TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG ĐẶNG MINH LUÂN Tên đề tài: NHÂN GIỐNG CÂY LỘC VỪNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT VÀ GIÂM CÀNH Barringtoria acutangula L... TRƯỜN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐẶNG MINH LUÂN
Tên đề tài:
NHÂN GIỐNG CÂY LỘC VỪNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
CHIẾT VÀ GIÂM CÀNH
(Barringtoria acutangula L Gaertn)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH HOA VIÊN & CÂY CẢNH
Cần Thơ, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
ĐẶNG MINH LUÂN
Tên đề tài:
NHÂN GIỐNG CÂY LỘC VỪNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
CHIẾT VÀ GIÂM CÀNH
(Barringtoria acutangula L Gaertn)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH HOA VIÊN & CÂY CẢNH
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Hoa Viên Cây Cảnh với đề tài:
NHÂN GIỐNG CÂY LỘC VỪNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
CHIẾT VÀ GIÂM CÀNH (Barringtoria acutangula L Gaertn)
Do sinh viên Đặng Minh luân thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng năm2012
Cán bộ hướng dẫn 1 Cán bộ hướng dẫn 2
Trang 4ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
NHÂN GIỐNG CÂY LỘC VỪNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
CHIẾT VÀ GIÂM CÀNH (Barringtoria acutangula L Gaertn)
Do sinh viên ĐẶNG MINH LUÂN thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở
mức:………
Ý kiến hội đồng:
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 DUYỆT CỦA KHOA Thành viên 1 Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Thành viên 2
Thành viên 3
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và thầy hướng dẫn Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Đặng Minh luân
Trang 6Nơi sinh: Cai Lậy – Tiền Giang
Họ và tên cha: Đặng Văn Phương
Họ và tên mẹ: Lê Thị Ly
Quê quán: ấp Bình Nam, xã Bình Hòa Trung, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An
2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1996 - 2001: Trường Tiểu Học Bình Hòa Trung
2001 - 2005: Trường Trung Học Cơ Sở Tân Lập
2005 - 2008: Trường Trung Học Phổ Thông Mộc Hóa
2008 - 2012: Trường Đại Học Cần Thơ Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Ngành Hoa Viên và Cây Cảnh, khóa 34 Tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Nghiệp chuyên ngành Hoa Viên Cây Cảnh năm 2012
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012 Người khai
Đặng Minh luân
Trang 7v
LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Minh Chơn và thầy Nguyễn Trọng Cần đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để em thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Kính dâng cha mẹ, những người suốt đời tận tụy vì tương lai chúng con Xin cảm ơn những người thân giúp đỡ, động viên con suốt trong thời gian qua
Chân thành cảm tạ cố vấn học tập thầy Phạm Phước Nhẫn, cô Lê Minh Lý, cùng với tất cả quý thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức vô cùng quý báu đã truyền đạt cho chúng em trong suốt thời gian học tại trường Đây sẽ
là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời
Gửi lời cảm ơn đến các bạn Cường, Nương, Vinh, Thanh Long, Duy, Cảnh, Lành, Nhàn, Muội, Ngân, Nga, bé Tâm, Trúc, anh Ninh, anh Nhân, bác Hai, các bạn lớp Hoa Viên và Cây Cảnh khóa 34 cùng với thầy Lê Văn Hai đã đóng góp, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và thực hiện đề tài
Trang 8vi
MỤC LỤC
Tựa
Trang Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm tạ v
Mục lục vi
Danh sách bảng viii
Danh sách hình ix
Bảng chữ viết tắt x
Tóm lược xi
Phụ lục xii
Trang 9vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI 2
1.1.1 Nguồn gốc cây lộc vừng 2
1.1.2 Đặc điểm hình thái của cây lộc vừng 2
1.2 CÁC GIÁ TRỊ CỦA LỘC VỪNG 4
1.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC 4
1.4 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHIẾT CÀNH VÀ GIÂM CÀNH 4
1.4.1 Chiết cành 5
1.4.2 Giâm cành 6
1.4.2.1 Chọn cành giâm 6
1.4.2.2 Yêu cầu về điều kiện môi trường cho cành giâm 7
1.4.2.3 Cơ sở sinh học của phương pháp giâm cành 10
1.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯƠNG LÊN SỰ THÀNH LẬP RỄ 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 PHƯƠNG TIỆN 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP 15
2.2.1 Thí nghiệm 1: ảnh hưởng của NAA lên sự ra rễ của cành chiết 16
2.2.2 Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của NAA lên sự ra rễ của cành giâm 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 25
4.1 KẾT LUẬN 25
4.2 ĐỀ NGHỊ 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 10viii
DANH SÁCH BẢNG
Tựa bảng
Trang Bảng 3.1 Hiệu quả của NAA lên tỷ lệ ra rễ của cành chiết 19
Bảng 3.2 Hiệu quả của NAA lên tỷ lệ ra rễ của cành giâm 20
Bảng 3.3 Hiệu quả của NAA lên chiều dài rễ của cành giâm 22
Bảng 3.4 Hiệu quả của NAA lên số rễ của cành giâm 23
Bảng 3.5 Hiệu quả của NAA lên số lá của cành giâm 24
Trang 12x
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
NSKG: Ngày sau khi giâm
NSKC: Ngày sau khi chiết
NAA : Naphthalene acetic acid
NT : Nghiệm thức
Trang 13xi
ĐẶNG MINH LUÂN “Nhân giống cây lộc vừng bằng phương pháp chiết và
giâm cành (Barringtoria acutangula L.Gaertn)” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư
ngành Hoa Viên và Cây Cảnh, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng Dẫn: PGs.Ts Nguyễn Minh Chơn và Ths Nguyễn Trọng Cần
TÓM LƯỢC
Cây lộc vừng hay còn gọi là cây mưng, cây chiếc (Barringtoria acutangula L
Gaertn) với bộ rễ dày, sum suê, thân gốc lưu niên, có tuổi thọ hàng trăm năm, hoa đỏ rực, thơm ngát, thân có vỏ dày, sần sùi, gân guốc tạo dáng thế một cây bonsai, cây cảnh đẹp Lộc vừng được giới chơi cây cảnh xếp trong bốn loại cây quý theo phong thủy phương đông là: sanh – sung – tùng – lộc, hay “bộ tam đa” với 3 loại cây: sung – lộc vừng – vạn tuế Lộc Vừng rất được nhiều người ưa thích Hiện nay, tài liệu nói về nhân giống hay xử lý ra hoa cây lộc
vừng cũng không nhiều Đề tài “Nhân giống cây lộc vừng bằng phương
pháp chiết và giâm cành” đã được thực hiện nhằm mục tiêu: Tìm ra nồng độ
NAA thích hợp để nhân giống cây lộc vừng bằng cách chiết và giâm cành nhằm sản xuất và làm tài liệu cho việc nghiên cứu sau này Cả hai thí nghiệm chiết và giâm cành đều được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với năm nghiệm thức, bốn lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 10 cành NAA được xử lý để kích thích tạo rễ cành chiết và cành giâm với bốn nồng độ là
600, 800, 1000 và 1200ppm Ở nghiệm thức đối chứng không có xử lý NAA Kết quả NAA ở nồng độ 800-1200 ppm có tác dụng làm tăng tỷ lệ ra rễ của cành chiết sau 55 ngày quan sát với tỷ lệ 83,3- 90% Xử lý NAA ở nồng độ 800-1200 ppm đã làm tăng tỷ lệ cành ra rễ (15- 25%) và chiều dài rễ (1,7-5,1cm), NAA có tác dụng tạo rễ cành giâm lộc vừng sau 35 ngày giâm, trong khi đó không có sự tạo rễ ở đối chứng Đề nghị có thể áp dụng NAA ở nồng
độ 800 ppm trong việc chiết và giâm cành cây lộc vừng Tiếp tục nghiên cứu cải thiện thêm điều kiện giâm cành để tăng tỷ lệ ra rễ của cành lộc vừng
Trang 141
MỞ ĐẦU
Cây lộc vừng hay còn gọi là cây mưng, cây chiếc (Barringtoria acutangula L
Gaertn) với bộ rễ dày, sum suê, thường mọc ở sát bờ sông, suối, có tác dụng giữ đất,
giữ bờ rất tốt Lộc vừng được giới chơi cây cảnh xếp trong bốn loại cây quý theo phong thủy phương đông là sanh – sung – tùng – lộc và bộ tam đa với 3 loại cây như sung – lộc vừng – vạn tuế Cây lộc vừng có thân gốc lưu niên, có tuổi thọ hàng trăm năm, hoa đỏ rực, thơm ngát, thân có vỏ dày, sần sùi, gân guốc tạo dáng thế một cây cảnh đẹp rất tự nhiên Lộc vừng ra hoa rất đẹp, hoa kết nụ từng chuỗi dài buông lững lờ quanh thân cây Khi lộc vừng nở hoa, dọc theo sông, suối rực lên màu đỏ tím xác pháo như những chuỗi ngọc điểm đong đưa soi bóng, hoa rơi lấm tấm theo dòng nước, tạo nên khung cảnh thơ mộng Giới chơi cây cảnh quan niệm lộc vừng mang lại tài lộc cho gia chủ Ngoài ra, lộc vừng còn có giá trị y học như quả lộc vừng ép nước bôi chữa bệnh chàm và ngâm rượu trị nhức răng, vỏ cây chứa nhiều tannin dùng chữa bệnh tiêu chảy, đau bụng Lộc vừng có rất nhiều giá trị, được nhiều người ưa thích nhưng tài liệu nhân giống còn ít và chưa có số liệu thống
kê chính xác Vì vậy, đề tài “Nhân giống cây lộc vừng bằng phương pháp chiết
và giâm cành” đã được thực hiện nhằm mục tiêu là tìm ra nồng độ NAA thích hợp
để nhân giống cây lộc vừng bằng cách chiết và giâm cành nhằm sản xuất và làm tài liệu cho việc nghiên cứu sau này
Trang 152
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc và đặc điểm hình thái cây lộc vừng
1.1.1 Nguồn gốc cây lộc vừng
Lộc vừng, còn gọi là chiếc hay lộc mưng là loài cây bản địa của các vùng đất ẩm ven biển Nam Á và Bắc Úc, từ Afghanistan đến Philippin và Queensland
(www.wikipedia.com) Tại Đông Nam Á, loài này phân bố ở Việt Nam, Lào,
Campuchia, Thái Lan Ở Việt Nam, cây mọc khắp nơi, từ Bắc vào Nam ra tới Côn
Đảo (www.wikipedia.com)
Phân bố địa lý
Cây phân bố ở Ấn độ, Malaixia, Thái lan, Lào, Campuchia và Việt nam Ở nước ta,
có gặp từ Kontum, Gia lai, Đắc lắc, Lâm đồng, Đồng nai, Bình phước đến Tây ninh (Võ Văn Chi, 2003) Cây mọc trong rừng rậm hay rừng thưa và chủ yếu là ở các trảng cỏ nhất là cỏ tranh hoặc là rừng hỗn giao cây lá rộng, lá kim với dầu và thông (Võ Văn Chi, 2003) Lộc vừng là cây nhiệt đới châu Á, phân bố ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Xri Lanca, Mianma và Việt Nam Ở Việt Nam, Lộc vừng phân bố rải rác ở các tỉnh trung du, vùng núi thấp và đôi khi ở đồng bằng như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa… Là loại cây gỗ thường xanh, mọc ở gần bờ nước hay ven rừng ẩm Cây ra hoa quả nhiều hàng năm Lộc vừng có khả năng tái sinh vô tính khỏe, gốc bị mất rễ vẫn có thể sống khỏe và sinh trưởng, phát triển tốt trong môi trường có đủ nước Mùa hoa tháng 7, mùa quả tháng 9
(http://www.uphcm.edu.vn)
1.1.2 Đặc điểm hình thái cây lộc vừng
Lộc vừng có tên khoa học là Barringtoria acutangula L Gaertn là một loài thuộc
chi Lộc vừng (Phạm Hoàng Hộ, 1999) Họ Lecythidaceae (Võ Văn Chi, 2003) Lộc
vừng là một họ của khoảng 25 chi và 310 - 322 loài thực vật thân gỗ, chủ yếu là bản
địa của vùng nhiệt đới Nam Mỹ và Madagascar (www.wikipedia.com) Cây ưa sáng,
ưa ẩm nhưng có khả năng chịu hạn thường mọc phân tán ở chân sườn đồi, núi hay dọc các khe suối trong rừng Cây ra hoa tháng 3 – 4, quả chín tháng 7-
8(http://220.231.117.38/bc/index.php?)
Theo Võ Văn Chi ( 2003), gồm 4 loài ở vùng nhiệt đới châu Á, ở nước ta có 2 loài:
Trang 163
+ Arborea Roxb – Vừng quả xoan, Vừng
+ Sphaerica Roxb – Vừng quả cầu, Mung, Tan vàng
Vừng quả xoan, Vừng (loài Arborea Roxb)
Theo Võ Văn Chi (2003), cây thân gỗ cao 10-12m có lá rụng vào mùa khô, thân không thẳng vỏ nứt dọc Lá có phiến hình trái xoan ngược, dài 10-15cm, rộng 6-8cm đầu trong, gốc thon dần về phía cuống; mép có răng tù, gân bên 7-9đôi Cụm hoa bông dài 50-10cm Hoa không cuống, to, màu xanh Nhị nhiều các nhị phía trong lép Quả hình trái xoan, cao 3-3,6cm, rộng 2cm, mang lá đài đứng, có lông mịn; hạt không nhiều, to bằng hạt đậu
Vừng quả cầu, Mung, Tan vàng (loài Sphaerica Roxb)
Theo Võ Văn Chi (2003), cây gỗ lớn cao 10-25m, có lá rụng vào mùa khô; vỏ nứt dọc, thịt vỏ đỏ hồng, lá mọc so le hình trái xoan ngược hay bầu dục, thon dẹp trên cuống, tù hay có mũi nhọn rất ngắn, dài 10-30cm, rộng 5-15cm, nhẵn, rất dai, mép lượn sóng, gân bên 6-18 đôi, cuống lá to, dài 3cm Cụm hoa bông ở ngọn dài 5-10cm, gồm 6-12 đóa hoa to Đài có cuống hình trụ hay trứng với 4 thùy, ít khi 5; cánh hoa 4 hay 5, hình trứng, cao 2,5cm, nhị rất nhiều màu đỏ, bầu dưới 4 ô, vòi nhị dạng sợi Quả hình cầu, đường kính 4-6cm, nạc hơi có xơ, hạt không nhiều, hình
bầu dục dài
Hoa thức và hoa đồ:
Hình 1.1 Hoa thức hoa đồ (http://www.uphcm.edu.vn)
Trang 17
4
1.2 CÁC GIÁ TRỊ CỦA LỘC VỪNG
Giá trị cảnh quan
Cây có thân gốc lưu niên, có tuổi thọ hàng trăm năm, hoa đỏ rực, thơm ngát, thân có
vỏ dày, sần sùi, gân guốc tạo dáng thế một cây bonsai, cây thế rất đẹp và tạo được
vẻ tự nhiên Lộc vừng ra hoa rất đẹp, hoa kết nụ từng chuỗi dài buông lững lờ
quanh thân cây Khi lộc vừng nở hoa, dọc theo sông, suối rực lên màu đỏ tím xác
pháo như những chuỗi ngọc điểm đong đưa soi bóng, hoa rơi lấm tấm theo dòng
nước, tạo nên khung cảnh thơ mộng Vì vậy, lộc vừng còn được trồng làm cây cảnh,
cây bóng mát trong các công viên, vườn hoa, đình chùa, nhà dân.Thân cây Lộc
vừng sần sùi, nhiều u bướu gợi cảm giác mộc mạc, dân dã và từng trãi Cành dẻo
dai dễ uốn Lá hơi to nhưng thuôn, xanh mướt, mép có răng cưa nên không thô mà
vẫn duyên, đặc biệt khi nảy lộc lại có màu sắc đặc trưng của "lộc" Khi hoa nở có
hương thơm, hoa buông thành bức màn, màu hồng tươi, trông thướt tha, mềm mại,
quyến rũ, tương phản với dáng mộc mạc, cũ kĩ của thân cành càng làm nổi bật nét
đẹp riêng chỉ cây lộc vừng mới có
Các giá trị khác của lộc vừng
Gỗ dùng tương tự nhóm gỗ nhóm VI, màu nâu, rắn, nặng có thể dùng để đóng đồ
đạc, xây dựng nhà, lá non ăn được Ngoài ra cây còn có giá trị về y học như: Quả
lộc vừng xanh ép nước bôi chữa chàm hoặc ngâm rượu trị nhức răng Vỏ cây chứa
nhiều tanin, dùng chữa bệnh tiêu chảy, đau bụng (http://220.231.117.38/bc/index)
Các lá non được dùng ăn sống như rau (Võ Văn Chi, 2003)
1.3 THÀNH PHẦN HÓA HỌC
Quả chứa 6,31% protein, 0,35% chất béo, 1,33% đường, 4,08% tinh bột, 2,26%
tanin, 2 saponin (1 chất là chất độc) Hạt chứa một glucosid triterpenoid là 2, 3,
19-trihydroxyolean-12-en-23,28-dioic acid28-O-glucopyranosid và các saponin
(http://www.uphcm.edu.vn)
1.4 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHIẾT CÀNH VÀ GIÂM CÀNH
Boaklence (1965 ) cho biết tính khó ra rễ gia tăng theo sự gia tăng theo quá trình tạo
sợi libe trong thân già Những thí nghiệm của Went (1933) cho biết những hom
không chồi thì không ra rễ, ngay cả khi chúng được xử lý auxin đầy đủ Theo
Scentenuyer (1942) cùng điều kiện sương mù, các cành giâm còn non luôn cho rễ
nhiều hơn cành trưởng thành So sánh giữa cành non và cành già của cây táo
Beaklance (1965) cho thấy phần gốc thân non của cây táo con tương đối không có
Trang 185
tế bào sợi libe hóa cương mô sơ cấp so với nơi cho trái ở cây trưởng thành Nhận xét này cho thấy có sự liên hệ giữa giải phẫu học và khả năng tạo rễ, bởi vì sự thiếu khả năng ra rễ trãi qua thời kỳ từ non sang già
1.4.1 Chiết cành
Nguyên tắc chiết cành
Theo Lâm Ngọc Phương (2009), nguyên tắc chính của phương pháp chiết cành là
sự cắt đứt sự vận chuyển xuống gốc của các sản phẩm quang hợp (đường, chất điều hòa sinh trưởng, kích thích tố và các chất biến dưỡng) nhưng đồng thời giảm tối thiểu sự gián đoạn vận chuyển hướng ngọn của nước để thực hiện cho các chức năng quang tổng hợp, trao đổi chất… trong quá trình tạo rễ Lý tưởng nhất là tối đa hóa sự cắt dòng đi xuống trong libe và tối thiểu hóa sự gián đoạn của dòng đi lên trong mô gỗ
Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành khoanh vỏ, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài
Kỹ thuật chiết cành
Chọn cành
Theo Lâm Ngọc Phương (2009), khi chiết nên chọn cây giống tốt, ở thời kỳ sinh trưởng khỏe, cây có năng suất cao quả to, hoa đẹp và không có sâu bệnh nguy hiểm gây hại Trước khi chiết cành cần chăm sóc cây mẹ 1-2 tháng để cây mẹ sinh trưởng khỏe, nhựa trong cây lưu thông mạnh, cành chiết nhanh ra rễ
Thời vụ chiết
Theo Lâm Ngọc Phương (2009), thời vụ chiết ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tạo
rễ của cành chiết, nếu chiết đúng kỹ thuật, cành chiết sẽ ra rễ sau 3-4 tháng Mùa chiết cần có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, rễ sẽ dễ mọc ra, nhiệt độ trung bình từ 20-
300C cần thiết cho việc ra rễ Nhiệt độ càng tăng và ẩm độ không khí cao rễ mọc ra càng nhanh Ở đồng bằng sông Cửu Long, thời vụ chiết thích hợp khoảng từ tháng 12-3 dương lịch hằng năm để trồng vào vụ mưa kế Thời vụ chiết thích hợp cho các chủng loại hoa kiểng là vụ xuân và vụ thu
Trang 196
Vật liệu bó bầu
Theo Lâm Ngọc Phương (2009), vật liệu bó bầu phải đủ dinh dưỡng, không quá tơi xốp cũng không quá nhiều sét để giữ ẩm tốt Dùng đất vườn, đất bùn, rơm rác, rễ lục bình có thể trộn lẫn với phân chuồng hoai mục Một bầu chiết đường kính từ 6-8
cm, trọng lượng 150-300 g, chiều cao bầu đất 10-12 cm Không nên làm bầu quá to, đất phía ngoài dễ bị khô cứng, chặt bí, cây khó ra rễ
tỷ lệ hydratcarbon cao, cành lấy từ những cây này sẽ có nhiều rễ hơn lấy từ cây có
tỷ lệ C/N thấp, tuy nhiên nếu hàm lượng đạm giảm quá thấp thì lượng rễ tạo ra cũng giảm (Hartmann và Kester, 1968) Cũng theo hai ông những cành thấp dễ ra rễ hơn cành ở đỉnh có thể do hàm lượng dinh dưỡng khác nhau trong thân Cành dễ ra rễ nhất theo Braudeau (1984) là cành non bánh tẻ phần dưới còn xanh đã thành thục, không phơi ra ánh sáng nhiều, lá phát triển ở chỗ có bóng râm Theo Hansen (1989) cho rằng vị trí cành được cắt trên cây mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng rễ hình thành, cành cắt ở giữa vị trí non và già (cành bánh tẻ) rất tốt cho sự tạo rễ sau khi giâm cành
Beaklane(1967), đã tìm thấy ở thân những loài khó ra rễ thường có độ phân hóa thành cương mô cao Mối tương quan giữa sự hóa cương mô và những thân khó ra
rễ đã dược Ciampi và Gallini (1963), nghiên cứu trong sự nhân giống vô tính Olive Với cương mô không liên tục sự mọc rễ kém Như vậy, những tế bào vách dày đã ngăn cản sự bộc phát sinh mô rễ Beaklane (1967), cho rằng tính khó ra rễ tăng theo
sự gia tăng quá trình tạo sợi trong thân già Theo Ciinriard (1967), tuổi cây có ảnh hưởng lớn đến khả năng tạo rễ bất định, số rễ thành lập trên mỗi hom có thể không giảm, nhưng thời gian tạo rễ ở hom thân già thường lâu hơn hom trẻ Theo Goodin (1965), sự thay đổi cấu tạo giải phẫu học đi đôi với giai đoạn tăng trưởng từ trẻ đến
già ở thân Aledera Những thân già ngoài sự hiện diện của những mô hóa lignin
Trang 207
nhiều lại còn có một dãy sợi không liên tục bao quanh libe, trong khi những sợi này
hiếm thấy trong thân non (ra rễ) và sợi này càng nhiều khi tuổi cây càng cao So
sánh thân non và thân già trên cùng một loại cây, Beaklane (1967), thấy phần gốc
của thân non cây táo con tương đối không có tế bào libe hóa cương mô so với thân
cho trái của cây trưởng thành Như vậy, có sự liên quan giữa cấu tạo giải phẫu học
và tiềm năng tạo rễ Bởi vì, sự thiếu khả năng ra rễ trãi qua thời kỳ thay đổi từ trẻ
đến già (Gardner,1923) Theo Sachs(1964), sự khác biệt trong đặc tính dễ ra rễ có
liên quan đến sự dễ dàng khởi sinh rễ Hiệu quả của lớp mô hóa lignin bên ngoài có
thể không là nguyên nhân duy nhất ảnh hưởng đến sự ra rễ trên hom già Những yếu
tố khác như chất nội sinh cũng góp phần vào việc ngăn cản sự phát sinh ở những
hom đó Theo Nguyễn Bảo Toàn (2007) thì một vòng cương mô liên tục giữa libe
và vỏ nằm bên ngoài các vị trí phát sinh rễ bất định, sự hiện diện của những vòng
cương mô này thường thấy ở những loài khó tạo rễ Với phần lớn các loài khó tạo
rễ, cấu trúc thân không ảnh hưởng đến khả năng tạo rễ trong khi các mô bị lignin
hóa ở thân hoạt động như một hàng rào cản sự phát triển rễ
1.4.2.2 Yêu cầu về điều kiện môi trường cho cành giâm
Ẩm độ và nước
Cành giâm là một thực thể sống, sau khi cắt rời khỏi cây mẹ, do thiếu hụt nước, mất
nguồn cung cấp dinh dưỡng đột ngột nên bị sốc sinh lý Do vậy, việc tưới nước và
giữ ẩm trong giai đoạn đầu là rất cần thiết để hạn chế sự mất nước giúp cành giâm
hồi phục và phát triển nhờ vào dinh dưỡng nội tại của chính nó (Võ Đại Thanh
Lâm, 1998) Trong không khí, với điều kiện bốc thoát hơi thấp sẽ làm giảm sự thoát
hơi nước từ cành giâm, để tránh sự thiếu hụt nước trong mô và những tế bào duy trì
đủ sức trương cho sự thành lập và phát triển rễ Cành giâm bị chết trước khi mọc rễ
do mất nước là nguyên nhân chính của sự thất bại trong nhân giống Nếu cành giâm
tạo ra lá mới do việc cắt ngọn thì sẽ làm bay hơi và việc mất nước thêm trầm trọng
(Evans và Wildes, 1970) Theo Bir (1992) trạng thái nước của cành giâm là sự cân
bằng giữa sự mất nước do thoát hơi và sự hấp thu nước Sự hấp thu nước của cành
giâm chịu ảnh hưởng của môi trường nhân giống, với môi trường ẩm ướt thì làm
tăng sự hấp thu nước Tuy nhiên, nếu thừa nước sẽ làm giảm sự thoát khí của môi
trường giâm và gây ra bệnh, ngăn chặn hay làm trì hoản sự phát triển của rễ
Nước: (Hartmann và Kester, 1968) phun sương duy trì một lớp nước mỏng trên lá
làm ẩm độ không khí chung quanh lá cao Nhiệt độ lá và nhiệt độ không khí giảm
thấp có khuynh hướng làm giảm thoát hơi nước Ở cành non của cây Prunus
secnulata phun gián đoạn cho rễ tốt hơn phun liên tiếp (Hess, 1965) Theo Nguyễn
Trang 21thích hợp cho sự hình thành rễ ở cành giâm cây Schlumbergera ‘Russian Dancer’
Theo nhận định của Abd (1989) cho rằng nhiệt độ không khí quá cao sẽ làm hỏng cành giâm Nhiệt độ ở đáy bồn giâm cành cũng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành rễ cành giâm Hồ Minh Bạch (1981) cho rằng việc cung cấp thêm nhiệt
độ ở đáy bồn giâm cành sẽ giúp tăng sự vận chuyển chất từ lá xuống đáy cành giâm tốt hơn và làm cho cành giâm ra rễ nhanh hơn Theo Wells (1995) cho rằng nhiệt độ
ở đáy bồn giâm cành được nâng cao hơn bình thường, điều kiện này kích thích gia tăng hô hấp, khi rễ phát triển thì nhiệt độ thích hợp là 22-250C
Ánh sáng
Cành giâm là loài thân gỗ ra rễ tốt nhất ở bức xạ thấp.Tuy nhiên, ở cành giâm loài thân thảo ra rễ tốt hơn khi bức xạ ánh sáng tăng tới 116W/m Bức xạ ánh sáng quá cao làm ảnh hưởng đến sự ra rễ và sự phát triển của rễ Vì vậy, ánh sáng rất quan trọng đối với việc thành lập rễ ở cành giâm Theo Hartmann và Kester (1968) nếu cành giâm có lá thì việc tạo rễ nhiều nhất ở nơi có đầy đủ ánh sáng dù không xử lý auxin Do đó, khi cành giâm không có lá hoặc lá vàng úa sẽ hạn chế số rễ tạo thành
dù có xử lý auxin Theo nghiên cứu của Hossain ctv.(2005) phần trăm rễ hình thành
và chiều dài rễ của cành giâm cây Bambusa vulgaris đạt cao nhất ở nghiệm thức có
che sáng và xử lý IBA, nếu duy trì cường độ ánh sáng phù hợp cho quang hợp và tạo tinh bột cho cành giâm thì khi rễ xuất hiện sẽ không bị sốc vì nước Quá trình ra
rễ là quá trình hô hấp mạnh đòi hỏi nguồn carbohydrate cung cấp từ quang hợp lớn (George, 1993) Do vậy, tăng cường hàm lượng đường hoặc nguồn ánh sáng thích hợp giúp cây ra rễ tốt hơn Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng phải đủ để tích lũy carbohydrate vận chuyển xuống để thành lập rễ Việc dự trữ carbohydrate
có sẵn từ trước của cây cũng rất cần cho việc thành lập rễ (Hartmann và Kester, 1968) Theo Costa và Challa (2002) cho rằng chất lượng ánh sáng đã ảnh hưởng đến sự thành lập rễ bất định và phát triển của nó trên cành giâm hoa hồng Rosa hybrida L
Trang 229
Môi trường giâm
Môi trường giâm, pH có ảnh hưởng tới kiểu callus mọc và sự nhô ra của rễ Loại môi trường có ảnh hưởng tới hệ thống rễ, môi trường có 3 nhiệm vụ, cung cấp ẩm
độ, cung cấp không khí và giữ cành đứng vững (Hartmann và Kester, 1968) Khi so sánh trên 5 loại môi trường đất, cát, tro, trấu, trấu và mụn cưa trên cành giâm ca cao, Nguyễn thị Tất (1980) đã nhận thấy môi trường trấu là môi trường tốt nhất, Lưu chính Trị (1982) cũng ghi nhận được kết quả tương tự
Môi trường trấu, khả năng trấu có thể chứa 1.7 lần trọng lượng của nó, khả năng giữ nước của trấu thấp hơn Vernicaliter hoặc Perliter, 2 loại sau có thể chứa 3-4 lần trọng lượng của nó (Hartmann và kester, 1968) hầu hết 80% lượng nước bão hòa điều hữu dụng cho cây Theo Kimer (1969) Briggs và Shantz cho rằng các loài thực vật và trong cùng một loài phổ lá có những đặc tính khác nhau, lượng nước của chúng rất ít khác biệt ở điểm héo Do đó khả năng giữ nước của vỏ trấu được xác định xem còn hữu dụng nhiều hay ít cho thực vật ở những trình trạng khác nhau và
ở mức độ dinh dưỡng khác nhau Stone (1963), nghiên cứu về cách dùng mạc cưa, dâm bào cho năng suất cây con tương đối tốt, ông cũng cho biết độ thoáng xốp của mạc cưa thể hiện tốt cho số rễ và chiều dài rễ tốt ở cành giâm Đào
Theo Hess (1945) các cành giâm gỗ mềm, khi đặt điều kiện sương mù gián đoạn cho nhiều rễ hơn trong điều kiện nhà kiếng, ông cũng cho biết dưới điều kiện sương
mù, các cành giâm tích lũy Carbohydrat gấp 1/8 lần so với điều kiện nhà kiến Thời gian cắt cành đối với loài dễ ra rễ không quan trọng nhưng đối với loài khó ra rễ thời gian cắt cành có thể rất quan trọng
Vết thương và mùa giâm cành
Vết Thương: Việc tạo vết cắt trên cành có khả năng kích thích ra rễ, cành có xử lý
vết thương hấp thu nhiều nước hơn cành không xử lý làm sự hấp thu chất điều hòa sinh trưởng cũng được nhiều hơn (Days, 1932), xung quanh mép vết thương thường
có nhiều callus và rễ cũng phát triển nhiều hơn có lẽ là do sự tích lũy hormone và hydratcarbon ở vùng có vết cắt làm kích thích sự phân chia tế bào tạo thành mầm rễ (Hartmann và Kester, 1968)
Mùa giâm cành: Mùa có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng ra rễ của cành, theo
Leopold (1955) mùa tối hảo để cắt cành thay đổi rất lớn giữa các loài (Balansard và Pellissier, 1942; Bouillene và Went, 1933 ;Warmke, 1950; Erickson và De Back,
1953)