1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu THIẾT kế CẢNH QUAN CÔNG VIÊN TRONG KHU NHÀ ở cán bộ GIẢNG VI ên TRƯỜNG đại học cần THƠ

57 337 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 7,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó giúp có những nhận định thiết thực về khu vực và qua thời gian nghiên cứu, phân tích với các phương pháp và phương tiện hỗ trợ, đã xây dựng nên được ý tưởng thiết kế cảnh quan phù

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ THỊ NGỌC CHÂU

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CẢNH QUAN CÔNG VIÊN TRONG KHU NHÀ Ở CÁN BỘ GIẢNG VIÊN

Luận văn tốt nghiệp Ngành: HOA VIÊN và CÂY CẢNH

Cần Thơ, 2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: HOA VIÊN và CÂY CẢNH

Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện:

ThS Phạm Minh Thịnh Lê Thị Ngọc Châu

MSSV: 3053304

Lớp: HV&CC K31

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN SINH LÝ - SINH HOÁ

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành hoa viên và cây cảnh với đề tài: “NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CẢNH QUAN CÔNG VIÊN TRONG KHU NHÀ Ở CÁN BỘ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ”

Do sinh viên LÊ THỊ NGỌC CHÂU thực hiện kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2009

Cán bộ hướng dẫn

ThS Phạm Minh Thịnh

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN SINH LÝ - SINH HOÁ

Luận văn tốt nghiệp kèm theo với đề tài: “NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CẢNH QUAN CÔNG VIÊN TRONG KHU NHÀ Ở CÁN BỘ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ”, do sinh viên LÊ THỊ NGỌC CHÂU thực hiện và bảo vệ trước Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua

Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức:………

Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………

………

………

………

………

Duyệt Khoa Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009 Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Lê Thị Ngọc Châu

Trang 6

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: LÊ THỊ NGỌC CHÂU

Ngày sinh: 27/04/1987

Nơi sinh: tỉnh Cà Mau

Họ và tên cha: Lê Hùng

Họ và tên mẹ: Mai Hoài Minh

Quê quán: ấp I, xã Hàng Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1993 - 1997: học sinh Trường Tiểu học I xã Hàng Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau

1998 - 2001: học sinh Trường Trung học cơ sở xã Hàng Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà

Mau

2002 - 2004: học sinh Trường Phổ thông trung học bán công Phan Ngọc Hiển, phường

An Cư, TP Cần Thơ

2005 - 2009: sinh viên Trường Đại học Cần Thơ, ngành Hoa Viên và Cây Cảnh, khóa

31, Khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Ninh Kiều, TP Cần Thơ

Trang 7

LỜI CẢM TẠ Kính dâng

Cha, mẹ đã suốt đời tần tảo nuôi dạy con nên người

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

Thầy Phạm Minh Thịnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em, cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh bài luận văn tốt nghiệp này

Cô Lâm Ngọc Phương, thầy Nguyễn Văn Ây cố vấn học tập, đã quan tâm, dìu dắt, động viên và giúp đỡ em trong suốt khóa học

Quý thầy cô, anh chị Bộ môn Sinh lý - Sinh hóa và Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm có ích cho em

Chân thành biết ơn

Các bạn lớp Hoa Viên Cây Cảnh K31 cùng các bạn của tôi đã trao đổi và giúp

đỡ nhiều cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Thân gởi về

Cô cố vấn Lâm Ngọc Phương và các bạn lớp Hoa Viên và Cây Cảnh K31 những lời chúc sức khỏe và thành đạt

Lê Thị Ngọc Châu

Trang 8

MỤC LỤC

DANH SÁCH BẢNG ix

DANH SÁCH HÌNH x

TÓM LƯỢC xi

MỞ ĐẦU 1

1.LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Vài nét về lịch sử phát triển nghệ thuật vườn – công viên trên thế giới 2

1.1.1 Thời kỳ cổ đại (thiên niên kỷ IV TCN – thế kỷ V SCN) 2

1.1.1.1 Vườn Ai Cập 2

1.1.1.2 Vườn Lưỡng Hà và Ba Tư 2

1.1.1.3 Vườn Ấn Độ 3

1.1.1.4 Vườn Trung Quốc 4

1.1.1.5 Vườn Nhật Bản 5

1.1.1.6 Vườn Hy Lạp 5

1.1.1.7 Vườn La Mã 6

1.1.2 Thời kỳ trung đại (thế kỷ V – thế kỷ XVII) 7

1.1.3 Thời kỳ cận đại (thế kỷ XVIII – thế kỷ XIX) 9

1.1.4 Thời kỳ hiện đại (thế kỷ XX) 11

1.2 Vài nét về nghệ thuật vườn – công viên Việt Nam 12

1.2.1 Vườn cung đình 12

1.2.2 Vườn lăng 12

1.2.3 Vườn tôn giáo tín ngưỡng 14

1.2.4 Vườn nhà ở dân gian 14

1.3 Lợi ích cây xanh 15

1.3.1 Tác dụng cải thiện khí hậu của cây xanh 15

1.3.1.1 Điều chỉnh nhiệt độ 15

1.3.1.2 Bảo vệ gió và sự di chuyển của không khí 16

1.3.1.3 Lượng mưa và độ ẩm 16

1.3.2 Công dụng trong kỹ thuật học môi sinh 16

1.3.2.1 Kiểm soát sự rửa trôi và xói mòn đất 16

1.3.2.2 Hạn chế tiếng ồn 17

1.3.2.3 Hạn chế ô nhiễm không khí 17

Trang 9

1.3.2.5 Kiểm soát giao thông 18

1.3.3 Công dụng kiến trúc và cảnh quan 18

1.3.4 Công dụng kinh tế và xã hội 19

1.4 Phân loại cây xanh và các yếu tố liên quan 19

1.4.1 Phân loại cây xanh 19

1.4.1.1 Phân loại theo mục đích sử dụng 19

1.4.1.2 Phân loại theo công dụng 20

1.4.1.3 Phân loại theo kích thước trưởng thành 20

1.4.2 Các yếu tố liên quan 20

1.5 Các quy luật bố cục cơ bản của nghệ thuật vườn – công viên 20

1.5.1 Bố cục cân xứng 20

1.5.2 Bố cục tự do 20

1.5.3 Bố cục kết hợp đối xứng và tự do 21

1.5.4 Trung tâm và trục bố cục chính phụ 21

1.6 Các quy luật của nghệ thuật cảnh quan 21

1.6.1 Quy luật hài hòa 21

1.6.2 Quy luật cân bằng 21

1.6.2.1 Cân bằng đối xứng 21

1.6.2.2 Cân bằng không đối xứng 22

1.6.2.3 Cân bằng đối tâm 22

1.6.3 Quy luật tương phản 22

1.6.4 Quy luật cân đối và nhất quán 22

1.7 Điều kiện tự nhiên của khu vực 23

1.7.1 Vị trí địa lý 23

1.7.2 Địa hình 23

1.7.3 Thủy văn 23

1.7.4 Thổ nhưỡng 23

1.7.5 Khí hậu 23

1.7.6 Hiện trạng sử dụng đất 24

1.8 Điều kiện xã hội 24

2.PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Phương tiện nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Phân khu chức năng 26

3.2 Thuyết minh ý tưởng thiết kế 27

Trang 10

3.2.1 Bể phun nước trung tâm 27

3.2.1.1 Ý nghĩa, công năng 27

3.2.1.2 Nguyên tắc thiết kế 27

3.2.1.3 Dự trù kinh phí 29

3.2.2 Khu vui chơi thiếu nhi 29

3.2.2.1 Ý nghĩa, công năng 29

3.2.2.2 Nguyên tắc thiết kế 29

3.2.2.3 Dự trù kinh phí 31

3.2.3 Khu yên tĩnh 32

3.2.3.1 Ý nghĩa, công năng 32

3.2.3.2 Nguyên tắc thiết kế 32

3.2.3.3 Dự trù kinh phí 33

3.2.4 Khu trao đổi 33

3.2.4.1 Ý nghĩa, công năng 33

3.2.4.2 Nguyên tắc thiết kế 33

3.2.4.3 Dự trù kinh phí 34

3.2.5 Khu đồi nghỉ mát 35

3.2.5.1 Ý nghĩa, công năng 35

3.2.5.2 Nguyên tắc thiết kế 35

3.2.5.3 Dự trù kinh phí 36

3.2.6 Khu quảng trường 36

3.2.6.1 Ý nghĩa, công năng 36

3.2.6.2 Nguyên tắc thiết kế 36

3.2.6.3 Dự trù kinh phí 37

3.3 Dự trù kinh phí 38

Kết luận và kiến nghị 39

Tài liệu tham khảo 40 Phụ lục

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

3.2 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân trong khu bể

phun nước trung tâm

29

3.3 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân, nọc chống

trong khu vui chơi thiếu nhi

31

3.4 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân, nọc chống

trong khu yên tĩnh

33

3.5 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân, nọc chống

trong khu trao đổi

34

3.6 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân, nọc chống

trong khu đồi nghỉ mát

36

3.7 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân, nọc chống

trong khu quảng trường

37

3.8 Kinh phí dự trù cho các loại cây trồng, đất, phân, nọc chống

trong tất cả các phân khu thiết kế

38 3.9 Diện tích và tỉ lệ các thành phần trong thiết kế công viên 39

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Trang 13

LÊ THỊ NGỌC CHÂU, 2009 “Nghiên cứu thiết kế cảnh quan công viên trong khu nhà

ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Hoa viên và Cây cảnh, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Đề tài “Nghiên cứu thiết kế cảnh quan công viên trong khu nhà ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ” được thực hiện tại công viên trong khu nhà ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 6 năm 2009 nhằm mục tiêu đưa ra được ý tưởng thiết kế cảnh quan phù hợp cho công viên trong khu nhà

ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ

Đề tài được bắt đầu từ việc tìm hiểu, điều tra về hiện trạng, điều kiện tự nhiên của khu vực đang nghiên cứu thiết kế Từ đó giúp có những nhận định thiết thực về khu vực và qua thời gian nghiên cứu, phân tích với các phương pháp và phương tiện hỗ trợ, đã xây dựng nên được ý tưởng thiết kế cảnh quan phù hợp cho công viên trong khu nhà ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ

Trang 14

MỞ ĐẦU

Trong công cuộc xây dựng Tổ quốc, hòa mình cùng không khí hội nhập của đất nước, Cần Thơ đã có những thay đổi rất đáng kể Sự chuyển mình đi lên của Cần Thơ được thể hiện qua rất nhiều lĩnh vực trong đó có ngành giáo dục với sự đóng góp to lớn của Đại học Cần Thơ, trường đại học lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long Hiện nay, nhằm thu hút cán bộ trẻ giỏi ở lại phục vụ cho trường và nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cán bộ giảng viên, dự án quy hoạch khu nhà ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ đã được hình thành Bởi ở luôn là nhu cầu cơ bản của con người

Dự án khu nhà ở cán bộ giảng viên trường Đại học Cần Thơ nằm trên địa bàn phường Hưng Lợi, xã An Bình, thành phố Cần Thơ Dự án bao gồm các dãy nhà phố liên kế và các dãy biệt thự đơn lập Nằm giữa các dãy nhà phố liên kế là công viên, một trong những khu quan trọng không thể thiếu Bởi theo đà phát triển của xã hội, con người ngoài những lo toan vật chất, mưu cầu hạnh phúc và đóng góp cho sự phát triển giàu mạnh của đất nước thì nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi để giảm bớt sự căng thẳng trong công việc hàng ngày cũng là một yếu tố quan trọng trong đời sống Đặc biệt, trong xã hội công nghiệp hiện đại phát triển thì nhu cầu thỏa mãn về mặt tinh thần cũng ngày càng đòi hỏi mạnh mẽ hơn Vì thế, ngoài không gian lao động, không gian sống thì không gian phục vụ đời sống tinh thần, nghỉ ngơi thư giãn của con người cũng rất quan trọng Sự kết hợp giữa không gian và thời gian nghỉ ngơi một cách khoa học có thể tạo nên môi trường hữu ích về nhiều mặt như: tăng sự gắn bó, đoàn kết, trau dồi tri thức, nâng cao tầm hiểu biết và sức khỏe của người dân trong khu dân cư Vì vậy, việc tạo ra một công viên yên tĩnh, nhẹ nhàng để mọi người có thể tận hưởng được những giây phút thật thoải mái và lấy lại sức lực đã tiêu hao vì cuộc sống là việc hết sức cần thiết Vì lý do đó, tôi nhận đề tài “Nghiên cứu thiết kế cảnh quan công viên trong khu nhà ở cán bộ giảng viên Đại học Cần Thơ”

Đề tài được sự hướng dẫn của Thạc sĩ Phạm Minh Thịnh, Giảng viên bộ môn Cảnh quan và Kỹ Thuật Hoa Viên, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM

Trang 15

Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT VƯỜN – CÔNG VIÊN TRÊN THẾ GIỚI

Theo sự phát triển của xã hội, có thể chia làm 4 thời kỳ:

- Thời kỳ cổ đại (Thiên niên kỷ IV TCN – Thế kỷ V SCN)

- Thời kỳ trung đại (Thế kỷ V – XVII)

- Thời kỳ cận đại (Thế kỷ XVIII – XIX)

- Thời kỳ hiện đại (Thế kỷ XX)

1.1.1 Thời kỳ cổ đại (Thiên niên kỷ IV TCN – Thế kỷ V SCN)

Vườn – công viên được hình thành từ các quốc gia Cổ đại phương Đông (Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ) và 30 thế kỷ sau, vườn – công viên xuất hiện ở các quốc gia Cổ đại phương Tây (Hy Lạp, La Mã) Tiêu biểu cho thời kỳ này là các vườn bên công trình thờ cúng và các vườn trong dinh thự vua chúa và tầng lớp quý tộc giàu có (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1997)

1.1.1.1 Vườn Ai Cập

Bố cục vườn cổ Ai Cập theo xu hướng cân xứng, chính giữa vườn là một bể nước lớn hình chữ nhật (80 x 120m) Bể nước, theo các bức họa còn giữ được cho tới ngày nay, là nơi diễn ra các hoạt đông vui chơi – giải trí chính trong những ngày hội lễ

Bố cục đơn giản nhưng rất chặt chẽ bởi các yếu tố như: công trình chính (đền thờ hay dinh thự) nằm trên trục chính; đường dạo thẳng hàng; cây hoa trang trí ở trung tâm,đặc biệt là hoa huệ (theo tín ngưỡng hoa huệ tượng trưng cho niềm hy vọng và cuộc sống con người); cây to bóng mát trồng thành hàng xa trung tâm Nguyên nhân tạo bố cục dạng hình học của vườn là do hệ thống tưới quy định (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Cho đến nay vườn cổ Ai Cập không còn nữa nhưng trong sử sách vẫn còn lưu truyền tinh hoa nghệ thuật và ý nghĩa xã hội của nó Tính cân xứng - ổn định trong bố cục vườn cho cả hai trục bố cục dọc ngang làm hoàn chỉnh, trọn vẹn tổng thể vườn, là những đóng góp lớn lao vào kho tàng lý luận nghệ thuật hiện đại Lối bố cục trên rất thích hợp với tính chất vườn trước các công trình có ý nghĩa trang nghiêm, như trụ sở hay các vườn – công viên tưởng niệm (Hàn Tất Ngạn, 2000)

1.1.1.2 Vườn Lưỡng Hà và Ba Tư

Nói đến văn minh Lưỡng Hà, ta không thể không thấy sự đóng góp vô giá của kiến trúc đền đài (kim tự tháp nhiều cấp) Nó là mầm mống cho những quả núi nhân tạo mà đỉnh núi xa xa được tô điểm bằng chòi hóng mát, hay như vườn treo Xemiramid nổi tiếng thế giới – một trong bảy kỳ quan cổ (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Trang 16

Vườn Xemiramid có dạng hình học, nằm trên một tòa nhà cao bốn tầng cũng chính là bốn tầng vườn treo, nối với nhau bằng những cầu thang lớn Vườn được xây dựng trên một gò cao bên sông Euphrates, gần cung điện nhà vua, đầu hướng gió để tỏa hương thơm cho toàn thành phố Babylon Sở dĩ vườn được gọi là vườn treo vì cấu trúc tầng bậc và vị trí của vườn nên nhìn từ xa trông như một khu vườn bát ngát xanh tươi đang treo lơ lửng trên không trung Vườn có chiều dài 42m, chiều rộng 14m (chiều rộng của mỗi tầng bậc vườn là 3,5m) Vườn treo được xây dựng bằng những phiến đá lớn tựa trên cột, vòm cuốn to khỏe Trước khi đổ đất, sân được lót lớp sậy tẩm nhựa cây và hai lần gạch lót vôi để chống dột khi tưới cây Cây trồng được sưu tầm tìm kiếm

từ khắp mọi nơi, rất nhiều giống cây hoa quý, các loài kỳ hoa dị thảo Cây được trồng

tự do và theo điều kiện sinh thái tự nhiên Cây vùng núi cao được trồng ở sân trên; cây miền hạ du trồng ở sân dưới như cọ, bách, tuyết tùng, hoàng dương, và nhiều loài hoa đẹp (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)

Từ vườn này người ta có thể bao quát được cảnh quan toàn thành phố Babylon

và dòng sông Euphrates trong xanh Đây cũng có thể là cái nôi của vườn trên mài hiện đại (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Năm 553 trước Công nguyên, ở Ba Tư việc xây dựng vườn đền không phát triển

mà dồn vào kiến trúc lâu đài, nên kiến trúc bằng đá đạt nhiều công trình đáng kể Gắn liền với lâu đài là công viên rộng lớn với nhiều loài cây và hoa cỏ đẹp Các loài động vật như sư tử, báo, lợn rừng,… sinh sống trong công viên rất “thoải mái” Người Ba Tư

cổ đặt tên công viên kiểu này là Paradise (thiên đường cho các loài thú) Việc quy hoạch công viên cân xứng, đều đặn một cách cứng nhắc, để bù vào đó, người ta đã chia công viên thành nhiều phần riêng biệt hình tứ giác không đều nhau Ngoài ra còn có những đường cây xanh lớn và các kênh nước chạy dọc trục vườn có vòi phun trang trí (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Tóm lại, nghệ thuật vườn – công viên Lưỡng Hà và Ba Tư đã để lại những vốn quý để ứng dụng cho vườn – công viên hiện đại Đó là không gian bậc thang, vườn treo trên mái Zigurat của đền đài, sân trên địa hình dốc, lối bố cục cân xứng mà tinh tế của vườn Ba Tư, phóng khoáng tự do của vườn Lưỡng Hà và việc sử dụng cây trồng, mặt nước, đặc biệt trong tạo hình nước (Hàn Tất Ngạn, 2000)

1.1.1.3 Vườn Ấn Độ

Theo Lê Đàm Ngọc Tú (2006) nghệ thuật vườn Ấn nổi bật với hai đặc điểm chính:

- Bố cục hình học chặt chẽ với mặt nước ở giữa tòa nhà

- Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tôn giáo

Trang 17

Thế kỷ III TCN đến thế kỷ VI SCN, Phật giáo là Quốc giáo Ấn Độ Thời kỳ này, công viên ngoại ô được xây dựng với chức năng nghỉ ngơi suy tưởng theo tinh thần Phật giáo Đến thế kỷ XVI, Hồi giáo phát triển mạnh dưới thời các Hoàng đế Mogol thì ý nghĩa nghỉ ngơi suy tưởng của vườn bị thay đổi Ở Ấn Độ lúc này xuất hiện các đền thờ Hồi giáo Đền có hình tròn ở vòm mái và tường xây theo mặt bằng hình tứ giác hoặc bát giác, dẫn đến đền là một con đường rợp bóng cây, hai bên có kênh nước, đáy lát bằng đá hoa óng ánh nên thơ với những vòi phun nước trang trí Khi còn sống người chủ dùng nhà làm nơi tổ chức những ngày lễ hội, lúc chết, chủ được mai tang dưới vòm nhà trung tâm – ngôi nhà trở thành lăng mộ (Lê Đàm Ngọc Tú , 2006)

Lăng Taj Mahal ở Agra là một tuyệt tác của thể loại này Công trình nguy nga được xây bằng đá cẩm thạch, do đó người ta còn gọi Hoàng Lăng là “hòn ngọc của Ấn Độ” Mặt tường được chạm trổ gây cảm giác như ren thêu của món đồ nữ trang Vị trí lăng không phải ở trung tâm mà ở cuối vườn trên một sân cao bên bờ sông Trước mặt công trình là một con kênh hẹp, đáy được lát toàn đá hoa Dọc con kênh là các bồn hoa

và dãy cây bách xanh đen tương phản mạnh mẽ với Hoàng Lăng có màu trắng Con kênh phía trước là chiếc gương soi bóng công trình, làm cho Hoàng Lăng thêm lung linh, đồ sộ với chiều cao được nhân lên Toàn bộ khu vườn phía trước sân có bố cục cân xứng đều đặn qua kênh nước, làm cho Lăng thêm trang nghiêm Toàn bộ vườn Lăng khoảng 17 ha gồm ba khu: cổng, vườn và Lăng mộ (Hàn Tất Ngạn, 2000)

1.1.1.4 Vườn Trung Quốc

Nghệ thuật vườn cảnh Trung Quốc bắt nguồn từ hội họa phong cảnh và được xem là “bức tranh phong cảnh ba chiều” Vườn cảnh Trung Quốc không phải là một sự bắt chước thiên nhiên, mà là sản phẩm của trí tưởng tượng, tái tạo một thiên nhiên điển hình, lý tưởng và chắt lọc tinh túy hơn thiên nhiên thật Tính đồ sộ, mênh mông của vườn – công viên Trung Quốc thì không đâu sánh nổi Trung Quốc là quê hương của nghệ thuật vườn mô phỏng tự nhiên (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)

Nguyên lý bố cục của vườn Trung Quốc là lấy thiên nhiên đa dạng của đất nước làm cơ sở sáng tạo Việc tạo cảnh vườn luôn thay đổi rất thích hợp cho người vừa đi dạo vừa ngắm Lối đi dạo thường có mái che (trường lang) để sử dụng được cả bốn mùa Nghệ thuật tạo cảnh dùng thủ pháp gây sự thay đổi trong cảm giác: đồi vực xen lẫn thung lũng, đồng cỏ; dòng nước chảy mạnh xen lẫn mặt nước phẳng lặng; cánh rừng thông xanh thẫm xen lẫn rừng lá màu sáng tràn ánh nắng Thủ pháp còn dùng hiệu quả của âm thanh: tiếng gió, tiếng vọng, tiếng chim hót, tiếng suối róc rách, âm thanh thác đổ,… Đặc biệt còn có thủ pháp mở rộng không gian: dùng cận cảnh để tạo phối cảnh sâu, dùng mặt nước phản chiếu, dùng tấm lát đường từ thô tới mịn,màu sắc từ

Trang 18

nóng đến lạnh, vòi phun nước cao ở ngoài thấp dần vào trong,… Tất cả các thủ pháp

trên đã gây được ảo giác hư hư thực thực, như xa như gần (Nguyễn Thị Thanh Thủy,

1980)

Vườn cổ Trung Quốc thường được xây dựng nhiều ở phương Nam (Hàng Châu,

Tô Châu), cổ nhất là Chuyết chính viên Bố cục vườn lấy cảnh đẹp của nước làm chính,

giữa vườn có ngôi nhà tạ đứng bên làn nước Toàn cảnh vườn được bố trí rất khéo léo

và tinh tế, tạo nên “bức tranh đẹp như trong mơ” (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)

Ngoài ra còn có Lưu viên đã biểu hiện được điển hình kiểu vườn cổ Trung Quốc (tuy

vườn xây dựng ở thế kỷ XVIII)

1.1.1.5 Vườn Nhật Bản

Người Nhật đã chịu ảnh hưởng xu hướng nghệ thuật vườn Trung Quốc nhưng

để phù hợp với thiên nhiên đất nước mình họ đã tạo nên kiểu nghệ thuật phong cảnh

đặc sắc với những nguyên lý riêng: phong cảnh vườn cổ Nhật không phải để đi vào

ngắm mà chỉ để ngồi thưởng thức Vì vậy không gian vườn chan hòa với không gian

bên trong nhà Vườn được xem như một phần của nhà Nghệ thuật vườn Nhật độc đáo

nhất là tạo cảnh khô Người Nhật đã dùng thủ pháp tượng trưng cao: đá được sắp xếp

cẩn thận tượng trưng cho những hòn đảo trong sông “khô” bằng sỏi hay cát, hay tượng

trưng cho núi trên nền là rêu (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Do đất đai ít nên qui mô vườn Nhật thường nhỏ Để có được một hình ảnh thực của

thiên nhiên đất nước, người Nhật còn dùng thủ pháp hãm cảnh: hãm cây bé lại có dáng

đại thụ, có thể dùng trang trí trong nhà, hay rêu phủ vách đá, phủ lên cây để gây cảm

giác về bề dày thời gian của cây (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Trong mỹ thuật, xuất hiện ba nguyên tắc nghệ thuật mới: “shin”, “gyo”, “so”

được sử dụng trong hội họa; Ikebana (tiếng Nhật có nghĩa là “sự giữ gìn hoa cho cuộc

sống thứ hai”) và nghệ thuật vườn – công viên Trong nghệ thuật vườn – công viên,

nguyên tắc “shin” phản ánh sự chân thực và chính xác việc thể hiện cảnh Nguyên tắc

bán tượng trưng là phong cách “gyo”, còn nguyên tắc “so” là sự tượng trưng thuần túy,

cô đọng cực độ nhưng hình thức hết sức truyền cảm (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Mẫu mực cho nguyên tắc “so” là vườn Ryoan-ji nổi tiếng trên thế giới với diện

tích chỉ có 218,8m2 Chỉ với hai yếu tố cát trắng và đá nhưng khu vườn đã thể hiện

sinh động cảnh quan đất nước Nhật – một nước có nhiều đảo trên biển cả mênh mông:

15 hòn đá hình dạng khác nhau được sắp xếp thành 5 quần đảo trên sóng biển cát trắng

ở toàn bộ nền vườn, sóng được tượng trưng bằng cách cào cát trắng theo hình sóng

lượn (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)

1.1.1.6 Vườn Hy Lạp

Trang 19

Đất nước Hy Lạp nằm trên vùng núi cao, thung lũng hẹp, địa hình chia cắt mạnh, nhưng khí hậu thuận lợi, đất đai màu mỡ và động thực vật phong phú Hy Lạp nằm giữa vùng tiếp giáp của ba châu nên sớm tiếp thu những thành tựu của văn minh phương Đông cổ đại Và với sự sáng tạo của mình, Hy Lạp đã bắt đầu con đường nghệ thuật và cực thịnh ở thời kỳ Cổ điển Tuy nhiên, nếu ta coi thời Cổ điển là thời kỳ Vàng của nghệ thuật kiến trúc, thì giai đoạn cường thịnh của nghệ thuật vườn – công viên mãi tới thời kỳ Hy Lạp hóa mới phát sinh (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Đối với người Hy Lạp, việc rèn luyện thân thể có ý nghĩa to lớn trong đời sống

xã hội, trong công tác giáo dục con người phát triển toàn mỹ Nhiều cuộc thi thể thao toàn quốc được thực hiện Các cuộc biễu diễn trên sân khấu, thi hát trong các buổi lễ hay rước Thần cũng là kho tàng vô tận cho nghệ thuật phát triển Tính chất xã hội và các hoạt động của con người là tiền đề nảy sinh vườn mang ý nghĩa công cộng Vườn công cộng kết hợp với Thánh đường đầu tiên xuất hiện ở cổ Hy Lạp Bố cục vườn bao gồm nơi tổ chức các cuộc thi đấu thể thao, vui chơi – giải trí và nơi thờ cúng Một dạng

bố cục khác là Thánh đường Nim-pha, toàn bộ khu vườn “rất tự nhiên” và gây ấn tượng huyền bí Nước từ trên những vách đá cheo leo ẩn hiện trong hương khói của bàn thờ, đổ xuống hồ nước nằm giữa những cây trăn có màu đen thẫm (Lê Đàm Ngọc

Tú, 2006)

Đến thời Cổ điển, vườn công cộng không tổ hợp với chức năng thờ cúng nữa

Do chức năng chính của vườn là nơi chơi thể thao nên mạng lưới đường thẳng tắp Để

bù lại hệ thống quy hoạch cứng nhắc đó là sự phong phú về hình thức nghệ thuật của các công trình thể thao, bể bơi, tượng đài, vòi phun Các công trình đó được xây dựng xen kẽ với cánh rừng nhiều loài cỏ cây đã làm cho phong cảnh vườn thêm sinh động (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Vào thời Hy Lạp hóa, thể loại vườn cây xanh Pompeii xuất hiện Vườn – cây xanh chiếm ¼ công viên Vườn có đồi nhân tạo, có những con đường uốn quanh xoắn

ốc dẫn lên đỉnh đồi (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)

1.1.1.7 Vườn La Mã

Nghệ thuật vườn – công viên La Mã chịu ảnh hưởng của vườn cổ Hy Lạp nhưng mang ý nghĩa thực dụng cao hơn, sử dụng nhiều loại cây ăn quả như ô-liu, táo,lê,…Bố cục thường có hàng rào cây cắt xén bao quanh, có chòi nghỉ, có giàn nho leo Phát triển kiểu “vườn trong” cổ Hy Lạp thành mô-típ vườn sân trong (theo dạng parterre) có trồng cây trang trí thấp và hoa, trung tâm vườn là bể trang trí có vòi phun Về sau mô-típ này được phổ biến rộng rãi trên các quảng trường thành phố và trở thành phong cách chính của vườn trước công trình công cộng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Trang 20

Theo Nguyễn Thị Thanh Thủy (1980) cơ cấu vườn chia làm ba phần chính: phần vườn trang trí, phần rào và phần cây ăn quả Phần vườn trang trí chia thành ba khu vực:

- Khu dạo, trực tiếp trước nhà: bố trí các đường thẳng trồng các cây cắt xén hai bên tạo thành đường kín khoanh các vùng riêng trồng hoa Khu dạo bố trí bên sân cao có thể

mở không gian về phía cảnh đẹp xa Các vườn nhỏ như vậy được gọi là Viridarium, dùng để tổ chức các tiệc trà ngoài trời

- Khu đi chơi bằng xe ngựa hay kiệu có người khiêng

- Khu công viên có thú rừng hay gia cầm, mang tính chất rừng, chiếm tỉ lệ lớn

Vườn La Mã cổ rất phong phú về các loại cây trồng Tuy vậy, khi đế quốc La

Mã bị sụp đổ thì vườn cũng bị mai một đi cho đén thời kỳ phục hưng nghệ thuật vườn trang trí ở đây lại phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật vườn – công viên trên thế giới (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

1.1.2 Thời kỳ trung đại (Thế kỷ V – XVII)

Nghệ thuật vườn – công viên thời kỳ này chia làm ba giai đoạn

Ở giai đoạn Tiền – Trung đại, vườn chỉ bó hẹp sau những thành lũy, tiêu biểu là kiểu vườn nhỏ Tây Ban Nha Loại vườn này theo xu hướng cân xứng đều đặn, bao quanh vườn là công trình tu viện có dạng hình học đơn giản, trung tâm thường nhấn mạnh bằng một cái giếng hay tượng, trong sân trồng cây trang trí hay cây bụi ăn quả Cây trong vườn trồng thẳng hàng, chu vi vườn thường rào bằng cây lá bản như bồ đề Vườn tạo những mê cung có nghĩa là tạo khu vực đường đi ngoằn ngoèo lại viền hai bên đường bằng cây cắt xén hay đôi khi bằng đá màu (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Điển hình cho loại vườn nhỏ Tây Ban Nha là vườn Algambra ở Granad Vườn gồm hệ thống sân nhỏ với kích thước 100 x 150m với các cao độ khác nhau Các sân không liên hệ với nhau Trên sân có bể nước, vòi phun, ghế đá và cây xanh với hình thức trang trí cầu kỳ, phức tạp và tỉ mỉ, trau chuốt tựa như đối với đồ dùng trong nhà

Do sự phân chia vườn ra nhiều không gian sân nhỏ với tính chất trang trí này đã gây nên cảm giác ấm cúng, tĩnh mịch và thân thiết như không gian phòng (Hàn Tất Ngạn, 1996)

Đặc tính các loại vườn nhỏ thời Trung cổ bao gồm những nguyên lý:

- Quy hoạch hình học, không gian khép kín

- Hàng rào theo nhiều dạng khác nhau

- Công trình nhỏ như tượng, lan can,… rất ít dùng

- Vườn trên sân cao theo địa hình

- Cây chủ yếu ở dạng cắt xén

Trang 21

Nói chung vườn mang tính chất đơn giản, gần gũi với những vườn mẫu mực thời Cổ đại (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Sang đến thời Phục hưng, thế kỷ XVI vườn hoa bắt đầu hưng thịnh, tiêu biểu là các vườn biệt thự Ý Bố cục vườn Ý theo khuynh hướng vườn kín nhưng hệ thống các sân lại liên hệ với nhau bằng một trục Vườn Ý tạo thành vườn tầng bậc, rõ nét do đặc điểm địa hình Những yếu tố cấu tạo vườn được đưa vào phong phú Ví dụ mặt nước được sử dụng theo dạng khác nhau, kiến trúc nhỏ gắn với các tầng bậc, tận dụng triệt

để những biến dạng của địa hình, tạo sự tương phản bằng cách bố cục các quần thể kiến trúc chặt chẽ đối lập với đường nét mềm mại của thiên nhiên Tuy vậy quần thể kiến trúc vẫn chưa hài hòa với cảnh vật chung quanh do vườn luôn luôn kín (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Điển hình là vườn biệt thự Lante, ngoại ô Rome với diện tích 1,4ha Vườn có dạng hình học cân xứng đều đặn, nằm trên sườn đồi thoai thoải Lối đi được dẫn từ pasterre chan hòa ánh nắng mặt trời đến bóng mát ở vườn trên và xa hơn là cánh rừng,

đã thể hiện được tính rõ ràng khúc chiết trong nghệ thuật Trong vườn – công viên đã

có chức năng biểu diễn và vui chơi – giải trí như nhà hát ngoài trời, thác nước lớn, vườn kín (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Vào thời kỳ hậu Trung đại, công viên bắt đầu xuất hiện, tiêu biểu là công viên Versailles ở Pháp do nhà nghệ sĩ thiên tài Andre le Notre thể nghiệm Lần đầu tiên con người cải biến thiên nhiên với quy mô rộng lớn theo chủ ý của mình, tạo nên một thiên nhiên mới có phong cách đặc sắc, tiêu biểu cho xã hội đương thời (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1997)

Công viên có diện tích 1795ha, lấy trục bố cục cung điện làm trục chính của toàn bộ công viên trải rộng mênh mông phía trước Từ trục chính tỏa ra những con đường hình tia theo trường phái Barocco của Ý Toàn bộ hướng tia dồn về phía trục chính cũng như ba đại lộ lớn tụ lại trước cung điện muốn nói lên cả Paris hướng về Versailles Trước mặt cung điện là các pasterre hoa, cỏ có hoa văn cầu kỳ, cân đối tạo nên một khoảng trống rộng trước cung điện, tạo các tầm nhìn khoáng đạt Tiếp đó là các bosquet có vị trí gần như đăng đối hai bên trục chính, trải thẳng tới vòi phun thần Appolon Con kênh hình chữ thập sau vòi phun, phình to ở cuối nhằm mở không gian, cùng với các dãy thông hình tháp ở cuối công viên gây cảm giác về sự vô bờ bến của cảnh quan công viên (Hàn Tất Ngạn, 2000) Việc tạo phối cảnh xa hầu như vô bờ đã biểu hiện được chủ đề tư tưởng của công viên, tượng trưng quyền bất khả xâm phạm của vua Louis XIV Công viên Versailles đã đạt đến đỉnh cao của con người bắt thiên nhiên phục vụ lợi ích mình mà vẫn không làm mất vẻ đẹp của thiên nhiên (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Trang 22

1.1.3 Thời kỳ cận đại (Thế kỷ XVIII – XIX)

Đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện công viên phong cảnh Nghệ thuật công viên này đối lập với công viên cân xứng đều đặn Nguyên lý cơ bản của công viên phong cảnh là lấy thiên nhiên đa dạng của đất nước làm cơ sở cho sáng tác nghệ thuật vườn – công viên Nguyên lý này đã bắt nguồn từ nghệ thuật vườn cổ Trung Quốc và đặc biệt phát triển ở thế kỷ XVIII lan tràn khắp Châu Âu Tính chất độc đáo của công viên phong cảnh là dùng yếu tố thiên nhiên một cách chọn lọc để tạo thành những bức tranh thiên nhiên có chủ đề tư tưởng với nhiều cảnh đẹp thường xuyên được thay đổi Sự thay đổi thường chú ý về tổ chức không gian, trên cơ sở nghiên cứu tỉ mỉ địa hình hiện có (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Điển hình cho loại công viên này là công viên Di Hòa ở Trung Quốc, nằm cách Bắc Kinh 10km về phía Tây Bắc Diện tích công viên 330ha, 4/5 là hồ nước Cả công viên là bộ sưu tập nhỏ phong cảnh đa dạng của thiên nhiên Trung tâm công viên là hồ

và núi, trong đó có nhiều đảo và hoa sen Bờ hồ được nối với đảo bằng 6 chiếc cầu trang trí tỉ mỉ Ven hồ bố trí hành lang có mái che dài 400m để ngắm cảnh trong mọi thời tiết Trên núi có nhiều chòi và sân nghỉ, được trồng nhiều loại cây, có bể nước thả

cá, thả sen trang trí, phía bắc sườn núi có con suối nhỏ lượn quanh co tạo nên vẻ đẹp kín đáo của kiểu vườn biệt thự (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Công viên phong cảnh Trung Quốc đã ảnh hưởng trước tiên ở Anh Tiếp thu nghệ thuật vườn mô phỏng tự nhiên của phương Đông – Repton, nhà lý luận và thực tiễn về nghệ thuật cảnh quan Anh, đã đưa ra nguyên lý nghệ thuật vườn Anh như sau: Trên căng quan của đất nước, vườn phong cảnh chỉ cần đổi một vài yếu tố một cách không đáng kể, gây cho người thưởng thức có cảm giác như cảnh quan ấy có sẵn từ thiên nhiên (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Theo bố cục vườn của Repton, mỗi cảnh quan phải có ba phần:

- Cận cảnh: có thể sửa đổi, cải tạo lớn

- Cảnh trung gian: tạo chiều sâu không gian và phối cảnh được giải quyết ở mảng lớn

và bố cục tự do hơn

- Viễn cảnh: làm nền, không thay đổi được

Các yếu tố như sân, giàn leo, dạng cây cắt xén,… chỉ nên bố trí ở phần cận cảnh

là phần nhấn mạnh sự tham gia của con người vào việc cải tạo thiên nhiên Về ý này Repton nói rõ quan điểm “Thiên nhiên là một mô hình mà nghệ sĩ cần hiểu biết, ghi lại nhưng không phải sao chép y nguyên” (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Repton phản đối việc xây dựng những công trình không thực dụng như đền thờ, những cảnh nên thơ giả tạo Theo ông công trình phải có mục đích rõ ràng, phối hợp hài hòa

Trang 23

với cảnh quan xung quanh và phải phù hợp với điều kiện khí hậu Điển hình là công viên Stow ở Anh, công viên Bagetelle ở Pháp (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Nhìn chung, công viên phong cảnh thế kỷ XVIII có bố cục quy hoạch tự do, phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên Đó là nguyên lý chủ yếu của loại công viên này (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Nghệ thuật vườn – công viên ở các thế kỷ trước đã tạo cho ta nhiều phong cách

có thể tham khảo cho bố cục nghệ thuật vườn – công viên hiện đại Tuy nhiên các vườn – công viên ấy chưa phải là chỗ nghỉ cho quần chúng đông đảo, chưa phải là một phần hữu cơ của thành phố (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Đến thế kỷ XIX bắt đầu xuất hiện loại công viên thành phố Do đô thị hóa phát triển, công viên cần mang tính chất thành phố phục vụ cho số đông người nghỉ ngơi giải trí

Do đó, bố cục nghệ thuật vườn – công viên không chỉ đơn thuần một mặt thẩm mỹ mà gắn bó chặt chẽ với chức năng tiện nghi cho việc nghỉ ngơi Vì thế cơ cấu bố cục công viên đã xuất hiện khu vực thể thao, những nơi biễu diễn cho đông người đến xem,… Phong cách nghệ thuật vườn – công viên trong thế kỷ này không mang tính lãng mạn chứa chan tình cảm như thế kỷ XVIII: độ cong của những con đường trở nên thẳng hơn, cây xanh tổ chức dày đặc hơn, bắt đầu tổ chức những “con đường làm việc” để có thể qua công viên một cách ngắn nhất Bố cục công viên trở nên chặt chẽ hơn, thực tiễn hơn Do thành phố yêu cầu có không gian hở và màu xanh của thiên nhiên nên bắt buộc nhà quy hoạch phải bố trí các khu đất dành riêng cho cây xanh Các công viên cũ, vườn riêng được mở rộng Ở những khu phố cũ chặt chội bắt đầu mở mảng xanh bằng những boulevard và những vườn dạo nhỏ (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Điển hình công viên thế kỷ XIX là công viên Buttes – Chaumont 25ha ở ngoại ô Paris Đặc điểm của công viên là tận dụng nơi khai thác đá cũ để tạo hình không gian công viên Hồ đá là nơi chứa nước lớn và hòn đảo ở giữa tạo phong cảnh thiên nhiên sống động: có hang, suối chảy và thác đổ, trên đỉnh với chòi trang trí được nối với mặt nước ở dưới bằng các bậc thang và đường mòn quanh co Xung quanh hồ có hệ thống đường và cây xanh tự do Nói chung việc hình thành cảnh quan công viên được hướng

về cội nguồn tự nhiên nhằm làm “mềm” ốc đảo bê tông bao quanh (Hàn Tất Ngạn, 1996)

Được tổ chức theo bố cục mới này còn có công viên Xe-tơn ở Anh, công viên Oa-sinh-tơn ở Mỹ

Công viên hiện đại nhất của thế kỷ XIX là công viên rừng Amxterdam có diện tích 895ha Phần rừng chiếm 400ha Cơ cấu công viên, ngoài khu rừng còn có khu thể thao 200ha, bãi cỏ có tổ chức các trò chơi chiếm 100ha Diện tích còn lại là mặt nước, đường và các khu công trình như rạp hát ngoài trời, nhà giải khát Tính chất hiện đại

Trang 24

của công viên biểu hiện ở chỗ đơn giản, kinh tế, thiết thực (mặt nước sử dụng cho thể thao bơi lội và câu cá, có khu vực dành riêng cho thiếu nhi Để làm khô lãnh thổ tạo các mặt nước và kênh đào, dùng đất đào kênh hồ đắp đồi cao 15m rộng 20ha,…) (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Nhìn chung vườn – công viên thế kỷ XIX đơn giản, thiết thực, có quy mô từng vùng lớn nhằm phục vụ cho số đông người Có tiến bộ về mặt phân vùng chức năng nhưng do bước đầu đưa các yếu tố đơn thuần quy hoạch vào công viên nên phần nào thiếu lưu ý chức năng nghệ thuật trong công viên (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

1.1.4 Thời kỳ hiện đại (Thế kỷ XX)

Thời kỳ hiện đại đô thị hóa phát triển, tính chất sản xuất được xã hội hóa cao hơn, nhu cầu sinh hoạt công cộng phát triển; sự lao động nặng nhọc và đơn điệu trong các nhà máy, xí nghiệp nảy sinh nhu cầu nghỉ ngơi - giải trí trong môi trường tự nhiên Không gian xanh của đô thị được hình thành Khi đó kiến trúc cảnh quan không còn là một bộ phận của quy hoạch đô thị mà là thành phần của cấu trúc đô thị, góp phần quan trọng đến việc tạo lập môi trường thẩm mỹ của đô thị Công viên thời kỳ này mang tính chất phục vụ cho số đông dân cư trong đô thị Công viên đa chức năng ra đời (Hàn Tất Ngạn, 1996)

Theo NguyễnThị Thanh Thủy (1980) đặc điểm nổi bật của nghệ thuật vườn – công viên thế kỷ XX là:

- Phục vụ cho khối lượng người rất lớn

- Đẹp trên cơ sở kinh tế và tiện nghi

- Đường nét đơn giản (không ưa chuộng cái đẹp diêm dúa, cầu kỳ của thế kỷ XVIII)

- Yếu tố chính trong bố cục là bãi cỏ rộng, đá, cây ở dạng tự nhiên, mặt nước rộng

- Cải tạo một cách sáng tạo phong cảnh tự nhiên

- Đưa thiên nhiên vào bố cục phong cảnh

- Tận dụng cái đẹp của từng dáng cây trong thiên nhiên

- Dùng thủ pháp địa hình nhân tạo

- Áp dụng “phối cảnh đường thẳng” phối hợp với cả “phối cảnh màu sắc”

- Áp dụng phối cảnh nhiều cảnh, tạo phối cảnh thay đổi trên quy mô lớn

- Lưu ý vai trò ánh sáng và bóng tối, không gian kín và không gian mở

- Điều kiện đưa vào được chọn lọc

Tiêu biểu cho thời hiện đại là loại công viên văn hóa và nghỉ ngơi của Liên Xô Công viên đầu tiên mang tên Gorky ở Moskva Công viên nằm trải dọc sông Moskva, được mở cửa vào năm 1928 Nơi đây thực sự là khu sinh hoạt văn hóa, nghỉ ngơi và giải trí cho mọi người Công viên có ba lối ra vào phía đối diện sông Moskva và hai

Trang 25

vực trung tâm với bể nước động hình vuông làm điểm nhấn thị giác và trải dài xung quanh là mạng lưới đường hình học với các công trình biểu diễn (sân khấu, sân hòa nhạc, sân khấu trung tâm), các phòng đọc, các quán ăn, café,… Cuối công viên là khu vực của trẻ em với nhiều công trình biểu diễn, trò chơi, phòng đọc,… Khu này gọi là vườn Nexcuts Mạng lưới đường phần lớn có bố cục tự do Ngoài khoảng trống chính của khu vực trung tâm, còn lại là cây bóng mát được trồng tạo thành mảng rừng lớn và

có hình thức tự nhiên (Hàn Tất Ngạn, 1996)

1.2 VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT VƯỜN – CÔNG VIÊN VIỆT NAM

Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, lịch sử phát triển nghệ thuật vườn Việt Nam gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của hình thái xã hội Với điều kiện khí hậu, thiên nhiên vô cùng phong phú, cánh đồng mênh mông, thẳng cánh cò bay, dãy núi trùng trùng điệp điệp và biển cả bao la, bốn mùa cây cỏ xanh tươi đã tạo điều kiện cho việc phát triển nghệ thuật vườn Việt Nam mang sắc thái riêng Sau đây là một số thể loại vườn xuất hiện trong quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam

1.2.1 Vườn cung đình

Vườn này xây dựng trên cơ sở nghệ thuật mô phỏng thiên nhiên: bố cục tự do, đắp núi (giả sơn), cây trồng không được cắt xén,… Chức năng của vườn là nơi dạo chơi, nghỉ ngơi của vua quan triều đình Nơi đây cũng là chỗ cho các thi sĩ cung đình sáng tác và bình thơ (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Cuối đời Trần sự ảnh hưởng của Nho giáo đã làm cho vườn lăng chuyển hướng bố cục

từ quy tụ sang đối xứng hai bên “đường thần đạo”, điển hình là vườn lăng vua Trần Hiến Tông được xây ở An Sinh Ngôi mộ vẫn nằm ở khoảng giữa Lăng, song đã có sân chầu trước mộ với hai hàng tượng hầu đối xứng trên trục đường thần đạo Lối bố cục này được hoàn chỉnh và phát triển rực rỡ vào thời Hậu Lê, điển hình là vườn lăng vua

Lê Thái Tổ ở Lam Kinh – Thanh Hóa Xu hướng bố cục vườn lăng này điển hình cho

sự phát triển cục thịnh của Nho giáo (Hàn Tất Ngạn, 2000)

Một ảnh hưởng nữa của Nho giáo trong bố cục phong cảnh là thuyết phong thủy Thuyết này thể hiện rất rõ trong các vườn lăng thời Nguyễn Theo thuyết phong thủy,

Trang 26

khi chọn đất xây dựng phải dựa vào yếu tố “sơn thủy chi giao”, nước chảy ngang qua trước mặt từ trái sang phải Do đó, các lăng nhà Nguyễn đều nằm trên vùng “vạn niên cát địa”, lăng thường tựa vào sườn đồi, trước mặt là nước hoặc có sông chảy qua, xa xa

có núi án, hai bên có thể có đồi, gò, hoặc rừng cây tượng trưng cho tả thanh long, hữu bạch hổ (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006) Vườn lăng không những là thiên đàng của thế giới bên kia mà còn là nơi nghỉ ngơi – giải trí của vua khi còn sống Bởi vậy, vườn lăng vừa mang ý nghĩa tôn nghiêm lại vừa mang chức năng nghỉ ngơi – giải trí xuất hiện chủ yếu vào triều Nguyễn Có hai vườn lăng tiên biểu nhất cho xu hướng này và còn lại tương đối nguyên vẹn cho đến ngày nay là vườn lăng Minh Mạng và vườn lăng Tự Đức (Hàn Tất Ngạn, 2000)

 Vườn lăng Minh Mạng được xây dựng trên núi Cẩm Kê, làng An Bằng, cách Huế 12km, theo bố cục đăng đối hoàn chỉnh (kiểu vườn quy cũ thế kỷ XVII) với tổng diện tích 26ha Vườn đã biểu hiện trọn vẹn chủ đề tư tưởng quyền bất khả xâm phạm của vua chúa bằng sự thống nhất hoàn chỉnh của bố cục Trục trung tâm được bố trí một cách nghiêm túc với những kiến trúc đăng đối hai bên Ngoài chủ đề tư tưởng trên, vườn lăng còn biểu hiện một cách độc đáo tâm hồn người Việt Nam, đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của các nghệ nhân, nhân dân trực tiếp làm Đó là sự kết hợp tài tình cảnh quan nhân tạo và cảnh quan thiên nhiên (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Bước vào khu vườn, không gian rộng mở của mặt nước hồ sen, ven hồ là những đồi thông xanh sẫm gây cho người ngắm một cảm giác đang sống trong thiên nhiên bao la

Trên trục trung tâm, sau khi qua khỏi khu công trình chính (khu điện Sùng Ân) bước trên cầu qua hồ Trong Sáng, cảm giác vô cùng dễ chịu trước không gian rộng mở bằng mặt nước dưới dạng tự nhiên Phía trước mặt vẫn giữ nguyên vẻ đăng đối và nghiêm túc của công trình Minh Lâu Qua mặt hồ nhìn phía trái là cảnh thiên nhiên hùng vĩ với dãy núi xa mờ nên thơ, cận cảnh là những cây thông Điểm kết thúc của trục trung tâm là một rừng nhỏ được dựng lên với phong cách huyền bí của công trình Huyền Cung (nơi chôn xác), đồng thời cũng biểu hiện được hình thái của kiểu rừng nhiệt đới (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

Theo Nguyễn Thị Thanh Thủy (1980) đặc trưng của vườn Việt Nam được biểu hiện qua vườn lăng Minh Mạng ở chỗ bên cạnh sự đăng đối nghiêm túc của trục vườn, vẫn xen vào những dáng mềm mại của tán cây đại (một loại cây tượng trưng cho lòng thành kính, thường được ông cha xưa trồng trước lối vào như ở

Trang 27

 Vườn lăng Tự Đức được xây dựng trên núi Dương Xuân, làng Dương Xuân thượng, cách Huế 8km, diện tích 25ha Do ảnh hưởng tư tưởng tư sản phương Tây, vua Tự Đức đã kết hợp lăng của bản thân với nơi nghỉ ngơi khi còn sống

Vì vậy, lăng Tự Đức có nhiều sắc thái của một vườn nghỉ yên tĩnh ở Á Đông

Để biểu hiện được chủ đề của Tự Đức, các nghệ nhân xưa đã tạo cảnh vườn vừa mang tính chất kín đáo (những vườn kín có thành bao quanh) vừa mang tính chất phóng khoáng của thiên nhiên: những đường dạo quanh theo bờ hồ, rừng đồi thông nhỏ,…nghệ nhân cũng gửi gắm tâm hồn nghệ thuật của mình bằng những đường nét dân gian như kiến trúc cổng vào khu lăng đẹp một cách giản

dị, đứng đắn, như nội dung vườn kín: vườn bao quanh công trình, mảnh vườn xinh xắn có một lối đi duy nhất thẳng lát gạch Vườn chỉ trồng một hoặc vài cây bóng mát to làm rợp bóng gần hết sân vườn Kiểu vườn này ta đều thấy hầu hết trong các nhà ở dân gian, giản dị, ấm cúng và phù hợp với khí hậu nước ta (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)

1.2.3 Vườn tôn giáo tín ngưỡng

Theo Hàn Tất Ngạn (2000) chủ yếu có ba loại: vườn đình, vườn chùa, vườn đền Chức năng chủ yếu của ba thể loại công trình này đều là nơi thờ cúng, là nơi dân chúng lui tới nhiều nhất

Về cơ bản, bố cục vườn đình, đền, chùa đều theo khuynh hướng vườn – nội thất Nghĩa là, quan niệm vườn là một không gian tiếp tục của căn phòng

Vườn đình có không gian thoáng, sân rộng (có lẽ để phù hợp với việc tập trung đông người trong những ngày hội lễ của làng) Cây trồng chủ yếu có tán rộng để lấy bóng mát Ở đình làng Bắc bộ có cây đa tượng trưng cho non – núi – thế giới bên trên (dương) và giếng nước tượng trưng cho thế giới bên dưới (âm)

Đặc điểm của quần thể kiến trúc đền có nhiều khoảng trống bao gồm sân vườn trước, trong và sau Nói chung các vườn trong khu vực đền đều được trồng cây trang trí, có hoa thơm (đặc biệt là ở sân vườn trong) Không gian vườn đều kín và độc lập

Vườn chùa có không gian kín, nhiều cây rậm rạp, bên trong có lối mòn đi lại Các khoảng trống trong chùa gồm: sân trước, sân vườn trong và sau chùa Sân trước thường có chậu hoa, cây cảnh và gác chuông Vườn sau chùa thường trồng cây lấy quả

để thờ cúng

1.2.4 Vườn nhà ở dân gian

Vườn nhà ở dân gian gồm hai loại chính: vườn nhà ở nông thôn và vườn nhà ở

đô thị

Vườn nhà ở nông thôn là một công trình hoàn chỉnh, độc lập, ít bị tách rời nhau Vườn bao quanh nhà được tổ chức như một bộ phận kéo dài của không gian trong nhà

Trang 28

(theo khuynh hướng vườn – nội thất) Vườn nhà ở nông thôn có hai bộ phận chủ yếu: sân vườn trước nhà và sân vườn sau nhà Quanh sân được bố trí các chậu hoa cảnh, đặc biệt có hình ảnh khóm trầu quấn quanh cây cau bên cạnh chum nước là lối bố cục vườn nhà ở truyền thống vùng đồng bằng Bắc bộ Vườn sau chủ yếu trồng cây lấy quả và rau Hàng rào quanh vườn được trồng cây phát triển tự do như dâm bụt, găng tây…

Vườn nhà ở đô thị miền Bắc lại thường chỉ ở sân trong (trừ một số biệt thự) Sân trong (giữa nhà chính và nhà phụ) được bố trí bể nước non bộ và một vài chậu hoa, cây cảnh có thể cân xứng hay tự do trong tổ hợp bố cục của sân

1.3 LỢI ÍCH CỦA CÂY XANH

Một cách tổng quát, có thể chia lợi ích mảng xanh trong môi trường sống thành bốn nhóm công dụng:

- Cải thiện khí hậu

- Giải quyết các vấn đề kỹ thuật học môi sinh

- Có vai trò quan trọng trong phương diện kiến trúc và trang trí cảnh quan

- Công dụng về mặt kinh tế xã hội

1.3.1 Tác dụng cải thiện khí hậu của cây xanh

Các yếu tố chính của khí hậu ảnh hưởng đến chúng ta là bức xạ mặt trời, nhiệt

độ không khí, chuyển động của không khí và ẩm độ Nếu ở trong nhà, chúng ta có thể kiểm soát chúng bằng các thiết bị hiện đại để tạo nên sự tiện nghi theo ý muốn Tuy nhiên, ở ngoài trời, chúng ta chỉ có thể dùng cây xanh tạo ra một tiểu khí hậu để cải

thiện khí hậu một cách có hiệu quả nhằm tạo ra sự dễ chịu cho mình

1.3.1.1 Điều chỉnh nhiệt độ

Khi bức xạ mặt trời đi vào khí quyển địa cầu, một phần phản chiếu qua lớp mây che phủ, một phần bị phân tán và hấp thụ bởi các hạt phân tử trong khí quyển, một phần nữa bị hấp thụ bởi các hạt dạng khí như carbonic, hơi nước và ozone Phần còn lại gần một nửa, thâm nhập vào bề mặt trái đất Trong những ngày nắng, bức xạ mặt trời bị hấp thụ bởi các bề mặt ở đô thị: nhựa đường, bê tông, kính, mái ngói và các bề mặt khác Tất cả các bề mặt này cách ly rất yếu, chúng hấp thụ nhiệt và cũng mất nhiệt nhanh hơn thực vật và đất Vì vậy, thường xuyên có một sự chênh lệch nhiệt độ giữa các bề mặt này và không khí xung quanh Lượng nhiệt này thông qua hiện tượng đối lưu, làm tăng nhiệt độ không khí xung quanh và làm giảm ẩm độ tương đối (Trần Viết

Mỹ, 2005)

Cây to, cây bụi và cỏ điều hòa nhiệt độ trong môi trường đô thị nhờ vào kiểm soát bức xạ mặt trời Lá cây ngăn chặn, phản chiếu, hấp thụ và truyền dẫn bức xạ mặt trời Hiệu quả của chúng tùy thuộc vào mật độ lá, dạng lá và cách phân cành của cây

Ngày đăng: 12/04/2018, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w