TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN HOÀNG TRUNG KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐƯA RA MÔ HÌNH THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNH QUAN KHUÔN VIÊN KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN HOÀNG TRUNG
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐƯA RA MÔ HÌNH THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNH QUAN KHUÔN VIÊN KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Ngành: HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
Cần Thơ, 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS Nguyễn Minh Chơn Nguyễn Hoàng Trung KTS La Chí Cường MSSV: 3053393
Lớp: HV&CC K31
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ-SINH HÓA
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa Viên Cây Cảnh với đề tài:
“KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐƯA RA MÔ HÌNH THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNH QUAN KHUÔN VIÊN KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG – TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ”
Do sinh viên NGUYỄN HOÀNG TRUNG thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng năm 2009
Cán bộ hướng dẫn
TS NGUYỄN MINH CHƠN
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ-SINH HÓA
Hội đồng chấm luận văn đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Hoa Viên Cây Cảnh với đề tài:
“KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐƯA RA MÔ HÌNH THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNH QUAN KHUÔN VIÊN KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG – TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ”
Do sinh viên: NGUYỄN HOÀNG TRUNG thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày… tháng… năm 2009
Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2009 DUYỆT KHOA Chủ tịch hội đồng
Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình luận văn nào trước đây
NGUYỄN HOÀNG TRUNG
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Trung Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 26/09/1987 Nơi sinh: Ô Môn – Cần Thơ
Quê quán: Ô Môn – Cần Thơ Dân tộc: Kinh
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 174/3 Thới Bình – Thới An – Ô Môn – Cần Thơ Điện thoại : 01659272989
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
1993 - 1998: Học tại trường Tiểu học Thới An III ở thành phố Cần Thơ
1998 - 2002: Học tại trường Trung học cơ sở Thới An
2002 - 2005: Học tại trường Trung học phổ thong Lưu Hữu Phước
2005 - 2009: Học ngành Hoa Viên và Cây Cảnh khóa 31, Trường Đại học Cần Thơ
Ngày tháng năm 2009
Người khai ký tên
Nguyễn Hoàng Trung
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Con xin cảm ơn Ba Mẹ đã nuôi dạy con khôn lớn đến ngày hôm nay
Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Em xin chân thành cảm ơn:
TS Nguyễn Minh Chơn, KTS La Chí Cường đã hướng dẫn em tận tình, chu đáo
Các thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp Hoa Viên và Cây Cảnh Khóa 31
Các bạn lớp Hoa Viên và Cây Cảnh Khóa 31
Đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt luận văn này
Cảm ơn mọi người!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2009
Nguyễn Hoàng Trung
Trang 8MỤC LỤC
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT VƯỜN –
CÔNG VIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2
1.1.1 Vài nét về lịch sử phát triển nghệ thuật bố cục vườn –
công viên trên thế giới
2
1.1.2 Nghệ thuật vườn – công viên Việt Nam 8 1.2 CÂY XANH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 11
1.2.3 Các nguyên tắc phối kết cây xanh 12 1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC THIẾT KẾ 13
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
Trang 92.2.1 Khảo sát, đánh giá hiện trạng 16
3.1 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
1.1 Vườn treo Ba-bi-lon của hoàng hậu Xi-mi-ra-mit 3 1.2 Đá, nước, nhà tạ trong vườn Shizillin, Tô Châu 4 1.3 Hành lang, nhà tạ trong vườn Lạc Viên, Thượng Hải 5
1.5 Biệt thự Vettii, Pompeii (giữa thế kỷ I TCN) 8
1.6 Vườn lăng Tự Đức được kết hợp từ bố cục cân xứng và tự do
1.8 Phong cảnh đồng quê trong thiết kế vườn hiện đại 10
3.2 Hướng nắng và hướng gió ảnh hưởng đến khu vực thiết kế 21
3.3 Hiện trạng xây dựng của khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
3.1 Hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu 18
3.9 Một số loại cây chính sử dụng trong phương án 1 41
3.12 Một số loại cây chính sử dụng trong phương án 2 49
3.15 Một số loại cây chính sử dụng trong phương án 3 60
Trang 12NGUYỄN HOÀNG TRUNG, 2009 “Khảo sát hiện trạng và đưa ra mô hình thiết
kế cải tạo cảnh quan khuôn viên Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ” Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, trang
Cán bộ hướng dẫn: TS NGUYỄN MINH CHƠN và KTS LA CHÍ CƯỜNG
TÓM LƯỢC
Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ được thành lập từ năm 1996 từ các khoa Trồng Trọt, Chăn Nuôi Thú Y, Bảo Quản và Chế Biến Nông Sản Thực Phẩm và Thủy Sản Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng có một cơ sở vật chất tốt hơn so với các khoa khác trong trường Bên cạnh việc đầu tư tốt cho cơ sở vật chất kỹ thuật thì cảnh quan môi trường của khoa cũng rất được chú trọng Khuôn viên của khoa được bố trí với nhiều loại cây có bóng mát, làm cho bầu không khí nơi đây luôn được trong lành, mát mẻ Tuy nhiên, sau nhiều năm xây dựng và phát triển, cảnh quan của Khoa cũng đã ít nhiều có sự thay đổi Một số loại cây trồng trước đây giờ đã không còn phù hợp với cảnh quan hiện tại, bên cạnh đó cây trồng cũng đã có sự lẫn tạp nhiều Để cải tạo và đổi mới cảnh quan của Khoa
Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, đề tài: “Khảo sát hiện trạng và đưa ra mô hình thiết kế cải tạo cảnh quan khuôn viên Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ” đã được thực hiện, nhằm mục tiêu dựa trên các số liệu phân tích, đánh giá về hiện trạng của Khoa từ đó đưa ra phương án cải tạo và đổi mới cảnh quan phù hợp nhất Với mục tiêu trên, đề tài được thực hiện với
3 phương án Phương án 1 “thiết kế khuôn viên của khoa dựa trên hiện trạng sẵn có”, mô hình thiết kế đã tận dụng tối đa nguồn thực vật hiện hữu, đồng thời có sự kết hợp với một số biện pháp cải tạo mới Phương án 2 “thiết kế mới hoàn toàn khuôn viên của khoa theo phong cảnh làng quê Việt Nam”, với phương án này, phần lớn những loại cây hiện hữu sẽ được thay mới, ý tưởng chủ đạo của thiết kế thể hiện sự gần gũi, thân quen của phong cảnh làng quê Việt Nam Cuối cùng là phương án 3 “thiết kế mới hoàn toàn khuôn viên của khoa theo phong cách vườn Nhật Bản”, với phương án 3, đa số những loại cây hiện hữu cũng sẽ được thay mới cho phù hợp với ý tưởng thiết kế Kết quả cho thấy, phương án 1 đã tận dụng được hiện trạng thực vật hiện hữu, chi phí đầu tư thấp Với phương án 2, thiết kế mang lại cảm giác vô cùng gần gũi với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam Phương án 3, cảnh quan thiết kế rất phù hợp với kiến trúc xây dựng nhưng chi phí khá cao Cần nghiên cứu thiết kế ra các khu vực liên kế phía sau của Khoa (theo hướng Tây Nam) dựa trên cảnh quan đã thiết kế để tạo nên một tổng thể hài hòa,
Trang 13Đó cũng là lý do, đề tài: “Khảo sát hiện trạng và đưa ra mô hình thiết kế cải tạo
cảnh quan khuôn viên Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ” được thực hiện Mục tiêu của đề tài là cải tạo và đổi mới cảnh quan của
Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng dựa trên hiện trạng để tạo ra mảng xanh mang bản sắc văn hoá đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng thể hiện sự giao lưu với các phong cách thiết kế cảnh quan của thế giới Cảnh quan được thiết kế đảm bảo được tính phát triển bền vững, tôn lên nét hiện đại cho cảnh quan toàn khu vực nghiên cứu
Trang 14Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT VƯỜN – CÔNG VIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Vài nét về lịch sử phát triển nghệ thuật bố cục vườn – công viên trên thế giới
Nghệ thuật vườn – công viên đã có từ lâu trên thế giới, vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên, ở Trung Quốc đã xây vườn lớn bao quanh công thự vua chúa Tại thành phố Ba-bi-lon (thành phố thời cổ duy nhất giữ được nền văn minh và phát triển trong liền 15 thế kỷ) đã có vườn treo của hoàng hậu Xi-mi-ra-mit Ở Ai Cập,
Hy lạp và La Mã cổ đã chú ý nhiều đến việc xây dựng vườn: tạo mặt nước, các công trình trang trí phong phú, số lượng tượng rất lớn
Vào thế kỷ XIII – XIV ở Tây Ban Nha đã xây dựng các vườn nhỏ, kín Thời trung
cổ nghệ thuật vườn hầu như không phát triển Đến thời phục hưng, vườn lại hưng thịnh
Ở Ý, thế kỷ XVI đã tạo nên các vườn đặc sắc của lâu đài, biệt thự Đến thế kỷ XVII kiểu vườn ở Ý được đưa vào Pháp và được thay đổi theo đặc điểm tự nhiên của nước Pháp Nếu ở Ý quy mô vườn 2-3 ha thì ở Pháp quy mô hàng trăm ha Nổi tiếng có vườn Véc-xai rộng 1.700 ha của Le-no-tre đã ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật phong cảnh Châu Âu
Giữa thế kỷ XVIII ở Tây Ấu xuất hiện khuynh hướng nghệ thuật phong cảnh mới; ảnh hưởng bởi nghệ thuật mô phỏng tự nhiên của vườn cổ Trung Quốc
Đến thế kỷ XIX nghệ thuật phong cảnh đã mở rộng đến thành phố và trở thành một phần hữu cơ với thành phố
Sau cánh mạng Tháng Mười, thành phố xã hội chủ nghĩa bắt đầu hình thành kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của quang cảnh chung Năm 1929, lần đầu tiên trên thế giới, ở Liên Xô đã xuất hiện kiến trúc phong cảnh trong công viên kiểu mới: công viên văn hóa nghỉ ngơi Gooc-ki ở Mat-xcơ-va
Ngày nay, trên thế giới đã xuất hiện nhiều khuynh hướng nghệ thuật vườn – công viên (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)
1.1.1.1 Nghệ thuật vườn – công viên Ai Cập
Bố cục vườn cổ Ai Cập theo xu hướng cân xứng, quanh nhân trung tâm là một hồ nước lớn hình chữ nhật (60 x 120) Bố cục đơn giản nhưng rất chặt chẽ bởi các yếu
tố như: công trình chính (đền thờ hay dinh thự) nằm trên trục chính; cây hoa trang
Trang 15trí ở trung tâm; cây to bóng mát trồng thành hàng xa trung tâm Nguyên nhân tạo bố cục dạng hình học của vườn là do hệ thống tưới quy định
1.1.1.2 Nghệ thuật vườn công viên At-xi-ri và Ba-bi-lon
Vườn ở At-xi-ri và Ba-bi-lon hình thành trên cơ sở kiến trúc Lưỡng Hà, điển hình là kiểu đền Zic-cu-rat Kiểu này được gọi là vườn treo Nổi tiếng là vuờn treo Xi-mi-ra-mit Vườn có 4 tầng cao chênh nhau 5m, mỗi tầng có chiều rộng 3,5m.Chiều dài nhất của vườn là 12m Bố cục các tầng vườn theo xu hướng tự do Các tầng vườn được nối với nhau bởi những bậc đồ sộ làm bằng đá hoa trắng và hồng trông rất lộng lẫy Yếu tố chủ yếu đưa vào bố cục vườn là cây Có nhều loại cây quý hiếm để tạo cảnh đẹp và cho bóng mát Ngoài cây cỏ tự nhiên, vườn còn được chú ý sửa sang cải tạo địa hình (đắp đồi nhân tạo) Bố cục mặt nước trong vườn treo được tổ chức ở các dạng vòi phun, thác hay suối vừa để trang trí, vừa để tưới
Hình 1.1: Vườn treo Ba-bi-lon của hoàng hậu Xi-mi-ra-mit
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.1.1.3 Nghệ thuật vườn – công viên Ấn Độ
Yếu tố thực vật trong bố cục nghệ thuât vườn – công viên Ấn Độ rất đa dạng Với điều kiện thiên nhiên sẵn có: núi cao nhất thế giới, đồng cỏ mênh mông, vùng mưa nhiều lại có vùng sa mạc Đặc trưng của vườn Ấn Độ là hệ thống mặt nước mở rộng, người ta có cảm tưởng như vườn nổi trên mặt nước, có loại vườn gọi là “vườn nổi” Vườn nổi là những “bè” chiều dài 9m chiều rộng 2 – 3 m, đắp lớp đất 60 – 70
cm Trên những lớp đất đó có tổ chức cây xanh (thường trồng những loại cây ăn quả) Nổi tiếng nhất Ấn Độ là quần thể công viên cung điện U-dai-pua (1571) Vườn xây dựng trên đảo đá trắng, dưới chân núi đảo là mặt nước tự nhiên, có chổ
Trang 16được cải tạo Cơ cấu vườn bao gồm một hệ thống sân cao Thủ pháp bố cục sân chủ yếu dùng cây to bóng mát trồng đăng đối, tán cây màu thẫm, đổ bóng xuống mặt nước Ở lâu đài trên sân có bể trang trí đất lát đá màu, có bồn hoa trồng những khóm hoa
1.1.1.4 Nghệ htuật vườn – công viên Trung Quốc
Hình 1.2: Đá, nước, nhà tạ trong vườn Shizillin, Tô Châu
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Nghệ thuật vườn – công viên cổ Trung Quốc là quê hương của xu hướng mô phỏng thiên nhiên phương Đông Đó là một nghệ thuật độc đáo với phương ngôn :
“Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn”
Có nghĩa là núi tiếp núi, nước tiếp nước, dường như không thấy lối đi đâu cả Và những khóm hoa sáng lên trong bóng râm của những cây liễu rủ báo hiệu còn những cảnh tiếp theo
Vườn Trung Quốc bao gồm những nguyên lý:
- Lấy thiên nhên làm mẫu chính
- Các yếu tố hình thành vườn được bố trí hài hòa tạo nên những bức tranh thiên nhiên
- Vườn Trung Quốc bố cục theo kiểu đi ngắn cảnh Vì thế luôn tạo cảnh thay đổi, bất ngờ Lối đi thường có mái che (trường lang) để sử dụng được cả bốn mùa
- Địa hình được nghiên cứu tỷ mỉ
Trang 17- Nước là một yếu tố không thể thiếu Thường dùng mặt nước làm trung tâm bố cục vườn
- Nghệ thuật tạo cảnh dùng thủ pháp gây sự thay đổi trong cảm giác: như tổ chức đồi vực xen lẫn thung lũng, đồng cỏ, dòng nước chảy mạnh xen lẫn mặt nước phẳng lặng, cánh rừng thông tối xen lẫn rừng lá màu sáng tràn ánh nắng
- Sử dụng âm thanh để tạo nên những tâm trạng theo chủ đề của tác giả như: tạo tiếng gió, tiếng vọng âm, tiếng chim hót, tiếng suối róc rách hay tiếng ầm ầm của thác đổ, tiếng rì rào hay xào xạc của lá…
Hình 1.3:Hành lang, nhà tạ trong vườn Lạc Viên, Thượng Hải
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.1.1.5 Nghệ thuật vườn – công viên Nhật Bản
Người Nhật đã chịu ảnh hưởng xu hướng nghệ thuật vườn Trung Quốc nhưng để phù hợp với kiểu thiên nhiên đất nước mình, họ đã tạo nên kiểu nghệ thuật phong cảnh đặc sắc với những nguyên lý riêng: phong cảnh vườn cổ Nhật không phải để đi vào ngắm mà để ngồi thưởng thức Vì vậy không gian vườn chan hòa với không gian bên trong nhà Vườn được xem như một phần của nhà Người Nhật thích giữ nguyên phong cảnh đất nước mình, để đạt được ý nguyện họ đã thu nhỏ thiên nhiên tạo thành những bức tranh hoàn chỉnh để ngắm Người Nhật đã dùng thủ pháp tượng trưng cao: Thiên nhiên đôi khi chỉ biểu hiện dáng dấp (dòng suối, con sông,
Trang 18thác đổ) Nghệ thuật vườn Nhật độc đáo nhất là tạo cảnh khô Nổi tiếng trên thế giới
có vườn Rioanji Vườn chỉ có hai yếu tố cát trắng hạt to và đá Cát chỉ dùng bừa để chải giả làm sóng biển Trên thảm cát đó sắp xếp một cách nghệ thuật những nhóm
đá tượng trưng đất nước đảo
Bố cục vườn Nhật sử dụng không gian mở là chủ yếu, vườn Nhật hạn chế dùng cây Cây trong vườn Nhật được nghiên cứu tỷ mỉ dưới các dạng:
- Cây để mọc tự nhiên Thường dùng loại lá xanh quanh năm như cây thông hình ô
- Cây hãm với tỷ lệ bé hài hòa với mảnh vườn nhỏ ( đó là một nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao)
- Rêu và cỏ hầu như không thể thiếu được trong vườn Nhật Đặc tính chung của vườn Nhật là bố cục tạo nên sự mềm mại đặc sắc; màu lục xám bao trùm khắp vườn mang tính chất cổ kính nên thơ Vườn Nhật bố cục theo 3 phong cách:
Phong cách Xin: đơn giản, phẳng
Phong cách Xô: phức tạp, có đồi
Phong cách Djiô: địa hình phức tạp có núi đồi, sông, suối
Hình 1.4: Vườn đá ở viện Ryoan-ji, Kyoto
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.1.1.6 Nghệ thuật vườn – công viên Hy Lạp
Hy Lạp có khí hậu Địa trung hải Vì vậy rất thuận lợi cho việc phát triển công trình kiến trúc độc đáo: Nhà hát ngoài trời, sân vận động có khán đài… đặc biệt phát sinh các công trình mang tính chất xã hội Do vậy, vườn công cộng bắt nguồn từ cổ Hy Lạp Nguyên nhân vườn mang ý nghĩa công cộng nữa là do người Hy Lạp rất tôn thờ các anh hùng có tài võ nghệ Hàng năm có tổ chức ngày hội thi tài, chính tại
Trang 19những trường đấu này đã hình thành công viên trồng những lọại cây to rợp bóng mát Một trong những kiểu vườn công cộng là vườn mang tính chất rừng nhỏ Tại
đó kỷ niệm các anh hùng sáng lập ra thành phố và những người nổi tiếng được xem như Chúa Trời Ở những nơi thành kính trồng những loại cây đặc biệt quý và đẹp như trắc bá diệp, ngô đồng cao to có bóng mát, pan-ma…
Kiểu vườn nữa được gọi là nhim-phê-ia: Trung tâm là hồ nước trang trí, trong hồ có những tảng đá đẹp, quanh hồ trồng cây bóng mát Nhim-phê-ia sau này (thời kỳ phục hưng) trở thành mô típ của vườn La Mã Cái đẹp của vườn Hy Lạp còn gắn bó với những truyền thuyết dân gian Hoa được người Hy Lạp ưa chuộng và thường tượng trưng cho các truyền thuyết cao đẹp Họ rất thích hoa cẩm chướng Hy lạp có
“vườn hoa vàng” và có cả những tuyển tập viết về hoa được xem như công trình khoa học Hy Lạp còn có loại vườn gọi là vườn Pa-pây-on: dùng đồi nhân tạo để trang trí, đỉnh đồi có những con đường uốn quanh hình xoắn ốc Ngoài ra Hy Lạp còn phổ biến kiểu vườn có xây dựng hang động, các giàn leo, tượng, mặt nước dưới dạng vòi phun theo hình thức tượng Bố cục vườn Hy Lạp theo xu hướng cân xứng đều đặn nhưng rất tinh xảo về cách bài trí cảnh quan đẹp và có sức truyền cảm về các hình tượng nghệ thuật
1.1.1.7 Nghệ thuật vườn – công viên La Mã
Nghệ thuật vườn – công viên La mã chịu ảnh hưởng của vườn cổ Hy Lap nhưng mang ý nghĩa thực dụng cao hơn, sử dụng nhiều loại cây ăn quả như ô liu, táo, lê…
Bố cục thường có rào bằng cây cắt xén bao quanh, có chòi nghĩ có giàn nho leo Phát triển kiểu “vườn trong” cổ Hy Lạp thành mô típ vườn sân trong có trồng cây trang trí thấp và hoa; trung tâm vườn là bể trang trí có vòi phun Về sau, mô típ này được phổ biến rộng rãi trên các quảng trường thành phố và trở thành phong cách chính của vườn trước công trình công cộng Thời kỳ La Mã trở thành nước đế quốc
đi chinh phục Hy Lạp và các nước khác, người La Mã đã mang về nước mình các bảo vật quý giá để trang trí cho những lâu đài tráng lệ, nghệ thuật vườn lâu đài lúc này đặc biệt phát triển Cơ cấu vườn chia làm ba phần chính: phần vườn trang trí, phần rào, phần cây ăn quả
Phần vườn trang trí chia làm ba khu vực:
- Khu dạo, trực tiếp trước nhà: bố trí các đường thẳng trồng các cây cắt xén hai bên tạo thành đường kín khoanh các vùng riêng trồng hoa Khu dạo bố trí trên sân cao
có thể mở không gian về phía cảnh đẹp xa Các vườn nhỏ như vây được gọi là Viridarium, dùng để tổ chức các tiệc trà ngoài trời
- Khu đi chơi bằng xe ngựa hay kiệu có người khiêng
- Khu công viên có thú rừng hay gia cầm, mang tính chất rừng chiếm tỉ lệ lớn
Trang 20Vườn La Mã rất phong phú về các loại cây trồng, có những tác phẩm lớn về nghiên cứu lịch sử thiên nhiên, mô tả hàng nghìn loại cây trồng Tuy vậy, khi đế quốc La
Mã bị sụp đổ thì vườn cũng bị mai một đi, cho đến thời kỳ phục hưng, nghệ thuật vườn trang trí ở đây lại phát triển mạnh mẻ ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật vườn – công viên trên thế giới ( Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1980)
Hình 1.5: Biệt thự Vettii, Pompeii của La Mã
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.1.2 Nghệ thuật vườn – công viên Việt Nam
Vườn cảnh Việt Nam thời phong kiến đã chịu ảnh hưởng bởi phong cách vườn cảnh của Trung Quốc Và từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay thì các công viên lại làm theo kiểu Pháp Theo cụ Nguyễn Phi Hoanh viết trong “Nghệ thuật vườn hoa Việt Nam” thì vườn hoa cổ điển của nước ta có các nguyên liệu như: nước, cây, đá… Với các nguyên liệu này, nghệ sĩ vườn hoa đã sáng tạo ra những cảnh lý tưởng cho con người Cảnh lý tưởng ấy phải có hòn giả sơn, có ao thanh hà, có cây cổ thụ, có những lối đi khúc khuỷu như trong rừng lớn Nó phải có đình, có tạ để khách nghỉ chân, có những cầu qua dòng nước để khách dừng lại ngắm hoa sen hay là xem cá lội Muốn cho người dạo chơi có cảm giác như đứng trước một cảnh thiên tạo, người ta không xây đá ngay thẳng quanh bờ hồ hay bờ suối, mà thường để cho nó nhô ra, lõm vào như thiên nhiên Các khóm hoa mọc chen vào những khe đá hay ở
mé nước Lối đi khi rộng khi hẹp, khi lên gò khi xuống dốc, khi đi quanh theo gốc
cổ thụ như một khu rừng núi ít có bàn tay người sửa đổi Cũng có khi con đường xuyên qua đám cây rậm rạp có vẻ huyền bí, lại cũng có khi nó dẫn đến một gian phòng bằng cây lá cho người ngồi nghỉ chân trò truyện lúc trời oi bức
Trang 21Để tăng thêm vẻ tự nhiên cho cảnh vật, nghệ sĩ vườn hoa bao giờ cũng đắp thành nhiều chổ lồi lõm, khấp khểnh trên mặt đất vườn hoa Điểm kị nhất của vườn hoa là mặt đất bằng phẳng Người ta đào thêm hồ, khai dòng nước, lấy đất đắp thành những ngọn đồi nhỏ để tránh cái đơn điệu của mặt bằng Nói tóm lại, vườn hoa Việt Nam là tác phẩm tả chân theo một cảnh thiên nhiên thích thú Thật ra, vườn cảnh Việt Nam cũng đã có truyền thống lâu đời nhưng vì các lí do khách quan cũng như chủ quan mà chúng tồn tại rất ít Các lăng tẩm, vườn tĩnh tâm hay giả viên ở Huế là những vườn cảnh điển hình còn sót lại (Nguyễn Hoàng Huy,1997)
Hình 1.6: Vườn lăng Tự Đức được kết hợp từ bố cục cân xứng và tự do – Toàn cảnh
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Nghệ thuật cảnh quan Việt Nam với sự ảnh hưởng từ lâu của vườn cảnh Trung Hoa, Pháp, Liên Xô theo các giai đoạn lịch sử của đất nước Do đó, sự giao lưu ảnh hưởng văn hóa nói chung và nghệ thuật cảnh quan nói riêng là điều không thể tránh khỏi Cũng chính vì vậy mà hiện nay nghệ thuật cảnh quan của nước ta đang tồn tại nhiều hình thức khác nhau
1.1.2.1 Xu hướng vườn cây cắt xén hình học
Chịu ảnh hưởng của nghệ thuật cắt xén cây của phương Tây, nhưng người Việt Nam khi áp dụng đã phát triển thêm loại hình cắt uốn cây the hình các con vật (rồng, chim, hưu…) và hiện nay vẫn còn áp dụng nhiều trong các công viên công cộng, các mặt trước trụ sở với hình thức cây thể hiện chữ
Trang 22Hình 1.7: Cây cắt xén theo hình con vật
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.1.2.2 Xu hướng cảnh quan phong cảnh đồng quê
Đây là một trào lưu nổi rộ hiện nay, đặc biệt là trong các khu resort, các khu du lịch sinh thái, các quán ăn cũng như nhà ở trong đô thị Những khu đất được quy hoạch với mạng đường tự do với những mảng cỏ rộng, trên đó bố trí các tiểu cảnh mang các chủ đề về miền quê Việt Nam như bụi tre, cau, chuối, lu đất, thuyền hoa, xe thồ, guồng quay nước Tây Nguyên… Thật sự, đây là một phát triển tích cực trong nghệ thuật cảnh quan theo tinh thần Việt trên cơ sở “công viên phong cảnh đồng quê” thế
kỷ XVIII
Hình 1.8: Phong cảnh đồng quê trong thiết kế vườn hiện đại
(Nguồn: “Kiến trúc phong cảnh”, Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
Trang 231.1.2.3 Xu hướng cảnh quan kế hợp kỹ thuật
Là hình thức các chậu cây được xếp trên các khung sườn sắt hình chữ nhật, kim tự tháp, hình cầu… Đây là hình thức được áp dụng để trang trí đường phố trong các ngày lễ hội, một số trục đường, trục chính đón tiếp của khu du lịch hay vườn hoa trung tâm khu ở, đô thị… mà cần thiết phô trương sự hào nhoáng bên ngoài hoặc phục vụ cho nhu cầu trưng bày ngắn hạn (Lê Đàm Ngọc Tú, 2006)
1.2 CÂY XANH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN
1.2.1 Vai trò của cây xanh
Một cách tổng quát, nhận thức về vai trò của mảng xanh (Green space = cây và cỏ, hoa, kiểng) trong môi trường sống có thể tóm tắt trong bốn nhóm công dụng:
1.2.1.1 Trước hết, mảng xanh giúp cải thiện khí hậu
Điều hòa nhiệt độ khi trời nắng, ngăn giữ lại khí độc từ các khu công nghiệp, hạn chế sói lở khi mưa to, và điều hòa ẩm độ không khí Một cây mọc riêng lẻ có thể chuyển đổi bóc hơi gần 400 lít nước mỗi ngày nếu đất cung cấp đủ ẩm độ
1.2.1.2 Mảng cây xanh đã giải quyết vấn đề kỹ thuật học môi sinh
Ở vùng ngoại thành nông thôn, cây xanh hạn chế xói mòn đất, điều hòa mực thủy cấp và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt lấy từ giếng Trong nội đô, cây xanh hạn chế tiếng ồn, ngăn chặn ô nhiễm không khí nhờ lá cây hấp thu bớt bụi, thanh lọc không khí qua quang hợp, giảm nhiệt độ không khí khi trời oi bức
1.2.1.3 Cây xanh có vai trò quan trọng trong phương diện kiến trúc và trang trí cảnh quan
Trong thiết kế xây dựng, cây xanh là một thành phần không thể thiếu được cùng với các chất liệu khác, nhất là trang trí ngoại thất Những tính chất của cây xanh như: hình dạng, màu sắc, kết cấu và kích thước của cây xanh làm tăng giá trị thẩm mỹ cho công trình rất nhiều Các công viên, khu du lịch được nhân dân ưa chuộng trong các kỳ nghỉ, một phần lớn là do tác dụng về cảnh quan thiên nhiên của mảng xanh
1.2.1.4 Công dụng khác của cây xanh
Cung cấp gỗ củi, trái giống (bảo tồn gien), hoa quả ở vùng ven đô, tạo ra các khu vực vui chơi cho trẻ thơ và khu dạo mát, thư giãn cho người lớn, nơi tập thể dục Cây xanh còn được dùng như một chỉ dẫn về các biến cố, kỷ niệm, những ẩn dụ văn học (Chế Đình Lý, 1997)
Trang 241.2.2 Phân loại cây xanh
1.2.2.1 Phân loại theo mục đích sử dụng
- Làm tường che chắn tầm nhìn khi thiết kế các phòng sinh hoạt ngoài trời
- Sử dụng cây có hình dáng đặc biệt để nhấn mạnh cửa ra vào, hoặc trang trí tô điểm trên nền cây che phủ
- Làm hàng rào ngăn cản sự đi lại, có xén tỉa hoặc trồng tự do
- Che phủ nền cho hoa viên
- Sử dụng cho cây leo lên các dàng
1.2.2.3 Phân loại theo kích thước trưởng thành
- Cây đại mộc (cao trên 20 – 25m)
- Cây trung mộc (10 – 20 m)
- Cây tiểu mộc (dưới 10 m) (Chế Đình Lý, 1997)
1.2.3 Các nguyên tắc phối kết cây xanh
1.2.3.1 Phối kết cây theo tương quan về màu sắc
Cây xanh được phối kết theo hai hướng của màu sắc, đó là tương đồng và tương phản Nếu như những sắc màu tương đồng mang tính nhẹ nhàng sẽ tạo cảm giác tĩnh lặng thì với tương phản lại ngược lại, nó sẽ tạo ra sự xung đột giữa các đối tượng và làm giảm đi tính chất đơn điệu của đối tượng Ứng dụng những nguyên lý này vào việc thiết kế sân vườn có thể tạo ra được những khu vườn phù hợp với yêu cầu, mong muốn của người sử dụng
1.2.3.2 Phối kết cây theo hình dáng
Ngoài những hiệu ứng về màu sắc, khai thác triệt để yếu tố hình dáng và chiều cao cây sẽ tạo ra những hiệu quả bất ngờ Thường khi phối kết theo bố cục này, cần quan tâm tương quan hình dáng giữa cây và công trình, giữa các loại cây với nhau
1.2.3.3 Phối kết theo mùa khí hậu
Cây xanh luôn phát triển và thay đổi theo mùa Do đó, cần dựa trên những đặc điểm sinh lý của thực vật để xây dựng một khu vườn sinh động với những cây lá thay đổi theo mùa tạo sự đa dạng cho khu vườn
Trang 251.2.3.4 Phối kết theo tỉ lệ (lá, hoa, chiều cao cây)
Việc phối kế theo tỉ lệ này tạo sự cân xứng, thăng bằng giữa điểm nhấn, giữa các cây với công trình xung quanh Ví dụ, một cây cao 3m sẽ nổi bật bên một ngôi nhà nhỏ, nhưng nó sẽ trở nên nhỏ bé khi bên cạnh một hay hai công trình trúc to lớn Do
đó, khi chọn loại cây trồng trong thiết kế, cần tính toán tỉ lệ giữa cây xanh với công trình là điều cần thiết để tạo sự hài hòa, thẩm mỹ
1.2.3.5 Phối kết theo vị trí
Kiểu phối kết này chính là sự phân phối cây sao cho hài hòa và đồng thời vẫn tạo được sức hút về những điểm trung tâm Ngoài ra, để tạo sức hút cho điểm nhấn, chúng ta không chỉ cần sử dụng đến khối lượng cây mà có thể thay thế bằng yếu tố màu sắc, hình dáng hay khoảng cách Phối kết theo vị trí cần vận dụng các nguyên tắc đóng, mở cảnh để tạo được các góc nhìn đẹp đến các tiểu cảnh, điểm cảnh
1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC THIẾT KẾ
1.3.1 Khí hậu
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, trong năm chia ra 2 mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 5 – 11 ứng với gió Tây Nam
+ Mùa khô từ tháng 11 – 4 (năm sau) ứng với gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc
- Mưa: Tập trung vào mùa mưa (tháng 5 – 11)
+ Lượng mưa trung bình năm 1.829 mm
+ Số ngày mưa trung bình 114 ngày
- Gió:
+ Hướng Đông (Đông Nam và Đông Bắc) từ tháng 11 – 4
+ Hướng Tây Nam từ tháng 5 – 11
Trang 26- Mùa kiệt vào tháng 4, lưu lượng nước sông Hậu 1.970 m3/s
- Mùa lũ thường xảy ra vào tháng 9, lưu lượng nước sông Hậu đến 38.000 m3/s, hàm lượng phù sa 0,27 – 0,37 kg/m3 (Lê Mỹ Hạnh, 2002)
1.3.3 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt:
Sông Hậu là nguồn nước mặt chủ yếu của thành phố Cần Thơ Phần sông Hậu chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam là ranh giới phía Đông Bắc của thành phố Cần Thơ, bắt đầu từ xã Thới Thuận (Thốt Nốt) đến xã Phú Hữu (Châu Thành) dài khoảng 65 km Sau khi được phân bố, nguồn nước rất lớn từ sông Tiền qua Vàm Nao đã gia tăng lưu lượng hai sông xấp xỉ như nhau (bình quân tháng trong năm khoảng 7.000 m3/s Tổng lưu lượng nước đáng kể trên được dẫn qua hàng loạt hệ thống kênh rạch nối từ sông Hậu vào các kênh Rạch Sỏi, Vàm Cống, Thốt Nốt, Thơm Rơm, rạch Ô Môn, sông Cần Thơ, kênh Xà No, kênh Cái Côn… Hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc tạo điều kiện thuận lợi giao thông thủy và cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, sinh hoạt cũng như tạo đất
- Nguồn nước ngầm:
Theo số liệu khảo sát Liên đoàn 8 địa chất thủy văn và xí nghiệp khai thác nước ngầm Số 5, hồ sơ bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1/500.000 (1977 – 1983), tỷ lệ 1/200.000 (1984 – 1986), tỷ lệ 1/100.000 (1987) cho thấy lượng nước ngầm ở thành phố Cần Thơ có 4 tầng: Heloxen, Pleistoxen, Plioxen và Mioxen, trữ lượng khoảng 1.375.190m3, trong đó nước ngầm ở tầng Pleistoxen là dồi dào nhất Độ sâu khai thác từ 80 – 150m, nước nhiễm phèn phải qua xử lý mới sử dụng được, còn ở tầng sâu hơn chất lượng nước rất tốt Nguồn nước ngầm khá phong phú, nếu tổ chức đầu
tư khai thác sẽ đủ sức phục vụ sinh hoạt và tưới cho cây trồng trong mùa khô
Trang 271.3.4 Địa hình địa mạo
Địa hình có dạng thoái dần theo hai hướng Nam và Tây Nam Độ cao tuyệt đối biến động từ 0,6 – 1,6 m, nơi lên líp hoặc công trình kiến trúc cao 2,1 – 2,5 m Địa hình ven sông rất thuận lợi cho việc lợi dụng thủy triều tưới tiêu tự chảy trong các tháng mùa mưa Nhìn chung địa hình của thành phố tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và giao thông trong địa bàn (Lê Thanh Vũ, 2002)
1.3.5 Thổ nhưỡng
Theo Lê Thanh Vũ (2002), thành phố Cần Thơ có 4 nhóm đất chính, gồm: đất phù
sa, đất mặn, đất phèn, đất xáo trộn (đất lên líp, thổ cư…) Trong đó, đất mặn chiếm diện tích nhỏ nhất (4.878 ha), kế đến là đất xáo trộn (55.047 ha), xếp vị trí thứ 3 là đất phèn (79.221 ha) và có diện tích lớn nhất là đất phù sa (146.144 ha), chiếm 49,33% diện tích tự nhiên Đất phù sa phân bố dọc theo sông Hậu dài trên 60 km, khoảng phân bố cách sông từ 8 – 20 km, trung bình 15 km Đây là loại đất tốt nhất trong các loại đất cho phép đa dạng hóa cây trồng
- Xét về tính chất lý – hóa của đất ta thấy:
+ Về lý tính: Đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét và thịt từ 68 – 82%, cát chiếm
tỷ lệ là từ 18 – 32%, đất có kết cấu viên cục dung tích hấp thu cao, giữ nước và dinh dưỡng tốt Đât có ưu thế trong thâm canh lúa, nhưng lại hạn chế khi trồng cây công nghiệp ngắn ngày (làm đất khó thoát nước, không tơi xốp nên rễ cây họ đậu khó phát triển tốt)
+ Về hóa tính: Tỷ lệ mùn ở mức khá đến giàu (1,45 – 6,2%), trong đó đất phèn và đất phù sa Gley cao gấp 1,5 – 2,5 lần đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng Đạm tổng
số giàu (>0,11%), cao nhất là đất phèn hoạt động trung bình và đất phù sa Gley Lân
và kali tổng số trung bình, riêng đất phù sa được bồi (Pb) khá Hàm lượng lân dễ tiêu ở đất phèn thấp, chỉ 1,5 – 2,5 mg/100g đất, lí do chủ yếu là bị Al3+ và Fe2+ cố định
Tóm lại, về lý – hóa tính có nhiều ưu điểm tốt cho cây trồng Cần chú trọng việc cải tạo đất phèn để giảm độc tố SO42- trong đất, tăng cường phân lân cho tất cả các loại đất (đặc biệt trên đất phèn mặn sẽ có hiệu lực cao khi bón phân lân) để từng bước tạo ra môi trường đất thích hợp cho các hoạt động sinh lý của các loại cây trồng
Trang 28Chương 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG TIỆN
- Bản vẽ mặt bằng khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng (tỷ lệ 1/500), dùng để xác định tỷ lệ mảng xanh, mặt nước… làm cơ sở cho việc phân khu thiết kế
- Máy ảnh dùng để chụp hình hiện trạng và cây xanh sử dụng trong thiết kế
- Thước kẻ, bút chì, giấy A3, A4 dùng để vẽ phác thảo ý tưởng thiết kế
- Máy vi tính có cài các phần mềm chuyên dụng: autocad, sketchup và photoshop dùng để vẽ mặt bằng và dựng phối cảnh cho các mô hình thiết kế
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Khảo sát hiện trạng
- Xác định vị trí địa lý, ranh giới và diện tích cần nghiên cứu
- Khảo sát hiện trạng xây dựng và cây xanh thông qua ghi chép, đo đếm, chụp hình Xác định số lượng, tên khoa học của từng loại cây
- Khảo sát điều kiệu khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn của khu vực nghiên cứu
- Xác định phân khu chức năng
- Ưu khuyết điểm của khu vực thiết kế
2.2.2 Thiết kế và dự toán chi phí
Tiến hành tương tự đối với mỗi phương án
*Bước 1: Hình thành ý tưởng và vẽ phát thảo
- Bắt đầu với mặt bằng cơ sở của mảnh đất được vẽ theo tỷ lệ nhất định, sau đó thể hiện đầy đủ những điều kiện hiện trạng chính (mảng xanh, ao hồ và công trình xây dựng) bằng những ký hiệu riêng biệt
Trang 29- Dựa trên kết quả phân tích, đánh giá hiện trạng, lên ý tưởng chủ đạo cho từng khu vực thiết kế
- Tìm ra giải pháp cải tạo mặt bằng để có thể bố trí cây xanh hợp lí
- Áp dụng các nguyên tắc cũng như phong cách thiết kế phù hợp cho từng khu vực thiết kế
- Xây dựng, khai triển và sắp xếp ý tưởng của từng khu trên bản vẽ nháp
- Hoàn thiện bản phối cảnh cho từng khu và tổng thể
2.2.2.3 Thuyết minh thiết kế và dự toán chi phí
- Thuyết minh thiết kế cho từng phương án
+ Thuyết minh thiết kế cho từng phân khu chức năng
+ Lập bảng những loại cây sử dụng trong thiết kế
- Dự toán chi phí tối thiểu cho từng mô hình:
+ Từ danh sách các đối tượng của bản vẽ chính liệt kê thành tiền
+ Dự toán khối lượng nhân công
+ Khối lượng đất, cát cần sang lấp (dựa theo cao độ của bản vẽ hiện trạng)
Trang 30Chương 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.1 Vị trí và giới hạn
Khuôn viên thiết kế có diện tích 33.602 m2 Được giới hạn bên trong hàng rào của Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
- Phía Đông Bắc (cổng chính và cổng phụ): Đối diện Khu Hiệu Bộ và Nhà Học B1
- Phía Đông Nam: giáp vườn hoa kiểng
- Phía Tây Bắc: Đối diện với Xưởng Cơ Khí
- Phía Tây Nam: Tiếp giáp với phần còn lại của Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu:
Trang 31Hinh 3.1: Mặt bằng hiện trạng khu vực nghiên cứu
Trang 323.1.2 Phân tích hướng
3.1.2.1 Phân tích hướng nắng
Kiến trúc độc đáo của Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng đã góp phần làm hạn chế rất lớn lượng bức xạ nhiệt xuống các khuôn viên của khoa (hình 3.2) Hướng nắng từ Đông sang Tây nên khu B và khu D ít chịu ảnh hưởng của nắng buổi sáng và buổi chiều, do các dãy phòng xung quanh che chắn Khu A và khu E chủ yếu chịu ảnh hưởng của nắng buổi chiều Vì vậy, cần bố trí cảnh quan hợp lý sao cho che chắn được luồng ánh sáng không mong muốn
3.1.2.2 Phân tích hướng gió
Khu vực thiết kế chịu ảnh hưởng bởi 3 loại gió chính
- Gió Đông Nam và Đông Bắc thổi vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Với gió Đông Nam là gió mát, vì vậy hướng Đông Nam cần bố trí cảnh quan thông thoáng để đón luồng gió mát này Còn gió Đông Bắc là gió lạnh, vì vậy cần bố trí ở hướng này những loại cây có lá kim như là phi lao, hoặc lá bản như là chuối rẽ quạt
để chắn gió
- Gió Tây Nam thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 với tốc độ trung bình 3,5 m/s Cần bố trí dãy cây có bóng mát sao cho có thể hạn chế luồng gió, nhưng không chắn toàn bộ luồng gió này
Trang 33Hình 3.2: Hướng nắng và hướng gió ảnh hưởng đến khu vực thiết kế
3.1.3 Hiện trạng xây dựng
Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng có tổng diện tích là 51.561 m2 Là một quần thể kiến trúc được xây dưng theo kiểu kiến trúc Nhật Bản, bao gồm nhiều hạng mục:
- 1 hội trường
- 5 dãy phòng:
+ Dãy A: Dãy phòng học
+ Dãy B: Gồm văn phòng khoa và thư viện
+ Các dãy C, D, E: Là các dãy phòng thí nghiệm
- Tháp nước ( tháp đồng hồ)
- Bãi đậu xe
+ Thuận lợi: Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng có kiểu kiến trúc khá độc đáo, nó mang một vẻ đẹp vừa cổ kính lại vừa hiện đại Các dãy phòng có chiều cao không đồng đều nhưng vẫn tìm được tiếng nói chung trong bố cục tổng thể và
Trang 34chúng được liên kết với nhau thành một thể thống nhất, tạo được nét đặc trưng riêng
so với các khoa khác Đặc biệt là tháp nước, nó như là một biểu tượng của khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, tạo nên một điểm nhấn độc đáo cho công trình kiến trúc Ngoài ra, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng còn có đường giao thông chính hình chữ U nối từ cổng chính qua cổng phụ, rất thuận tiện cho việc đi dạo xung quanh khoa
+ Khó khăn: Không gian thiết kế bị chia cắt bởi kiến trúc xây dựng đã phần nào ảnh hưởng đến sự thống nhất về mặt bố cục tổng thể của cảnh quan Công trình kiến trúc cũng đã làm hạn chế lượng ánh sáng mặt trời xuống khuôn viên giữa các dãy phòng, ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài thực vật ở đây
Hình 3.3: Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Toàn cảnh
(Nguồn: http://www.ctu.edu.vn/colleges/agri/thongtinchung/lichsuhinhthanh.htm)
Trang 353.1.4 Hiện trạng thực vật
3.1.4.1 Khu A
Bảng 3.2: Một số loài thực vật hiện hữu ở khu A
KHU A STT
(cây)
- Khu A là khu tập trung nhiều loại cây thân gỗ hơn so với các khu khác Phần nền
được bao phủ bởi một lớp cúc dại (Wedelia biflora) cao gần 0,5 m
- Ưu điểm: Đa số các cây trồng ở đây đều là những cây thân gỗ lớn như: sanh, phượng vĩ, bàng, hoàng hậu, bằng lăng… làm cho khí hậu của khu này rất mát mẻ Các chòi nghỉ được bố trí dưới các tán cây góp phần tạo cảnh quan đẹp cho khu A,
đồng thời tạo ra góc học tập, thư giãn khá thú vị cho sinh viên Cúc dại (Wedelia
biflora) bao phủ mặt đất vừa giúp cải tạo cảnh quan, vừa hạn chế sự phát triển của
cỏ dại
- Khuyết điểm: Việc trồng xen lẫn nhiều loại cây tạo bóng mát có tán lớn ở khu A gây khó khăn cho việc quản lý, chăm sóc Bên cạnh đó, diện tích mặt đất còn trống vẫn chưa được tận dụng hợp lý
Trang 36Hình 3.4: Thảm thực vật ở khu A
3.1.4.2 Khu B:
Bảng 3.3: Một số loài thực vật hiện hữu ở khu B
KHU B STT
(cây)
4 Cau sâm banh Hyophorbe lagenicaulis (H amaricaulis Mart.) 10
13 Bông giấy Bougainvillea spectabillis Willd
Trang 37- Qua khảo sát hiện trạng cho thấy, gừa là loại cây chủ đạo ở khu vực này (30 cây), được phân bổ đều trong khuôn viên của khu B
- Ưu điểm:
+ Các cây gừa được bố trí từ cổng chính vào khuôn viên của khu B đã làm giảm đáng kể lượng nhiệt bức xạ xuống nền xi măng bên dưới, tạo ra bầu không khí trong lành, thoáng mát cho khu vực này Đồng thời gừa là loại cây có tán đẹp, làm cho cảnh quan trở nên sinh động và làm mềm mại hơn
- Khuyết điểm:
+ Cảnh quan của khu B rất quan trọng vì đây là khu vực mặt tiền của Khoa Vì vậy, đảm bảo vẻ mỹ quan, thông thoáng cho khu vực này là một việc hết sức cần thiết Gừa tuy có nhiều ưu điểm nhưng với cách bố trí khá dầy đặc đã phần nào làm hạn chế tầm nhìn Mặc khác, gừa là một loại cây có bộ rễ cũng như cành nhánh phát triển mạnh vì vậy cần có biện pháp cắt tỉa thường xuyên để không làm ảnh hưởng đến công trình kiến trúc
+ Bên cạnh đó, hai đồi cỏ trước văn phòng khoa và cạnh hội trường B007 được xem như điểm nhấn chính của khu vực này lại được bố trí đơn giản, chưa tạo được điểm nhấn cho khu B
+ Khu B là nơi tập trung khá nhiều cây trồng chậu, với nhiều chủng loại Tuy nhiên cách bố trí, sắp xếp vẫn chưa được hợp lý
Hình 3.5: Đồi cỏ trước Văn Phòng Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 38Hình 3.6: Đồi cỏ cạnh hội trường B007
3.1.4.3 Khu C
Bảng 3.4: Một số loài thực vật hiện hữu ở khu C
KHU C STT
(cây)
4 Hoàng nam Polyalthia longifolia (Lam.) Hook f var
11 Cau sâm banh Hyophorbe lagenicaulis (H amaricaulis Mart.) 2
12 Sen Nelumbo nucifera Gaertn
Trang 39- Qua hiện trạng khảo sát cho thấy các cây ở khu C chủ yếu là cây bóng mát, được
bố trí dọc theo lối đi chính, các cây tập trung nhiều ở khu vực ao sen
- Thuận lợi: Đây là nơi có chủng loại cây phong phú Từ cây bụi nhỏ như trắc bách diệp, cô tòng, tràm liễu, cho đến những cây gỗ lớn như hoàng nam, bò cạp nước, phượng vĩ… Đa số cây đều có dáng dấp, cành nhánh tương đối đẹp
- Khó khăn: Cây trồng với mật độ tương đối dày, chưa tạo được sự thông thoáng, cũng như cảnh quan sinh động cho lối vào
Hình 3.7: Hệ thực vật ở khu C
Trang 403.1.4.4 Khu D
Bảng 3.5: Một số loài thực vật hiện hữu ở khu D
KHU D STT
(cây)
10 Sen Nelumbo nucifera Gaertn
- Khu D gồm 2 khu nhỏ:
+ D1: Khuôn viên giữa dãy C và dãy D
+ D2: Khuôn viên giữa dãy D và dãy E
Đây là khu tập trung nhiều hồ nước hơn so với các khu khác, với diện tích mặt nước
là 846 m2 chủ yếu là trồng sen Nhiều cây có màu lá đẹp như cô tòng (các loại) chiếm số lượng tương đối lớn và cây có hương thơm như nguyệt quới Các cây được bố trí chủ yếu dọc theo các dãy phòng
- Thuận lợi: Là nơi tập trung số lượng lớn cây lá màu và cây có hương thơm, các cây đều có tán đẹp có thể tái sử dụng trong thiết kế mới
- Khó khăn: Các cây bố trí rời rạc, phân bố không đồng đều Không có bố cục cụ thể Đặc biệt, khu này cỏ dại phát triển mạnh, làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan, vì vậy cần có biện pháp hạn chế cỏ dại hiệu quả hơn