánh sự sinh trưởng và năng suất của cây lúa trên các biện pháp làm mạ khác nhau để tìm ra phương pháp tối hảo cho vùng sản xuất lúa thâm canh

Muốn đạt năng suất cao với phương pháp cấy, đòi hỏi phải nắm vững các biện pháp kĩ thuật canh tác trong từng khâu sản xuất, nhất là khâu làm mạ Yêu cầu trước tiên trong biện pháp này là cây mạ tốt mới có thể đạt năng suất mong muốn Theo Nguyễn Văn Hoan (2004), làm tốt trong giai đoạn mạ tức là tạo ra cơ thể trẻ, khỏe, là

cơ sở để phát huy hiệu quả tất cả các biện pháp thâm canh ở giai đoạn tiếp theo Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến sinh trưởng và năng suất lúa thường thể hiện rõ đối với những giống ngắn ngày và trong những điều kiện khó khăn: đất nghèo dinh dưỡng, đất phèn , hạn, mặn…Một kết quả nghiên cứu cho thấy những lô không chăm bón mạ mùa làm giảm năng suất không rõ (2 - 3%), với mạ chiêm giảm rõ hơn (7 - 8%), nhưng với

mạ xuân thì giảm 15 - 20%, có trường hợp giảm rất rõ (Nguyễn Văn Luật, 2001) Theo

Hồ Tuấn (1976) một cây mạ tốt phải thỏa các tiêu chí sau:

+ Cứng cây, đanh đảnh (gạt tay mạnh ngang thân cây mạ đứng lên ngay), to gan (đường kính gốc 1cm, nữa là 0,45cm)

+ Thân dẹt, bẹ to, dày, nối nhiều gân (nhiều chất xơ và đường bột tích lũy trong bẹ) + Lá vứt thẳng, có màu xanh vàng găm găm

+ Mạ sạch sâu bệnh và đúng tuổi

Phương pháp làm mạ khá phong phú Một số phương pháp phổ biến thường được nông dân áp dụng như làm mạ ướt, mạ khô, mạ tỉa, mạ sân (mạ dapog, mạ bùn) Ngoài ra, trong quá trình canh tác một số phương pháp làm mạ khác như làm mạ bùn,

mạ khay…được sáng tạo từ các phương pháp trên và cũng được áp dụng trong thâm canh, chọn giống

1.4.1 Mạ ướt

Làm mạ ướt (còn gọi là mạ mộng) là phương pháp làm mạ phổ biến ở nhiều nơi Ruộng mạ thường được chọn cẩn thận, thường là những lọai đất tốt, cấu tạo trung bình không sét quá để việc nhổ mạ đỡ khó khăn và cũng không cát quá để ruộng mạ

đỡ mất nước (Bùi Huy Đáp, 1978) Theo Võ Tòng Xuân (1984), đất được đánh bùn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

nhuyễn, sạch cỏ, đánh rãnh thoát nước, chia ruộng mạ thành những luống rộng khoảng 1,5m San bằng mặt ruộng, rút cạn nước chỉ chừa lại dưới rãnh Tuy nhiên theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), có thể chia ruộng mạ ra thành những luống nhỏ rộng khoảng 3m Khi làm đất xong thì trên lớp mặt ruộng thường có một lớp bùn nhuyễn, không còn gốc rạ và rễ cỏ, dày khoảng 5 - 7cm (Bùi Huy Đáp, 1978) Đất xấu cần bón nhiều phân hữu cơ và phân lân để cây lúa cứng cáp, khỏe mạnh Võ Tòng Xuân (1984)

Mạ thường được gieo vãi đều trên mặt ruộng Mật độ gieo cũng thay đổi khá nhiều Gieo thưa, mạ sẽ phát triển tốt, to cây, một số cây mạ sẽ đẻ nhánh ngay trong ruộng mạ Gieo dày, mạ sẽ nhỏ cây hơn và cũng thường chóng già hơn Thường ở những chân đất xấu hoặc đất phèn, mặn thì mạ được gieo dày hơn Gieo với mật độ thích hợp sẽ sản xuất được mạ khỏe mạnh, cây lúa sẽ bén rễ nhanh và đẻ nhánh nhanh (Bùi Huy Đáp, 1978) Theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), mật độ gieo 40 - 50 kg/1000m2

là vừa Gieo cho 2/3 hạt lúa lún trong bùn là tốt nhất Khoảng 3 - 4 ngày sau khi gieo cho nước vào từ từ theo chiều cao cây mạ và giữ cố định 5 - 10cm Từ 10 - 12 ngày sau khi gieo bón 5 kg urea/công cho mạ tốt, sớm có chồi ngạnh trê Nhưng theo Võ Tòng Xuân (1984), thì nên cho nước vào từ từ và giữ ổn định khoảng 3 - 5 cm

Ưu điểm của phương pháp này là làm mạ, ngâm và ủ mộng rồi mới gieo sẽ làm cho mạ sau khi gieo chóng ngồi, phát triển nhanh đỡ bị chim chuột phá hại và có thể sớm đưa nước vào ruộng để hạn chế cỏ dại, thúc đẩy cho mạ sinh trưởng tốt Vì vậy kỹ thuật này đã được dùng khá phổ biến ở nhiều nơi Tuy nhiên, ở những vùng chưa chủ động được nước, làm mạ ướt có thể gặp khó khăn sau: sau khi gieo nếu bị hạn nặng, thiếu nước tưới hay bị ngập nước sâu Nếu bị ngập quá 10cm và trong nước nhiều bùn

có thể làm hạt bị thói khoảng 75%, nếu nước trong thì chỉ mất khoảng 10% (Bùi Huy Đáp, 1978)

1.4.2 Mạ Khô

Gieo mạ khô là một kỹ thuật sản xuất mạ thường được áp dụng ở những nơi thiếu nước để làm mạ nước và cấy khi có mưa nhiều tùy theo tình hình đất đai và vụ sản xuất mà kỹ thuật gieo mạ khô sử dụng hạt đã ủ nảy mộng hay không ngâm và không ủ Loại đất làm mạ khô là những loại đất nhẹ hay tương đối nhẹ (Bùi Huy Đáp, 1978) Đất được chuẩn bị trong điều kiện khô, cày cuốc cho tơi xốp Đánh rãnh và lên liếp rộng khoảng 1 - 1,5m Băm đất nhỏ rồi gạch hàng ngang, mỗi hàng cách nhau Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

10cm, sâu 3 cm Gieo những hạt khô vào những hàng này (6g hạt/hàng) Gieo xong dùng đất bột, cát hay tro trấu đậy lại để giữ ẩm và tưới nước đủ ẩm hàng ngày Khoảng

13 - 15 ngày sau khi gieo nên tưới phân urea cho mạ tốt (20 - 30g/10m2) (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998)

Mạ khô thường được áp dụng trong vụ Đông Xuân tranh thủ gieo trên bờ, liếp trong khi làm mạ ướt phải gieo dưới ruộng gặp khó khăn khi không có hệ thống thủy nông tốt để kiểm soát nước lũ (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Ngoài ra theo Bùi Huy Đáp (1978) mật độ gieo từ 200 - 300 kg/ha so với mạ ướt thì mạ khô gieo thưa hơn Vì vậy cây mạ khô thường phát triển tốt và có nhiều cây đã đẻ tốt ở sướng mạ Nói chung, mạ khô có tính chất tốt hơn mạ ướt Mạ khô cấy xuống ruộng nước thường phát triển mạnh hơn Dùng mạ khô đỡ bị động hơn vì mạ lâu già và có thể chịu được nhiều ngày tuổi trên ruộng mạ Tuy nhiên, việc theo dõi và chăm sóc sướng mạ gieo khô vất vả hơn so với mạ ướt vì trên đất khô lúa mọc chậm, cỏ dễ phát triển

1.4.3 Các phương pháp làm mạ đặc biệt khác

• Mạ tỉa

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998), phương pháp này có cách làm giống như làm

mạ khô, thường được áp dụng trong vụ đông xuân Tuy nhiên, làm mạ tỉa ít tốn đất và

dễ nhổ hơn mạ khô, nhưng cây mạ ốm yếu hơn và không thể để lâu quá 1 tháng Sau khi đất được cày cuốc lên, phơi khô, băm nhuyễn, tưới nước cho mềm rồi dùng cây tròn hoặc chày tỉa bằng gỗ làm thành những lổ sâu 2 - 3 cm, cách nhau 5 - 10 cm; sau

đó rải hạt giống đã ngâm ủ nảy mầm vào đáy lổ, lấp hạt bằng tro trấu, xong lại phủ lên một lớp cỏ khô để giữ ẩm và tưới hàng ngày Khoảng 5 ngày sau khi gieo thì cào lớp

cỏ khô đi Đến 10 - 12 ngày sau khi gieo, tưới phân Urea và chăm sóc như mạ khô

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

• Mạ sân

Mạ sân là phương pháp làm mạ mới, được xây dựng trong điều kiện khó khăn

về giống Phương pháp này có nhiều cách làm khác nhau (mạ Dapog, mạ bùn) tùy theo kinh nghiệm và điều kiện ở từng vùng sản xuất

− Mạ Dapog

Phương pháp làm mạ Dapog xuất phát từ kinh nghiệm làm mạ của Philippin Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997), mạ được làm trên đất khô, lót giấy PE hoặc lá chuối, rải một lớp đất bột mỏng rồi gieo hạt tưới ẩm Mạ gieo dày từ 2 - 2,5 kg/m2, tuổi mạ từ 10 - 14 ngày Nhưng theo Bùi Huy Đáp (1978), mạ Dapog có thể làm ngay trên ruộng chuẩn bị cấy Ruộng được san bằng và làm luống cao 5 - 10 cm, xung quanh có rãnh để rút nước và tưới nước Trên luống phủ một lớp lá chuối rồi gieo hạt

đã ngâm ủ nảy mộng lên luống Gieo tương đối dày với mật độ 1 - 2,5 kg/m2 Có thể gieo trên một lớp trấu dày khoảng 0,5 cm Sau khoảng 10 ngày có thể nhổ mạ đi cấy

− Mạ bùn

Mạ sân (còn gọi là mạ bùn) là phương pháp làm mạ cải tiến từ phương pháp mạ Dapog của Philippin Theo Bùi Huy Đáp (1977), nông dân ở Cà Mau đã áp dụng phương pháp này trong sản xuất Trước khi gieo hạt, phủ một lớp bùn nhão trên sân hoặc trên ruộng khô cứng, gieo khoảng 1 - 1,5 kg hạt/m2 Sau gieo khoảng 10 - 12 ngày thì đem ra cấy Mạ có thể phát triển tốt đến 20 ngày và lâu hơn trong mùa xuân Mùa hè tuổi mạ thích hợp là 10 - 18 ngày, mạ xuân có thể kéo dài 20 - 40 ngày (Nguyễn Văn Luật, 2001) Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997), trong khâu làm nền

có thể trộn thêm phân chuồng mục ủ với lân nếu đất xấu Trong những ngày đầu có thể che nylon để chống rét và giữ ẩm

Nói chung, các phương pháp làm mạ sân đều giống nhau chỉ khác ở khâu làm nền để gieo hạt Nếu áp dụng phương pháp này thì có thể thu hẹp được diện tích mạ đến mức tối thiểu, có thể chăm sóc mạ đầy đủ, chóng rét cho vụ Xuân, chóng mưa, chóng nóng trong vụ mưa, an toàn cho mạ và giành chủ động trong khâu làm mạ - khâu quan trọng đối với hệ thống canh tác lúa cấy Mạ sân bén rễ nhanh vì bộ rễ không

bị tổn thương, lúa sinh trưởng không kém so với mạ ướt; mạ sân còn khắc phục được tình trạng thiếu mạ cấy trong năm rét có nhiều mạ chết (Nguyễn Đình Giao và ctv, 1997) Mặt khác, mạ sân không mất công nhổ mạ, mạ không bị đứt chồi hay đứt ngang Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

thân mà vẫn bảo đảm mạ có mật độ cao nhất định, dễ cấy, mật độ gieo dày và nuôi nhiều bằng nước, kìm hãm sự phát triển của mạ Ngoài ra, mạ sân còn thích hợp với việc dùng máy cấy vì cây nhỏ lại không phải nhổ mạ, không cần vỗ đất nên góp phần tăng năng suất trong việc dùng cơ khí trong kỹ thuật cấy lúa Với những phương pháp làm mạ ngày một cải tiến, đó là những kinh nghiệm rất quý để làm sao có mạ chủ động cấy đúng thời vụ Tuy nhiên, do mật độ gieo dày, trong điều kiện không được cơ giới hóa, chủ yếu cấy bằng thủ công dễ dẫn tới mạ bị dập, đứt ngang thân gây hao hụt và khi cấy xuống ruộng nước mạ chống chịu kém Đồng thời, khi áp dụng phương pháp này phải làm ruộng kỹ và san bằng để điều tiết mực nước ruộng sau khi cấy Ở những nơi chưa chủ động được nước thì vẫn chưa thể áp dụng theo phương pháp này (Bùi Huy Đáp, 1978) Đồng thời, những phương pháp này khó làm, tốn công, nên chỉ là những giải pháp tình thế, không thể áp dụng trong phạm vi rộng, thường chỉ áp dụng ở nơi và khi không có điều kiện làm mạ bình thường (Nguyễn Văn Luật, 2001)

1.4.4 Cấy lúa

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu nhiều mặt về kỹ thuật cấy, những kỹ thuật chủ yếu trong khâu cấy là: tuổi mạ, mật độ và phương pháp làm mạ (Bùi Huy Đáp, 1979; Nguyễn Văn Luật,1998; SK De Datta, 1981)

− Tuổi mạ cấy

Mạ đem cấy mà bắt đầu nhú một lớp rễ mới thường bén rễ rất nhanh Mạ nhổ xong nên cấy ngay và cấy đúng tuổi mạ Ở nước ta, một số giống lúa ngắn ngày cấy

mạ già thì trổ sớm, bông mẹ còi cọc Mạ đến tuổi lá thường cứng hơn, thân cũng cứng,

mạ đanh đảnh, màu lá sẽ hơi chuyển màu từ xanh đậm sang xanh vàng, dạng thân hẹp, chưa tròn ống (Bùi Huy Đáp, 1978)

Tuổi mạ cấy thay đổi phụ thuộc giống, thời vụ và phương pháp làm mạ Để tính tuổi mạ có thể dùng ngày tuổi hoặc tuổi lá (số lá) Nói chung, trong những vụ lúa thời tiết ổn định có thể dùng ngày tuổi Ví dụ, vụ mùa tuổi mạ 30 - 40 ngày; vụ hè thu, tuổi

mạ 18 - 20 ngày Ngược lại, trong vụ chiêm xuân, nhiệt độ thường biến động nên dùng tuổi lá Ví dụ, mạ chiêm 6 - 7 lá, mạ xuân chính vụ 5,5 - 6 lá Còn đối với mạ sân, mạ nền tuổi mạ 2,5 - 3 lá (Nguyễn Đình Giao và ctv, 1997) Theo Bùi Huy Đáp (1978),

mạ Dapog sau khi gieo khoảng 10 ngày có thể nhổ đi cấy và tuổi mạ cấy thích hợp nhất từ 10 - 14 ngày

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

− Mật độ cấy

Mật độ cấy là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng của ruộng lúa Đối với giống lúa cao sản cần cấy dày hơn Trong mật độ cấy hai yếu tố số khóm và số tép trên khóm có quan hệ chặt chẽ với nhau Ở nước ta, khoảng cách giữa hàng từ 20 - 30 cm

và trên hàng thì khoảng cách giữa các khóm từ 10 - 20 cm Cấy theo hình vuông hay hình chữ nhật Nhưng nhiều nơi cho là cấy hình chữ nhật có lợi hơn vì có nhiều khóm trên hàng và hàng tương đối thưa (Bùi Huy Đáp, 1978)

Theo Võ Tòng Xuân (1976), cơ sở xác định mật độ cấy để tận dụng được ánh sáng và chất dinh dưỡng như sau:

+ Giống to bông (ít đẻ), lá đứng thẳng cấy dày Giống nhiều bông (đẻ khoẻ), lá uốn cong, cấy thưa

+ Đất tốt, ruộng bón nhiều phân: cấy thưa Đất xấu, ruộng bón ít phân: cấy dày

+ Ruộng trũng: cấy thưa; ruộng nước nông: cấy dày hơn

Số dảnh cấy của một khóm cũng thay đổi từ 2 - 3 dảnh đến 9 - 10 dảnh Tuy nhiên, nông dân thường cấy nhiều dảnh vì quen tay ra mạ và cấy nhiều dảnh tương đối

dễ cấy hơn Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy cấy 2 - 3 dảnh thì khóm lúa sẽ tốt hơn,

có nhiều bông bằng cổ hơn và năng suất cao hơn (Bùi Huy Đáp., 1978)

Theo tài liệu nghiên cứu ở IRRI đối với giống cao sản bón phân nhiều nên cấy

20 x 20 cm hay 20 x 15 cm và mỗi khóm cấy 2 - 3 dảnh với mạ 20 ngày tuổi Đối với ruộng trung bình, bón đủ, mật độ cấy 25 - 35 khóm/m2, mỗi khóm cấy 2 - 3 dảnh Ruộng tốt cấy 1 - 2 dảnh Trong điều kiện nhiệt đới, cây lúa có khả năng đẻ nhánh để

tự điều tiết sự sinh trưởng trong quần thể ruộng lúa Cấy nhiều khóm và mỗi khóm lại cấy nhiều dảnh Do đó, cấy ít dảnh sẽ thúc đẩy sự đẻ nhánh của lúa trong mỗi khóm (Bùi Huy Đáp, 1978) Đối với dòng đang phân ly có thể cấy 1 tép/buội với khoảng cách 25 x 20 cm và 15 x 20 cm (so sánh năng suất) (PR.Jenning và ctv, 1979)

Vì vậy, mật độ cấy thay đổi tùy theo giống, đất, lực lượng lao động, tuổi mạ, chất lượng mạ, khả năng phân bón…Xác định đúng được các yếu tố đó để từ đó đưa ra công thức cấy hợp lý cho mỗi hoàn cảnh sản xuất

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Theo PR Jenning và ctv (1979) dùng dây cấy chuẩn dễ cấy đúng khoảng cách

và thẳng hàng Ở nước ta, kỹ thuật dùng dây cấy cũng được áp dụng khá phổ biến trong mùa khô lẫn mùa mưa để đảm bảo mật độ cấy và đỡ công chăm sóc Tuy nhiên, hiện nay chủ yếu cấy lúa vẫn bằng tay, việc dùng công cụ máy cấy đã được chế tạo và dùng thử nhưng đến nay vẫn chưa được áp dụng rộng rãi

1.5 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT

Muốn nâng cao năng suất cần hiểu rõ về các thành phần năng suất, từ đó tìm ra biện pháp tác động đến các yếu tố năng suất Song vấn đề không phải đơn giản vì giữa các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể chỉ tác động riêng lẻ từng yếu

tố mà phải nắm vững qui luật tương tác giữa chúng

Theo Nguyễn Viết Cường và ctv (2005), năng suất lúa là chỉ tiêu tổng hợp của

ba yếu tố và tuân theo qui luật:

+ Số bông/m2 tỷ lệ nghịch với hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt, nghĩa là ruộng sạ dày, nhiều bông sẽ cho bông nhỏ (bông ít, ít hạt và hạt nhỏ)

+ Số hạt chắc tỷ lệ thuận với trọng lượng 1000 hạt tức là hạt chắc/bông cao thì hạt lại mẩy

+ Trọng lượng 1000 hạt là chỉ tiêu ít biến động nhất, do đặc tính này do di truyền là chính

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

Trong 3 yếu tố trên thì số bông/đơn vị diện tích biến động nhất, kế đến là số hạt /bông và cuối cùng là trọng lượng 1000 hạt Do đó, khi thay đổi mật độ cấy hoặc sạ sẽ tạo ra quá trình đẻ nhánh và hình thành số bông khác nhau Từ đó sẽ ảnh hưởng đến trọng lượng bông và năng suất Để đạt năng suất cao cần có cơ cấu các yếu tố hợp lý

Cơ cấu này thay đổi tùy điều kiện cụ thể Ở Nga, ruộng đạt từ 60 - 70 tạ/ha, đạt 400 -

450 bông/m2 Ở Trung Quốc, số bông đạt 375 - 400 bông/m2 vụ mùa và đạt 600 - 750 bông/m2 vụ xuân Ở Việt Nam, đạt 40 - 60 tạ/ha cần khoảng 300 - 350 bông/m2, 80 -

100 hạt/bông, trọng lượng 1000 hạt khoảng 25 - 27g (Nguyễn Đình Giao và ctv, 1997)

Ngoài ra, theo Nguyễn Ngọc Đệ (1998) năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp bốn thành phần năng suất: số bông/m2, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc

và trọng lượng 1000 hạt Khi bốn thành phần này đạt cân bằng tối hảo thì năng suất đạt tối đa Mức cân bằng tối hảo giữa bốn thành phần thay đổi tùy thuộc vào điều kiện giống, đất đai, mùa vụ…Ở giống lúa cải tiến, số hạt/bông từ 80 - 100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100 - 120 hạt đối với lúa cấy

Tuy nhiên, theo Matsushima (1970), mỗi thành phần năng suất được quyết định

ở một giai đoạn đặc biệt trong đời sống của cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998) Trong canh tác lúa cấy, số bông/đơn vị diện tích được quyết định bởi hai yếu tố chủ yếu là mật độ cấy và tỷ lệ đẻ nhánh Cấy dầy đẻ nhánh ít, cấy thưa đẻ nhánh nhiều hơn nhưng cuối cùng năng suất vẫn như nhau Nếu đất tốt, nhiều phân, thời tiết nắng ấm thuận lợi cho đẻ nhánh thì cấy thưa và ngược lại Đối với giống lúa từ 17 - 18 lá, nhánh đẻ từ lá thứ 12 trở về trước có khả năng cho bông, còn nhánh đẻ từ lá thứ 14 trở về sau phần lớn là chồi vô hiệu (Vũ Văn Hiển và ctv, 1999)

Ở lúa sạ thì số bông/m2 lại phụ thuộc vào lượng giống để sạ và phần trăm hạt nảy mầm Mặc khác, số hạt/bông được quyết định trong giai đoạn sinh sản Phần hạt chắc được xác định trước, trong và sau khi trổ bông Trong khi đó trọng lượng 1000 hạt lại là đại lượng ổn định của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặc chẽ bởi kích thước vỏ trấu (Shouichi Yoshida, 1981)

Tóm lại, các điều kiện thời tiết, sự quản trị canh tác và nguồn dinh dưỡng ảnh hưởng đến mỗi thành phần năng suất Việc hiểu rõ sự liên hệ giữa chúng là chìa khóa cho sự cải tiến năng suất lúa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 2.1 Phương tiện

2.1.1 Đặc điểm và thời gian thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí tại Thị Trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng Thời gian thí nghiệm từ 14/10/2006 đến 30/01/2007 Đây là vùng đất có nguồn gốc từ đất phèn mặn và được ngọt hoá từ đầu thập kỷ 90 bởi dự án ngọt hoá Bán Đảo cà Mau

Do vậy, đất đai ở huyện Thạnh Trị có tính chất và địa hình phức tạp, cao trình phổ biến từ 0,3 - 0,5 m và bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và kênh gạch Riêng khu thí nghiệm chủ yếu chuyên canh cây lúa, đất phèn ít, thích hợp để canh tác lúa 2 vụ, 2 vụ lúa và màu, 2 vụ lúa và thuỷ sản Địa hình có biến động khá lớn mặc dù đã được sang bằng Do khu thí nghiệm được bố trí nằm giữa các ruộng của hộ nông dân và đất đai khá cao nên khó khăn trong việc chủ động nguồn nước tưới

2.1.4 Thuốc bảo vệ thực vật

+ Aba.super 1.8EC

+ Regent 5SC + Bassan 50EC + Apolo 10WP + Actara 25WG + Azimex 20EC + Fuan 50EC + Rabcide 30WP Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

+ Tilt super 300EC + Beam 75WP + Clincher 10EC + Facet 25SC + Super humate

2.1.5 Các phương tiện khác:

+ Cọc tre + Thước đo + Bao giấy thu hoạch mẫu + Viết, giấy dùng cho lấy chỉ tiêu

2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

2.2.1 Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại Với

5 nghiệm thức như sau:

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 12/04/2018, 15:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w