TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI MỘT SỐ GIỐNG BÔNG TRANG LÁ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ GIÂM CÀ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA
ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI MỘT SỐ GIỐNG
BÔNG TRANG LÁ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ
CẦN THƠ VÀ GIÂM CÀNH CÂY
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI MỘT SỐ GIỐNG
BÔNG TRANG LÁ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ
CẦN THƠ VÀ GIÂM CÀNH CÂY
BÔNG TRANG ĐỎ
(Ixora coccinea)
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Phạm Thị Phương Thảo Lương Thị Tuyết Nga
MSSV: 3087729
Lớp: Hoa viên & cây cảnh K34
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Khảo sát đặc điểm hình thái một số giống bông trang lá nhỏ tại thành phố Cần Thơ và giâm cành cây trang đỏ
(Ixora coccinea)” Do sinh viên LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Ths Phạm Thị Phương Thảo
Trang 4ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Luận văn tốt nghiệp kèm theo với đề tài: “Khảo sát đặc điểm hình thái một số
giống trang lá nhỏ tại thành phố Cần Thơ và giâm cành cây trang đỏ (Ixora coccinea)”, do sinh viên LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA thực hiện và bảo vệ trước Hội
Đồng chấm luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua
Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức:………
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………
………
………
………
………
Duyệt Khoa Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Hội đồng luận văn
PGs Ts Lâm Ngọc Phương
Ths Lê Hồng Giang
Ths Phạm Thị Phương Thảo
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Tất cả các hình ảnh, kết quả ghi nhận và trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA
Trang 6Nơi sinh: Mỹ Tú – Sóc Trăng
Nguyên quán: Xã Thuận Hòa – Huyện Mỹ Tú – Tỉnh Sóc Trăng
Họ tên cha: Lương Giang Sơn
Họ tên mẹ: Danh Thị Sa Mol
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1996 – 2001: Trường Tiểu học Thuận Hòa B
2001 – 2005: Trường Trung học cơ sở An Hiệp
2005 – 2008: Trường Trung học phổ thông Thuận Hòa
2008 – 2012: Theo học ngành Hoa Viên & Cây Cảnh K34, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng lên Cha Mẹ và những người thân đã lo lắng, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập!
Xin tỏ lòng tri ân sâu sắc!
Cô Phạm Thị Phương Thảo đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thầy cố vấn học tập Phạm Phước Nhẫn, cô Lê Minh Lý đã quan tâm dìu dắt
và giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua
Quý Thầy, Cô Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng đã tận tình truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập
Chân thành cảm ơn!
Tập thể Anh, Chị và các Bạn làm đề tài tại nhà lưới Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hóa đã nhiệt tình giúp đỡ, luôn gắn bó, động viên, chia sẻ những khó khăn cũng như vui, buồn trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Các bạn: Nguyễn Thị Kim Ngân, Lâm Thị Muội, Huỳnh Thị Thanh Nhàn, Nhâm Tuyết Sương, Nguyễn Phạm Minh Toàn, Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Ngọc Yến – lớp Hoa Viên & Cây Cảnh K34 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Thân gửi đến tập thể lớp Hoa Viên & Cây Cảnh K34 lời chúc tốt đẹp nhất!
LƯƠNG THỊ TUYẾT NGA
Trang 8vi
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm tạ v
Mục lục vi
Danh sách bảng xi
Danh sách hình xii
Bảng chữ viết tắt xiii
Tóm lược xiv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 NGUỒN GỐC CÂY BÔNG TRANG 2
1.2 PHÂN LOẠI GIỐNG 2
1.2.1 Trang đỏ (Ixora coccinea) 3
1.2.2 Trang Ấn (Ixora undulata) 3
1.2.3 Trang trắng (Ixora finlaysoniana) 3
1.2.4 Trang vàng (Ixora chinensis) 4
1.2.5 Trang vàng cam (Ixora javanica) 4
Trang 9vii
1.2.6 Trang hồng (Ixora rosea) 4
1.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI 4
1.3.1 Rễ 4
1.3.2 Thân 4
1.3.3 Lá 4
1.3.4 Hoa 5
1.3.5 Trái 5
1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI 5
1.4.1 Đất 5
1.4.2 Nước 5
1.4.3 Ánh sáng 5
1.4.4 Bón phân 5
1.4.5 Sâu bệnh 6
1.5 Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành 6
1.5.1 Cơ sở khoa học của phương pháp giâm cành 6
1.5.2 Giá thể 6
1.5.3 Vai trò của auxin đến sự tạo rễ bất định từ cành giâm 7
1.5.4 Điều kiện môi trường cho cành giâm ra rễ 8
1.5.5 Xử lý cành trước khi giâm 9
1.6 ỨNG DỤNG CỦA CÂY BÔNG TRANG TRONG THIẾT KẾ CẢNH QUAN 10
Trang 10viii
1.7 GIÁ TRỊ Y HỌC CỦA CÂY BÔNG TRANG 11
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 12
2.1 PHƯƠNG TIỆN 12
2.1.1 Phương tiện thí nghiệm 12
2.1.2 Hóa chất dùng trong thí nghiệm 12
2.1.3 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm 12
2.2 PHƯƠNG PHÁP 12
2.2.1 Điều tra khảo sát đặc điểm hình thái các giống bông trang lá nhỏ tại quận Ninh Kiều và quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ 12
2.2.2 Ảnh hưởng của NAA lên sự ra rễ của cành giâm cây trang lá nhỏ 14
2.2.3 Cách xử lý kết quả 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT CÁC GIỐNG CÂY TRANG LÁ NHỎ 17
3.1.1 Ghi nhận tổng quát kết quả điều tra 17
3.1.2 Phân nhóm các giống cây trang 17
3.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CHUNG CỦA CÁC GIỐNG CÂY TRANG LÁ NHỎ 19
3.2.1 Đặc điểm của thân, cành 19
3.2.2 Đặc điểm của lá 20
3.2.3 Đặc điểm của hoa và các thành phần khác của hoa 24
Trang 11ix
3.2.4 Đặc điểm của trái 29
3.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI RIÊNG CỦA TỪNG GIỐNG CÂY TRANG LÁ NHỎ 30
3.3.1 Trang đỏ (Ixora coccinea) 30
3.3.2 Trang vàng (Ixora chinensis) 31
3.3.3 Trang hồng (Ixora rosea) 31
3.3.4 Trang vàng cam (Ixora javanica) 32
3.3.5 Trang trắng (Ixora finlaysoniana) 33
3.3.6 Trang đỏ lá kim (Ixora sp.) 33
3.3.7 Trang đỏ kép (Ixora sp.) 34
3.4 THÍ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA NAPHTHALENE ACETIC ACID LÊN CÀNH GIÂM CÂY TRANG ĐỎ (Ixora coccinea) 35
3.4.1 Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên tỷ lệ ra rễ của cành giâm 35
3.4.2 Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên số rễ của cành giâm 35
3.4.3 Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên chiều dài rễ dài nhất của cành giâm 38
3.4.4 Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên tỷ lệ ra chồi của cành giâm 39
3.4.5 Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên số chồi của cành giâm 39
3.4.6 Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên tỷ lệ chết của cành giâm 40
Trang 12CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
4.1 Kết luận 42
4.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO xiv
Phụ lục xix
Trang 13xi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Các giống trang lá nhỏ được điều tra khảo sát và phân nhóm 18
Bảng 3.2: Chiều dài cuống lá (mm) của 6 giống cây trang 21
Bảng 3.3: Kích thước lá (mm) của 6 giống cây trang 24
Bảng 3.4: Các đặc tính chùm hoa của 6 giống cây trang 26
Bảng 3.5: Kích thước hoa của 6 giống cây trang 28
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên tỷ lệ ra chồi (%) của cành giâm 39
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên số chồi của cành giâm 40
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của naphthalene acetic acid lên tỷ lệ chết (%) của cành giâm 40
Trang 14xii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1: Hoa thức và hoa đồ của cây bông trang 3
Hình 1.2: Ứng dụng của bông trang trong thiết kế cảnh quan 10
Hình 2.1: Cành giâm bông trang được nhúng vào dung dịch NAA 15
Hình 3.1: Màu sắc và hình dạng thân, cành bông trang 19
Hình 3.2: Chiều cao các giống trang (m) được trồng ngoài đất, dạng tán tự do 20
Hình 3.3: Đặc điểm cuống lá bông trang 20
Hình 3.4: Hình dạng và màu sắc lá non của một giống trang lá nhỏ khảo sát được 22
Hình 3.5: Hình dạng và màu sắc lá bông trang trưởng thành 22
Hình 3.6: Hình dạng chùm hoa của bông trang 25
Hình 3.7: Hình dạng và kích thước hoa khác nhau của bông trang 27
Hình 3.8: Hình so sánh 5 màu hoa của bông trang……….27
Hình 3.9: Hình dạng và kích thước khác nhau của nụ hoa cây bông trang 29
Hình 3.10: Hình dạng và kích thước khác nhau của nhị và nhụy hoa cây bông trang 29
Hình 3.11: Hình dạng màu sắc và trái già và trái non cây bông trang 30
Hình 3.12: Đặc điểm lá và hoa của giống trang đỏ (Ixora coccinea) 30
Hình 3.13: Đặc điểm lá và hoa của giống trang vàng (Ixora chinensis) 31
Trang 15xiii
Hình 3.14: Đặc điểm lá và hoa của giống trang hồng (Ixora rosea 31
Hình 3.15: Đặc điểm lá và hoa của giống trang vàng cam (Ixora javanica) 32
Hình 3.16: Đặc điểm lá và hoa của giống trang trắng (Ixora finlaysoniana) 33
Hình 3.17: Đặc điểm lá và hoa của giống trang đỏ lá kim (Ixora sp.) 33
Hình 3.18: Đặc điểm lá và hoa của giống trang đỏ kép (Ixora sp.) 34
Hình 3.19: Tỷ lệ ra rễ (%) của cành giâm theo thời gian 35
Hình 3.20: Rễ của cành giâm ở thời điểm 20 NSKG 36
Hình 3.21: Số rễ của cành giâm theo thời gian 36
Hình 3.22: Rễ của cành giâm ở thời điểm 28 NSKG 37
Hình 3.23: Rễ của cành giâm ở thời điểm 36 NSKG 37
Hình 3.24: Chiều dài rễ dài nhất của cành giâm theo thời gian 38
Trang 16
xiv
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
NAA: Napthalene acetic acid
IBA: Indole butyric acid
IAA: Indole acetic acid
2,4-D: 2,4-Dichlorophenoxy acetic acid
NSKG: ngày sau khi giâm
Trang 17Cây bông trang lá nhỏ (Ixora spp.) là loài cây đẹp, hoa dạng chùm có nhiều
màu sắc và được trồng làm hàng rào, làm cây cảnh để trang trí, làm nền cho các cây khác hay làm bonsai Cây bông trang được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới như Ấn
Độ, Thái Lan, Malaysia,… Ở nước ta cây bông trang rất đa dạng về màu sắc, chủng loài, và các giống trang có lá nhỏ cũng đang được trồng với nhiều mục đích Để bảo tồn và sử dụng hiệu quả các giống, cần thiết phải có những mô tả và phân loại các giống bông trang có lá nhỏ, lựa chọn một giống điển hình để nhân giống bằng phương pháp giâm cành tạo cơ sở cho việc bảo tồn và lai ghép đồng thời tạo nguồn làm bonsai Với 41 phiếu điều tra ở 35 địa điểm thuộc quận Ninh kiều và quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã khảo sát được 7 giống bông trang có lá nhỏ gồm các giống trang đỏ, trang trắng, trang vàng, trang vàng cam, trang hồng, trang đỏ lá kim
và trang đỏ kép Mỗi giống đều có những đặc điểm đặc trưng riêng, trong đó đặc điểm hình thái của lá và hoa là những đặc điểm chủ yếu để nhận diện các giống trang Trong 7 giống khảo sát đã xác định được 5 giống thuộc 5 loài và 2 giống chưa định danh được Qua thí nghiệm đã khảo sát ảnh hưởng của naphthalene acetic acid
ở nồng độ 500, 1.000, 1.500 và 2.000 ppm lên cành giâm cây bông trang đỏ (Ixora
coccinea) so với nghiệm thức đối chứng không xử lý naphthalene acetic acid cho
thấy nghiệm thức xử lý naphthalene acetic acid ở nồng độ từ 500 – 1.500 ppm cho
tỷ lệ ra rễ cao, gia tăng số rễ và chiều dài rễ đến thời điểm 36 ngày sau khi giâm cành
Trang 18MỞ ĐẦU
Cây bông trang hay cây trang là loại cây đang được trồng và sử dụng khá rộng rãi do có màu hoa, kiểu dáng thân, lá đa dạng, thích hợp cho việc trồng làm cảnh, dùng thờ cúng hoặc làm thuốc Tùy theo mục đích sử dụng mà người ta có thể chọn trồng bông trang lá nhỏ hoặc lá lớn
Cây bông trang lá nhỏ (Ixora spp.) là cây gỗ nhỏ, dạng bụi, phân nhiều
cành nhánh, có hoa mọc thành cụm ở đầu cành, hoa nở rộ rất đẹp Theo Trần Hợp (2000) và Võ Văn Chi (2004), cây bông trang được trồng khắp nơi ở nước
ta, đặc biệt ở các tỉnh phía nam… Cây bông trang có đặc tính rất dễ trồng, có thể trồng bằng hạt hay trồng bằng nhiều phương pháp nhân giống vô tính khác như: chiết cành, ghép cành, giâm cành,… (Đào Minh Khuyến, 1996) Ngoài việc được trồng để làm cảnh, trang trí trong vườn và công viên, cây bông trang còn được sử dụng để làm thuốc chữa một số loại bệnh thường gặp như cảm sốt, đau đầu, phong thấp,…
Hiện nay, bên cạnh các giống bông trang có lá lớn, nhiều giống bông trang có lá nhỏ với màu sắc hoa đẹp, lá và thân nhỏ gọn, ít tốn công chăm sóc đã
và đang được trồng hoặc bày bán khá nhiều ở các cửa hàng hoa kiểng như: trang
đỏ, trang vàng cam, trang vàng, trang trắng, trang hồng… Tuy cây bông trang khá đa dạng về màu sắc và chủng loài nhưng những tài liệu nghiên cứu về các giống bông trang có lá nhỏ rất ít Việc xác định các đặc điểm cơ bản của các giống hoa này về mặt hình thái sẽ giúp cho việc nhận diện các giống bông trang
lá nhỏ đang được trồng và bán trên thị trường và làm cơ sở cho các nghiên cứu
tiếp theo Vì vậy, đề tài “Khảo sát đặc điểm hình thái một số giống bông
trang lá nhỏ tại thành phố Cần Thơ và giâm cành cây bông trang đỏ (Ixora coccinea)” được thực hiện nhằm: Khảo sát nguồn giống cây bông trang có lá
nhỏ ở quận Ninh Kiều và quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, mô tả và so sánh đặc điểm hình thái giữa các giống, góp phần bổ sung thông tin nghiên cứu về cây bông trang và tạo cơ sở cho việc thực hiện các nghiên cứu tiếp theo về loài cây này; Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành nhằm tìm ra nồng độ naphthalene acetic acid (NAA) thích hợp nhất cho sự ra rễ của cành giâm cây
tang đỏ (Ixora coccinea), rút ngắn thời gian trong việc nhân giống
Trang 19CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC CÂY BÔNG TRANG
Cây có nguồn gốc từ Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á khác như Thái Lan, Malaysia,… Ở nước ta, trang lá nhỏ được trồng để làm hàng rào, cũng có thể trồng vào chậu để trang trí, làm cảnh trong vườn hay công viên, có thể cắt tỉa thành các hình khối để làm nền cho các loại cây khác (Trần Hợp, 2000)
Theo Đào Minh Khuyến (1996), cây bông trang (miền Bắc gọi là hoa mẫu đơn) hay đơn có hoa màu đỏ, giống hoa màu vàng và màu trắng Giống hoa màu
đỏ thấp cây, hoa nhỏ gọi là đơn Thái Lan, giống hoa to gọi là giống Nhật Bản song nó có chung một nguồn gốc, đều thuộc họ cà phê (Rubiaceae)
1.2 PHÂN LOẠI GIỐNG
Bông trang thuộc chi Ixora, họ cà phê (Rubiaceae), bộ hoa vặn (Contortae) hay bộ long đởm (Gentianales) Chúng là những cây gỗ nhỏ hay cây bụi, cao từ 1 - 3 m Hoa nhỏ, tập hợp thành hình tụ tán hay tản phòng (Đặng Minh Quân, 2010)
Theo Đặng Minh Quân (2010), dựa theo hệ thống phân loại Takhtajan năm 1987 thì cây bông trang được xếp vào:
Giới: Thực Vật (Plantae)
Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida)
Phân lớp: Hoa Môi (Lamiidae)
Bộ: Long Đởm (Gentianales) hay Bộ Hoa Vặn (Contortae) Họ: Cà Phê (Rubiaceae)
Chi: Ixora
Loài: Ixora coccinea
Ixora finlaysoniana Ixora chinensis Ixora javanica
Ixora rosea
Trang 20Hoa thức và hoa đồ của bông trang được trình bày như Hình 1.1
1.2.1 Trang đỏ, trang lùn, trang Thái (Ixora coccinea)
Cây trang đỏ còn có tên là trang lùn, trang Thái (nguồn gốc từ Malaysia) Cây tiểu mọc nhỏ cao 20 – 40 cm, vỏ màu xám Lá không cuống, phiến lá nhỏ, dài 2 – 3,5 cm, màu xanh đậm, chót lá có gai mũi nhỏ, gân phụ 10 cặp; lá bẹ hình kim, tản phòng ở chót thân Hoa có màu hồng tươi đến đỏ đậm, vành đỏ tươi, có ống hoa cao 2,3 cm, tai hoa thon Hoa có tiểu nhụy vàng, và hoa mọc dày đặc trên một cụm hoa
1.2.2 Trang Ấn (Ixora undulata)
Có nguồn gốc từ Ấn Độ (vùng Bengal), cây trồng làm hàng rào hay trồng chậu ở công viên trong thành phố
Cây bụi nhỏ, cây cao không quá 1 m, lá thuôn nhỏ, màu xanh bóng Cụm hoa dày đặc ở đỉnh dạng hình cầu Hoa nhỏ màu hồng tím đôi khi trắng ở trong, cánh dính thành ống hẹp, trên chia 4 thùy xòe rộng (Trần Hợp, 1998)
1.2.3 Trang trắng (Ixora finlaysoniana)
Hoa trắng nhỏ, có mùi rất thơm Hoa có 4 cánh, hình trái xoan, nhọn ở đỉnh, ống tràng nhẵn Chỉ nhị ngắn, đính ở giữa các cánh hoa, có 2 bao phấn hình dãi Bầu nhụy 2 ô, mỗi ô chứa 1 noãn Vòi nhụy rất mảnh, đầu nhụy có 2 nhánh
Hình 1.1: Hoa thức và hoa đồ của cây bông trang
Trang 21Trái bông trang có dạng hạch, cao từ 5 – 6 mm, rộng 5 – 7 mm Trái có màu đen
1.2.4 Trang vàng (Ixora chinensis)
Cây gỗ nhỏ dạng bụi, thân nhẵn Lá thuôn dài, gốc hẹp dần và có cuống ngắn
Cụm hoa dạng tán, có nhiều hoa xếp sát nhau dày đặc Tràng hoa có màu vàng nhạt, hợp thành ống dài, trên chia thùy Trái có nhân cứng
1.2.5 Trang vàng cam (Ixora javanica)
Cây gỗ nhỏ dạng bụi, thân nhẵn Lá thuôn bầu dục, nhọn đầu, mép gợn sóng
Hoa mọc thành cụm, dày đặc ở đỉnh, có cuống dài Hoa màu vàng cam với cánh tràng hợp thành ống dài, trên chia 4 thùy tròn, xòe rộng
1.2.6 Trang hồng (Ixora rosea)
Cây gỗ nhỏ dạng bụi, cành nhánh nhiều Lá màu xanh bóng, thuôn nhọn hai đầu, mọc đối chữ thập
Cụm hoa dạng tán dày đặc, phân nhiều cấp, hoa chia 4 thuỳ nhọn, cánh hoa màu hồng nhạt Trái có nhân cứng
Ngoài ra, vẫn còn rất nhiều các giống được lai, ghép đang được trồng, bày bán và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau
1.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
1.3.1 Rễ
Cây bông trang thuộc cây song tử diệp, có một rễ chính ăn sâu xuống đất
và nhiều rễ phụ xung quanh, rễ phụ phát triển theo chiều ngang
1.3.2 Thân
Cây bông trang có thân là những cây gỗ nhỏ hay cây bụi, vỏ màu xám, có thể cao đến 3 m, phân nhiều cành, nhánh (Trần Hợp, 1998; Đặng Minh Quân, 2010)
1.3.3 Lá
Cây bông trang có nhiều dạng lá, về kích thước thì có 2 cỡ lá lớn và lá nhỏ Bông trang lá nhỏ có phiến lá thon dài, nhỏ, màu xanh bóng Lá mọc đối, có
Trang 22cuống hoặc không có cuống, ít khi mọc vòng và thường có lá kèm (Trần Hợp, 1998; Võ Văn Chi, 2004)
1.3.4 Hoa
Hoa nhỏ, tập hợp thành hình tụ tán hay tản phòng Hoa lưỡng tính, thường
có 4 cánh (có khi 5 hay 6 cánh) (Đặng Minh Quân, 2010) Hoa thường mọc ở đầu cành, có mùi thơm nhẹ (Đào Minh Khuyến, 1996) Tràng hoa hình phiễu có
ống, có khi rất dài và mảnh, số nhị bằng số tràng hoa (Võ Văn Chi, 2004)
1.4.4 Bón phân
Cần bón phân thường xuyên cho cây trong giai đoạn sinh trưởng và vào giai đoạn hình thành nụ hoa Khi trồng trong điều kiện ánh sáng cao, cần bón phân 1 lần/ tuần Loại phân bón thường được sử dụng là NPK có tỷ lệ 15 – 15 –
15
Trang 231.4.5 Sâu bệnh hại
Theo Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh (2010), việc trồng hoa cảnh thường liên quan rất nhiều đến vấn đề sâu bệnh Trong đó, hai vấn đề lớn thường gặp là tác hại của côn trùng và bệnh hại Giống với nhiều loại cây trồng khác, cây bông trang dễ bị tổn thương do rệp, nhện và côn trùng lớn gây hại Cây
có khả năng chống lại sâu, bệnh nhiều hơn khi trồng ở nơi có nhiều ánh sáng mặt trời
1.5 NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH 1.5.1 Cơ sở khoa học của phương pháp giâm cành
Theo Lâm Ngọc Phương (2009), phương pháp giâm cành là phương pháp nhân giống thực vật bằng cơ quan sinh dưỡng, là sự nhân dòng thực vật với cành giâm là thân, lá và rễ Khi đặt các cơ quan này trong điều kiện thích hợp thì chúng có khả năng khôi phục những bộ phận còn thiếu để trở thành một cơ quan hoàn chỉnh Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng nhất trong sự tái sinh nhiều cây cảnh Nhân giống bằng phương pháp giâm cành là phương pháp nhân giống
vô tính có nhiều lợi điểm có hệ số nhân giống cao, giữ được đặc tính tốt của cây
mẹ, cho trái sớm (Võ Hữu Trung, 1982)
1.5.2 Giá thể
Đối với các loài hoa, giá thể hữu cơ hay môi trường đất có vai trò rất quan trọng Nó cung cấp nước, dinh dưỡng và không khí cho sự sinh trưởng và phát triển của hoa Mỗi loài hoa sẽ có những yêu cầu giá thể khác nhau
Phân chuồng, tro và trấu mục là các loại phân hữu cơ được sử dụng trong sản xuất hoa kiểng (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
* Một số loại giá thể thường được sử dụng trồng hoa kiểng:
- Rơm rạ: ở nhiều địa phương, rơm rạ được sử dụng làm vật liệu trồng các loại hoa kiểng trong giỏ do đây là vật liệu dễ tìm và dễ vận chuyển Sử dụng giá thể rơm là phương thức mang lại hiệu quả kinh tế vì tận dụng các vật liệu có sẵn ở địa phương
- Trấu: là phụ phẩm trong quá trình chế biến và sản xuất gạo ở các nhà máy xây xát Chứa nhiều các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng sử dụng, đặc biệt trấu được sử dụng để làm giá thể trồng các loại hoa kiểng do trấu làm tăng độ thoáng
Trang 24trong đất và tránh được hiện tượng ngập úng cho cây (Nguyễn Bảo Vệ và ctv.,
2010)
- Mụn dừa: đây là vật liệu tương đối rẻ tiền, có khả năng chống chịu vi khuẩn cao (Nguyễn Bảo Toàn, 2009) Sự hiện diện của tannin trong mụn dừa có ảnh hưởng đến cây trồng Vì vậy, nên sử dụng mụn dừa cũ để ít nhất 6 tháng trước khi dùng Mụn dừa thường được trộn với đất hoặc các giá thể khác, có cung cấp thêm chất hữu cơ và giữ ẩm cho cây trồng
1.5.3 Vai trò của auxin đến sự tạo rễ bất định từ cành giâm
Chất điều hòa sinh trưởng thực vật là những chất có hoạt chất sinh học rất lớn, chỉ cần một lượng rất nhỏ đủ để điều hòa sinh trưởng và phát triển của thực vật Một trong những ứng dụng chính của auxin là kích thích quá trình tạo rễ Do
đó, auxin được áp dụng trong vi nhân giống và tạo rễ cành giâm Các chất thường dùng trong nông nghiệp là Napthalene acetic acid (NAA), 2,4-Dichlorophenoxy acetic acid (2,4-D), Indole butyric acid (IBA) Trong đó, hoạt tính của 2,4-D rất mạnh, thường dược dùng làm thuốc diệt cỏ NAA và IBA thường được sử dụng trong giâm cành (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005)
Auxin tổng hợp như NAA có tác dụng sinh lý giống như auxin tự nhiên Indole acetic acid (IAA); ngoài ra, do ít bị enzyme nội bào phân giải, nên NAA
đã được sử dụng rất rộng rãi trong nông nghiệp
Theo Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh (2010), auxin có những chức năng chính sau:
Trang 25Hoàng Đức Phương (2000) cho rằng nồng độ xử lý các chất kích thích
sinh trưởng ra rễ thay đổi tùy theo chủng loại, giống, mức độ hóa gỗ và trạng
thái sinh lý của cành giâm Trong điều kiện khí hậu và thời tiết ở nước ta thường
được áp dụng phương pháp xử lý nhanh ở nồng độ hóa chất cao từ 2.000 – 8.000
ppm tùy loại cây trồng Để tăng khả năng ra rễ của cành giâm, việc sử dụng chất
kích thích sinh trưởng trước khi giâm đã cho nhiều hiệu quả tốt Có thể nhúng
phần gốc của hom giâm vào dung dịch chất điều hòa sinh trưởng như: NAA,
IBA ở nồng độ từ 1.000 – 2.000 ppm trong vài giây Các chất này được sử dụng
đối với những giống khó ra rễ hoặc khi thời vụ không thích hợp cho việc giâm
cành (Lâm Ngọc Phương, 2009) Một số kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy
hai chất điều hòa sinh trưởng thực vật NAA và IBA kích thích cành giâm ra rễ
cho nhiều loại cây thân gỗ mềm khi được sử dụng ở nồng độ từ 1.000 – 2.000
ppm cho kết quả tốt Theo Hứa Bảo Khanh (2011) xử lý NAA ở nồng độ 1.000
ppm có tác dụng làm tăng số rễ, gia tăng chiều dài rễ và tỷ lệ ra rễ của cành giâm
hoa giấy Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2003) cho rằng, đối với loại cành giâm gỗ
nửa cứng như của giống xoài Thanh Ca được xử lý NAA ở nồng độ 2.000 ppm
với thời gian xử lý 90 giây và sử dụng 4.000 ppm trên giống xoài Châu Hạng Võ
trong 30 giây cành giâm sẽ cho hiệu quả ra rễ tốt nhất Khi giâm cành tre mỡ,
Trần Thanh Trà (2003) đã xác định khi xử lý NAA với nồng độ 100 ppm cho kết
quả ra rễ tốt nhất sau 30 ngày giâm cành
1.5.4 Điều kiện môi trường cho cành giâm ra rễ
Môi trường cho cành giâm ra rễ rất quan trọng, việc tạo môi trường thích
hợp sẽ giúp cho cành giâm phát triển tốt Theo Hartmann và Kester (1968), môi
trường giâm cành phải xốp, thoáng khí tốt, có khả năng giữ ẩm cao và phải thoát
nước tốt Oxi có sẵn trong môi trường giâm là rất cần thiết cho sự ra rễ nhưng
nhu cầu thì thay đổi theo từng loại cây Môi trường giâm cho kết quả tốt nhất
phải có những tính chất sau: vững chắc và chặt để giữ cành giâm cố định tại vị
trí trong suốt thời gian giâm, phải đầy đủ ẩm độ nhưng không được thừa nước,
cần thoáng khí, không có hột cỏ dại hay mầm bệnh (Đoàn Anh Huy, 2008) Khi
giâm cành Chôm Chôm và Long Nhãn, Lưu Chánh Trị (1982) nhận thấy môi
trường trấu tạo rễ tốt nhất so với các môi trường khác
Trang 26Ngoài ra, để cành giâm phát triển tốt cần đảm bảo thêm một số yếu tố sau:
- Ẩm độ: theo Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh (2010), trong giâm cành để tránh sự mất nước của cành giâm nên sử dụng hệ thống phun sương hoặc trùm kín cành giâm Tuy nhiên, sự hiện diện của nước liên tục ảnh hưởng đến sự rửa trôi khoáng trong cành và sẽ dẫn đến sự thiếu dinh dưỡng ở lá
- Nhiệt độ: đối với cây nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp cho cành giâm ra rễ vào khoảng 18 – 250 C (Mai Văn Trầm, 2009) Theo Well (1995), khi nhiệt độ của bể giâm cao hơn bình thường, điều này kích thích sự gia tăng hô hấp tại phần đáy của cành giâm dẫn đến sự tiêu hao chất dinh dưỡng ở đáy cành Nhiệt độ tối hảo của cành giâm là 20 – 220 C, kiểm soát được nhiệt độ trong phạm vi này cành giâm sẽ có kết quả tốt nhất
- Ánh sáng: theo Hartmann và Kester (1968), sản phẩm quang hợp rất quan trọng trong việc tạo rễ ban đầu và sinh trưởng Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng phải đủ để tích lũy carbohydrate và vận chuyển xuống thành lập rễ Việc dự trữ chất carbohydrate có sẵn từ trước của cây cũng rất cần cho việc thành lập rễ Cành giâm là loại cây thân gỗ ra rễ tốt nhất ở điều kiện bức xạ thấp Tuy nhiên, cây thân thảo ra rễ tốt hơn khi bức xạ ánh sáng tăng tới 116 W/m2 Bức xạ ánh sáng quá cao sẽ ảnh hưởng đến việc thành lập rễ và phát triển của rễ (Mai Văn Trầm, 2009)
1.5.5 Xử lý cành trước khi giâm
Theo Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh (2010), cành giâm nên được thu hoạch trong tình trạng trương nước trước khi bắt đầu giâm Sau thu hoạch, cành giâm có thể được tồn trữ trong điều kiện nhiệt độ thấp và ẩm độ cao Ngoài ra cần tránh hàm lượng oxi và ethylen cao
Nguyễn Bá (1978) cho rằng, không cắt bỏ hết lá đi vì cành giâm có ít chất dinh dưỡng dự trữ cho nên cũng cần có một bề mặt đồng hóa và lá cung cấp chất dinh dưỡng hữu hiệu cần thiết cho sự thành lập rễ Tuy nhiên, sự cắt bỏ một phần lá sẽ giúp làm giảm một phần sự bốc thoát hơi nước
Trang 271.6 ỨNG DỤNG CỦA CÂY BÔNG TRANG TRONG THIẾT KẾ CẢNH QUAN
Hoa kiểng không chỉ mang cái đẹp đến cho cuộc sống mà còn mang ý nghĩa quan trọng trong cải thiện môi trường, sự có mặt của hoa kiểng trong khuôn viên, ngoài đường phố góp phần làm dịu bầu không khí
Với điều kiện kinh tế nước ta ngày càng phát triển như hiện nay đã thúc đẩy nhu cầu đời sống tinh thần ngày một cao hơn Người dân Việt bắt đầu quan tâm tới khoảng không gian xung quanh Trong mỗi khuôn viên thường được trang trí bởi nhiều loài hoa kiểng như hoa hồng, hoa mai, hoa lan, hoa giấy,… tạo nên một không gian thoáng mát và làm tăng thêm vẻ mỹ quan cho gia đình Trong số đó, cây bông trang lá nhỏ được ưa chuộng không kém do đa dạng về chủng loài và cho hoa đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như đỏ, vàng, trắng, hồng, vàng cam,…
Ở nước ta, bông trang lá nhỏ được trồng để làm hàng rào quanh các vườn
và bồn lớn, cũng có thể trồng vào chậu để làm cảnh, trang trí trong vườn hay công viên, hiện nay đang được trồng làm hoa trang trí trên đường và được cắt tỉa thành các hình khối để làm nền cho các loại cây khác (Trần Hợp, 2000) (Hình
1.2)
Hình 1.2: Ứng dụng của bông trang trong thiết kế cảnh quan
Trang 28Nhờ có thân nhỏ gọn, cành lá sum xuê, đa dạng về màu sắc và chủng loài, cây bông trang lá nhỏ còn được sử dụng để uốn hình tạo dáng bonsai, một trong những môn nghệ thuật được yêu thích ở nước ta hiện nay
1.7 GIÁ TRỊ Y HỌC CỦA CÂY BÔNG TRANG
Ngoài việc có giá trị về kinh tế, trang trí và làm đẹp, bông trang còn là một trong những cây thuốc nam rất bổ ích cho sức khỏe con người Theo Lê Trần Đức (1997) và Đỗ Tất Lợi (2009), rễ, lá, hoa cây bông trang được dùng làm thuốc lợi tiểu, trị cảm sốt,… bằng cách đào lấy rễ, rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc Có nơi còn dùng hoa, lá để làm thuốc
Theo Lê Trần Đức (1997), bông trang có một số công dụng sau:
- Bông trang có vị đắng hơi ngọt, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, làm tan máu
ứ, cầm máu, giảm đau
- Chữa cảm sốt, đau đầu, phong thấp, kinh nguyệt không đều, đau bụng do tích huyết, đi lỵ và huyết nhiệt, mụn nhọt, lở ngứa, Ngoài ra, bông trang còn dùng chữa huyết áp cao, chữa bị thương, sưng đau
Bên cạnh cây trang đỏ, cây trang trắng có tên khoa học là Ixora nigrians
R Br cũng được trồng làm cảnh và một số nơi dùng làm thuốc, cùng công dụng với trang đỏ nhưng có tác dụng kém hơn
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Phương tiện thí nghiệm
- Phiếu điều tra các đặc tính thực vật của cây bông trang lá nhỏ để ghi nhận lại các chỉ tiêu về đặc điểm hình thái và quan sát mẫu ngoài thực địa
- Máy chụp ảnh, thước đo, giấy A4 và sổ ghi chép để lưu lại đặc điểm các giống điều tra được
- Giống trang đỏ (Ixora coccinea) để làm vật liệu giâm cành
- Chậu nhựa, cao su mỏng, bình tưới phun
- Giá thể: tro trấu, trấu và mụn dừa
- Máy đo nhiệt độ, ẩm độ và máy đo ánh sáng để ghi nhận điều kiện môi trường giâm
2.1.2 Hóa chất dùng trong thí nghiệm
- Nước cất
- Cồn 50o
- Naphthalene acetic acid dạng bột NAA (98%) do Đức sản xuất
- Thuốc trị nấm bệnh Romil 72 WP và vôi bột dùng để xử lý giá thể
2.1.2 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm
- Thời gian: tháng 12/ 2011 – 4/ 2012
- Địa điểm điều tra khảo sát: các cơ sở kinh doanh hoa kiểng và các hộ gia đình
có trồng cây bông trang lá nhỏ ở quận Ninh Kiều và quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
- Địa điểm tiến hành thí nghiệm: Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hóa, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Trang 30- Thu thập hình ảnh các giống điều tra bằng cách chụp ảnh để lưu lại các đặc điểm tại chỗ của từng đối tượng và môi trường sống của chúng
- Mỗi giống điều tra từ 3 – 10 phiếu ở ít nhất 3 địa điểm khác nhau (số lần lặp lại không bằng nhau
Các đặc điểm hình thái thực vật chính được điều tra:
* Thân, cành:
- Quan sát hình dáng, màu sắc thân, cành non, cành già
- Đếm số lượng cành trên thân
- Đo chiều dài lóng thân (cm): đo khoảng cách giữa 2 mắt lá
- Đo chiều cao cây (m)
* Lá:
- Quan sát các đặc điểm về hình dạng phiến lá, cấu trúc sắp xếp lá
- Quan sát màu sắc lá non, lá già và lá trưởng thành
- Quan sát màu sắc và hình dạng cuống lá
- Đếm số lượng lá nơi mang hoa
- Đếm số cặp gân lá
- Đo chiều dài lá (mm): đo từ phần cuống lá đến phần đuôi của lá trưởng thành
- Đo chiều rộng lá (mm): đo phần rộng nhất của phiến lá
* Hoa:
- Quan sát hình dạng và màu sắc của cánh hoa, ống hoa, nhị hoa và nhụy hoa
- Đếm số lượng hoa trên chùm, số cánh hoa, số nhị hoa và nhụy hoa
- Đo khoảng cách từ lá đến cuống chùm hoa (mm)
- Đo đường kính chùm hoa (mm)
- Đo đường kính hoa khi nở (mm)
- Đo chiều dài ống hoa (mm)
- Đo chiều dài và chiều rộng cánh hoa (mm)
* Trái:
- Quan sát hình dạng trái non, trái già
- Quan sát sự biến đổi màu sắc của trái từ trái non đến trái già
Trang 312.2.2 Ảnh hưởng của NAA lên sự tạo rễ của cành giâm bông trang đỏ
(Ixora coccinea)
* Mục tiêu: khảo sát ảnh hưởng của NAA lên sự tạo rễ cành giâm cây bông
trang đỏ (Ixora coccinea) nhằm tìm ra nồng độ xử lý cho cành giâm ra rễ hiệu
Chuẩn bị cành giâm: cành giâm dùng trong thí nghiệm là loại cành bánh
tẻ Chọn cành giâm vào lúc sáng sớm, trời nắng tốt, rồi cắt cành giâm thành những đoạn dài 10 cm, có mang từ 3 – 4 mắt lá, vạt xéo 30o ở đáy cành
Chuẩn bị giá thể:
- Tro trấu: được rửa qua nước nhiều lần cho bớt mặn
- Trấu: ngâm trong dung dịch có pha thuốc Romil 72 WP trong 1 ngày để trừ nấm, bệnh
- Mụn dừa: ngâm trong nước vôi loãng trong 3 ngày để khử tannin (chất chát có trong mụn dừa)
Sau khi phơi khô, các giá thể trên được trộn với nhau theo tỷ lệ 3 tro: 1 trấu: 1 mụn dừa Tỷ lệ và thành phần giá thể này cũng được Mai Văn trầm (2009) sử dụng để giâm cành cây hoa hồng
Chuẩn bị hóa chất: pha 0,408 g NAA (98%) với 100 ml cồn 50o thành 100
ml dung dịch mẹ có nồng độ là 4.000 ppm Rút từ dung dịch mẹ lần lượt là 12,5,
Trang 3225, 37,5 và 50 ml để pha thành 100 ml dung dịch NAA với các nồng độ 500, 1.000, 1.500 và 2.000 ppm Đối chứng rút 100 ml cồn 50o Đây cũng là phương pháp tiến hành thí nghiệm của Hứa Bảo Khanh (2011) trên cành giâm hoa giấy
Tiến hành giâm cành: sau khi nhúng nhanh vào dung dịch NAA (5 giây),
để khô khoảng 10 phút rồi đem cắm vào các chậu nhựa có chứa giá thể (Hình 2.1)
Cành giâm được cắm thẳng đứng, không được nghiêng ngã, cắm sâu 2 – 3
cm, phun ướt đẫm lá cành giâm rồi trùm kín lại bằng một lớp cao su mỏng
* Điều kiện môi trường giâm cành
Thí nghiệm được thực hiện tại nhà lưới của Bộ môn Sinh lý – sinh hóa, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ (nhiệt độ trung bình khoảng 290 C , ẩm độ trung bình khoảng 75%, cường độ ánh sáng khoảng 3.200 – 5.000 lux)
* Chỉ tiêu theo dõi:
- Thời gian ra rễ đầu tiên: sau 20 ngày giâm cành, nhổ cành giâm lên để quan sát
rễ đầu tiên xuất hiện
- Đếm số chồi: sau 20 ngày giâm cành, khi nào cành giâm bắt đầu nảy chồi sẽ đếm số chồi Số chồi được đếm khi có chiều dài trên 0,5 cm
Hình 2.1: Cành giâm bông trang được nhúng vào dung dịch NAA
Trang 33- Đếm số rễ trên cành: nhổ cành giâm lên, đếm số rễ xuất hiện trên cành giâm
Số rễ được đếm khi có chiều dài trên 0,5 cm và được xác định vào các thời điểm
20, 28, 36 ngày sau khi giâm (NSKG)
- Đo chiều dài rễ (cm): nhổ cành giâm lên, đo chiều dài rễ của cành giâm, đo 3 rễ dài nhất để lấy trung bình Chiều dài rễ được xác định vào các thời điểm 20, 28,
36 NSKG
- Tỷ lệ ra chồi trên cành giâm (%): lấy tổng số cành ra chồi/tổng số cành giâm để tính tỷ lệ ra chồi
- Tỷ lệ ra rễ và sống (%): lấy tổng số cành ra rễ và sống/tổng số cành giâm để tính tỷ lệ ra rễ và sống
- Tỷ lệ chết trên cành giâm (%): lấy tổng số cành chết/tổng số cành giâm để tính
tỷ lệ ra chết
2.2.3 Cách xử lý kết quả
Các số liệu điều tra phân tích về đặc điểm hình thái của các giống cây
bông trang lá nhỏ và giâm cành cây bông trang đỏ (Ixora coccinea) được xử lý
bằng phần mềm Excel và SPSS Sử dụng Excel để tính giá trị trung bình Phân tích phương sai (ANOVA) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức, so sánh trung bình bằng kiểm định Duncan 5% và LSD 5% để thấy rõ sự khác biệt
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ KHẢO SÁT CÁC GIỐNG CÂY BÔNG TRANG LÁ NHỎ
3.1.1 Ghi nhận tổng quát kết quả điều tra
Qua quá trình điều tra và khảo sát các đặc điểm của một số giống cây bông trang lá nhỏ ở 35 địa điểm tại quận Ninh Kiều và quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã khảo sát được đặc điểm hình thái, kích thước, màu sắc thân, cành, lá, hoa và trái của một số giống cây bông trang lá nhỏ Số phiếu điều tra ghi nhận được là 41 phiếu Dựa vào màu sắc, hình dạng hoa và lá là chủ yếu để nhận dạng một số giống trang, những giống trang khảo sát được bao gồm: trang
đỏ, trang vàng, trang vàng cam, trang hồng, trang trắng, trang đỏ lá kim và trang
đỏ kép Cây trang đỏ kép có hoa màu đỏ, cánh hoa kép rất đẹp nhưng do là giống hoa mới nên ít được trồng và bày bán trên thị trường nên giống này chỉ được ghi nhận sơ bộ, không đưa vào kết quả nghiên cứu luận văn
Hiện nay, cây bông trang được trồng nhiều ở quận Bình Thủy, tập trung chủ yếu ở các nhà dân để làm hàng rào hay trang trí Riêng đối với quận Ninh Kiều bông trang được bày bán khá nhiều ở các cửa hàng hoa kiểng, một số khác được trồng ở các khu dân cư và các công trình công cộng như khuôn viên trường học, công viên… Các giống bông trang được trồng và phân bố ở nhiều nơi khác nhau tùy vào mục đích của người sử dụng
3.1.2 Phân nhóm các giống cây bông trang
Qua điều tra và khảo sát các đặc điểm hình thái của một giống bông trang
ở quận Ninh Kiều và quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, bước đầu đầu đã xác định được 7 giống trang có lá nhỏ như trình bày ở Bảng 3.1 Theo Trần hợp (2000), Lê Văn Bé (2011) và áp dụng phương pháp hình thái học đã xác định được tên của 5 giống bông trang thuộc 5 loài khác nhau và 2 giống chưa xác định được tên loài
Trang 35Bảng 3.1: Các giống bông trang lá nhỏ được điều tra khảo sát và nhân nhóm
Giống Tên loài Địa điểm khảo sát ở quận Ninh Kiều và
quận Bình Thủy
Khu 2-ĐHCT-Xuân Khánh-Ninh Kiều Mậu Thân-An Khánh-Ninh Kiều
Lộ 91B-Hưng Lợi-Ninh Kiều Khu vực Bình Phó B-Long Tuyền-Bình Thủy Cồn Khương-Trần Phú-Cái Khế-Ninh Kiều
Võ Văn Kiệt-An Thới-Bình Thủy Vành Đai Phi Trường-An Thới-Bình Thủy Trần Quang Diệu-An Thới-Bình Thủy Nguyễn Văn Cừ nối dài-An Khánh-Bình Thủy
Nguyễn Văn Cừ nối dài-An Khánh-Bình Thủy Khu 2-ĐHCT-Xuân Khánh-Ninh Kiều
Mậu Thân nối dài-An Hòa-Ninh Kiều
Lê Bình-Xuân Khánh-Ninh Kiều Bến Ninh Kiều-An Lạc-Ninh Kiều Cồn Khương-Trần Phú-Cái Khế-Ninh Kiều
Võ Văn Kiệt-An Thới-Bình Thủy Vành Đai Phi Trường-An Thới- Bình Thủy Trần Quang Diệu-An Thới-Bình Thủy
Trần Quang Diệu-An Thới-Bình Thủy Nguyễn Văn Cừ nối dài-An Khánh-Bình Thủy Mậu Thân-Xuân Khánh-Ninh Kiều
Nguyễn Văn Cừ nối dài-An Khánh-Bìhh Thủy Trần Quang Diệu-An Thới- Bình Thủy
Trang 36Võ Văn Kiệt-An Thới-Bình Thủy
Nguyễn Văn Cừ nối dài-An Khánh-Bình Thủy
3.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CHUNG CỦA CÁC GIỐNG CÂY BÔNG TRANG CÓ LÁ NHỎ
3.2.1 Đặc điểm của thân, cành
Đa số các giống cây bông trang khảo sát được có thân tròn, nhỏ, dạng bụi, phân cành và nhánh dày đặc Thân có màu xám nâu, một số giống có màu xám hoặc nâu đỏ Cành non có màu xanh nâu và dần chuyển sang màu đỏ nâu (Hình 3.1)
Cây có chiều cao từ 0,2 – 1,5 m tùy vào loại giống, đất trồng kỹ thuật trồng Ngoài việc chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu, chiều cao của các giống cây còn bị hạn chế bởi nhiều mục đích sử dụng của người tiêu dùng
mà người nông dân hay người người kinh doanh hoa trồng cây theo dạng cắt tỉa hay tự do, được trồng vào chậu, bồn hay trồng ngoài đất
Hình 3.1: Màu sắc và hình dạng thân, cành bông trang
Trang 37Qua Hình 3.2 cho thấy, Các giống trang điều tra được có chiều cao trung bình dao động khá lớn từ 0,25 – 1,25 m, trong đó, các giống trang vàng (1,25 m), trang đỏ (1,1 m) trang vàng cam (1 m) có chiều cao cao hơn so với các giống còn lại nhưng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% Giống trang trắng (0,25 m) có chiều cao cây thấp nhất và không khác biệt với giống trang hồng (1,3 m), trang đỏ lá kim (0,4 m)
3.2.2 Đặc điểm của lá
Hầu hết các giống bông trang thường có lá dạng thon dài, lá mọc đối và không có lông tơ Tùy theo từng loại giống mà bông trang có bộ lá đồng đều hay không đồng đều
* Đặc điểm của cuống lá
Bông trang lá nhỏ là loài hầu như không cuống hoặc có cuống ngắn, dạng thon nhỏ, có màu xanh khi còn là lá non và dần chuyển sang màu xanh nâu hay nâu đỏ tùy loài
Hình 3.3: Đặc điểm cuống lá bông trang