1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA các GIỐNG MAI và kỹ THUẬT TRỒNG MAI tại QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ cần THƠ

70 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với những cây mai mới ghép thì cần ẩm độ không khí lớn hơn 70% giúp quá trình chồi và vết thương không bị khô héo và để bảo đảm cây vận chuyển chất và nước mạnh Huỳnh Hoàng Thắng, 20

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VĂN NHẬT TIẾN

ĐIỀU TRA CÁC GIỐNG MAI VÀ KỸ THUẬT TRỒNG MAI TẠI QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: HOA VIÊN CÂY CẢNH

Cần Thơ, 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: HOA VIÊN CÂY CẢNH

Ks Lê Văn Hai

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Văn Nhật Tiến MSSV: 3077421

Lớp: Hoa Viên Cây Cảnh K33

Cần Thơ, 2011

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

  

Luận văn tốt nghiệp ngành Hoa viên & Cây cảnh với đề tài: “Điều tra các giống mai và kỹ

thuật trồng mai tại Quận Ninh Kiều Thành Phố Cần Thơ” do sinh viên Nguyễn Văn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

  

Hội đồng chấm luận văn đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Hoa viên & Cây

cảnh với đề tài: “Điều tra các giống mai và kỹ thuật trồng mai tại Quận Ninh Kiều

Thành Phố Cần Thơ”, do sinh viên Nguyễn Văn Nhật Tiến thực hiện và bảo vệ trước hội

đồng chấm luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua

Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:

Ý kiến hội đồng:

Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2011

Chủ tịch Hội đồng

Duyệt Khoa Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 5

i

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn (ký tên)

Nguyễn Văn Nhật Tiến LỜI CAM ĐOAN

Trang 6

Họ và tên: Nguyễn Văn Nhật Tiến

Ngày sinh: 07/11/1987

Nơi sinh: Tiền Giang

Họ và tên cha: Nguyễn Văn Quới

Họ và tên mẹ: Huỳnh Thị Mai

Quê quán: Xã Tân Hưng, Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang

Quá trình học tập:

1993 – 1997: Trường Tiểu Học Tân Thanh

1998 – 2002: Trường Trung Học Cơ Sở Thanh Hưng

2003 – 2006: Trường Trung Phổ Thông Phạm Thành Trung

2007 – 2011: Trường Đại Học Cần Thơ, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Ngành Hoa Viên & Cây Cảnh, khóa 33

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Trang 7

iii

Chân thành cảm ơn!

Thầy Lê Văn Hai đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp Cám ơn Thầy đã có những lời khuyên bổ ích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em nghiên cứu, hoàn thành tốt luận văn này

Thầy Lê Văn Bé – cố vấn học tập lớp Hoa viên & Cây cảnh khóa 33 cùng tất cả quý thầy

cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập

Trang 8

NỘI DUNG TRANG

LỜI CAM ĐOAN i

TIỂU SỬ CÁ NHÂN ii

LỜI CẢM TẠ iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH HÌNH viii

TÓM LƯỢC ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ 2

1.2 YÊU CẦU SINH THÁI 2

1.2.1 Nhiệt độ 2

1.2.2 Ẩm độ 2

1.2.3 Ánh sáng 2

1.2.4 Đất trồng 3

1.2.5 Nước 3

1.3 PHÂN LOẠI 3

1.3.1 Mai năm cánh 4

1.3.2 Các loại mai vàng nhiều cánh 4

1.4 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT 4

1.4.1 Rễ 4

1.4.2 Thân 5

1.4.3 Lá 5

1.4.4 Hoa 5

1.5 NHÂN GIỐNG 5

1.5.1 Nhân giống hữu tính 5

1.5.2 Nhân giống vô tính 5

1.5.2.1 Ghép áp 6

1.5.2.2 Ghép Cành 6

1.5.2.3 Ghép mắt 6

1.5.2.4 Giâm và chiết cành 7

1.6 SÂU VÀ BỆNH HẠI 7

MỤC LỤC

Trang 9

v

1.6.1.1 Sâu đục thân 7

1.6.1.2 Sâu tơ 7

1.6.1.3 Bọ trĩ 7

1.6.1.4 Nhện đỏ 8

1.6.2 Bệnh hại 8

1.6.2.1 Bệnh thán thư 8

1.6.2.2 Bệnh cháy lá 8

1.6.2.3 Bệnh đốm lá 9

1.6.2.4 Bệnh đốm rong 9

1.6.2.5 Bệnh đốm đồng tiền 9

1.7 KỸ THUẬT CHO MAI RA HOA THEO Ý MUỐN 9

1.8 QUY ƯỚC VẼ HOA ĐỒ VÀ HOA THỨC 10

1.8.1 Hoa đồ 10

1.8.2 Hoa thức 11

1.9 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 11

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP 13

2.1 PHƯƠNG TIỆN 13

2.1.1 Thời gian và địa điểm 13

2.1.2 Vật dụng khảo sát 13

2.2 PHƯƠNG PHÁP 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14

3.1 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT TRỒNG MAI TẠI QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ 14

3.1.1 Hiện trạng sản xuất mai tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 14

3.1.1.1 Kinh nghiệm sản xuất 14

3.1.1.2 Diện tích canh tác 14

3.1.1.3 Sản lượng sản xuất 15

3.1.2 Kỹ thuật bứng và vô chậu 16

3.1.3 Vật liệu trồng 17

3.1.4 Kỹ thuật chăm sóc mai sau khi vô chậu 17

3.1.5 Kỹ thuật ghép mai 18

3.1.6 Kỹ thuật chăm sóc mai trưởng thành 19

3.1.6.1 Kỹ thuật cắt tỉa và tạo tán 19

3.1.6.2 Tưới nước 20

3.1.6.3 Chế độ bón phân 21

Trang 10

3.1.6.4 Sâu và bệnh hại 23

3.1.6.5 Kỹ thuật lặt lá mai 26

3.2 HIỆN TRẠNG KHẢO SÁT CÁC GIỐNG MAI TẠI QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ 28

3.3 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CÁC GIỐNG MAI KHẢO SÁT TẠI QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ 29

3.3.1 Đặc điểm hình thái lá và thâ các giống mai trồng phổ biến tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 29

3.3.2 Đặc điểm hình thái hoa các giống mai trồng phổ biến tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 31

3.3.3 Hoa thức và hoa đồ các giống mai trồng phổ biến tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 33

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

4.1 KẾT LUẬN 43

4.1.1 Kỹ thuật trồng Mai tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 43

4.1.2 Các giống Mai trồng phổ biến tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 43

4.2 ĐỀ NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 11

Bảng 3.4 Tỷ lệ (%) các loại vật liệu trồng mai .17

Bảng 3.5 Tổng số lượng cây và tỷ lệ (%) các giống mai khảo sát tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 28

Bảng 3.6 Đặc tính hình thái lá, thân các giống mai trồng phổ biến tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 29

Bảng 3.7 Đặc tính hình thái hoa các giống mai trồng phổ biến tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 31

DANH SÁCH BẢNG

Trang 12

Hình 3.1 Tỷ lệ (%) số hộ trồng mai sau khi bứng tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 16

Hình 3.2 Tỷ lệ (%) số hộ sử lý mai sau khi bứng 18

Hình 3.3 các bước ghép mai theo kiểu ghép cành 19

Hình 3.4 Kiểu ghép cành (a) và kiểu ghép áp (b) được điều tra tại Quận Ninh Kiều (TPCT) .19

Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số lần cắt tỉa trong năm 20

Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thời điểm tưới nước trong ngày 21

Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số lần bón phân vô cơ trong năm .22

Hình 3.8 Tỷ lệ (%) các loại phân hữu cơ được các hộ sử dụng cho mai 22

Hình 3.9 Tỷ lệ (%) số lần bón phân hữu cơ cho cây mai trong năm 23

Hình 3.10 Tỷ lệ (%)sâu hại tại các vườn mai tại Quận Ninh Kều (TPCT) .24

Hình 3.11 Tỷ lệ (%) Số hộ có bệnh hại khảo sát tại các phường thuộc Quận Ninh Kiều (TPCT) .25

Hình 3.12 Một số hình ảnh sâu và bệnh hại khảo sát tại các vườn mai thuộc Quận Ninh Kiều (TPCT) 26

Hình 3.13 Tỷ lệ (%) phương pháp lặt lá mai được điều tra tại Quận Ninh Kiều (TPCT) 26

Hình 3.14 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Giảo Thủ Đức 33

Hình 3.15 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Phú Quý .34

Hình 3.16 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Tân Châu 35

Hình 3.17 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Cúc Mai 36

Hình 3.18 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Lâu Tàn .37

Hình 3.19 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Tứ Quý 38

Hình 3.20 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Huỳnh Tỷ .39

Hình 3.21 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Vàng 5 Cánh (hở) .40

Hình 3.22 Hoa thức, hoa đồ và hoa của giống Mai Trắng Miến Điện .41

DANH SÁCH HÌNH

Trang 13

ix

NGUYỄN VĂN NHẬT TIẾN 2011 Điều tra các giống mai và kỹ thuật trồng mai tại Quận Ninh Kiều Thành Phố Cần Thơ (TPCT) Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Hoa Viên & Cây Cảnh Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hóa Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Cán bộ hướng dẫn: Ks Lê Văn Hai

Đề tài được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu các giống mai và kỹ thuật trồng mai tại Quận Ninh Kiều (TPCT) Công việc điều tra được tiến hành bằng cách sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp những nhà vườn có số gốc mai từ 20 cây và cây có độ tuổi từ hai năm trở lên Qua điều tra nhận thấy, diện tích canh tác mai còn nhỏ hẹp, số lượng cây sản xuất phần lớn là những cây mai lâu năm có giá trị cao Kỹ thuật bứng mai và vô chậu tương đối ổn định, hổn hợp vật liệu trồng xơ dừa + trấu và xơ dừa + trấu + đất chiếm tỷ lệ cao, kỹ thuật ghép cành được sử dụng phổ biến nhất do kỹ thuật này tương đối đơn giản dễ thực hiện và tỷ lệ thành công cao (trên 90%) Việc cắt tỉa chủ yếu được các nhà vườn thực hiện sau Tết, phần lớn các hộ đều tạo tán cho cây theo dạng phân bố đều Tất cả các nhà vườn đều sử dụng phân vô cơ bón cho cây nhưng với liều lượng thấp, phân bón chủ yếu tập trung vào giai đoạn sau Tết và giai đoạn tạo nụ (từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch), phân hữu cơ chưa được các nhà vườn quan tâm sử dụng nhiều (53%) Qua khảo sát các giống mai ghi nhận được 17 giống (Giảo Thủ Đức, Phú Quý, Cúc Mai, Mai Trắng Miếng Điện, Mai 150 Cánh, Mai Huỳnh Tỷ, Mai Kem, Mai Cam, Tứ Quý, Mai Tân Châu, Mai Vàng 5 Cánh, Giảo Indo, Vạn Linh, Lâu Tàn, Chùm Gửi, Giảo Gai, Giảo Bến Tre), trong đó hiện có 9 giống mai (Giảo Thủ Đức, Phú Quý, Mai Tân Châu, Cúc Mai, Mai Lâu Tàn, Mai Tứ Quý, Mai Huỳnh Tỷ, Mai Vàng 5 Cánh, Mai Trắng Miến Điện) đang được trồng phổ biến tại quận Ninh Kiều Thành Phố Cần Thơ, đặc biệt là hai giống mai (Mai Giảo Thủ Đức và Mai Phú Quý) được trồng với số lượng lớn (chiếm 94,74%) Qua việc khảo sát các giống mai, căn cứ trên đặc tính thực vật các giống mai đã thiết lập được hoa thức, hoa đồ và khóa nhận diện các giống mai trồng tại quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Trang 14

Mai vàng là loài hoa truyền thống của người dân Nam Bộ mỗi khi Tết đến Từ lâu mai vàng là loại hoa được nhiều người Việt trồng vì mai vàng không chỉ đẹp mà còn tượng trưng cho sự may mắn, giàu sang Do nhu cầu và số lượng người chơi mai ngày càng nhiều nên số lượng vườn trồng mai tại các địa phương cũng tăng lên đáng kể Trong đó, quận Ninh Kiều Thành Phố Cần Thơ hiện là một trong những nơi tập trung nhiều vườn trồng mai

và cũng là một trong những thị trường tiêu thụ mai lớn tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên nơi đây vẫn chưa có tài liệu điều tra nào về kỹ thuật trồng mai cũng như các giống mai đang trồng phổ biến ở đây Vì vậy, đề tài “Điều tra các giống mai và kỹ thuật trồng mai tại quận Ninh Kiều Thành Phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm mục đích điều tra, khảo sát đặc tính thực vật các giống mai và kỹ thuật trồng mai để phục vụ công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng hoa mai và lai tạo ra giống mới sau nầy

MỞ ĐẦU

Trang 15

Cây mai vàng có tên khoa học Ochna integerrima (Lour.) Merr còn gọi là Huỳnh Mai

thuộc họ lão mai Ochnaceae (Phạm Hoàng Hộ, 1999 và Trần Hợp, 2002)

Trên thế giới mai vàng phân bố địa lý từ vùng Đông Bắc Ấn Độ, Andamans, Nicobars (giữa vĩ tuyến 60 đến 140 N), Bangladesh, Burma, Bán đảo Mã Lai đến Đông Dương, từ xích đạo cho tới Khammouan (vĩ độ 17,40 N) thuộc Lào, Đảo Hải Nam (vĩ tuyến 200 N) và Tây Nam Quãng Đông (khoảng vĩ tuyến 220 N) gần vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc (http://vietsciences.org, Trần Đăng Hồng)

Tại nước ta cây mai vàng mọc hoang dại ở rất nhiều nơi, khu vực phân bố chủ yếu kéo dài từ Huế trở vào Nam Cây mai có thể phát triển được ở những vùng đất có điều kiện thổ nhưỡng khác nhau như vùng núi cao, đồng bằng hoặc ven biển, có những loài còn phát triển được ở những vùng đất cát ven biển như cây mai biển vùng Cam Ranh - Khánh Hòa (Thái Văn Thiện, 2008)

Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây mai phát triển tốt từ 25-35 oC Nếu nhiệt độ cao hơn cây mai dễ bị cháy lá, lá mau già và rụng sớm

Ở nhiệt độ thấp dưới 15 oC cây hút nước và dinh dưỡng kém đi, dẫn đến lá bị nám và

dễ rụng, ở giai đoạn cây có nụ nếu nhiệt độ thấp dưới 15 oC thì cây có hiện tượng kéo dài thời gian nở hoa Nếu nhiệt độ hạ thấp dưới 10 oC cây gần như không phát triển, cây sinh trưởng chậm, nếu ngưỡng nhiệt độ này kéo dài dẫn đến cây bị tổn hại nặng (Thái Văn Thiện, 2008)

Cây mai chịu đựng khoảng chênh lệch ẩm độ khá cao Đối với những cây mai mới ghép thì cần ẩm độ không khí lớn hơn 70% giúp quá trình chồi và vết thương không bị khô héo và để bảo đảm cây vận chuyển chất và nước mạnh (Huỳnh Hoàng Thắng, 2001)

Cây mai sinh trưởng và phát triển mạnh trong điều kiện số giờ nhận ánh sáng trong ngày từ 6 giờ trở lên, những nơi có thời gian chiếu sáng quá ít cây mai sẽ sinh trưởng yếu

ớt, thân cành ốm và ra hoa ít (Nguyễn Văn Hai, 2007)

Trang 16

Bình quân thời gian chiếu sáng cho cây mai sinh trưởng phát triển tốt khoảng 2.000 giờ mỗi năm Ở những nơi bị khuất nắng, thiếu sáng cây mai sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng do

đó cây sẽ ít nụ Nếu thời gian chiếu sáng ít hơn 1.000 giờ/năm cây mai sẽ hình thành nụ kém, cành nhánh phát triển yếu ớt, lóng dài và lá bị mỏng do thiếu diệp lục Ánh sáng đầy

đủ làm quá trình đồng hóa của cây diễn ra tốt, giúp cây xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa mạnh mẽ (Thái Văn Thiện, 2008)

Trong tự nhiên, cây mai không kén đất, nó có thể phát triển được gần như ở nhiều vùng có tính chất đất khác nhau như: đất cát, đất sét, đất thịt nhẹ, đất thịt, đất phù sa, gò đồi…Ngay cả đất có nhiều sỏi đá, cát thì cây mai vẫn sinh trưởng phát triển và ra hoa tốt nếu các yếu tố về nhiệt độ, ánh sáng và nước đầy đủ Nhưng thích hợp nhất vẫn là các vùng đất phù sa ven sông Độ pH thích hợp từ 5,5-7 cây Mai vẫn có thể chịu được đất có độ phèn nhẹ (Thái Văn Thiện, 2008)

Cây mai trồng trong chậu, trong khay, có thể tích đất nhỏ nên đất trồng là rất quan trọng Đất trồng cho cây mai bao gồm 70% đất thịt, 10% đất cát, 10% sơ dừa và 10% phân hữu cơ hoai mục, trộn đều tất cả rồi đem trồng (Huỳnh Văn Thới, 2002)

Cây mai chịu hạn rất tốt tuy nhiên ở những vùng có lượng mưa nhiều và độ ẩm không khí cao thì cây mai sinh trưởng tốt hơn

Cây mai rất ưa nước, lượng nước cung cấp cho cây cần đủ và dồi dào Tuy nhiên, cây lại không thích hợp với điều kiện ngập úng và nếu như cây bị ngâp úng nhiều ngày thì cây

sẽ bị thối rễ và dễ bị chết Nguồn nước cho cây mai thường phù hợp với pH từ 5,5-7 cây mai không thích nghi với loại nước chua mặn (Thái Văn Thiện, 2008)

Đối với những cây mai trồng trên đất vườn thì vào mùa nắng nên tưới mỗi ngày 1 lần vào trước 9 giờ sáng hoặc buổi chiều sau khi nắng đã dịu mát Đối với mai trồng chậu cần tưới mỗi ngày 2 lần, nên tưới từ từ và đều khắp trong chậu (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)

Cây mai thuộc họ Ochnaceae có tên khoa học là Ochna integerrima (Lour.) Merr

Theo GS Tôn Thất Trình các loài mai thuôc họ Ochnaceae có đến 80 loài được định danh trên thế giới Riêng ở Việt Nam có rất nhiều giống mai, cho đến nay chưa có tài liệu phân loại giống mai chính thức công bố, hiện tại các nghệ nhân phân loại giống dựa trên số cánh hoa và màu sắc cánh hoa (Huỳnh Văn Thới, 2010)

1.2.4 Đất trồng

1.2.5 Nước

1.3 PHÂN LOẠI

Trang 17

- Mai tứ quý có tên khoa học Ochna atropurpurea DC (ngoài tên khoa học Ochna

atropurpurea, còn có tên khác là Ochna serrulata hay Ochna integerrima theo cách gọi của

Thái Lan), là loại mai có hoa vàng 5 cánh, trỗ quanh năm, sau khi trỗ một ngày cánh hoa rụng đi, vài ngày sau thì đài hoa biến thành màu đỏ cũng có dạng như cánh hoa lúc đầu và kết hạt, giống như hoa nở hai lần nên có người gọi là “Nhị Độ Mai” Mai Tứ quý có bộ rễ đẹp, sức sống mạnh hơn mai vàng có thể dùng mai tứ quý làm gốc ghép rất tốt

- Mai Thơm còn gọi Mai Hương là loài mai có màu vàng đậm, có hương thơm được trồng nhiều ở Bến Tre, Bình Định…, ở Huế cũng có loài “Mai Ngự” có hương thơm như Mai Thơm ở Bến Tre

- Mai Sẻ, Mai Châu (trâu), Mai Liễu, …

- Mai Giảo Thủ Đức: hiện nay được xem là “đẹp” trong các giống mai, hoa màu vàng

tươi, nhụy đều đặn, hoa có từ 8-12 cánh bầu tròn Cành cây phát triển cân đối nên tạo dáng rất đẹp Đây là giống mai được trồng phổ biến nhất hiện nay Gần đây có xuất hiện các loài mai giảo khác là Mai Giảo Tân Châu, Mai Giảo Bến Tre, các giống mai này cũng như mai Giảo Thủ Đức nhưng cánh hơi mỏng hơn, đầu cánh chụp tới phía trước nhiều hơn

- Mai Giảo Lá Gai: Mới xuất hiện vào khoảng những năm 90 Giống như mai giảo nhưng lá của nó có răng cưa như mai tứ quý, hoa lớn hơn mai giảo thường Mai Giảo Lá Gai, ít hoa hơn Mai Giảo Thủ Đức (mỗi chồi nụ thường cho ra 3 hoặc 4 hoa thay vì từ 5 đến

8 hoa như Mai Giảo Thủ Đức) và cành cũng không đẹp lắm, tuy nhiên giống mai nầy rất mạnh ít bị sâu bệnh

- Mai Cúc Thủ Đức: là lọai mai vàng nhưng hoa gồm nhiều cánh, có thể từ 24->32 cánh, cánh càng gần nhụy thì càng nhỏ như hoa cúc, hoa tương đối đẹp và lạ , khuyết điểm của lọai mai này là cành hơi ốm và dài, cây cũng dễ bị sâu đục thân hoặc bị bệnh nấm

- Mai Hùynh Tỷ: do ông Huỳnh Văn Tỷ sưu tầm, mai thường có khoảng 24 cánh xếp thành 3 lớp Đây là giống mai đẹp

- Các loại mai vàng nhiều cánh khác: Mai 48 cánh Sa Đéc, Mai Bến Tranh, Mai Tư Giỏi, Mai Cửu Long, Mai Ba Bi (BB), Mai Chín Đợi, Mai Gò Đen

1.3.1 Mai năm cánh

1.3.2 Các loại mai vàng nhiều cánh

1.4 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT

1.4.1 Rễ

Trang 18

Thân gỗ đa niên nhiều cành nhánh (Huỳnh Văn Thới, 2002)

Cây gỗ nhỡ cao 3 – 7 mét, thân tròn màu nâu xám (Trần Hợp, 2002)

Mai có lá đơn mọc cách, kích thước lá thay đổi theo giống và điều kiện dinh dưỡng Khi cây còn non lá có màu đỏ nâu, khi trưởng thành lá chuyển sang màu xanh có nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp chất hữu cơ (Trần Hợp, 2002)

Hoa mọc ra từ nách lá, lúc đầu là một nụ hoa cái có vỏ trấu bao bọc bên ngoài Khi vỏ trấu bung ra thì xuất hiện một chùm nụ nhỏ từ 1-10 nụ Sau khi bung vỏ trấu nụ tăng trưởng rất nhanh, khoảng 7 ngày sẽ nở thành hoa (Huỳnh Văn Thới, 2002) Hoa nở thành chùm từ nách lá, thời gian từ lúc nở đến lúc tàn khoảng 3 ngày (Đặng Phương Trâm, 2005)

Khi hoa đã thụ phấn thì bầu noãn phình to lên và kết hạt, hạt non có màu xanh đến khi già chuyển sang màu đen, hạt chín rụng xuống đất mọc lên cây con (Huỳnh Văn Thới, 2002)

Là hiện tượng tạo ra cơ thể con (thế hệ sau) từ sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái Đó là quá trình thụ phấn, thụ tinh tạo hạt và tạo thành cây con

Nhân giống vô tính có ưu điểm là đơn giản, dễ làm, hệ số nhân giống cao (trường hợp gieo hạt ươm cây sản xuất, gieo hạt ươm cây gốc ghép, gieo hạt tạo vật liệu chọn giống), chi phí sản xuất thấp, tuổi thọ của cây trồng cao, thích ứng rộng và có tính chống chịu cao Nhưng cũng có nhược điểm là đặc tính của cây bị phân ly, chất lượng và năng xuất biến đổi (Lâm Ngọc Phương, 2009)

Phương pháp nhân giống hữu tính mai vàng bằng cách gieo hạt là phương pháp cổ truyền đơn giản dễ làm, chỉ chọn hạt giống trên những hoa nở vào dịp tết, gieo ngay khi còn tươi (Đặng Phương Trâm, 2005)

Là phương pháp mà thông qua các cách làm khác nhau tạo ra những cây hoàn chỉnh từ những phần riêng biệt ở cơ quan sinh dưỡng của cây mẹ

1.4.2 Thân

1.4.3 Lá

1.4.4 Hoa

1.5 NHÂN GIỐNG

1.5.1 Nhân giống hữu tính

1.5.2 Nhân giống vô tính

Trang 19

Phương pháp này có ưu điểm đó là kỹ thuật đơn giản dễ làm, cây con mang kiểu gen đặc trưng và đặc tính của cây mẹ Nhưng cũng có nhược điểm là cây con sẽ mang theo mầm bệnh của cây mẹ (Lâm Ngọc Phương, 2009)

Cây mai có thể được nhân giống vô tính theo các cách sau:

Dùng dao bén gọt bỏ một phần vỏ cành giống cho đến phần gỗ, chiều dài khoảng 3-4

cm Bên cành của gốc chủ cũng gọt bỏ một phần với kích thước tương tự Áp hai phần vừa gọt vỏ lại với nhau và cột cố định chúng bằng dây ni-lông

Sau thời gian từ 3-6 tháng, khi thấy hai phần vỏ tiếp hợp với nhau tốt, tiến hành cắt bỏ phần ngọn của gốc chủ và phần gốc của gốc giống ghép, ta sẽ có một cây mai ghép (Thái Văn Thiện, 2008)

Là cách dùng ngọn giống ghép, để ghép thẳng vào tược của cành hay bên hông của cây thân chủ

Dùng dao bén tách một phần vỏ của thân cây chủ hay phần vỏ của một tược cành theo đường xéo từ trên xuống

Vạt xéo chồi ghép ở phần gốc tương ứng với vết mở trên gốc chủ Sau đó cho chồi ghép vào vết mở và buộc chặt lại như phần trên

Dùng bao ni-lông trùm kín mắt ghép, sau thời gian khoảng 20 ngày đến một tháng, khi tượt ghép nảy lộc non tiến hành tháo bịt trùm

Là phương pháp ghép để tạo ra cành mới từ một mắt lá của giống được chọn, mắt ghép được chọn có thể từ một mắt lá đã rụng cuống (mắt rụng) hay từ một mắt lá còn nguyên Phương pháp này có ưu điểm là hệ số nhân giống cao, thời gian nhân giống nhanh, tính hiệu quả và thẩm mỹ cao Tuy nhiên, nó cũng có nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật đối với những người mới tiếp cận với nghề

Đầu tiên, dùng dao ghép mở cửa sổ trên tược chủ Có nhiều cách mở cửa sổ như mở hình chữ nhật, hình vuông, chữ I, chữ H, chữ T…, nhưng phổ biến nhất là mở theo hình chữ nhật và hình vuông Dùng dao bén có mũi nhọn rạch vào tược chủ 4 đường cắt bén nhọn, vết rạch phải sát vào phần gỗ của tược Sau đó dùng mũi dao tách lấy miếng vỏ ra, chú ý không được làm bầm dập vết mở

Tương tự, bên mắt ghép cũng gạch 4 đường, nhẹ nhàng dùng mũi dao tách nhẹ, lấy miếng ghép ra, cũng chú ý tránh làm dập, bể mắt ghép

Đặt mắt ghép vào ô cửa sổ Yêu cầu cơ bản là kích thước mắt ghép vừa khớp với ô cửa

sổ, không được lớn hơn

Dùng dây ni-lông mềm buộc vết ghép lại sau khi đặt được mắt ghép vào ô cửa sổ (Thái Văn Thiện, 2008)

1.5.2.1 Ghép áp

1.5.2.2 Ghép Cành

1.5.2.3 Ghép mắt

Trang 20

Giâm và chiết cành mai sẽ giữ được đặc tính tốt của cây mai cho giống, nhưng mai là cây rất khó ra rễ bất định, hoặc có thể ra với tỷ lệ rất thấp, rễ phát triển cũng kém nên cây mai chiết hay giâm cành không được tốt bằng cây gieo hạt do đó người ta ít thực hiện phương thức nhân giống này mà tiến hành ghép (Đặng Phương Trâm, 2005)

Sâu hại thường phát triển mạnh và tấn công cây mai vào thời điểm đầu năm, lúc này điều kiện thời tiết nắng ấm, cây mai ra nhiều lá non, đó là nguồn thức ăn lý tưởng cho sâu, đây chỉ là quy luật phát triển của sâu trong tự nhiên Có nhiều loại sâu phá hại trên cây mai như: Sâu tơ, sâu lông, sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu đục nụ…Ngoài ra còn có các loại côn trùng chích hút như: Rệp sáp, rệp vảy, rệp hồng, bọ trĩ, nhện đỏ…

Một số loài sâu hại phổ biến trên mai:

Sâu đục thân là một loài đa ký chủ gây hại trên rất nhiều loại cây trồng khác nhau Loại này gây hại bằng cách đục một lỗ nhỏ vào nhánh hay thân cây để chui vào và đục rỗng lõi

gỗ và làm chết phần cây bị tác hại Quan sát bên ngoài cây mai, chỗ sâu đục lỗ có một ít bột

gỗ rơi ra ngoài hay mai có cành lá bị héo úa (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)

Khi phát hiện cây bị sâu tấn công thì nên sử lý ngay bằng cách bơm thuốc (Basudin hay Malathion) để diệt sâu, nếu bị nặng thì nên cắt bỏ phần bị hại đem đốt để cứu nhánh cây lành mạnh khác (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)

Sâu tơ là giống sâu nhỏ chuyên ăn lá non, xuất hiện quanh năm, chúng nhả tơ quấn hết

lá non đầu cành lại với nhau, rồi ăn dần cho đến hết đọt (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005)

Nếu gây hại ít có thể diệt bằng cách thủ công, nếu nhiều nên phun thuốc (Polytrin hoặc Lannate) để diệt Nên phun thuốc ngừa cho cây 10 ngày/lần (Nguyễn Văn Hai, 2007)

Đây là loài gây hại phổ biến và nghiêm trọng trên mai (Võ Thị Thanh Dung, 2007)

Bọ trĩ thường phát triển mạnh trong điều kiện khô nóng, tấn công vào lá non hoặc đầu chồi để hút nhựa làm cho lá bị quăn queo không phát triển rồi rụng, còn các chồi non bị khô

không phát triển được (Chu Thị Thơm & ctv., 2005)

Trang 21

Nên chủ động để phun thuốc phòng trừ bọ trĩ vào lúc cây ra lá non Các loại thuốc thường dùng để trừ bọ trĩ như: Confidor, Lannatte, Politrin, Selecron, DC Tronplus…(Thái Văn Thiện, 2008)

Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ, con trưởng thành khoảng 0,5 mm, chúng phát triển mạnh vào mùa khô Nhện đỏ thường sống ở mặt dưới của lá bánh tẻ và lá già, chúng cạp biểu bì và hút nhựa làm cho lá bị nâu rám, lốm đốm và dễ khô rụng (Thái Văn Thiện, 2008) Một số loại thuốc phòng trừ nhện đỏ hiện nay như: Kelnthane, Ortus, Nisorun, Comite (Thái Văn Thiện, 2008)

Bệnh thường phát triển vào mùa mưa, mùa có ẩm độ cao Đối với cây mai nên phòng ngừa bệnh là chính, không nên để xuất hiện bệnh rồi mới trị, vì khi bệnh xuất hiện về hình thái bên ngoài thì cây đã bị ảnh hưởng về mặt sinh lý rồi Bệnh trên mai có thể do nhiều nguyên nhân, có thể do thiếu dinh dưỡng, thừa dinh dưỡng, môi trường không tốt…Một số bệnh thường gặp trên mai như: Cháy lá, thán thư, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm rong, nấm hồng (Thái Văn Thiện, 2008)

Tác nhân và triệu trứng một số bệnh gây hại trên mai và biện pháp phòng trừ:

Tác nhân gây bệnh do nấm Colletotrichum spp thuộc lớp nấm bất toàn

Bệnh thường gây hại ở hai mép lá, chót lá hoặc giữa hai phiến lá Lúc đầu vết bệnh là những chấm tròn nhỏ màu nâu xám hoặc hơi nâu vàng có hình đồng tâm hơi lõm xuống có viền màu nâu nhạt, kích thước vết bệnh trung bình 2-5 mm, sau đó vết bệnh lan rộng ra liên kết lại làm lá cháy khô thành từng mảng, bề mặt vết bệnh có những chấm nhỏ li ti màu đen

là đĩa đài của nấm bệnh (Trần Bá Sơn và Nhan Thị Mỹ Hằng, 2005)

Hạn chế bệnh bằng cách cắt tỉa lá bệnh đem đốt, cây bị bệnh nên cách ly, phun thuốc Vicarben, Dithane M45 để trị (Nguyễn Văn Hai, 2007)

Bệnh do nấm Pestalotia sp thuộc lớp nấm bất toàn

Bệnh thường xuất hiện ở chóp lá, mép lá đôi khi ở gân lá (Hà Thị Kim Duyên, 2007) Vết bệnh lúc đầu là những chấm màu đen, sau đó vết bệnh liên kết thành mảng cháy lớn, hình thành dạng không cố định và có nhiều chấm nhỏ li ti màu đen trên bề mặt mô bệnh (Trần Bá Sơn và Nhan Thị Mỹ Hằng, 2005)

Bệnh có thể xuất hiện quanh năm nhưng phá hại chủ yếu vào những tháng 7 đến tháng

10 do mưa ẩm và nhiệt độ trung bình 25-28 0C (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

1.6.1.4 Nhện đỏ

1.6.2 Bệnh hại

1.6.2.1 Bệnh thán thư

1.6.2.2 Bệnh cháy lá

Trang 22

Lá bị bệnh nên lặt bỏ đem tiêu hủy sau đó phun thuốc Alvil hoặc Coc 85 để trị (Phúc Uyên và Việt Chương, 2006)

Bệnh gây ra do nấm Alternaria sp thuộc lớp nấm bất toàn

Bệnh thường xuất hiện ở giữa phiến lá đôi khi ở hai mép lá Đầu tiên vết bệnh lá những chấm nhỏ màu xám hay xám đen, sau đó vết bệnh lan rộng có dạng hình tròn hay bất dạng, tâm vết bệnh có màu xám, viền nâu đen, xung quanh vết bệnh màu vàng Bề mặt mô bệnh có những chấm nhỏ li ti màu đen là đĩa đài Bệnh nặng các vết bệnh liên kết lại với nhau làm lá bị cháy khô và rách ở giữa mô bệnh (Hà Thị Kim Duyên, 2007)

Bệnh phát sinh và phát triển trong điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều, nhiệt độ khoảng 25 0C (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Để quản lý bệnh cần ngắt lá bệnh và tiêu hủy, có thể sử dụng các loại thuốc trừ bệnh như Chlorothalonil, Mancozed, Thiophanate methyl (Moorman, 2006)

Bệnh do tảo Caphaleuros sp gây ra (Trần Bá Sơn và Nhan Thị Mỹ Hằng, 2005)

Bệnh thường xuất hiện trên thân, lá Lúc đầu vết bệnh chỉ là những mảng rất nhỏ li ti

và có màu hồng (Hà Thị Kim Duyên, 2007) Bệnh nặng làm cho cành khô, lá rụng và đôi khi chết cả cành (Trần Bá Sơn và Nhan Thị Mỹ Hằng, 2005)

Bệnh phát triển trong những tháng mưa ẩm, vườn trồng dày, thiếu chăm sóc, vườn cây già (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002) Khi bệnh nặng có thể sử dụng Mancozed, Kumulus 80 WP, Microthiol spcial 80 WP Có thể sử dụng thuốc phòng ngừa như Bordeux 1%, Copper zinc 75 WP…pha đặc quét lên thân, cành già cho cây mai hai lần/năm vào đầu và cuối mùa mưa (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)

Đốm bệnh là mảng địa y, một dạng cộng sinh giữa rêu và nấm Bệnh thường gây hại trên vườn cây già, ít chăm sóc, bệnh gây hại ở phần gốc thân hoặc những cành già bên dưới (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002) Lúc đầu vết bệnh là những chấm nhỏ màu xám trắng, vết bệnh lớn lên giống như đồng tiền, hơi nhô lên, sờ thấy nhám, vết bệnh

có màu trắng hay xanh xám (Trần Bá Sơn và Nhan Thị Mỹ Hằng, 2005)

Để quản lý bệnh cần quét vôi vào gốc cây hai lần trong năm vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa, hoặc dùng bàn chải chà xát cho tróc đốm đồng tiền và rửa sạch cây, sau đó dùng thuốc gốc đồng như coper zinc 85 WP, Kocide, Coc 85… pha đậm đặc quét vào gốc cây (Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Hoàng Oanh, 2002)

Theo Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh (2010), vấn đề làm sao cho cây ra hoa theo ý muốn, như mùng một Tết Các nghệ nhân phải chăm sóc tưới nước quanh năm để

Trang 23

Cách hãm cho mai nở trễ: chưa đến 23 tháng Chạp mà cây mai đã bung vỏ lụa, tức là

sẽ nở sớm Lập tức đem cây mai để vào chỗ mát, hay lấy vải đen che chùm cây mai lại, tưới nước vào chiều tối để làm lạnh cây mai Nếu có urê thì mỗi lần tưới nên pha loãng thêm 1g urê với 8 lít nước, kích thích cho cây ra lá Khi ra lá nhanh thì cây mai sẽ chậm nở một vài ngày

Là hình vẽ diễn tả số lượng và tính chất các thành phần của một hoa sau khi phân tích trên một mặt phẳng Hoa đồ có đường kính 6-12 cm và không có lời chú thích

Qui uớc vẽ hoa đồ:

Các thành phần của hoa được xếp trên nhiều vòng đồng tâm hoặc xếp trên một đường xoắn ốc

Nếu hoa đều thì vẽ các thành phần này theo những hình tròn, nếu hoa không đều thì vẽ các thành phần này theo hình bầu dục

Mỗi vòng mang số phần tử của mỗi thành phần Mỗi thành phần được vẽ tượng trưng bằng một ký hiệu sau:

+ Trục hoa: vẽ vòng tròn nhỏ

+ Lá hoa hoặc lá đài: hình liềm không tô đen

+ Cánh hoa hình liềm tô đen

+ Tiểu nhụy: vẽ hình chữ D (nếu bao phấn một buồng) hoặc chữ B (nếu bao phấn hai buồng) Phần bụng của chữ B hay D quay vào tâm của hoa đồ biểu thị cho bao phấn nội hướng, còn quay ra ngoài là bao phấn ngoại hướng

+ Bầu noãn: là hình vẽ của phẩu thức ngang qua bầu noãn (lưư ý đến vị trí của các tâm

bì so với sự định hướng hoa)

Các phần tử trên mỗi vòng được vẽ xen kẽ với các phần tử trên vòng ngoài và vòng trong Nếu một phần tử nào thiếu, dùng chữ thập ở phần tử bị thiếu Nếu thiếu hẳn một luân sinh, vị trí thiếu là một vòng xoắn dáng đoạn

Các phần tử dính nhau đuợc nối với nhau bằng một đường thẳng hay một đường vòng cung

1.8 QUY ƯỚC VẼ HOA ĐỒ VÀ HOA THỨC

1.8.1 Hoa đồ

Trang 24

Là công thức gồm chữ và số tóm tắt các thành phần của hoa

Qui ước chữ của mỗi thành phần:

G : Bầu noãn thượng

 : Hoa không đều G : Bầu noãn hạ

♂ : Hoa đực

G : Bầu noãn trung

♀ : Hoa cái X : Số lượng thay đổi

: Hoa lưỡng tính  : Số lượng nhiều

4-5 : 4 hoặc 5 0 : Không có, đã tiêu giảm

2+4 : Vòng ngoài có 2, vòng trong có 4

 : Dính liền trong một vòng

 : Dính liền giữa hai vòng

Công thức hoa viết theo trình từ sau:

Đối xứng của hoa (hoa đều/không đều )  Phái tính Số đài phụ  Số lá đài  Tràng (số cánh hoa)  Số nhị  Số tâm bì

Các thành phần của hoa thức được cách nhau một ký tự

Thành phần đực hoặc cái không thụ thì ghi chữ “lép” sau phần chữ (Đặng Minh Quân, 2009)

Cần Thơ tiếp giáp với 5 tỉnh: phía Bắc giáp An Giang, Đông Bắc giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Hậu Giang, phía Tây giáp Kiên Giang và phía Đông giáp Vĩnh Long

Trang 25

Huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh

Trong đó, Quận Ninh Kiều là trung tâm kinh tế của Thành Phố Cần Thơ, có diện tích 29,2 km2 và có 13 phường (Cái Khế, An Hòa, Thới Bình, An Nghiệp, An Cư, An Hội, Tân

An, An Lạc, An Phú, Xuân Khánh, Hưng Lợi, An Bình và An Khánh)

Bảng 1.1 Nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa trung bình hàng tháng thu tại trạm Khí Tượng Thủy Văn (TPCT) từ tháng 2-2010 đến tháng 1-2011

Tháng Nhiệt độ (0C) Ẩm độ (%) Luợng mưa (mm)

Trang 26

Từ tháng 12/2010 đến 4/2011

Khảo sát các vườn mai tại Quận Ninh Kiều Thành Phố Cần Thơ (TPCT)

Máy ảnh kỹ thuật số

Phiếu điều tra

Thước đo, tập, viết và các dụng cụ cần thiết khác

Đề tài được thực hiện tại quận Ninh Kiều (TPCT) Dựa trên mục tiêu của đề tài, trên mỗi phiếu điều tra ghi rõ: họ tên, địa chỉ, tên giống ở địa phương, điều tra đầy đủ các đặc tính thực vật và kỹ thuật trồng mai

Điều tra từ 15-30 địa điểm, mỗi địa điểm thực hiện khoảng từ 2-10 phiếu điều tra (mỗi phiếu điều tra một giống mai), ước lượng thực hiện khoảng 70-300 phiếu điều tra

Công việc điều tra được tiến hành trực tiếp tại các nhà vườn, vườn mai được điều tra phải có số lượng gốc từ 20 gốc trở lên và có trên 2 năm kinh nghiệm trồng mai

Việc khảo sát các chỉ tiêu về đặc tính thực vật của các giống mai dựa trên đặc tính phân loại thực vật của Phạm Hoàng Hộ Mỗi giống lấy chỉ tiêu về rễ (hình dáng), thân (đặc điểm vỏ cây, tán cây), lá (kích thước lá, hình dạng lá, màu sắc lá già, lá non), kích thước hoa, màu sắc hoa, thời gian rụng cánh hoa

Qua điều tra các giống mai tại Quận Ninh Kiều (TPCT), sử dụng máy ảnh kỹ thuật số

để sưu tập hình ảnh về: rễ, thân, lá, hoa từng giống mai

Từ kết quả điều tra, căn cứ trên số liệu về đặc tính thực vật các giống mai, xây dựng khóa nhận diện các giống mai

Trang 27

nghiệm

Khánh

An Hòa

An Lạc

Xuân Khánh

An Bình

Hưng Lợi

Cái Khế

Thới Bình

Qua khảo sát hiện trạng canh tác mai tại Quận Ninh Kiều (TPCT) Kết quả điều tra có

17 hộ với tổng diện tích 21.430 m2 Trong đó hộ có diện tích lớn nhất là 6.000 m2 và nhỏ nhất là 120 m2

Trong 13 phường của quận Ninh Kiều thì có 5 phường (An Nghiệp, An Cư, An Hội,

An Phú, Tân An) không có hộ sản xuất mai nào, vì diện tích đất hạn chế và kinh doanh mai trong khu vực này thì không có lợi nhuận cao bằng các hình thức kinh doanh khác

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT TRỒNG MAI TẠI QUẬN NINH KIỀU THÀNH

PHỐ CẦN THƠ

3.1.1 Hiện trạng sản xuất mai tại Quận Ninh Kiều (TPCT)

3.1.1.1 Kinh nghiệm sản xuất

3.1.1.2 Diện tích canh tác

Trang 28

Bảng 3.2 Số lượng và tỷ lệ (%) diện tích canh tác của các hộ sản xuất mai tại các phường thuộc Quận Ninh Kiều (TPCT)

Phường/Số hộ Diện tích canh

tác (m2)

An Khánh

An Hòa

An Lạc

Xuân Khánh

An Bình

Hưng Lợi

Cái Khế

Thới Bình

Tổng

số hộ

Tỷ

lệ (%)

An Bình chiếm diện tích đất canh tác cao nhất 41,17%, do lập vườn sản xuất ở đây thì chi phí về mặt bằng thấp và có lợi thế về diện tích đất sản xuất do đất nông nghiệp còn nhiều

Qua khảo sát 17 hộ sản xuất mai tại Quận Ninh Kiều Thành (TPCT), ghi nhận được tổng số lượng 11.080 cây Trong đó hộ có số lượng lớn nhất là 3.000 cây và thấp nhất là 80 cây

Bảng 3.3 Số lượng và tỷ lệ (%) số lượng cây trồng của các hộ sản xuất mai tại các phường thuộc Quận Ninh Kiều (TPCT)

Phường/Số hộ

Số luợng cây

An Khánh

An Hòa

An Lạc

Xuân Khánh

An Bình

Hưng Lợi

Cái Khế

Thới Bình

sự chênh lệch về độ tuổi khá cao

Kết quả điều tra 17 hộ canh tác mai có 70,6% số hộ trồng chuyên canh mai 29,4% số

hộ có kinh doanh thêm các mặt hàng hoa kiểng khác

3.1.1.3 Sản lượng sản xuất

Trang 29

Mùa vụ bứng mai diễn ra quanh năm, khi nào mua được mai nguyên liệu thì các hộ tiến hành bứng hoặc mua gốc được bứng sẵn do các thương lái mai đem đến Nhìn chung, theo đánh giá của các nhà vườn thì thời điểm bứng cây vào khoảng tháng 11 đến tháng 12

âm lịch là tốt nhất

Mai sau khi bứng không được trồng ngay vào chậu chiếm tỷ lệ khá cao 68,7% số hộ (phần lớn là những gốc mai lâu năm), theo ghi nhận thì do sau khi bứng bộ rễ đang bị tổn thương do vết cắt, nếu trồng ngay thì rất dễ bị nấm bệnh tấn công do môi trường ẩm, làm cho rễ bị thối và chết cây, nên để một vài ngày để những vết cắt khô ráo và dần dần hồi phục, nhưng chú ý không được để lâu quá (tối đa khoảng 20 ngày kể từ lúc bứng) vì dinh dưỡng dự trữ trong cây sẽ hết Số hộ trồng ngay vào chậu sau khi bứng chiếm (31,3%), phần lớn hộ trồng những cây mai nhỏ (83,3% số hộ trồng ngay vào chậu) có độ tuổi từ 1 năm đến

3 năm, do những vết cắt ở rễ có đường kính nhỏ nên không ảnh hưởng nhiều, và do giá trị những cây mai này không lớn nên hao hụt một số cây cũng không ảnh hưởng nhiều

Khi trồng mai vào chậu, cách đặt mai vào chậu tùy theo hình dáng của gốc mai Theo khảo sát, tất cả các hộ đều đặt mai vào chậu theo thẩm mỹ của riêng mình (do kinh nghiệm trồng mai của các hộ tương đối lâu năm)

Hình 3.1 Tỷ lệ (%) số hộ trồng mai sau khi bứng tại Quận Ninh Kiều (TPCT)

3.1.2 Kỹ thuật bứng và vô chậu

%

68.7

31.3

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Không trồng ngay Trồng ngay

Trang 30

Bảng 3.4 Tỷ lệ (%) các loại vật liệu trồng mai

Tỷ lệ % Vật liệu trồng mai

3 Xơ dừa + Trấu + Phân rơm (1:1:1)

4 Xơ dừa + Trấu + Phân rơm + Đất

(2:2:2:1)

41,2

35,3

17,6 5,9

71,4 28,6

83,3 16,7

Kết quả điều tra tại các hộ sản xuất mai Số hộ sử dụng vật liệu trồng (xơ dừa, trấu, đất) chiếm tỷ chiếm 35,3%, trong đó số hộ sử dụng vật liệu trồng (xơ dừa, trấu, đất) tỷ lệ 7:2:1 chiếm tỷ lệ cao (83,3%) Vật liệu trồng (xơ dừa, trấu) chiếm tỷ lệ cao hơn 41,2 %, trong đó số hộ sử dụng vật liệu trồng (xơ dừa, trấu) tỷ lệ 1:1 chiếm (71,4%) Vật liệu (xơ dừa, trấu, phân rơm) được trộn với tỷ lệ 1:1:1 chiếm (17,6%) Ngoài ra, còn có hộ sử dụng vật liệu trồng (xơ dừa, trấu, phân rơm, đất) trộn với tỷ lệ 2:2:2:1

Nhìn chung, loại vật liệu trồng: Xơ dừa + Trấu được các nhà vườn sử dụng nhiều nhất (41,2%) Vì theo các nhà vườn thì loại vật liệu trồng này không chứa nhiều chất dinh dưỡng bằng các hỗn hợp vật liệu khác, tuy nhiên loại vật liệu này lại đơn giản, ít tốn công trộn, có thể tìm mua dễ dàng

Theo đánh giá thì vât liệu trồng: Xơ dừa + Trấu + Phân rơm + Đất sử dụng cho cây là tốt nhất Vì trong tất cả các hỗn hợp vật liệu trồng thì hỗn hợp vật liệu này chứa đầy đủ dinh dưỡng hơn, có thể đảm bảo cây phát triển bình thường nếu thiếu phân bón Tuy nhiên do hổn hợp vật liệu trồng này mới được sử dụng gần đây và khi sử dụng vật liệu này tốn nhiều chi phí và công sức hơn các loại vật liệu khác, nên tỷ lệ % hộ sử dụng còn thấp

Mai sau khi vô chậu rất được các nhà vườn quan tâm che sáng Che sáng là công việc rất quan trọng, vì lúc này cây mai đã bị cắt rễ và cành nhánh, nếu bị nắng chiếu nhiều sẽ bị ảnh hưởng đến sức sống của cây, thậm chí chết cây Số hộ sử dụng lưới để che (70% ánh sáng) cho cây chiếm 87,5%, số hộ đem cây vào mát chiếm 12,5%

3.1.3 Vật liệu trồng

3.1.4 Kỹ thuật chăm sóc mai sau khi vô chậu

Trang 31

Hình 3.2 Tỷ lệ (%) số hộ sử lý mai sau khi bứng

Tất cả các vườn đều tưới nước cho mai trong giai đoạn này, tuy nhiên lượng nước tưới không nhiều lắm chủ yếu để giữ ẩm cho cây

Trong giai đoạn này phân bón không được các hộ sử dụng

Các hộ kinh doanh mai sử dụng kiểu ghép cành chiếm tỷ lệ rất cao (94,2%), do cách ghép tương đối đơn giản (tỷ lệ thành công trên 90%) và cách ghép này có thể chủ động trong việc ghép mai

 Gốc ghép

Theo kết quả điều tra cho thấy, số hộ mua mai nguyên liệu để làm gốc ghép từ những vùng lân cận chiếm 94,1%, độ tuổi của những cây mai nguyên liệu thường không đồng nhất, phần lớn là những cây mai nhiều năm tuổi

Ngoài ra còn có 5,9% hộ vừa mua mai nguyên liệu từ vùng khác và vừa trồng từ hạt, thời gian từ lúc bắt đầu trồng đến khi dùng làm gốc ghép từ 1 năm trở lên, khi đó cây mai đã phát triển ổn định

Nguồn mai nguyên liệu được sử dụng chủ yếu là gốc mai vàng 5 cánh, các gốc ghép được các hộ kinh doanh cắt tỉa thân cành hoàn toàn (100%), sau đó được trồng vào chậu cho

ổn định để chuẩn bị ghép Thông thường, thời gian từ lúc bứng đến lúc ghép khoảng 25-30 ngày, lúc này gốc ghép đã bắt đầu đâm tược, cây đã có dấu hiệu hồi phục, nếu ghép lúc này thì sẽ đạt hiệu quả cao và có thể tiết kiệm được thời gian

Do nguồn cung cấp mai nguyên liệu không ổn định về thời gian, nên khi nào có mai nguyên liệu thì các hộ tiến hành ghép

3.1.5 Kỹ thuật ghép mai

%

87.5

12.5 0

10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Sử dụng luới che Đem vào mát

Trang 32

 Kỹ thuật ghép

  

Hình 3.3 các bước ghép mai theo kiểu ghép cành

Chồi ghép được chọn trên những cành khỏe, sức sống mạnh Mai sau khi ghép dùng bao ni-lông trùm kín mắt ghép để giữ ẩm và tránh cho mắt ghép bị thấm nước, sau thời gian khoảng 20 ngày đến một tháng, khi tượt ghép nảy lộc non tiến hành tháo bịt trùm

Tuy nhiên đối với những gốc mai lâu năm, có những vị trí mà khi sử dụng kiểu ghép nêm thì tỷ lệ thành công rất thấp, nên kiểu ghép áp được sử dụng trong trường hợp này

(a) (b)

Hình 3.4 Kiểu ghép cành (a) và kiểu ghép áp (b) được điều tra tại Quận Ninh Kiều (TPCT)

Để cho cây mai đẹp và hoa nhiều hơn vào năm sau Sau Tết (khoảng mùng 9 -10 âm lịch) tất cả các nhà vườn đều tiến hành cắt tỉa cành nhánh cho cân đối, các cành bị sâu bệnh

và các nụ mai còn lại sau Tết, giúp mai mau phục hồi và để cây ra chồi và tạo cành mới

3.1.6 Kỹ thuật chăm sóc mai trưởng thành

3.1.6.1 Kỹ thuật cắt tỉa và tạo tán

Trang 33

Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số lần cắt tỉa trong năm

Mùa nắng, tất cả các hộ canh tác mai đều tưới nước cho cây mỗi ngày một lần Số hộ tưới vào buổi sáng chiếm 88,2%, tưới vào buổi chiều 11,8% Theo ghi nhận được thì nên tưới vào buổi sáng hoặc trước 4 giờ chiều là tốt nhất, nước sẽ không bị đọng lại trên cây vào ban đêm Nếu như vào chiều tối mà cây vẫn còn ước thì cây dễ bị nấm bệnh tấn công

Mùa mưa, những ngày mưa thì không cần phải tưới

Nhìn chung, lượng nước tưới không nhất thiết một lần/ngày, nếu nhà vườn cảm thấy nắng nhiều thì có thể tưới thêm cho cây Do tất cả các cây mai đều được trồng chậu nên lượng nước tưới cho cây là rất cần thiết, nhưng cũng chú ý không được tưới nhiều quá, phải thường xuyên kiểm tra đáy chậu, nếu chậu không được thoát nước tốt sẽ làm cho rễ bị úng

và có thể dẫn đến chết cây

3.1.6.2 Tưới nước

%

17.7 82.3

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90

Một lần/năm Hai lần/năm

Trang 34

Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thời điểm tưới nước trong ngày

Bón phân cho mai được các hộ sản xuất mai rất quan tâm Đặc biệt, vào giai đoạn sau Tết và giai đoạn tạo nụ thì bón phân cho cây là rất cần thiết, ngoài ra trong vật liệu trồng mai cũng không có nhiều chất dinh dưỡng để cung cấp cho mai

Phân bón bao gồm phân hữu cơ và phân vô cơ

Về phân vô cơ được các hộ bón nhiều lần trong năm Số hộ bón phân ba lần/năm chiếm tỷ lệ cao nhất 41,2%, mỗi tháng/lần 35,3%, nửa tháng/lần 17,6% và 5,9% chỉ sử dụng phân hữu cơ Tuy nhiên lượng phân bón chủ yếu tập trung vào 2 giai đoạn chính

Giai đoạn sau tết (từ tháng 2 – 5 âm lịch) Các loại phân thường được các hộ sử dụng như: DAP 18:46:00; 20:20:00; 30:10:10,…

Giai đoạn làm nụ (từ tháng 6 – 9 âm lịch) các hộ sử dụng các loại phân như: NPK 15:30:10, 16:16:8, 20:20:15,…

Ngoài ra các nhà vườn còn sử dụng thêm các loại phân bón lá vào hai giai đoạn này Các loại phân bón lá thường được sử dụng như: ATONIK (kích thích ra chồi), YOGEN N02 (kích thích tăng trưởng), ROOTS 2 (dưỡng rễ)…

Nhìn chung, do kinh nghiệm sản xuất lâu năm và đặc biệt là một số hộ còn tham khảo

kỹ thuật chăm sóc từ các cán bộ trong khoa Nông Nghiệp trường Đại Học Cần Thơ, nên chế

độ bón phân tương đối hợp lý

3.1.6.3 Chế độ bón phân

%

88.2

11.8 0

10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Buổi sáng Buổi chiều

Trang 35

Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số lần bón phân vô cơ trong năm

Về phân hữu cơ Có 53% nhà vườn quan tâm và sử dụng phân hữu cơ, phân dơi rất được ưa chuộng chiếm 66,7%, phân cá 22%, phân rơm 11,3% Phân hữu cơ được các hộ bón rất nhiều lần trong năm, thời gian bón phân giao động từ sau tháng giêng đến tháng 9

âm lịch Số hộ bón 3 lần/năm chiếm (22,2%), 2 tháng/lần (11,2%), 1 tháng/lần (22,2%), 15/lần (22,2%), một năm/lần (22,2%) Nhìn chung, những hộ này rất chú trọng bón phân hữu cơ, còn phân vô cơ cũng được sử dụng nhưng với liều lượng thấp

Hình 3.8 Tỷ lệ (%) các loại phân hữu cơ được các hộ sử dụng cho mai

%

5.9 17.6

35.3 41.2

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45

Ba lần/năm Một tháng/lần 15 ngày/lần không bón

%

11.3 22

66.7

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Phân dơi Phân cá Phân rơm

Ngày đăng: 12/04/2018, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm