Đối tượng của thiết kế cảnh quan là tạo địa hình với bậc thang, tường chắn đất, bề mặt trang trí từ vật liệu xây dựng, cây xanh, các tác phẩm điêu khắc, hình thức kiến trúc, công trình n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ XUÂN ĐÀO
THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ KHU ĐÔ THỊ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
Tên Đề Tài:
THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ KHU ĐÔ THỊ
PHÚ CƯỜNG, THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3083709 LỚP: HOA VIÊN CÂY CẢNH K34
Cần Thơ, 2012
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Hoa viên và Cây cảnh với đề tài: “THIẾT
KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ KHU ĐÔ THỊ PHÚ CƯỜNG THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG”
Do sinh viên NGUYỄN THỊ XUÂN ĐÀO thực hiện Kính trình lên hội đồng
chấm luận văn tốt nghiệp
Cán bộ hướng dẫn
Th.s Tôn Nữ Gia Ái
Trang 4ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư
nghành Hoa viên và Cây cảnh với đề tài: “THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ
KHU ĐÔ THỊ PHÚ CƯỜNG THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG”
Do sinh viên NGUYỄN THỊ XUÂN ĐÀO thực hiện và bảo vệ với hội đồng
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012 Hội đồng ……… ……… ………
DUYỆT CỦA KHOA
Trưởng khoa Nông Nghiệp và SHƯD
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Xuân Đào
Trang 6iv
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH
Chỗ ở hiện nay: 39/7/1 Trần Phú – Vĩnh Thanh – TP Rạch Giá – Kiên Giang
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1996 – 2001: Học tại trường Tiểu học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá – Kiên Giang
2001 – 2005: Học tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi, Rạch Giá – Kiên Giang
2005 – 2008: Học tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Trung Trực
2008 – 2012: Học tại trường Đại học Cần Thơ – Khoa Nông nghiệp & SHƯD, Ngành Hoa Viên Cây Cảnh
Trang 7v
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt 4 năm học tại trường Đại Học Cần Thơ, em đã rất vinh dự nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, dạy bảo tận tình của quý thầy cô ở trường để hôm nay
em hoàn thành luận văn này Không có lời nào hơn em xin được:
Thành kính ghi nhớ công ơn cô Tôn Nữ Gia Ái đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ, tạo điều kiện tốt cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh bài luận văn này
Cảm ơn thầy Phạm Phước Nhẫn và cô Lê Minh Lý, cố vấn học tập đã quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Cảm ơn tất cả quý thầy cô, anh chị Bộ môn Sinh lí-Sinh hóa, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, rèn luyện cho em trong suốt khóa học Những điều thầy cô đã dạy sẽ là hành trang cho
em trong con đường sự nghiệp tương lai sắp tới
Con cũng kính dâng lời cảm tạ sâu sắc đến cha mẹ đã suốt đời tận tụy, hy sinh
vì tương lai của các con
Thân gởi về các bạn Hoa viên và Cây cảnh K34 cảm ơn các bạn đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Chân thành và kính gởi đến cha mẹ, quý thầy cô và các bạn lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và mọi điều tốt đẹp nhất
Chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Xuân Đào
Trang 8vi
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT VƯỜN – CÔNG VIÊN
Trang 9CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 18
Trang 10viii
Trang 11ix
TÊN BẢNG
Bảng TÊN Trang
Trang 12x
TÊN HÌNH
Hình TÊN Trang
Trang 13xi
NGUYỄN THỊ XUÂN ĐÀO 2012 “THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ KHU
ĐÔ THỊ PHÚ CƯỜNG THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG”
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Hoa Viên và Cây Cảnh, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ 50 Trang Cán bộ hướng dẫn ThS Tôn Nữ Gia Ái
-
TÓM LƯỢC
Đề tài “THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ KHU ĐÔ THỊ PHÚ CƯỜNG
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG” được thực hiện từ tháng
2/2012 – 07/2012 tại biệt thự đường số 2 khu đô thị Phú Cường, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Đề tài được thực hiện dựa trên các quy trình kĩ thuật thiết kế cảnh quan trong đơn vị nhà phố với mục tiêu đưa ra được hai phương án thiết kế cảnh quan phù hợp và hài hòa với khối kiến trúc ngôi nhà
Qua thực hiện khảo sát, phân tích và đánh giá hiện trạng khu vực thiết kế đã lên được ý tưởng phong cách thiết kế cho hai phương án
- Phương án 1: Bố cục tự do – phong cách hiện đại Phương án thiết kế là sự kết hợp hài hòa, thống nhất với khối kiến trúc công trình, sử dụng những loài cây phổ biến, ít tốn công chăm sóc Với phương án này tôn tạo cho ngôi nhà một nét đẹp sang trọng hài hòa, đảm bảo tầm nhìn bao quát từ trong và ngoài ngôi biệt thự
- Phương án 2: Bố cục tự do – phong cách đồng quê Mang lại cho ngôi nhà một vẻ đẹp thơ mộng của không gian làng quê nhưng không làm phá vỡ nét kiến trúc của ngôi nhà, đảm bảo được tính thẩm mỹ Với phương án này sử dụng những loài cây bản địa có sức sống cao, ít tốn công chăm sóc
Sau cùng là hoàn thiện phần thuyết minh cho các ý tưởng thiết kế, lập dự toán chi phí thi công Đánh giá khách quan về những mặt đạt được cũng như những mặt còn hạn chế của từng phương án thiết kế và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần làm tăng vẽ đẹp cảnh quan, tạo nên sự hài hòa giữa cảnh quan trong và ngoài khu vực thiết kế
Trang 141
MỞ ĐẦU
Sống trong xã hội càng hiện đại thì áp lực từ mọi mặt của cuộc sống mang lại ngày càng nhiều, vì thế con người cần có sự thư giãn và nghĩ ngơi trong chính ngôi nhà của họ Việc thiết kế cảnh quan mang lại hơi thở của thiên nhiên vào chính ngôi nhà, dạo bước trên con đường với xung quanh là những khóm cây, có thể ngắm nhìn hoặc nghe thấy tiếng nước chảy róc rách từ những tiểu cảnh được thiết kế một cách khéo léo Cùng với đó, khoảng không gian cho mọi người trong gia đình tụ hợp trong những ngày cuối tuần hay những ngày lễ là cần thiết Vì vậy việc thiết kế được mảng xanh trong sân vườn và những khu phục vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí
là thiết yếu
Mẫu biệt thự nằm trên đường số 2 trong khu dân cư Phú Cường, thành phố Rạch Giá – Kiên Giang là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan xung quanh, kiến trúc đảm bảo công năng, hình khối và tỷ lệ phù hợp Phần diện tích biệt thự dự kiến xây
thiết kế Cũng chính vì vậy đề tài : “ Thiết kế sân vườn biệt thự khu đô thị Phú Cường, TP Rạch Giá – Kiên Giang ” được thực hiện nhằm đưa ra được những phương án phù hợp với mẫu biệt thự trên đáp ứng được nhu cầu nghĩ ngơi hay vui chơi giải trí cho gia chủ sau này
Trang 152
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 KHÁI NIỆM VỀ THIẾT KẾ CẢNH QUAN
Thiết kế cảnh quan là một hoạt động sáng tác tạo môi trường vật chất – không gian bao quanh con người Trong đó thiết kế cảnh quan bao gồm hai lĩnh vực chuyên sâu: thiết kế cảnh quan cấp vĩ mô thường do các kiến trúc sư cảnh quan đảm nhiệm và thiết kế cảnh quan hoa viên thường do các nhà thiết kế cảnh quan hoặc nhà kỹ thuật hoa viên đảm nhiệm (Hàn Tất Ngạn, 1999)
Đối tượng của thiết kế cảnh quan là tạo địa hình với bậc thang, tường chắn đất,
bề mặt trang trí từ vật liệu xây dựng, cây xanh, các tác phẩm điêu khắc, hình thức kiến trúc, công trình nước,… nghĩa là các thành phần của môi trường vật chất – không gian
Thiết kế cảnh quan là thiết kế không gian bên ngoài: không gian được hình thành do quan hệ của ngoại vật và con người nhận thức ra nó bằng các giác quan (chủ yếu là thị giác) Đó là không gian được giới hạn bởi nền và tường (không gian kiến trúc không mái) Trong quan niệm của cảnh quan, không gian này không chỉ hàm chứa mối quan hệ mà còn tương quan của nó với khối xây dựng bao quanh, cũng như các thành phần khác của thiên nhiên và nhân tạo (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT VƯỜN – CÔNG VIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Lược sử phát triển nghệ thuật bố cục vườn – công viên trên thế giới
Nghệ thuật vườn – công viên đã có từ rất lâu trên thế giới, vào khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, ở Trung Quốc đã xây vườn lớn bao quanh công thự vua chúa Tại thành phố Ba-bi-lon (thành phố thời cổ duy nhất giữ được nền văn minh
và phát triển trong liền 15 thế kỷ) đã có vườn của hoàng hậu Xi-mi-ra-mit Ở Ai Cập, Hy Lạp và La Mã cổ đã chú ý nhiều đến việc xây dựng vườn: tạo mặt nước, các công trình trang trí phong phú, số lượng tượng rất lớn
Trang 163
Vào thế kỷ XIII – XIV ở Tây Ban Nha đã xây dựng các vườn nhỏ, kín Thời trung cổ nghệ thuật vườn hầu như không phát triển Đến thời phục hưng vườn lại hưng thịnh
Ở Ý, thế kỷ XVI đã tạo nên các vườn đặc sắc của lâu đài, biệt thự Đến thế kỷ XVII kiểu vườn Ý được đưa vào Pháp và được thay đổi theo đặc điểm tự nhiên của nước Pháp: Nếu ở Ý quy mô vườn 2 – 3 ha thì ở Pháp quy mô hàng trăm ha Nổi tiếng có vườn Véc-xai rộng 1.700 ha Tác phẩm này của Le-no-tre đã ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật phong cách Châu Âu
Giữa thế kỷ XVIII ở Tây Âu xuất hiện khuynh hướng nghệ thuật phong cảnh mới ảnh hưởng bởi nghệ thuật mô phỏng tự nhiên của vườn cổ Trung Quốc
Đến thế kỷ XIX nghệ thuật phong cảnh đã mở rộng đến thành phố và trở thành một phần hữu cơ với thành phố
Sau cách mạng Tháng Mười, thành phố xã hội chủ nghĩa bắt đầu hình thành kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của quang cảnh chung Năm 1929, lần đầu tiên trên thế giới, ở Liên Xô đã xuất hiện kiến trúc phong cảnh trong công viên kiểu mới: công viên văn hóa nghỉ ngơi Gooc-ki ở Mat-xcơ-va (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)
1.2.1.1 Ở một số nước phương Tây
Vườn Hy Lạp
Vườn công cộng cổ Hy Lạp với bố cục vườn bao gồm nơi tổ chức thể thao, vui chơi – giải trí, và nơi thờ cúng Thờ những anh hùng đã chiến thắng trong các cuộc thi đấu hay các vị thần che chở cho thành bang Vườn cổ Hy Lạp thường sử dụng nhiều loại hoa quý (cẩm chướng, cúc vàng, hồng, ) (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006) Đến thời cổ điển vườn công cộng Hy Lạp không tổ chức với chức năng thờ cúng nữa mà chức năng chính là nơi chơi thể thao nên mạng lưới đường thường thẳng tắp nhưng phong phú về hình thức nghệ thuật của các công trình thể thao, bể bơi, tượng đài, vòi phun Công trình xây dựng xen kẽ với cánh rừng, nhiều loại cỏ cây làm phong phú và sinh động thêm phong cảnh vườn (Hàn Tất Ngạn, 1999)
Trang 174
Cuối thời cổ điển, sau khi chiến thắng đế quốc Ba Tư, người Hy Lạp xây dựng lại những thành phố bị tàn phá với các quãng trường công cộng và vườn trang trí có những hàng cột bao quanh (Hàn Tất Ngạn, 1999)
Vườn La Mã
Nghệ thuật vườn – công viên La Mã chịu ảnh hưởng của vườn cổ Hy Lạp nhưng mang ý nghĩa thực dụng cao hơn, sử dụng nhiều loại cây ăn quả như: ô liu, táo, lê,… Bố cục thường có rào bằng cây cắt xén bao quanh, có chòi nghỉ, có giàn nho leo Phát triển kiểu “vườn trong” cổ Hy Lạp thành mô típ vườn sân trong có trồng cây trang trí thấp và hoa, trung tâm vườn là bể trang trí có vòi phun Về sau,
mô típ này được phổ biến rộng rãi trên các quảng trường thành phố và trở thành phong cách chính của vườn trước công trình công cộng (Nguyễn Hoàng Trung, 2009)
Thời kỳ La Mã trở thành nước đế quốc đi chinh phục Hy Lạp và các nước khác, người La Mã đã mang về nước mình các bảo vật quý giá để trang trí cho những lâu đài tráng lệ, nghệ thuật vườn lâu đài lúc này đặt biệt phát triển Cơ cấu vườn chia làm ba phần chính: phần vườn trang trí, phần rào, phần cây ăn quả
Phần vườn trang trí chia làm ba khu vực:
- Khu dạo trực tiếp trước nhà thường bố trí các đường thẳng trồng cây cắt xén hay tạo thành đường kín khoanh các vùng riêng trồng hoa Khu dạo bố trí trên sân cao có thể mở không gian về phía cảnh đẹp xa Các vườn nhỏ như vậy được gọi là Viridarium dùng để tổ chức tiệc trà ngoài trời
- Khu đi chơi bằng xe ngựa hay kiệu có người khiêng
- Khu công viên có thú rừng hay gia cầm mang tính chất rừng chiếm tỷ lệ lớn Vườn La Mã rất phong phú về các loại cây trồng, có những tác phẩm lớn về nghiên cứu lịch sử thiên nhiên, mô tả hàng nghìn loại cây trồng Tuy vậy, khi đế quốc La Mã bị sụp đổ thì vườn cũng bị mai một đi cho đến thời kỳ phục hưng nghệ thuật vườn trang trí ở đây lại phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật vườn – công viên trên thế giới (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1986)
Trang 185
Vườn Ý
Nghệ thuật phản ánh hiện thực, đề cao con người trong ý đồ và thủ pháp bố cục vườn Con người phải có vị trí khống chế thiên nhiên Sử dụng mặt nước với nhiều hình dạng phong phú; tận dụng triệt để địa hình dốc và các độ cao khác nhau
để tạo thác; vườn thường được trải rộng về phía trước và lấy biệt thự làm bố cục chính, các yếu tố hình khối đăng đối qua bố cục này (Hàn Tất Ngạn, 2000)
Trước nhà thường là các parterre hoa với các cột bao quanh, dạng bồn hoa hình học được lặp đi lặp lại trong bố cục vườn với nhiều loại cây có mùa nở hoa khác nhau Cây bóng mát thường được cắt xén theo hình phức tạp Đại diện thời kỳ này, có vườn biệt thự Medici ở Fiesol gần Florence do kiến trúc sư Michelozzo di Bartolommeo thiết kế năm 1455 Thủ pháp bố cục đặc trưng của nghệ thuật vườn - công viên Ý thế kỷ XVI là tổ chức sân vườn theo chiều dài với nhiều cao độ khác nhau, một bên là các hốc tường (thường đặt tượng), một bên là hý trường biểu diễn Sân thường dùng làm sân khấu, vườn xung quanh là phông (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.2.1.2 Ở một số nước phương Đông
Vườn Ai Cập
Xuất hiện từ thế kỷ thứ III trước công nguyên và phát triển rực rỡ nhất vào thời kỳ Tân Vương Quốc, vườn gồm 2 loại chủ yếu: vườn đền và vườn nhà (Hàn Tất Ngạn, 1999)
Vườn Ai Cập có hình thức bố cục cân xứng rõ nét giữa trục dọc và trục ngang, mặt bằng hình chữ nhật, chính giữa vườn là bể nước kích thước lớn đóng vai trò làm trung tâm hoạt động vui chơi giải trí, cây xanh với hình khối cơ bản được dùng
để tạo ra không gian vườn Kiến trúc công trình đóng vai trò chi phối trục trung tâm
bố cục vườn và ngăn chia không gian vườn thành nhiều vườn nhỏ Nhà hoặc lâu đài đều nằm cuối vườn hòa nhập với vườn chủ yếu bằng hành lang bao quanh không gian kín ra không gian nữa mở đến không gian mở (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1996)
Vườn Ấn Độ
Nghệ thuật vườn Ấn Độ nổi bật với 2 đặc điểm chính:
Trang 196
- Bố cục hình học chặt chẽ với mặt nước ở giữa tòa nhà
- Tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật vườn Ấn Độ
Yếu tố thực vật trong bố cục nghệ thuật vườn – công viên Ấn Độ rất đa dạng Với điều kiện thiên nhiên sẵn có: núi cao nhất thế giới, đồng cỏ mênh mông, vùng mưa lại có nhiều sa mạc Đặc trưng của vườn Ấn Độ là hệ thống mặt nước mở rộng, người ta có cảm tưởng như vườn nổi trên mặt nước, có loại vườn gọi là “vườn nổi” Vườn nổi là những “bè” chiều dài 9 m, chiều rộng 2 – 3 m, đắp lớp đất 60 – 70 cm Trên những lớp đất đó có tổ chức cây xanh (thường trồng những loại cây ăn quả) Nổi tiếng nhất Ấn Độ là quần thể công viên cung điện U – dai – pua (1571) Vườn xây dựng trên đảo đá trắng, dưới chân núi đảo là mặt nước tự nhiên, có chổ được cải tạo, cơ cấu vườn bao gồm một hệ thống sân cao Thủ pháp bố cục sân chủ yếu dùng cây to bóng mát trồng đăng đối, tán cây màu thẫm, đổ bóng xuống mặt nước Ở lâu đài trên sân có bể trang trí và lát đá màu, có bồn hoa trồng những khóm hoa (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Vườn Trung Quốc
Nghệ thuật vườn – công viên Trung Quốc là quê hương của xu hướng mô phỏng thiên nhiên phương Đông Đó là một nghệ thuật độc đáo với những nguyên lý:
- Lấy thiên nhiên làm mẫu chính
- Các yếu tố hình thành vườn được bố trí hài hòa
- Vườn Trung Quốc bố cục theo kiểu đi ngắm cảnh Vì thế luôn tạo cảnh thay đổi, bất ngờ Lối đi thường có mái che (trường lang) để sử dụng được cả bốn mùa
- Công trình được bố trí nhiều loại, chiếm tỷ lệ trong vườn Dùng đá tạo thành những tác phẩm trang trí bằng cách ghép nghệ thuật
- Địa hình được nghiên cứu tỷ mỉ
- Nước là một yếu tố không thể thiếu Thường dùng mặt nước làm trung tâm
bố cục vườn…
- Nghệ thuật tạo cảnh đúng thủ pháp gây sự thay đổi trong cảm giác như: tổ chức đồi vực xen lẫn thung lũng, đồng cỏ, dòng nước chảy mạnh xen lẫn mặt nước phẳng lặng, cánh rừng thông tối xen lẫn rừng lá màu sáng tràn ánh nắng
Trang 20Hai đặc điểm rất được chú trọng trong vườn cảnh Trung Quốc là chu kì và đặc tính thay đổi của khu vườn theo từng mùa và tạo nên một cuộc dạo chơi phong cảnh với sự biến đổi về mặt không gian, cảm xúc, vật cảnh (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006) Công viên Trung Quốc chia ra hai cảnh chính: cảnh rùng rợn và hoa tình ca Những cảnh đặc trưng trong cảnh rùng rợn với một mò đá nhân tạo chênh vênh trên vách đá, phía dưới là dòng nước chảy xiết Phong cách biến đổi đột ngột sau lối rẽ của con đường, cây cối um tùm, bất chợt hiện ra một thung lũng lớn tràn ngập hoa tươi cảnh vật với màu sắc và hình thức tương phản làm cho phong cảnh sống động
và sáng sủa, cạnh cây liễu rũ thướt tha là hàng thông xanh thẳng tắp Hoa tình ca lãng mạng là sự gợi buồn man mác của cảnh vật Nhân tố gợi cảm chủ yếu có thể là hòn đá nhỏ với túp lều nên thơ, chiếc cầu cong cong hay những cành liễu ngã bóng xuống mặt nước trong xanh (Hàn Tất Ngạn, 2000)
Trang 218
Hình 1.2 Vườn Trung Quốc với thác nước nhân tạo
Nguồn: http://hn.24h.com.vn/du-lich/long-lanh-vuon-trung-hoa-c76a379545i47279.html
Vườn Nhật Bản
Người Nhật đã chịu ảnh hưởng xu hướng nghệ thuật vườn Trung Quốc nhưng
để phù hợp với kiểu thiên nhiên đất nước mình họ đã tạo nên kiểu nghệ thuật phong cảnh đặc sắc với những nguyên lý riêng: phong cảnh vườn cổ Nhật không phải đi vào ngắm mà để ngồi thưởng thức Vì vậy không gian vườn chan hòa với không gian bên trong nhà (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Vườn được xem như một phần của nhà Người Nhật thích giữ nguyên phong cảnh đất nước mình, để đạt được ý nguyện họ đã thu nhỏ thiên nhiên tạo thành những bức tranh hoàn chỉnh để ngắm Người Nhật đã dùng thủ pháp tượng trưng cao: thiên nhiên đôi khi chỉ biểu hiện dáng dấp (dòng suối, con sông, thác đổ) Nghệ thuật vườn Nhật độc đáo nhất là tạo cảnh khô Nổi tiếng trên thế giới có vườn Ryoan-ji Vườn chỉ có hai yếu tố cát trắng hạt to và đá Cát chỉ dùng bừa để chải giả làm sóng biển Trên thảm cát đó sắp xếp một cách nghệ thuật những nhóm đá tượng trưng đất nước đảo (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1986)
Trang 22Bố cục vườn Nhật sử dụng không gian mở là chủ yếu, vườn Nhật hạn chế dùng cây Cây trong vườn Nhật được nghiên cứu tỉ mỉ dưới các dạng:
- Cây để mọc tự nhiên Thường dùng loại lá xanh quanh năm như cây thông hình ô
- Cây hãm với tỷ lệ bé hài hòa với mảnh vườn nhỏ (đó là nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao)
- Rêu và cỏ hầu như không thể thiếu được trong vườn Nhật Đặc tính chung của vườn Nhật là bố cục tạo nên sự mềm mại đặc sắc; màu lục xám bao trùm khắp vườn mang tính chất cổ kính nên thơ Vườn Nhật bố cục theo 3 phong cách:
Phong cách Xin: đơn giản, phẳng
Phong cách Xô: phức tạp, có đồi
Phong cách Djiô: địa hình phức tạp có núi đồi, sông, suối
Trang 2310
Trong nghệ thuật vườn – công viên, nguyên tắc “Xin” phản ánh chân thực và chính xác việc thể hiện cảnh Nguyên tắc bán tượng trưng là phong cách “Djiô”, còn nguyên tắc “Xô” là sự tượng trưng thuần túy, cô đọng cực độ nhưng hình thức hết sức truyền cảm (Hàn Tất Ngạn, 2000)
1.2.2 Nghệ thuật vườn – công viên Việt Nam
Vườn cảnh Việt Nam thời phong kiến đã chịu ảnh hưởng bởi phong cách vườn cảnh của Trung Quốc Và từ nữa sau thế kỷ XIX đến nay thì công viên lại làm theo kiểu Pháp
Theo Nguyễn Phi Hoanh viết trong “Nghệ thuật vườn hoa Việt Nam” được trích dẫn bởi Vương Ngọc Đăng Khoa, 2011 thì vườn hoa cổ điển của nước ta có các nguyên liệu như: nước, cây, đá,… Với các nguyên liệu này, nghệ sĩ vườn hoa đã sáng tạo ra những cảnh lý tưởng cho con người Cảnh lý tưởng ấy phải có hòn giả sơn, có ao thanh hà, có cây cổ thụ, có những lối đi khúc khuỷu như trong rừng lớn
Nó phải có đình, có tạ để khách nghỉ chân, có những cầu qua dòng nước để khách dừng lại ngắm hoa sen hay là xem cá lội
Muốn cho người dạo chơi có cảm giác như đứng trước một cảnh thiên tạo, người ta không xây đá ngay thẳng quanh bờ hồ hay bờ suối, mà thường để cho nó nhô ra, lõm vào như thiên nhiên Các khóm hoa mọc chen vào những khe đá hay ở
mé nước Lối đi khi rộng khi hẹp, khi lên gò khi xuống dốc, khi đi quanh theo gốc
cổ thụ như một khu rừng núi ít có bàn tay người sửa đổi Cũng có khi con đường xuyên qua đám cây rậm rạp có vẻ huyền bí, lại cũng có khi nó dẫn đến một gian phòng bằng cây lá cho người ngồi nghỉ chân trò chuyện lúc trời oi bức
Để tăng thêm vẻ tự nhiên cho cảnh vật, nghệ sĩ vườn hoa bao giờ cũng đắp thành nhiều chỗ lồi lõm, khấp khểnh trên mặt đất vườn hoa Điểm kị nhất của vườn hoa là mặt đất bằng phẳng Người ta đào thêm hồ, khai dòng nước, lấy đất đắp thành những ngọn đồi nhỏ để tránh cái đơn điệu của mặt bằng Nói tóm lại, vườn hoa Việt Nam là tác phẩm miêu tả chân thực theo một cảnh thiên nhiên thích thú Thật ra, vườn cảnh Việt Nam cũng đã có truyền thống lâu đời nhưng vì các lý
do khách quan cũng như chủ quan mà chúng tồn tại rất ít Các lăng tẩm, vườn tĩnh
Trang 24Cũng chính vì vậy mà hiện nay nghệ thuật cảnh quan của nước ta đang tồn tại nhiều hình thức khác nhau:
Xu hướng vườn cây cắt xén hình học
Chịu ảnh hưởng của nghệ thuật cắt xén phương Tây, nhưng người Việt Nam khi áp dụng đã phát triển thêm loại hình cắt uốn cây theo các hình con vật (rồng, chim, hươu,…) và hiện nay vẫn còn áp dụng nhiều trong các công viên công cộng, các mặt nước trụ sở với hình thức cây thể hiện chữ
Hình 1.4 Cây cắt và uốn hình con Rồng
Nguồn: http://nhavuonmientay.com/kieng-thu/
Xu hướng cảnh quan phong cảnh đồng quê
Đây là một trào lưu nổi rộ hiện nay, đặc biệt là trong các khu resort, các khu
du lịch sinh thái, các quán ăn cũng như nhà ở trong đô thị Những khu đất được quy hoạch với mạng đường tự do với những mảng cỏ rộng trên đó bố trí các tiểu cảnh mang các chủ đề về miền quê Việt Nam như bụi tre, cau, chuối, lu đất, thuyền hoa,
xe thồ, guồng quay nước Tây Nguyên,… Thật sự, đây là một phát triển tích cực
Trang 25Xu hướng cảnh quan kết hợp kỹ thuật
Là hình thức các chậu cây được xếp trên các khung sườn sắt hình chữ nhật, kim tự tháp, hình cầu,… Đây là hình thức được áp dụng để trang trí đường phố trong các ngày lễ hội, một số trục đường, trục chính đón tiếp của khu du lịch hay vườn hoa trung tâm khu ở, đô thị,… mà cần thiết phô trương sự hào nhoáng bên ngoài hoặc phục vụ cho nhu cầu trưng bày ngắn hạn (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Hình 1.6 Đường hoa Nguyễn Huệ - Thành phố Hồ Chí Minh 2010
Nguồn: http://travellive.vn/2011/02/duong-hoa-nguyen-hue-2011-chao-don-xuan-tan-mao/
Trang 261.3.2 Bố cục tự do
Trong trường hợp địa hình phức tạp, để tránh san lấp nhiều, thể hiện sự đa dạng, phong phú và sống động của cảnh quan thiên nhiên thường sử dụng quy luật của bố cục tự do Bố cục tự do có hệ thống đường, mặt nước, rừng thưa… dường như được mô phỏng từ cảnh quan thiên nhiên Những con đường ngoằn ngoèo, uốn lượn quanh co với đường bờ, mặt nước lúc tô lúc nhỏ… đã mang lại những cảm giác về phong cảnh tự nhiên (Hàn Tất Ngạn, 2000)
1.3.3 Bố cục kết hợp đối xứng và tự do
Tổ chức không gian vừa theo dạng hình học đối xứng vừa theo dạng tự do Dạng bố cục này thường xử lý đăng đối trên trục chính có những công trình, còn bao cảnh theo bố cục tự do Cảnh quan theo kiểu bố cục này thường theo nguyên tắc cận cảnh đối xứng, viễn cảnh tự do (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.3.4 Trung tâm và bố cục chính phụ
Một số nơi trong vườn – công viên tập trung công trình có chức năng quan trọng hay có giá trị thẩm mỹ cao, đã chi phối cách tạo cảnh của toàn bộ khu vực lân cận Các trung tâm và yếu tố tạo cảnh có mối quan hệ lẫn nhau thông qua hệ thống trục bố cục Có thể trùng với đường đi hoặc chỉ là trục ảo bao gồm trục bố cục chính và phụ Trục bố cục có thể thẳng hay cong, theo dạng hình học cân xứng hoặc
tự do, chính hay phụ tùy thuộc vào chủ đề, tư tưởng của vườn – công viên và điều kiện địa hình (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Trang 2714
Trung tâm công viên thường là các công trình kiến trúc có quy mô đồ sộ, hình tượng nghệ thuật độc đáo, có tính tư tưởng cao Các trung tâm phụ có ý nghĩa hỗ trợ cho trung tâm chính và làm phong cảnh ở các vùng mà ảnh hưởng của trung tâm chính không tới Việc phân định trung tâm chính phụ sẽ thu hút chú ý đến những điểm cảnh nhất định, thưởng thức nghệ thuật phong cảnh có trình tự và định hướng hơn (Hàn Tất Ngạn, 2000)
1.4 CÁC QUY LUẬT CỦA NGHỆ THUẬT CẢNH QUAN
1.4.1 Quy luật hài hòa
Là quy luật cơ bản nhất trong nghệ thuật cảnh quan, bao gồm hài hòa đồng nhất và hài hòa tương tự Hài hòa đồng nhất biểu hiện sự thống nhất cùng một nhịp điệu, hình khối, bề mặt hay màu sắc, sử dụng nhân tố tiêu chuẩn hóa (module) làm
cơ sở cho tất cả các không gian Hài hòa tương tự được thực hiện bằng cách lặp đi lặp lại các yếu tố tương tự nhau về hình dáng và không gian, nó biểu hiện sự thống nhất đa dạng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1997)
1.4.2 Quy luật cân bằng
1.4.2.1 Cân bằng đối xứng
Theo Hà Nhật Tân, 2006 cân bằng đối xứng được tạo nên do sự bố trí đối xứng qua trục hoặc các yếu tố hoàn toàn giống nhau về mọi mặt (hình dáng, chất liệu, màu sắc, quy mô) Nó cố định và có thể dự đoán được, tạo nên cảm giác ngay ngắn, trang trọng và thuyết phục của tự nhiên Tuy nhiên, cách bố trí này thường đơn điệu và thiếu biến hóa
1.4.2.2 Cân bằng không đối xứng
Cân bằng không đối xứng được lập nên do sự bố trí không đối xứng nhưng cân xứng do các yếu tố bố trí có sức hút bằng nhau (tạo cân bằng trong thị lực cho người thưởng ngoạn) Nó thường không định hình, linh động và tự nhiên, tạo ra cảm giác động và lạ (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1997)
1.4.2.3 Cân bằng đối tâm
Đó là cách bố trí những phần tử đối xứng nhau xung quanh một trục trung tâm Từ bất kỳ góc độ nào trong khu vực chúng ta cũng thấy nổi bật khu vực chính, kiểu bố trí này chỉ thích hợp khi xây dựng các đài phun nước, bồn hoa chính, hạn
Trang 2815
chế bố trí ở những sân vườn có diện tích nhỏ (Huỳnh Thị Nhẫn, 2008, được trích dẫn bởi Vương Ngọc Đăng Khoa, 2011)
1.4.3 Quy luật tương phản
Là quy luật biểu hiện sự đối lập của các yếu tố hình khối và hiện tượng Trong phong cảnh vườn – công viên là sự tương phản của bóng râm với khoảng sáng rực
rỡ rừng thưa hay sân bãi, của màu xanh lá với màu đỏ hoa, đường nét hình học của kiến trúc công trình với dáng dấp mềm mại, uyển chuyển của mảng cây, đường bờ mặt nước… Việc bố trí xen kẽ giữa chúng nhằm mang đến sự tươi vui cho khu vườn Tuy nhiên, nếu sử dụng tương phản quá mức sẽ làm cho sân vườn trở nên rối Nếu lượng tương phản ngang nhau sẽ gây nên “tranh chấp” phá vỡ hài hòa chung của vườn – công viên Vì thế, trong thực tế một số lớp cảnh trung gian được bố trí xen kẽ, nối các yếu tố và hiện tượng tương phản (Hàn Tất Ngạn, 2000)
1.4.4 Quy luật cân đối và nhất quán
Là quy luật đảm bảo sự tương quan hợp lý giữa bộ phận và toàn thể, giữa ý đồ phụ và ý đồ chính, giữa đối tượng phụ và đối tượng chính Cân đối về mặt bố cục và các thành phần tạo cảnh Tuy nhiên, về mặt hình khối, màu sắc cần có sự nhất quán giữa các yếu tố phụ và chính để tổng thể được hài hòa và nổi rõ chính – phụ (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Ngoài việc sử dụng các quy luật trong thiết kế chúng ta cần vận dụng những xảo thuật nhằm làm tăng sự chú ý về thị lực Đối với những công viên rộng sẽ đem đến cho người ta cảm giác thông thoáng nhưng có những công viên nhỏ không thể
bố trí với đầy đủ các phân khu chức năng chỉ có thể bố trí các dạng tiểu cảnh Tuy
là tiểu cảnh nhưng phải đảm bảo sự hài hòa hợp lý, những điểm nhấn trong bố cục của toàn tiểu cảnh đó (Huỳnh Thị Nhẫn, 2008, được trích dẫn bởi Vương Ngọc Đăng Khoa, 2011)
Theo Huỳnh Thị Nhẫn (2008, được trích dẫn bởi Vương Ngọc Đăng Khoa, 2011) cho rằng việc sử dụng những xảo thuật cần thiết sẽ làm tăng kích thước của tiểu cảnh, vật thể và làm tăng diện tích của cả khu vườn – công viên, thông qua cách
sử dụng những xảo thuật về màu sắc đậm nhạt, ánh sáng hoặc sự tương phản về màu sắc
Trang 2916
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
- Bản vẽ mặt bằng tổng thể của căn biệt thự khu đô thị Phú Cường – TP Rạch Giá – Kiên Giang
- Hình ảnh hiện trạng của căn biệt thự
- Phần mềm vẽ: Autocad, Sketchup, Photoshop
- Máy ảnh, máy vi tính, thước đo, giấy vẽ, bút
- Các loại tài liệu liên quan đến thiết kế cảnh quan
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Khảo sát hiện trạng
- Chụp hình hiện trạng khu đất
- Tiến hành đo vẽ mặt bằng
- Dựa vào bản vẽ tổng thể khảo sát địa hình của khu đất
- Phân tích địa hình khu đất, xác định phân khu chức năng cho từng khu vực
- Xác định hướng nắng và hướng gió ảnh hưởng tới công trình
- Phân tích phong cách của ngôi biệt thự dựa theo bản vẽ phối cảnh của bản vẽ xây dựng
2.2.2 Nhu cầu gia chủ
Nắm bắt được yêu cầu của gia chủ:
- Gia chủ yêu cầu trong bản thiết kế phải có vườn rau sạch và vườn cây ăn quả
2.2.3 Thiết kế
- Thiết lập sơ đồ công năng cho các khu vực cần thiết kế
- Sử dụng các phần mềm tin học về đồ họa như: AutoCAD, Sketchup, Photoshop để hoàn thiện bản vẽ
- Định danh và đề xuất những loại cây xanh phù hợp
- Thuyết minh bản thiết kế
Trang 3017
2.2.4 Dự toán kinh phí
Đưa bảng dự toán kinh phí gồm:
- Chi phí mua vật tư xây dựng, cây xanh
- Chi phí vận chuyển
- Chi phí nhân công
- Chi phí bảo dưỡng
- Một số chi phí khác
Trang 3118
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 HIỆN TRẠNG KHU VỰC THIẾT KẾ
3.1.1 Vị trí giới hạn
của khu đô thị Phú Cường, với giao thông chính là đường Tôn Đức Thắng
- Hướng Tây – Bắc tiếp giáp với đường giao thông số 2
- Hướng Tây – Nam giáp với đường giao thông số 4
- Hướng Đông – Bắc và Đông – Nam giáp với 2 dãy biệt thự liền kề
3.1.2 Hiện trạng xây dựng kết cấu công trình
Hiện trạng khu vực thiết kế vẫn đang là một khu đất trống, vừa được san lấp Đường giao thông thuận tiện cho việc vận chuyển
Hình 3.1 Hiện trạng công trình Biệt thự Phú Cường
3.1.3 Hiện trạng cây xanh trong khu vực thiết kế
Chưa có cây xanh trong và ngoài khu vực thiết kế
Trang 3219
3.2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ KHU VỰC THIẾT KẾ
3.2.1 Phân khu chức năng
Dựa vào việc khảo sát hiện trạng và bản vẽ xây dựng khu vực thiết kế được chia làm 2 phần chính:
- Phần trước: Là phần mặt tiền của ngôi biệt thự, gồm góc nhìn 1 và góc nhìn 2
- Phần sau: gồm vườn cây ăn trái và sân sau, được chia làm góc nhìn 3 và góc nhìn 4
Hình 3.2 Các khu vực sẽ tiến hành thiết kế 3.2.2 Phân tích hướng
- Phân tích hướng nắng
Hướng nắng từ Đông sang Tây nhưng phía Đông thì được che chắn bởi dãy biệt thự liền kề, vì vậy nắng chỉ ảnh hưởng ở phía Tây, ngay góc nhìn 2 bị ảnh hưởng nên cần bố trí cây lớn để che chắn bớt
- Phân tích hướng gió
Thay đổi theo mùa: