TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG LÊ TRƯỜNG AN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HỢP CHẤT SILIC VÀ CALCIUM LÊN ĐỘ CỨNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÖA OM2514 TRONG VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ TRƯỜNG AN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HỢP CHẤT SILIC VÀ CALCIUM LÊN ĐỘ CỨNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÖA OM2514 TRONG VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Ngành: TRỒNG TRỌT
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Ngành: TRỒNG TRỌT
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HỢP CHẤT SILIC VÀ
LÖA OM2514 TRONG VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
LỚP: TRỒNG TRỌT K33
Cần Thơ, 2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ-SINH HÓA
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HỢP CHẤT SILIC VÀ CALCIUM LÊN
ĐỘ CỨNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM2514 TRONG VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG”
Do sinh viên LÊ TRƯỜNG AN thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng năm 2010
Cán bộ hướng dẫn
Ts Phạm Phước Nhẫn
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ-SINH HÓA
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HỢP CHẤT SILIC VÀ CALCIUM LÊN
ĐỘ CỨNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM2514 TRONG VỤ HÈ THU TẠI PHƯỜNG 8, THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG”
Do sinh viên: LÊ TRƯỜNG AN thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày…
tháng… năm 2010 Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2010
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn (ký tên)
Lê Trường An
Trang 6LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ và tên: Lê Trường An
Sinh ngày 09 tháng 09 năm 1988
Tại xã Thạnh Trị, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Họ và tên cha: Lê Văn Giao
Họ và tên mẹ: Bùi Thị Đông
Đã tốt nghiệp tại Trường Trung Học Phổ Thông Thạnh Đông, xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Vào trường Đại học Cần Thơ năm 2007, theo ngành Trồng Trọt, khóa 33 Tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Nghiệp chuyên ngành Trồng Trọt năm 2010
Trang 7Gởi lời cảm ơn đến các anh Nam, anh Binh, chị Thoa và các bạn sinh viên làm đề tài ở Bộ môn Sinh Lý-Sinh Hóa, cùng với các bạn lớp Trồng Trọt khóa 33
đã đóng góp, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trang 81.3 Ứng dụng của chất khoáng vi lƣợng đến việc hạn chế đổ ngã trên lúa 10
Trang 92.2.3.2 Các chỉ tiêu năng suất và yếu tố cấu thành năng suất 17
3.1 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên số chồi ở các thời
3.2 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều cao cây lúa 20 3.3 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều cao thân của
3.4 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều cao đồng ruộng
3.4.1 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều cao
3.4.2 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều cao
3.4.3 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều cao
3.5 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên độ cứng cây lúa 26 3.6 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều dài từng lóng
3.7 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên đường kính từng lóng
3.8 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều dài và chiều
Trang 103.9 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên chiều dài bông lúa 30 3.10 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên trọng lượng thân 31 3.11 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên trọng lượng rễ 32 3.12 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên cấp đổ ngã và %
diện tích đổ ngã lúc 65, 75, 85 ngày sau khi sạ và khi thu hoạch 33 3.13 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên các thành phần năng
3.13.1 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên tỉ lệ hạt lép
3.1.3.2 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên các thành
3.14 Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên năng suất thực tế
Trang 11DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
1.1 Chiều cao cây, năng suất hạt, và cấp đổ ngã của giống lúa truyền
thống và giống lúa cao sản ở Brazil (Morais, 1998) 4
1.2 Giá trị của trục nhỏ, trục lớn và tính dẹt của lóng (F%) (không kể
1.3 So sánh trục nhỏ, trục lớn và tính dẹt của lóng giữa rạ đổ ngã và
1.4 Ảnh hưởng gia tăng lượng N cung cấp (NH4NO3) ở lá lúa
3.1 Số chồi (chồi/m2
3.2 Chiều cao cây lúa (cm) lúc 45, 55 và 65 ngày sau khi sạ 21
3.3 Chiều cao cây (cm) lúa lúc 75, 85 ngày sau khi sạ và khi thu
3.6 Chiều dài từng lóng (cm) của các nghiệm thức khi thu hoạch 29
3.8 Chiều dài lá đòng đo lúc 75 ngày sau khi sạ và khi thu hoạch cùng
3.9 Chiều dài bông lúa (cm) lúc 75 ngày sau khi sạ và khi thu hoạch 31
3.10 Trọng lượng thân (g/0,12m2) lúc 45 ngày sau khi sạ và khi thu
3.11 Trọng lượng rễ (g/0,12m2) lúc 45 ngày sau khi sạ và khi thu hoạch 32
Trang 133.13 Các thành phần năng suất và năng suất lý thuyết (tấn/ha) của các
3.14 Năng suất thực tế (tấn/ha) của các nghiệm thức khi thu hoạch 40
Trang 141.4 Sự trình bày theo sơ đồ về tế bào biểu bì của lá lúa (Yoshida,
3.1 Chiều cao đồng ruộng (cm) đƣợc đo tại thời điểm 75 ngày sau
3.5 Cấp đổ ngã và diện tích đổ ngã đƣợc ghi nhận lúc 65 ngày sau
khi sạ
34
3.6 Sự đổ ngã ở nghiệm thức không xử lý hóa chất và nghiệm thức
có xử lý lúc 65 ngày sau khi sạ
34
3.7 Cấp đổ ngã và phần trăm diện tích đổ ngã đƣợc ghi nhận lúc
75 ngày sau khi sạ
35
3.8 Sự đổ ngã của các nghiệm thức lúc 75 ngày sau khi sạ 35
3.9 Cấp đổ ngã và phần trăm diện tích đổ ngã đƣợc ghi nhận lúc
85 ngày sau khi sạ
36
Trang 153.10 Sự đổ ngã lúc 85 ngày sau khi sạ 37
3.11 Cấp đổ ngã và phần trăm diện tích đổ ngã đƣợc ghi nhận khi
thu hoạch
37
Trang 16TÓM LƯỢC
Hiện nay, tình hình biến đổi khí hậu diễn ra rất phức tạp: thời tiết thất thường, mưa bão kéo dài, dịch hại ngày càng gia tăng Chúng có ảnh hưởng rất lớn đến nền nông nghiệp nước ta nói chung và ngành trồng lúa nói riêng Khi mưa bão kéo dài làm cho lúa đổ ngã nhiều Ngoài ra, đổ ngã là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng
suất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của các hợp chất
silic và calcium lên độ cứng và năng suất của giống lúa OM2514” được thực hiện
trong vụ Hè Thu tại Phường 8, Thành phố Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng nhằm mục đích tìm ra liều lượng thích hợp để làm giảm hiện tượng đổ ngã trên lúa, tăng năng suất và góp phần tăng hiệu quả sản xuất cho nông dân Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố với 9 nghiệm thức và 4 lần lặp lại với mỗi lần lặp lại là 12m 2
Kết quả thực nghiệm cho thấy khi xử lý calcium nồng độ 200ppm ở thời điểm 45 và 60 ngày sau khi sạ đạt hiệu quả nhất trong việc gia tăng độ cứng, hạn chế đổ ngã và tăng năng suất hạt Ngoài ra, ở nghiệm thức xử lý orymax bốn liều lượng vào ba thời điểm 20, 45 và 60 ngày sau khi sạ không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây lúa về chiều cao và số chồi Trong đó, ở nghiệm thức 4ml/L đạt hiệu quả nhất so với ba nghiệm thức xử lý 1ml/L, 2ml/L và 6ml/L trong việc gia tăng độ cứng và tăng năng suất hạt Đối với nghiệm thức xử lý silysol ở liều lượng 2g/L có khác biệt so với đối chứng nhưng không khác biệt vượt trội hơn so với những nghiệm thức xử lý trong thí nghiệm Kết quả cũng cho thấy khi xử lý silicate
ở nồng độ 400ppm không ảnh hưởng đến chiều cao nhưng có ảnh hưởng đến độ cứng và năng suất lúa Nhìn chung khi xử lý hóa chất ngoài việc gia tăng độ cứng, hạn chế đổ ngã còn gia tăng tỷ lệ hạt chắc và góp phần tăng năng suất hạt
Từ khóa: orymax, silysol, calcium, độ cứng, năng suất
LÊ TRƯỜNG AN, 2010 “Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên độ cứng và năng suất của giống lúa OM2514 trong vụ Hè Thu tại Phường 8, Thành phố Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng” Luận văn Tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp
và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ 45 trang Người hướng dẫn khoa học: Ts Phạm Phước Nhẫn và PGs.Ts Nguyễn Minh Chơn
Trang 17MỞ ĐẦU
Trong nhiều năm gần đây tình hình sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm vị trí quan trọng trong cả nước, với diện tích lúa cả năm đạt 3,68 triệu ha so với cả nước khoảng 7,21 triệu ha và sản lượng lúa đạt được 18,68 triệu tấn so với 35,94 triệu tấn của cả nước năm 2007 (thống kê, 2009) Song gần đây tình hình sản xuất lúa gặp phải một số vấn đề: dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá, đạo ôn, đổ ngã và một số nguyên nhân khác làm thất thu lúa đáng kể Trong
đó, đổ ngã là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất lúa ở ĐBSCL (Nguyễn Minh Chơn, 2003) Theo kết quả điều tra của Ngô Thị Lệ Thủy (1998) thì tỷ lệ thiệt hại
do đổ ngã trong vụ hè thu ở Ô Môn chiếm khoảng 11% và Cai Lậy chiếm khoảng 13,6% trong tổng số năng suất lúa bị thất thoát Đặc biệt là trong vụ hè thu thường
có mưa kéo dài Lúa bị đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp bị trở ngại, sự vận chuyển các chất bị cản trở, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa đến hạt lép nhiều, năng suất giảm Ngoài ra, đổ ngã còn gây hạn chế trong việc cơ giới hóa trong khâu thu hoạch (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) Để khắc phục cũng như là hạn chế
đổ ngã, chúng ta có một số biện pháp như: chọn giống cứng cây, tháo nước giữa vụ, bón phân cân đối giữa đạm và kali hoặc sử dụng chất khoáng trung vi lượng… Trong thực tế sản xuất nông dân thường bón phân đạm cao nên đã làm cho lúa vươn lóng và dễ đổ ngã Do tập quán canh tác của nông dân nên việc sử dụng cùng một loại giống (cứng cây) cho cả vùng gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, nó có thể gây ra áp lực dịch bệnh, sâu rầy tấn công đồng loạt, gây thiệt hại lớn trên diện rộng Mặt khác, do đặc điểm tự nhiên của từng vùng khác nhau nên việc tháo nước giữa
vụ gặp nhiều khó khăn Như vậy, những biện pháp đầu không đưa đến kết quả khả quan, thì việc dùng chất khoáng trung vi lượng giúp lúa cứng cây, hạn chế đổ ngã là
phù hợp nhất Đề tài: “Ảnh hưởng của các hợp chất silic và calcium lên độ cứng
và năng suất của giống lúa OM2514” trong vụ Hè Thu tại Phường 8, Thành phố
Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng nhằm mục đích: tìm ra chất xử lý, nồng độ và liều lượng thích hợp để làm giảm đổ ngã trên lúa, tăng năng suất và góp phần tăng hiệu quả sản xuất cho nông dân
Trang 18Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÖA
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) quá trình sinh trưởng của cây lúa có thể chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn
sinh sản (sinh dục) và giai đoạn chín (Hình 1.1)
Hình 1.1 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa 90 ngày (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Trong giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6
Giai đoạn sinh dục biểu hiện bởi sự giảm số chồi, xuất hiện lá đòng (lá cờ), ngậm đòng, trổ gié và trổ bông Giai đoạn này sự vươn lóng (đốt) thường bắt đầu khoảng tượng khối sơ khởi của bông và tiếp tục đến trổ gié Năm lóng phía trên có thể kéo dài lúc trổ gié Vì vậy, giai đoạn sinh dục hay còn gọi là giai đoạn vươn lóng Sự tượng khối sơ khởi của bông thường vào khoảng 30 ngày trước trổ gié (Yoshida, 1981)
Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2009)
Trang 191.2 SỰ ĐỔ NGÃ TRÊN LÖA
1.2.1 Vị trí đổ ngã
Theo Hoshikawa và Wang (1990) được trích bởi Nguyễn Minh Chơn (2007) thì sự nứt gãy của các giống lúa đổ ngã ở Nhật Bản có sự nứt gãy tập trung vào lóng thứ tư từ 46,4 đến 80,4% Sự nứt gãy xảy ra ở lóng thứ năm từ 16,5 đến 53,5% Sự nứt gãy ở lóng thứ ba rất ít, chỉ có 3,1% Không thấy có sự nứt gãy xảy ra ở lóng thứ nhất và lóng thứ hai Như vậy muốn làm giảm đổ ngã cần tập trung vào điều khiển chiều dài hay độ cứng của lóng lúa thứ tư và thứ năm thông qua các biện pháp canh tác
Hình 1.2 Vị trí nứt gãy trên lóng thân
A: phần dưới của lóng B: phần trên của lóng Đoạn từ C đến D nằm trong khoảng 10 đến 30% chiều dài lóng là vị trí thường xảy ra nứt gãy (95% trường hợp) (Hoshikawa và Wang, 1990)
Vị trí nứt gãy của lóng thân được tóm tắt trong Hình 1.2 Hầu hết vị trí nứt gãy xảy ra trong khoảng từ 10 đến 30% của chiều dài lóng thân tính từ đốt bên dưới của lóng bị nứt gãy Trong đoạn này có tối thiểu 95% sự nứt gãy xảy ra ở đây Vì vậy ta
có thể xem vùng này là vùng nứt gãy
1.2.2 Các dạng đổ ngã
Theo Nguyễn Minh Chơn (2003), đổ ngã được phân thành hai nhóm: đổ ngã ở
rễ hoặc trên bề mặt đất và đổ ngã do nứt gãy rạ Trong dạng nứt gãy rạ có 3 dạng như sau:
- Dạng thân gãy gấp khúc: ngay vị trí gãy của cây lúa thân bị gập lại
Trang 20- Dạng gãy tét thân: cây lúa bị gãy và tét theo chiều dọc của lóng thân
- Dạng gãy tách rời: lóng thân chỗ vị trí gãy của cây lúa có một bên bị đứt rời ra
1.2.3 Các nguyên nhân gây đổ ngã
1.2.3.1 Yếu tố nội tại
- Giống
Đối với các giống lúa đáp ứng với đạm thấp: có lá dài, rộng, mỏng, cong rũ, cao cây và yếu rạ dễ gây ra hiện tƣợng đổ ngã Khi so sánh năng suất của giống lúa truyền thống cao cây với giống lúa cao sản thấp cây canh tác ở Brazil (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Chiều cao cây, năng suất hạt, và cấp đổ ngã của giống lúa truyền thống và giống lúa
cao sản ở Brazil (Morais, 1998)
Ta thấy, hầu nhƣ các giống lúa cao sản thấp cây thì cấp đổ ngã thấp hơn so với giống lúa truyền thống, vì thế chiều cao cây là một trong những nguyên nhân gây ra
đổ ngã trên lúa
Ngoài ra, giống cao cây không phải là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tƣợng
đổ ngã trên lúa Bên cạnh đó nguyên nhân đổ ngã trên lúa còn phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm nhƣ hình thái thân, chiều dài lóng, bẹ lá
- Hình thái thân
Trang 21Theo Yoshida (1981) thân gồm nhiều mắt và lóng Thân được bao bọc trong
bẹ lá trước trổ gié và một phần nhỏ của thân nằm ngay phía dưới bông nhô ra sau trổ gié Ở lúa chỉ vài lóng ở ngọn dài ra, số còn lại ngắn và dày đặc Lóng trên cùng dài nhất và các lóng kế chiều dài giảm dần Sau khi trổ gié, tổng chiều dài các lóng dài chiếm phần lớn chiều cao cây
Khi khảo sát sự đổ ngã trên lúa, nhiều đặt tính về chiều cao cây được đo trong các thí nghiệm nông học: chiều cao cây, chiều cao thân, chiều cao đồng ruộng Trong đó thì chiều cao thân là số đo có ý nghĩa nhất đến sự đổ ngã trên lúa
Chang (1964) cho rằng sự đổ ngã được khảo sát theo moment cong và độ cứng của thân và bẹ lá Moment cong là kết quả của trọng lượng thân và chiều cao của trục chính (chiều cao thân) Vì thế, sau khi trổ gié trọng lượng bông tăng do hạt tăng sinh khối và vì thế moment cong tăng lên
Ngoài ra, độ cứng của thân bị ảnh hưởng nhiều bởi: chiều dài của lóng dưới,
độ cứng hoặc độ chặc của những lóng dài, độ cứng và độ chặc của bẹ lá
Khi quan sát phẫu thức cắt ngang của lóng thân cây lúa cho thấy lóng thân có dạng hình elip chứ không thật sự hình tròn Tính dẹt của những lóng phía dưới thì cao hơn những lóng phía trên
Hình 1.3 Phẫu diện cắt ngang lóng thân cây lúa (Nguồn: www.ars.usda.gov/News/docs.htm)
Quan sát hai giống lúa dễ đổ ngã của Nhật Sasanishiki và Koshihikari (Bảng 1.2) nhận thấy rằng lóng thứ nhất tính từ trên xuống của 2 giống này dạng hơi tròn
và càng về các lóng phía dưới thì thân lúa càng dẹt với sự chênh lệch đường kính trục lớn và trục nhỏ (Hình 1.3) của lóng thân gia tăng (Hoshikawa và Wang, 1990)
Trục lớn
Trục nhỏ
Trang 22Bảng 1.2 Giá trị của trục nhỏ, trục lớn và tính dẹt của lóng (F%) (không kể bẹ lá lúa)
Giống
Sasanishiki
Trục nhỏ (mm) 1,78 2,75 3,36 3,78 Trục lớn (mm) 1,86 3,22 4,07 4,69
Giống
Koshihikari
Trục nhỏ (mm) 1,60 2,71 3,38 4,04 Trục lớn (mm) 1,63 3,02 3,75 4,62
Tính dẹt của lóng (F) = (1 – (Trục nhỏ/Trục lớn)) x100 (Hoshikawa và Wang, 1990)
Khi so sánh tính dẹt của lóng thứ ba và lóng thứ tư của hai giống nói trên, ta nhận thấy rằng những cây lúa dễ đổ ngã có thân dẹt hơn những cây lúa không đổ ngã (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 So sánh trục nhỏ, trục lớn và tính dẹt của lóng giữa rạ đổ ngã và không đổ ngã
(Hoshikawa và Wang, 1990)
Giống Lóng Đổ ngã Trục nhỏ (mm) Trục lớn (mm) F (%)
Sasanishiki
3 Đổ 3,07 ± 0,35 3,65 ± 0,39 15,89 ± 6,80 Không đổ 3,27 ± 0,50 3,79 ± 0,56 13,72 ± 4,83
4 Đổ 3,45 ± 0,29 4,39 ± 0,34 21,41 ± 6,29 Không đổ 3,75 ± 0,60 4,44 ± 0,60 15,54 ± 4,87
Koshihikari
3 Đổ 3,23 ± 0,24 3,72 ± 0,27 13,17 ± 2,55 Không đổ 3,74 ± 0,43 4,24 ± 0,42 11,79 ± 2,49
4 Đổ 3,61 ± 0,34 4,28 ± 0,30 15,65 ± 3,15 Không đổ 4,19 ± 0,52 4,85 ± 0,50 13,61 ± 3,23
Tính dẹt của lóng (F) = (1 – (Trục nhỏ/Trục lớn)) x100 (Hoshikawa và Wang, 1990)
- Chiều dài lóng
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) cây lúa nào có lóng ngắn, thành lóng dầy, bẹ lá
ôm sát thân thì thân lúa sẽ cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại Nếu đất ruộng có nhiều nước, sạ cấy dày, thiếu ánh sáng, bón nhiều phân đạm thì lóng có khuynh hướng vươn dài và mềm yếu làm cây lúa dễ đổ ngã Sự vươn lóng liên hệ mật thiết với thời gian sinh trưởng của cây lúa Ở những giống chín sớm và chín vừa, sự vươn lóng thường bắt đầu khoảng tượng khối sơ khởi của bông Ở những giống chín muộn, nó bắt đầu trước sự tượng khối sơ khởi của bông
Trang 23Ở điều kiện môi trường bất thường như sạ sâu và nước sâu, làm vươn lóng ngay ở giai đoạn sinh trưởng sớm Để hạt sâu 2cm trong đất không làm vươn lóng nhưng đặt sâu hơn 3cm có thể làm lóng thứ nhất và lóng thứ hai vươn dài Ở lúa nổi
và lúa nước sâu, sự vươn lóng xảy ra theo sự tăng độ sâu của mặt nước (theo Sekiya, 1953 được trích bởi Yoshida, 1981) Vận tốc vươn lóng tối đa quan sát được là 25cm/ngày nhưng thường hơn là khoảng 2–10cm/ngày (Vergara, 1976)
Vì vậy, chiều dài của những lóng bên dưới và chiều dài cả thân lúa là những đặc tính quan trọng liên quan đến tính đổ ngã Theo Nguyễn Minh Chơn (2007) thì Hoshikawa và Wang (1990) cho rằng lúa dễ đổ ngã thường có chiều dài lóng thân bên dưới và chiều dài cả thân dài hơn so với những cây không đổ ngã Như vậy, nếu giảm được chiều dài lóng thân sẽ làm cho cây lúa ít đổ ngã hơn (Nguyễn Minh Chơn và Nguyễn Thị Quế Phương, 2006)
- Bẹ lá
Theo Yoshida (1981) bẹ lá góp phần rất ít cho sự quang hợp nhưng nó cho thấy chức năng quan trọng khác Cây lúa bắt đầu vươn lóng khi tượng khối sơ khởi, thân vẫn còn nhỏ, dài khoảng 1cm và bẹ lá làm nhiệm vụ chống đỡ cho toàn cây Cho tới khi lóng bắt đầu vươn dài, bẹ lá chống đỡ giúp cây phát triển bình thường Ngay sau khi sự phát triển của lóng đã hoàn thành thì bẹ lá vẫn góp phần vào độ cứng của thân khoảng 30-60% Sự đổ ngã thường xảy ra ở hai lóng thấp nhất, bẹ lá bao những lóng này phải chặc Đây là bẹ của những lá dưới trong giai đoạn chín Bởi vậy, trong kỹ thuật canh tác, ngăn các lá dưới héo sớm thật quang trọng trong việc hạn chế đổ ngã trên lúa
1.2.3.2 Yếu tố bên ngoài
- Ảnh hưởng của mật độ sạ đến đổ ngã của lúa
Lúa dễ ngã hay không còn phụ thuộc vào mật độ sạ Nếu sạ quá thưa, cây lúa nở bụi nhưng không giáp tán nổi hay sạ quá dày đều làm cho cây lúa vươn cao để cạnh
tranh ánh sáng thì dễ bị gãy ngã (Võ Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp, 1998)
- Ảnh hưởng của việc bón phân đạm và kali không cân đối
Trang 24Trong canh tác lúa, một trong những biện pháp kỹ thuật được áp dụng nhằm tăng năng suất lúa là bón nhiều phân đạm Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2004), Yoshida (1981) đạm là chất tạo hình cây lúa, là thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Ảnh hưởng gia tăng lượng N cung cấp (NH 4 NO 3 ) ở lá lúa (Yoshida, 1969)
(Nguồn dinh dưỡng khoáng cây trồng, Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
Vì thế, khi bón thừa đạm cây lúa phát triển về thân quá mức, mô non, mềm, tán lá rậm rạp, lượng đạm tự do trong cây cao, nên cây dễ nhiễm bệnh và dễ đổ ngã làm cho năng suất giảm
Tuy nhiên, thời điểm bón thúc đạm cũng ảnh hưởng đến sự kháng đổ ngã của cây lúa (Singh và Takahashi, 1962) Sự bón thúc vào lúc 20 ngày trước trổ gié không chỉ cho trọng lượng bông tối đa mà còn tăng sự kháng đổ ngã do ảnh hưởng chiều dài và đường kính của lóng, sự tích lũy chất khô ở phần gốc và sự khỏe mạnh của thân
Ngoài đạm, theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) kali giúp cho quá trình vận chuyển
và tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống sâu bệnh, chống đổ ngã, chịu hạn và chịu lạnh khỏe hơn, tăng
số hạt chắc trên bông và làm hạt no đầy hơn Theo Yoshida (1981) giữa thành phần hữu cơ và vô cơ của thân, hàm lượng holoceluloz và kali tương quan chặc với độ cứng Và độ cứng cơ học tăng lên bởi sự bón kali, kali làm tăng độ dày thân và duy trì áp suất trương trong tế bào
Trong khi đó, nhu cầu kali cho sự sinh trưởng tối hảo chiếm khoảng 2-5% trọng lượng khô của các bộ phận sinh dưỡng, trái tươi và củ Tuy nhiên, khi thiếu kali làm cho sự sinh trưởng chậm lại và có sự tái chuyển vị của kali từ lá trưởng thành và từ thân Trong điều kiện thiếu kali nghiêm trọng thì lá, thân bị vàng úa và
Trang 25hoại tử Ligin hóa của các bó mạch bị giảm và vì vậy cây thiếu kali dễ bị đổ ngã (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
- Ảnh hưởng của việc không tháo nước giữa vụ
Cây lúa có thể chịu được nước ngập suốt vụ nhưng không có nghĩa là cây lúa lúc nào cũng cần nước ngập trên mặt ruộng Rút cạn nước rễ lúa vẫn có thể tiếp tục hút lượng nước nằm trong các lỗ hổng, mạch mao dẫn trong đất Vào lúc 30 ngày sau khi sạ (NSKS), nên nhanh chóng tháo toàn bộ nước mặt ra khỏi ruộng
Việc để khô ruộng ở giai đoạn 30 NSKS có thể tiết kiệm một đến hai lần bơm nước Ưu điểm của việc rút nước lúc này là: các chất hữu cơ độc hại hòa tan trong dung dịch đất được di chuyển khỏi vùng rễ lúa, đất được thoáng khí thì chất H2S tích tụ trong quá trình ngập nước sẽ được oxy hoá và dẫn đến giảm ngộ độc Hệ thống rễ được kích thích tạo ra các rễ mới, rễ mọc xuống đất sâu hơn, giảm đổ ngã cho lúa khi có gió bão Khi nước cạn, các lá ủ bên dưới sẽ khô nên gốc lúa sạch, tiểu khí hậu tốt, giảm sâu bệnh (Dương Văn Chín, 2010)
- Ảnh hưởng của thời tiết đến sự đổ ngã
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) tùy theo vùng mà ở ĐBSCL có thể trồng hai hoặc ba vụ lúa trên năm Trong đó hai vụ trồng chính ở ĐBSCL là Đông Xuân (từ tháng 11-12 đến tháng 3-4 dương lịch) và Hè Thu (từ tháng 4-5 đến tháng 8-9 dương lịch) Trong khi đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, kéo theo đó cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa Thể hiện chủ yếu bằng năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu trên đơn vị diện tích đất (lượng bức xạ) Bức xạ mặt trời ảnh hưởng lớn đến các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Ở thời kỳ lúa trổ nếu thiếu ánh sáng sự thụ phấn, sự thụ tinh bị trở ngại, làm tăng số hạt lép, giảm số hạt chắc và hạt phát triển không đầy đủ (hạt lửng), đồng thời cây có khuynh hướng vươn lóng dễ đổ ngã Mùa mưa kéo theo gió lớn có thể làm cho cây lúa đổ ngã, thân lá bầm dập và là cửa ngõ của các mầm bệnh xâm nhập
Trang 261.3 ỨNG DỤNG CỦA DƯỠNG KHOÁNG VI LƯỢNG ĐẾN VIỆC HẠN CHẾ ĐỔ NGÃ TRÊN LÖA
1.3.1 Calcium (Ca)
1.3.1.1 Ảnh hưởng của calcium đến cây lúa
Hàm lượng Ca của cây thay đổi trong khoảng 0,1 đến lớn hơn 5,0% trọng lượng khô tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng, loài cây trồng và cơ quan của cây Nhu cầu sinh trưởng tối hảo ở cây một lá mầm thấp hơn ở cây hai lá mầm rất nhiều (Lonegaran et al., 1968; Lonegaran và Snowball, 1969)
Calcium được cây hấp thu dưới dạng Ca2+
và sau đó sẽ cố định thành các muối như: calcium pectate, calcium oxalate Theo Epstein và Bloom (2002) Ca hầu như không
di chuyển trong mô libe và kết quả là triệu chứng thiếu thường được phát hiện trên
mô non Vùng phân sinh của rễ, thân và lá (nơi mà sự phân cắt tế bào đang xảy ra) thì mẫn cảm nhất Khi thiếu Ca mô bị biến dạng, hình thù vặn vẹo và các vùng sẽ chết rất sớm
Ở thực vật, một phần Ca liên kết chặt chẽ với cấu trúc vách tế bào, một phần khác có khả năng trao đổi tại vách và mặt ngoài của màng tế bào Trong tế bào, một
tỷ lệ lớn Ca bị cô lập trong thủy thể (vacuole), trong khi nồng độ của chúng trong tế bào chất thì rất thấp, có thể đạt tới 10% trọng lượng khô (ở lá trưởng thành) mà không thấy chịu chứng ngộ độc hay ước chế sinh trưởng Ngoài ra, Ca kết hợp với pectin tạo thành Calcium pectate trong lớp chung (middle lamella) cần thiết cho sự vững chắc của vách tế bào và mô thực vật (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
Ở vách tế bào có hai vùng riêng biệt có hàm lượng Ca2+
cao: ở vùng middle lamella và vùng ở bề mặt bên ngoài của màng nguyên sinh chất Trong hai vùng,
Ca2+ có chức năng cấu trúc quan trọng gọi là: điều hòa tính thấm của màng và làm vững chắc vách tế bào Sự phân hủy pectate qua trung gian bởi enzyme polygalacturonase và enzyme này bị ức chế mạnh ở nồng độ cao Ca2+
(Bảng 1.5)
Trang 27Bảng 1.5 Ảnh hưởng Ca đến sự thủy phân sodium pectate nhờ enzyme polygalacturonase (Corden, 1965)
1.3.1.2 Ảnh hưởng của calcium đến một số cây trồng khác
Trong vách tế bào tỷ lệ của calcium pectate cũng quan trọng cho sự mẫn cảm của mô thực vật đối với sự xâm nhiễm của nấm và vi khuẩn cũng như cho sự chín của trái Từ kết quả thí nghiệm trên táo và cà chua, các nhà nghiên cứu thấy rằng khi gia tăng hàm lượng Ca của trái (bằng cách phun nhiều lần với muối Ca trong thời kỳ phát triển của trái hay xử lý nhúng trái vào dung dịch CaCl2 sau khi thu hoạch) đã làm tăng độ cứng của trái và kéo dài hay ngăn cản qúa trình chín của trái Với nồng độ thấp của Ca ở trái và các mô dự trữ làm cho tế bào giản nở nhanh chóng và gia tăng tính thấm của màng Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng cao của các cơ quan thoát hơi nước, có thể bị thiệt hại khi hàm lượng Ca ở mô giảm xuống dưới ngưỡng cần thiết để duy trì tính nguyên của màng và gây ra những rối loạn, như triệu chứng cháy đầu lá ở rau, thối đít trái (blossom endrot) ở cà chua hoặc dưa hấu
và bệnh khô trái ở táo tây (bitter pit) (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)
1.3.2 Silicate (Si)
Silicate được nghiên cứu chính thức vào năm 1843 do Lawes, ở Nhật khi nghề trồng lúa được xem là một ngành thực sự thì có nhiều nghiên cứu về Si ảnh hưởng lên lúa (Takahashi, 1984) Cây lúa cần nhiều Si cho sự phát triển tốt, ổn định và làm tăng năng suất (Savant et al., 1997; Ma và Takahashi, 2002) Sự hấp thụ Si được thực hiện ở vùng chóp rễ, bao gồm cả hai vùng: vùng mô phân sinh và vùng dãn dài của rễ Nhưng qua nhiều nghiên cứu cho thấy sự hấp thu Si ở vùng trưởng thành của
Trang 28rễ cao hơn ở vùng chóp rễ (Yamaji và Ma, 2007) Theo Ma và Takahashi, (2002) silic chiếm khoảng 10% trọng lượng khô trong thân và hơn 90% Si ở dạng gel silic Theo Epstein và Bloom (2003) Si có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng Silicate làm tăng tính kháng của cây đối với các loài gây hại và nhiều loại nấm bệnh khác nhau Ngoài ra, Si còn làm tăng tính chống chịu hạn hán và độ độc của một số kim loại: nhôm, sắt, mangan…Si còn là nguyên tố thiết yếu lên sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Vì vậy, ngoài tính kháng và tính chống chịu, silicate còn giúp tăng năng suất hạt của lúa
Trong khi đó, toàn bộ dưỡng chất do cây trồng hấp thu bị ảnh hưởng bởi phần trăm dưỡng chất trong chất khô và sản lượng chất khô (kg/ha) Sự hấp thu Si lớn hơn nhiều so với bất kỳ dưỡng chất nào khác (từ 890-1,018 kg/ha/vụ) Vì cây lúa hấp thu lượng Si lớn như vậy đôi khi nó được xem là cây silic (Yoshida, 1981) Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009) trong cây Si tập trung chủ yếu trong thân lá (khoảng 60%) một phần trên bông (khoảng 20%)
Hình 1.4 Sự trình bày theo sơ đồ về tế bào biểu bì của lá lúa (Yoshida, 1965)
Theo Yoshida (1965): Raven (2003) lớp gel-silic được phủ bên ngoài của vách
tế bào ở các tế bào trong lá, thân và vỏ trái tạo thành lớp cutin-silic dày gấp đôi bình thường (Hình 1.4) Nhờ vào lớp cutin-silic giúp tăng tính chống chịu và tính cứng của tế bào Vì vậy, làm tăng tính kháng của cây lúa đối với côn trùng và các loại nấm gây hại Qua đó làm tăng khả năng quang hợp và làm giảm sự thoát hơi nước của cây trồng (Epstein, 1994, 1999; Ma và Takahashi, 2002; Ma, 2003) Theo Yoshida (1981) những nhà côn trùng học đã tìm ra hàm trên của ấu trùng sâu đục thân lúa sống ở lúa có hàm lượng Si cao bị tổn hại
Trang 29Theo Yoshida (1981) sự hấp thu Si tăng giữ cho lá đứng (Hình 1.5) Tầm quan trọng của góc lá đối với sự quang hợp của tán ruộng trồng được biết nhiều, lá đứng được mong muốn ở giống lúa năng suất cao Mặc dù góc lá chủ yếu là đặc tính của giống, nó cũng bị ảnh hưởng bởi tình trạng dinh dưỡng Tổng quát, đạm có khuynh hướng làm cho lá lúa rủ trong khi đó Si giữ cho lá đứng Giữ cho lá đứng do bón silicate có thể làm tăng dễ dàng 10% trong sự quang hợp của tán lá và do đó làm tăng năng suất
Hình 1.5 Hiện tượng thiếu silic (A) và thiếu mg (B) trên cây lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)
Trong giai đoạn sinh sản có tới 67% Si được hấp thụ để làm tăng số chồi và tăng năng suất lúa Vì vậy, khi sự thiếu Si xảy ra làm giảm năng suất hạt của lúa (Ma et al., 1989)
Trang 30Chương 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thí nghiệm thực hiện ngoài đồng tại Phường 8, Thành phố Sóc Trăng, Tỉnh
Sóc Trăng trong vụ Hè Thu từ 15/5/2009 đến 30/8/2009
Trang 31Thí nghiệm thực hiện trên đất ruộng với công thức phân giống nhau cho các nghiệm thức trên nền phân 90N-60P2O5-30K2O và chia làm ba lần bón như sau:
- Lần 1: Từ 7-10 NSKS (1/2 P2O5 – 1/3 N)
- Lần 2: Lúc 25 NSKS (1/2 P2O5 – 1/3 N- 1/2 K2O)
- Lần 3: 42 NSKS (1/3 N- 1/2 K2O)
Chú ý: sử dụng thuốc BVTV không có hoạt chất trùng với hoá chất được sử dụng trong thí nghiệm
Bảng 2.2: Các nghiệm thức trong thí nghiệm
Kí
hiệu Các nghiệm thức trong bố trí thí nghiệm Liều lượng và nồng độ
Thời điểm xử lý (ngày sau khi sạ) T1 Nghiệm thức đối chứng (phun nước) 20, 45, 60
T2 Xử lý với orymaxSL
(1ml/L) 20, 45, 60 T3 Xử lý với orymaxSL
(2ml/L) 20, 45, 60
T5 Xử lý với orymaxSL
(6ml/L) 20, 45, 60 T6 Xử lý với silysolMS
+ Chiều cao cây: 45, 55, 65, 75, 85 NSKS và khi thu hoạch
Cách lấy: đo 9 cây trong nghiệm thức trên 3 điểm, mỗi điểm chọn 3 cây tương đồng về chiều cao, lấy dây buộc làm dấu Khi lúa được 45 ngày đo chiều cao cây lần đầu bằng cách đo khoảng cách từ gốc đến điểm cao nhất của ngọn lá hoặc bông (không tính râu hạt) và cứ sau 10 ngày lấy 1 lần cho đến khi thu hoạch, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là cm
Trang 32+ Trọng lượng thân: 45 ngày sau khi sạ và khi thu hoạch
+ Trọng lượng rễ: 45 ngày sau khi sạ và khi thu hoạch
Cách lấy: đặt 6 khung 20cm x 20cm với số chồi bằng nhau khi lúa 10 ngày sau
sạ trên 1 nghiệm thức Đến giai đoạn 45 ngày sau sạ lấy chỉ tiêu 3 khung Dùng leng (xẻn) đào thẳng xuống theo khung và lấy toàn bộ rễ và thân lên, sau đó loại bỏ phần đất cho sạch, tiếp theo ta tách riêng phần thân và rễ riêng bỏ vào túi dầu đem sấy đến khi trọng lượng không đổi và đem cân (cân điện tử) tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính gam (g) Đến khi thu hoạch thì lấy 3 khung còn lại
- Lúa trổ
+ Số bông sau khi trổ/m2: cách lấy đặt khung 1m2 giữa ô của nghiệm thức, đếm số bông hiện diện trong khung ở hai thời điểm 75 NSKS và khi thu hoạch, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là bông/m2
+ Chiều dài bông: thu ngẫu nhiên 20 bông trong nghiệm thức, đo chiều dài bông từ cổ bông đến chót bông lúc 75 NSKS và khi thu hoạch, sau đó tính trung bình bốn lần lặp lại, đơn vị tính là cm
- Lúa chín
+ Chiều cao đồng ruộng: đo 9 cây giống như chiều cao cây nhưng ở chiều cao đồng ruộng ta đo khoảng cách từ mặt đất đến điểm cao nhất của cây lúa ngoài đồng (không vuốt thẳng), tại hai thời điểm lúc lúa 75 NSKS và khi thu hoạch, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị là cm
+ Chiều dài lá đòng: thu 20 lá đòng trong khung 1m2 và tiến hành đo từ cổ lá đến chóp lá đòng, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là cm
+ Bề rộng lá đòng: từ 20 lá đo chiều dài lá đòng, ta đo phần rộng nhất của lá, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là cm
+ Dài lóng: thu ngẫu nhiên 10 cây trong nghiệm thức cách biên khoảng 1m, tách bẹ lá đo khoảng cách giữa hai mắt lóng liên tiếp nhau và chỉ đo các lóng trên mặt đất Thứ tự lóng tính từ cổ bông dần xuống gốc, lóng đầu tiên dưới cổ bông là
Trang 33lóng thứ nhất, kế tiếp là lóng thứ hai, lóng thứ ba, thứ tư tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là cm
+ Cao thân: từ 10 cây đo chiều dài lóng, đo từ gốc đến cổ bông, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là cm
+ Đường kính lóng: từ 10 cây đo chiều dài lóng, dùng thước kẹp đo ở vị trí giữa lóng (đo đường kính lớn), tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính là
mm
2.2.3.2 Các chỉ tiêu năng suất và yếu tố cấu thành năng suất
- Số bông/m2: cách lấy đặt khung 1m2 giữa ô của nghiệm thức, đếm số bông hiện diện trong khung khi thu hoạch, tính giá trị trung bình 4 lần lặp lại, đơn vị tính
là bông/m2
- Chỉ tiêu ở bông: trên mỗi nghiệm thức lấy ngẫu nhiên 20 bông ở giữa ô thí nghiệm, đếm tổng số hạt; số hạt chắc và hạt lép, lấy số liệu trung bình từng chỉ tiêu, đơn vị tính là hạt Sau đó tính tỷ lệ hạt chắc và hạt lép theo công thức sau:
- Tỷ lệ hạt chắc (%) = số hạt chắc/tổng số hạt x 100
- Tỷ lệ hạt lép (%) = số hạt lép/tổng số hạt x 100
- Trọng lượng 1000 hạt (g): đếm 1000 hạt chắc ở mỗi lần lặp lại, đem cân và tính trung bình 4 lần lặp lại, đo độ ẩm lúc cân quy về ẩm độ chuẩn 14%
- Năng suất lý thuyết (NSLT)
Tính theo công thức sau:
NSLT (tấn/ha) = (B x H x C x (P1000 hạt x 10 -3
)) x 10 4 x 10 -6
+ B: số bông/m 2
(bông) + H: số hạt/bông (hạt)
+ C: % hạt chắc/bông (%)
+ P1000 hạt: trọng lượng 1000 hạt tính bằng gam
+ 10 -3 : hệ số chuyển đổi trọng lượng 1000 hạt ra trọng lượng 1 hạt (gam)
+ 10 4 : hệ số chuyển đổi năng suất từ gam/m 2
sang gam/ha
+ 10 -6 : hệ số chuyển đổi từ gam/ha ra tấn/ha
Trang 3445cm
10cm 5cm 10cm
- Năng suất thực tế (NSTT) (tấn/ha):
3 4
2 10 10 5
m
N= Năng suất thực tế của 5m 2
(ở âm độ 14%) (kg)
10 4 = hệ số chuyển đổi từ kg/m 2 sang kg/ha
10 -3 = hệ số chuyển đổi từ kg/ha ra tấn/ha
2.2.4 Đo độ cứng cây lúa
Độ cứng cây lúa được xác định theo phương pháp của Nguyễn Minh Chơn (2007) qua các bước sau:
Bước 1: chọn ngẫu nhiên 10 cây trên một nghiệm thức Điều kiện cây phát triển bình thường không bị sâu bệnh
Bước 2: gác cây lúa còn nguyên bẹ lá lên giá đỡ Khoảng cách từ điểm gác cây lúa đến mặt đất là 60cm, chiều cao dây vuông góc với mặt đất là 45cm, chiều cao vật treo là 10cm, khoảng cách giữa hai điểm trên giá đỡ cây lúa là 10cm (Hình 2.1)
Hình 2.1 Bước 2 của phương pháp đo độ cứng
Bước 3: treo vật lên cây lúa sau đó từ từ tăng trọng lượng bằng cách thêm cát vào đến khi cây lúa vừa bị gãy thì ngưng lại (Hình 2.2)
Trang 35Hình 2.2 Bước 3 của phương pháp đo độ cứng
Bước 4: cân toàn bộ trọng lượng của vật treo ở thời điểm cây lúa vừa gãy (Hình 2.3) Độ cứng cây lúa được tính một kilogam vật treo có lực tương đương là
2.2.6 Phương pha ́ p xử lý số liê ̣u
Số liê ̣u về các chỉ tiêu theo dõi đươ ̣c thu thâ ̣p và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và thống kê bằng phần mềm MSTATC và dùng phép thử DUNCAN để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức
45cm