BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ - - - - Nguyễn Thị Quế Lê ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG LÊN SỰ RA ĐỌT, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT HOA HỒNG NHUNG Rosa L... BỘ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
- - - -
Nguyễn Thị Quế Lê
ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG LÊN SỰ RA ĐỌT, NĂNG SUẤT VÀ
PHẨM CHẤT HOA HỒNG NHUNG
(Rosa L hybrid)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
Cần Thơ - 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
- - - -
Nguyễn Thị Quế Lê
ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG LÊN SỰ RA ĐỌT, NĂNG SUẤT VÀ
PHẨM CHẤT HOA HỒNG NHUNG
(Rosa L hybrid)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN HÂU
Cần Thơ - 2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Kính dâng lên cha mẹ
Suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của chúng con
Mãi mãi biết ơn
Thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho em hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn
Cô Lâm Ngọc Phương, thầy Nguyễn Văn Ây và tất cả các thầy cô đã dạy dỗ
em trong suốt quá trình học tập
Các thầy cô và anh chị thuộc Bộ Môn Sinh Lý - Sinh Hóa và Khoa Học Cây Trồng đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm có ích cho em
Anh Phan Xuân Hà, anh Lê Minh Quốc, anh Sầm Lạc Bình, chị Thủy (Bộ môn Khoa Học Cây Trồng), bạn Ngọc Hà, Hoàng Tuấn, Thành Phát, Quốc Cường,
Tố Lan, Vân Kiều, Minh Khương, Bảo Ngọc (lớp Hoa viên và cây cảnh K31) và em Trang đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này
Thân gửi cô cố vấn học tập Lâm Ngọc Phương và toàn thể các bạn lớp Hoa viên và cây cảnh Khóa 31 thân thương những lời chúc tốt đẹp nhất
Nguyễn Thị Quế Lê
Trang 4TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Quế Lê
Ngày sinh: 02/10/1987
Nơi sinh: Long An
Họ và tên cha: Nguyễn Xuân Quế
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Lẹ
Quê quán: 108/4 ấp Bình Lương I, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Quá trình học tập:
1994 – 1998: Trường Tiểu học Bình Thạnh A
1998 – 2002: Trường Trung học Cơ sở Thủ Thừa
2002 – 2005: Trường Trung học phổ thông Thủ Thừa
2005 – 2009: Trường Đại học Cần Thơ, ngành Hoa viên và Cây cảnh, khoá 31, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng Dụng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quế Lê
Trang 6BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Hoa viên và cây cảnh với đề tài:
ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG LÊN SỰ RA
ĐỌT, NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT HOA HỒNG NHUNG
(Rosa L hybrid)
Do sinh viên NGUYỄN THỊ QUẾ LÊ thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng …năm
Cán bộ hướng dẫn
Ts.TRẦN VĂN HÂU
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ 0
TIỂU SỬ CÁ NHÂN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 6
DANH SÁCH HÌNH 9
DANH SÁCH BẢNG 10
DANH SÁCH BẢNG 10
TÓM LƯỢC 12
MỞ ĐẦU 0
CHƯƠNG 1 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1
1.1 SƠ LƯỢC VỀ NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ 1
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOA HỒNG 1
1.3 ĐẶC TÍNH SINH HỌC 2
1.4 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH 2
1.4.1 Nhiệt độ 2
1.4.2 Độ ẩm 3
1.4.3 Ánh sáng 3
1.4.4 Dinh dưỡng 4
1.5 SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ 5
1.5.1 Bệnh đốm đen (Marssonia rosae Lib.) 5
1.5.2 Bệnh thán thư (Collectotrichum sp.) 6
1.5.3 Bệnh rỉ sắt (Mycosphaerella rosicola) 6
1.5.4 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca paranosa var rosae) 7
1.5.5 Bệnh lở cổ rễ thối gốc trắng (Rhizoctonia solani) 7
1.5.6 Nhện đỏ (Tetranychus sp.) 8
1.5.7 Sâu xanh (Helicoverpa armigera Hb) 8
1.5.8 Sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius) 9
1.5.9 Bọ trĩ (Thysanoptera) 9
Trang 81.6 CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG NAA, 2,4-D 10
1.6.1 Cơ chế tác động của Auxin 10
1.6.2 Tác động sinh lý của Auxin 10
CHƯƠNG 2 12
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 12
2.1 PHƯƠNG TIỆN 12
2.1.1 Thời gian 12
2.1.2 Địa điểm 12
2.1.3 Dụng cụ 12
2.1.4 Vật liệu thí nghiệm 12
2.1.5 Hoá chất 12
2.1.6 Số liệu khí tượng: 12
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 14
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 14
2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu 15
2.2.2.1 Đặc điểm nông học: 15
2.2.2.2 Đặc điểm phát triển đọt, hoa: 15
2.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 16
2.2.4 Xử lí số liệu 18
CHƯƠNG 3 19
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 19
3.2 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC 21
3.2.1 Đường kính gốc 21
3.2.2 Chiều cao cây 22
3.2.2 Đường kính tán 22
3.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CHỒI, HOA 23
3.4 ĐẶC TÍNH CỦA LÁ 25
3.5 SỰ PHÁT TRIỂN NỤ HOA 27
3.6 ĐẶC ĐIỂM VỀ PHẨM CHẤT HOA 28
Trang 9CHƯƠNG 4 31
KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 31
4.1 Kết luận 31
4.2 Đề nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Phụ lục 34
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
1.1 Công thức cấu tạo của NAA 11 1.2 Công thức cấu tạo của 2,4-D 11 2.1 Số liệu khí tượng tại đài khí tượng Cần Thơ từ tháng 07 năm 2008 đến
tháng 02 năm 2009. 13 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm. 14 3.1 Côn trùng gây hại hoa hồng Nhung trong quá trình thí nghiệm tại Trại
nghiên cứu và thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, khu II, trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009: (a) nhện đỏ
ở mặt trên lá, (b) nhện đỏ ở mặt dưới lá, (c) sâu khoang hại bông, (d) sâu khoang hại lá. 20
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng lên cây hoa hồng Nhung và cách
điều trị 4 Bảng 3.1 Sự tăng trưởng đường kính gốc (mm) của cây hoa hồng Nhung dưới
ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng tại Trại nghiên cứu và
thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng
Dụng, khu II, trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009 21 Bảng 3.2 Sự tăng trưởng chiều cao cây (cm) của cây hoa hồng Nhung dưới ảnh
hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng tại Trại nghiên cứu và thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng,
khu II, trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009 22 Bảng 3.3 Sự tăng trưởng đường kính tán (cm) của cây hoa hồng Nhung dưới
ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng tại Trại nghiên cứu và
thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng
Dụng, khu II, trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009 23 Bảng 3.4 Đặc điểm phát triển chồi dưới ảnh hưởng của các chất điều hoà sinh
trưởng trên hồng Nhung tại Trại nghiên cứu và thực nghiệm nông
nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, khu II, trường
Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009 25 Bảng 3.5 Đặc tính của lá dưới ảnh hưởng của các chất điều hoà sinh trưởng
trên hồng Nhung tại Trại nghiên cứu và thực nghiệm nông nghiệp,
khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, khu II, trường Đại học
Cần Thơ, mùa xuân 2009 26 Bảng 3.6 Đặc điểm của sự phát triển nụ dưới ảnh hưởng của các chất điều hoà
sinh trưởng trên hồng Nhung tại Trại nghiên cứu và thực nghiệm
Trang 12nông nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, khu II,
trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009 28 Bảng 3.7 Đặc điểm về phẩm chất hoa dưới ảnh hưởng của các chất điều hoà
sinh trưởng trên hồng Nhung tại Trại nghiên cứu và thực nghiệm
nông nghiệp, khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, khu II,
trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009 30
Trang 13NGUYỄN THỊ QUẾ LÊ 2009 : “Ảnh hưởng của một số chất điều hoà sinh trưởng lên sự ra đọt, năng suất và phẩm chất hoa hồng Nhung” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa viên và cây cảnh, khoa Nông nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ Người hướng dẫn khoa học: Ts Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện nhằm nhằm tìm ra nồng độ thích hợp của các chất điều hoà sinh trưởng lên sự ra đọt, năng suất và phẩm chất hoa hồng Nhung Thí nghiệm được thực hiện tại Trại nghiên cứu và thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông nghiệp
và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ, mùa xuân năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 8 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một chậu, mỗi chậu trồng 1 cây Cây con được nhân giống bằng phương pháp chiết, cây con ban đầu có kích thước và hình dạng tương đương nhau, cao khoảng 10 cm, có 2 đến 3 mắt lá Các nghiệm thức được xử
lí chất điều hoà sinh trưởng bao gồm 2,4-D (10, 20 và 40 ppm), NAA (10, 20 và 40 ppm), Atonik và đối chứng không xử lý Kết quả cho thấy: xử lý 2,4-D ở cả ba nồng
độ đều cho đường kính hoa to Ở nồng độ 10 ppm cho đường kính gốc và đường kính tán lớn, tỷ lệ chồi và tỷ lệ hoa trên mỗi cành cao, thời gian phát triển nụ ngắn 2,4-D ở nồng độ 20 ppm cho chiều dài đọt lớn, tỷ lệ nụ hoa trên mỗi cành cao 2,4-
D nồng độ 40 ppm cho tỷ lệ chồi và nụ hoa trên mỗi cành thấp Xử lý NAA ở ba nồng độ cũng làm tăng kích thước hoa hồng, ở nồng độ 20 ppm NAA còn làm tăng
tỷ lệ nụ nhưng ở nồng độ 40 ppm thì ảnh hưởng đến sự ra chồi và là chậm quá trình
ra chồi Atonik chỉ ảnh hưởng làm tăng chiều dài chồi Đề nghị: có thể phun 2,4-D
ở nồng độ 10 ppm để cải thiện phẩm chất hoa hồng Nhung Cần tiến hành nghiên cứu thêm ở điều kiện mùa vụ khác nhau để có kết luận chính xác hơn
Trang 14MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống người dân được cải thiện, việc sử dụng hoa trong cuộc sống hàng ngày trở nên phổ biến Do đó, nghề trồng và kinh doanh hoa đang được phát triển Đặc biệt là hoa hồng, cây có giá trị kinh tế cao trong ngành sản xuất và kinh doanh hoa cảnh Hoa hồng được trồng nhiều nơi trên thế giới, riêng ở Việt Nam, hoa hồng được trồng nhiều ở ba vùng là Đà Lạt, Hà Nội,
Sa Đéc với nhiều chủng loại đa dạng Trong đó, hồng Nhung là một chủng loại đang được trồng phổ biến và ưa chuộng Hiện nay giống hồng này đang chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, giá bán cao nhất và là giống chủ lực của người trồng hoa (Nguyễn Xuân Linh, 2000) Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là năng suất và phẩm chất hoa hồng nói chung và hồng Nhung nói riêng ở nước ta còn hạn chế về một số đặc điểm như:
sự ra đọt, độ bền hoa, màu sắc hoa,…Việc nghiên cứu tìm biện pháp để cải thiện tình trạng này là hết sức cần thiết
Nhằm giúp người trồng cải thiện được năng suất, phẩm chất hoa, góp phần tăng thu nhập từ vườn hồng Nhung của mình Do đó, đề tài: “Ảnh hưởng của một số chất điều hoà sinh trưởng lên sự ra đọt, năng suất và phẩm chất hoa hồng Nhung” được thực hiện nhằm tìm ra nồng độ thích hợp của các chất điều hoà sinh trưởng lên
sự ra đọt, năng suất và phẩm chất hoa hồng Nhung
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ
Cây hồng có tên khoa học là Rosa L hybrid (Dole và Wilkins, 2005) Trong
hệ phân loại thực vật, cây hoa hồng được xếp vào lớp song tử diệp, thuộc họ Hoa hồng Rosaceae, bộ hoa hồng rosales Nhiều loài hoa hồng được tìm thấy ở vùng á nhiệt đới và vùng ôn đới Bắc bán cầu (Đinh Thế Lộc và Nguyễn Quang Thạch, 2002) Người ta cho rằng chắc chắn hoa hồng được trồng trước tiên ở Trung Quốc,
Ấn Độ Sau đó mới du nhập qua Hà Lan, Pháp, Đức, Bungari, châu Âu nhưng chính người châu Âu mới là người có công lai tạo ra nhiều giống hoa hồng hiện đại ngày nay Các giống hồng được nhập vào Việt Nam theo hai nguồn: từ các nước châu Âu vào Đà Lạt rồi phổ biến ở các tỉnh miền Nam và ra miền Bắc hoặc từ Thái Lan vào miền Nam rồi lan ra miền Bắc Ở Việt Nam, hoa hồng được trồng ở khắp mọi nơi từ Bắc chí Nam (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOA HỒNG
Người Việt Nam coi hoa hồng là biểu tượng của tình yêu và hạnh phúc, lòng chung thủy và sự khát khao vươn tới cái đẹp Với nhiều ưu điểm: cánh hoa dài, lá xanh, mùi thơm nhẹ, hồng có hoa quanh năm, hoa hồng có thể dùng làm hoa cắm bình, cắm lọ, trồng chậu, trồng bồn bonsai, trang trí vườn hoa nhà cửa Ngoài việc
sử dụng hoa tươi, hồng còn được dùng để chưng cất dầu thơm, trong y học hồng còn được dùng để trị ung nhọt, bệnh hô hấp, bệnh tiêu chảy (Nguyễn Xuân Linh, 2000)
Trang 16và gai hơi cong Chiều dài cành mang hoa từ 25 đến 27 cm
Lá: lá hồng là lá kép lông chim mọc cách, ở cuống lá có lá kèm nhẵn, mỗi lá kép có 3-5 hay 7-9 lá chét, xung quanh lá chét có nhiều răng cưa thưa và nông
Hoa: hoa hồng thuộc loại lưỡng tính, màu đỏ Nhung, dạng hoa kép xếp nhiều vòng, đường kính hoa từ 6,5 đến 7,5 cm Nhị đực, nhị cái trên cùng một hoa Các nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhụy Khi phấn chín rơi trên đầu nhụy nên có thể tự thụ phấn Đài hoa có màu xanh Hoa ít, thường ra từng bông, ít thấy ra hoa chùm
Quả: quả hình trái xoan có cánh đài còn lại
Hạt: hạt hồng nhỏ có lông, khả năng nảy mầm của hạt rất kém do có lớp vỏ dày (Nguyễn Xuân Linh,1998)
1.4 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH
1.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp cho hồng sinh trưởng và phát triển tốt là từ 18 – 25oC (Việt Chương và Lâm Thị Mỹ Hương, 2006) Nhiệt độ ngày tối thích tuỳ theo giống, nhiệt độ cao quá ảnh hưởng đến sự kéo dài của cành Khi nhiệt độ trung bình vượt quá 24oC cành hoa thường ngắn hơn 35cm, nhiệt độ ngày cũng ảnh hưởng tới sản lượng hoa, nhiệt độ từ 26-27oC sản lượng cao hơn ở 29-32oC là 49%, hoa thương phẩm cao hơn 20,8% (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc và Nguyễn Quang Thạch, 2002)
Nhiệt độ đêm quan trọng hơn nhiệt độ ngày Có một số giống nhiệt độ đêm cao thì ra hoa nhiều, số ngày đến kì ra hoa giảm, độ dài cành ít chịu ảnh hưởng của
Trang 17nhiệt độ đêm Nhưng cũng có những giống khi nhiệt độ đêm cao thời gian phát dục rút ngắn, độ dài cành giảm, số lượng cành hoa ít Đa số các giống thích hợp với nhiệt độ đêm là 16oC Nhiệt độ này có ảnh hưởng tốt đến số lượng và chất lượng hoa Nếu cao hơn nhiệt độ tối thích thì sinh trưởng nhanh, sản lượng hoa cao nhưng chất lượng hoa kém (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc và Nguyễn Quang Thạch, 2002)
Nhiệt độ đất thích hợp thì sức sống của rễ cao, tăng năng suất và chất lượng hoa Nhiệt độ đất trên 21oC thì dù nhiệt độ không khí chỉ 5-8oC vẫn có hoa chất lượng cao Nhiệt độ đất có thể cao hơn 26oC cây vẫn sinh trưởng tốt nhưng cao quá
30oC thì ảnh hưởng xấu (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc và Nguyễn Quang Thạch, 2002) Nhiệt độ thích hợp cho sự ra rễ đối với cây trồng trong chậu là 23-24oC và nhiệt độ giảm dần đến 18oC cho tới khi ra hoa thì tốt nhất (Dole và Wilkins, 2005)
1.4.2 Độ ẩm
Cây hoa hồng yêu cầu độ ẩm khoảng 70-80% Khi thiếu nước, các quá trình sinh lý sinh hoá trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc Nếu thiếu nước kéo dài cây khô héo rồi chết (Nguyễn Xuân Linh,1998)
Lượng mưa trung bình khoảng từ 1500-2000 mm mới thích hợp Mùa nắng phải tưới nước đầy đủ, mùa mưa phải khai thông mương rãnh, mưa nhiều làm phát sinh rất nhiều bệnh Đối với hồng việc gây ẩm chỉ tiến hành vào ban ngày, tránh ban đêm vì sẽ làm cho cây hô hấp và tiêu hao các chất dự trữ trong cây, mặt khác những giọt nước đọng trên mặt lá sẽ khiến nhiều loại bệnh phát sinh (Việt Chương và Lâm Thị Mỹ Hương, 2006)
1.4.3 Ánh sáng
Hồng rất chịu nắng Ánh nắng trong ngày chiếu càng nhiều giờ càng tốt Do
đó, nên trồng hồng nơi thoáng đãng (Việt Chương và Lâm Thị Mỹ Hương, 2006)
Ánh sáng là nhân tố quan trọng nhất đối với sự sinh trưởng và ra hoa của hoa hồng Ánh sáng ảnh hưởng đến sự phân hoá hoa, sự phát dục của hoa, thời gian giữa hai lần cắt hoa, độ lớn của cành hoa, trọng lượng và chiều dài của cành hoa, diện tích lá và màu sắc hoa Ánh sáng chẳng những có tác động trực tiếp với cây mà còn
Trang 18làm thay đổi một loạt các nhân tố ngoại cảnh khác, ví dụ như cường độ chiếu sáng cao sẽ làm tăng nhiệt độ và tăng sự tiêu hao nước (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc
Biểu hiện tương
tự như EC cao: lá chết hoại và cây trở nên cứng
Lân Giảm kích thước lá chét và sự
phát triển của rễ, lá thì xanh
sậm với gân giữa hơi đỏ tía
nhẹ
Dùng phosphoric acid nồng độ 5,5 ml/100lít
Ít xuất hiện, cây khô và chậm phát triển
Kali Úa vàng ở những tán lá thấp,
hoa nhỏ, “đùn đọt” (blind
shoots), mép lá bị úa vàng,
cánh hoa bị hỏng, lá bị chết
hoại, cây chậm phát triển,
chiều dài cuống giảm, nụ khô
Dùng kali nitrate, hoặc bất cứ phân gì
có chứa kali
Triệu chứng tương tự như EC cao
Can-xi Cây giảm đâm chồi, gân vàng
ở lá non, mép lá bị xoắn khi
mất cân bằng giữa Ca và Bo;
cánh hoa bị nhăn, biến dạng
và rễ kém phát triển thì không
phụ thuộc vào Bo
Dùng đá vôi, thạch cao, monocalcium phosphate
Canxi cao sẽ ảnh hưởng đến pH và tính hữu dụng của các cation trước khi ngộ độc xuất hiện
Ma-nhê Giảm phát triển chồi và kích
thước lá, gân lá vàng, có Cung cấp magnesium sulfate Chưa có ghi nhận
Trang 19những vết hoại tử
Man-gan Gân vàng ở lá non Giảm pH, cung cấp
manganese sulfate
ở nồng độ 1,5 g/m2 hoặc 0,075 g/lít
Bệnh đốm đen trên lá già
Sắt Lá non trở nên úa vàng Cung cấp Chelate
sắt 12,2 g/m2 Cây chậm phát triển
Đồng Chồi bị dúng, xuất hiện những
chấm khô Đồng sulfate nồng độ 3 g/m2 Chưa có ghi nhận
Bo Chết ở phần chót của rễ và
chồi, mép cánh hoa hoá nâu,
hoại tử trên toàn cây
Cung cấp sodium tetraborate 1,5 g/m2
1 hoặc 2 lần 1năm
Những lá xanh bị nhũng nước, chuyển sang vàng
và rụng
1.5 SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
1.5.1 Bệnh đốm đen (Marssonia rosae Lib.)
Triệu chứng: vết bệnh hình tròn hoặc hình bất định, ở giữa màu xám nhạt, xung quanh màu đen Bệnh thường phá hoại trên các lá bánh tẻ, vết bệnh xuất hiện ở cả 2 mặt lá Bệnh nặng làm lá vàng, rụng hàng loạt Đây là một trong những bệnh chủ yếu hại cây hồng (Nguyễn Xuân Linh, 1999) Bệnh phát triển mạnh ở điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Biện pháp phòng trừ: Vườn hồng phải thông thoáng, đất không bị ngập úng Tỉa
bỏ những cành lá bị nhiễm bệnh Làm sạch cỏ và thu dọn các tàn du gây bệnh (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Làm vệ sinh xung quanh vườn, tránh đọng nước lại trên
lá, nên tưới vào buổi sáng nắng (Dương Công Kiên, 1999) Có thể phun thuốc phòng bệnh trước khi đọt non xuất hiện và phun liên tục, vụ hè mỗi tuần phun 2 lần, bệnh nhẹ 7-10 ngày phun một lần (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc và Nguyễn Quang Thạch, 2002).Có thể dùng thuốc đặc hiệu như Score 250 ND, Zineb 80WD nồng độ 30-50 g/10 lít nước hoặc Antracol 70 BHN liều lượng 1,5-2 kg/ha (pha 20-
30 g thuốc/8 lít) (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Hoặc Kumulus 80 DF với liều lượng
Trang 2040-50 g/8lít, Appencard 75 DF với nồng độ 15 g/8 lít, Daconil BTN 50% với nồng
độ 15-25 g/8 lít (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003) Anvil 5 SC 10-15 ml/8 lít, Daconil 500 SC 25 ml/8 lít, đồng oxy clorua 30 BTN 70 g/8 lít Ngoài ra cũng
có thể dùng Mydobutantil 0,048 g a.i./lít là chất tổng hợp sinh học phun cho cây thấy có hiệu quả tốt, không có độc hại với cây và không còn tồn dư thuốc (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc và Nguyễn Quang Thạch, 2002)
1.5.2 Bệnh thán thư (Collectotrichum sp.)
Triệu chứng: vết bệnh thường có dạng hình tròn nhỏ, hình thành từ chót lá, mép lá hoặc ở giữa phiến lá Ở giữa vết bệnh màu xám nhạt hơi lõm, xung quanh có viền màu nâu đỏ hoặc màu đen Trên mô bệnh giai đoạn về sau thường hình thành các hạt đen nhỏ li ti là đĩa đài của nấm gây bệnh Khi bệnh nặng các mô bệnh khô chết làm rách lá nên mép lá bị bệnh có thể bị khuyết Trên hoa và đài cũng có thể bị bệnh nhưng ít gặp hơn Bệnh gây hại nặng hơn vào mùa xuân, nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, bào tử lan truyền nhờ nước tưới (Dương Công Kiên, 1999) Bệnh thường gây hại trên lá bánh tẻ, lá già (Nguyễn Xuân Linh, 2000)
Biện pháp phòng trừ: khi xuất hiện bệnh phải giảm lượng nước tưới, tránh để nước đọng trên lá Thu dọn các bộ phận bị hại Phun thuốc hoá học theo định kỳ từ 1-2 tuần/ lần tuỳ mức độ cây bị hại Có thể sử dụng thuốc: Antracol, Score,… (Dương Công Kiên, 1999) Carbenzim 50WP nồng độ 6-10g/10 lít, Dithan M45 80WP nồng độ 20-40 g/10 lít (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003) Topsin M
70 ND nồng độ 5-10 g/8 lít (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
1.5.3 Bệnh rỉ sắt (Mycosphaerella rosicola)
Triệu chứng: Vết bệnh dạng ô nỗi màu vàng da cam hoặc màu nâu sắt gỉ, thường hình thành ở mặt dưới lá Mặt trên mô bệnh mất màu xanh bình thường chuyển sang màu vàng nhạt Bệnh nặng làm lá khô cháy, dễ rụng, hoa nhỏ và ít, thường bị thay đổi màu sắc, cây còi cọc (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Cành non bị bệnh thường phòng lên (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Vườn hồng bị bệnh nặng toàn bộ lá bị hỏng và trơ cành, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng hoa hồng (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Trang 21Biện pháp phòng trừ: Kết hợp chăm sóc tỉa cành, bỏ bớt cành bệnh, lá bệnh
và lá rụng mang nấm bệnh Bón phân Ca, Kali, Lân, Mg hợp lý để tăng khả năng chống chịu bệnh (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Thu dọn tàn dư là bệnh đem đốt, tưới nước vừa phải (Dương Công Kiên, 1999) Có thể dùng thuốc Anvil 5 SC nồng độ 10-15 ml/8 lít, Zineb BTN 80% nồng độ 25-30 g/8 lít (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
1.5.4 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca paranosa var rosae)
Triệu chứng: Bệnh bắt đầu phát sinh từ các lá ở giữa và phía trên, ở mô và đọt non Thời kỳ đầu tiên lá xuất hiện những điểm phấn trắng dạng sương rồi sinh
ra một lớp phấn trắng Khi bệnh nặng thì toàn bộ lá bị cuộn lại dầy lên và và nó có màu đỏ tím, cuống lá và đọt non bị nhiễm phồng to, mặt dưới lá cong lại, lá non không mở ra được, ở lá già có những đốm phấn trắng hình tròn hoặc không định hình Nụ hoa bị nhiễm bệnh thì trên mặt phủ một tầng phấn trắng, mặt dưới có lớp phấn dầy đặc, ngừng phát dục, hoa biến hình, cuống hoa bị rụng và cành hoa mềm
rũ xuống Cây bị bệnh sinh trưởng yếu, phát lộc kém (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003) Bệnh phấn trắng hại nặng rên giống hồng Đà Lạt (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
Biện pháp phòng trừ: Khi trồng cây cần chú ý chăm sóc quản lý, kịp thời tỉa cành, không nên để quá nhiều cành để cây thoáng gió, tốt nhất mỗi ngày để mặt trời chiếu nắng một vài giờ Trong thời kì bị bệnh bón nhiều lân, kali bón ít đạm (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Khi bệnh chớm phát sinh có thể phun: Benlate BTN 50% nồng độ 6-10 g/8 lít, Baycor BTN 50% nồng độ 10 g/8 lít, Anvil
5 SC nồng độ 10-15 ml/8lít, Bayleton 250 EC nồng độ 1-2 g/8 lít (Đặng Văn Đông
và Đinh Thị Dinh, 2003)
1.5.5 Bệnh lở cổ rễ thối gốc trắng (Rhizoctonia solani)
Triệu chứng: Ở phần cổ rễ sát mặt đất có vết bệnh màu xám nâu, lở loét, rễ
bị thối mềm Bộ phận trên mặt đất, cành lá bị héo khô, nhổ cây lên dễ hị đứt gốc
Trang 22Biện pháp phòng trừ: có thể dùng một số thuốc như Anvil 5 SC liều lượng 1lít/ha hoặc Vida 3 SC liều lượng 1-1,5 lít/ha (pha 10-15 ml/8 lít) (Đặng Văn Đông
và Đinh Thị Dinh, 2003)
1.5.6 Nhện đỏ (Tetranychus sp.)
Đặc điểm hình thái và cách gây hại: con trưởng thành dài 0,3-0,5 mm, có thể
có các màu: đỏ tối, đỏ gạch, màu lục, màu vàng, màu nâu, có 4 đôi chân, chân và bụng có lông, miệng chích hút, sinh sản cực nhanh, một năm từ 10-20 lứa Lúc đầu trên mặt lá có nhiều điểm nhỏ như nốt kim châm màu nâu vàng, sau đó lá từ dưới lên trên bị mất màu xanh, cuộn lại và rụng, cũng có khi bắt đầu từ những lá ở giữa,
lá bị vàng dần và rụng Nhện hút dịch ở mặt dưới lá, nhả tơ kết màng lan truyền nhờ gió Trời nóng và khô sinh sản rất nhanh, nếu có nước mưa thì giảm nhiều (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Biện pháp phòng trừ là cắt bỏ những cành có nhện để tiêu huỷ, hiện có nhiều thuốc trừ nhện rất hiệu quả như: Pegasus 500 SC nồng độ 7-10 ml/8 lít, Vertimec 1.8 ND nồng độ 5-10 ml/8 lít, Thiodan nồng độ 10-30 g/8 lít (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
1.5.7 Sâu xanh (Helicoverpa armigera Hb)
Đặc điểm hình thái và cách gây hại: Trên lưng mỗi đốt có bốn u lông xếp thành hình thang Sâu trưởng thành hoạt động về đêm, thích mùi chua ngọt, ban ngày ít hoạt động và ẩn nấp vào lá cây Phá hại nặng trên lá non, ngọn non, nụ và hoa Khi trưởng thành, sâu đẻ trứng rải rác thành từng cụm ở cả hai mặt lá non, ở nụ hoa, đài hoa và hoa Sau khi đẻ 3-4 ngày thì trứng nở (Nguyễn Xuân Linh, 2000)
Biện pháp phòng trừ: có thể dùng biện pháp thủ công như ngắt bỏ ổ trứng, cắt bỏ hoặc tiêu huỷ các bộ phận bị sâu xanh phá hoại như lá, cành, nụ hoa… hoặc luân canh với cây trồng khác Ngoài ra có thể dùng các loại thuốc trừ sâu như: Karate 2,5 EC nồng độ 5-7ml/8 lít, Pegasus 500 SC liều lượng 0,5-1 lít/ha (pha 7-10 ml/8 lít) hoặc dùng Supracide 40ND liều lượng 1-1,5 lít/ha (nồng độ 10-15 ml/bình
8 lít) (Nguyễn Xuân Linh, 2000)
Trang 231.5.8 Sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius)
Đặc điểm hình thái và cách gây hại: Sâu non trên lưng có vết đen hình bán nguyệt, chúng sống thành từng đám dưới lá hoặc trên hoa, ăn lớp biểu bì của lá chỉ còn lại gân màu trắng và đục rỗng bông, khi bị khua động chúng bò ra xung quanh mặt lá hoặc nhả tơ rong mình xuống đất Sâu trưởng thành than dài 14-25 mm Cánh trước màu nâu vàng, phần giữa từ mép đến trước đến mép sau cánh có một vân ngang màu trắng, cánh sau màu trắng phản quang tím, chúng thường ẩn náo dưới gốc cây hoa, đủ sức hoá nhộng ở trong đất xung quanh gốc cây hoa (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Biện pháp phòng trừ: Ngoài các biện pháp luân canh với các cây trồng khác cũng có thể sử dụng một số biện pháp phòng trừ như đối với sâu xanh: dùng bẫy bả chua ngọt, diệt sâu, ngắt ổ trứng Có thể dùng một trong các loại thuốc sau để phòng trừ: Padan 95 SP nồng độ 15-30 ml/8 lít, Supracide 40 EC nồng độ 15-18 ml/8 lít Hoặc có thể dùng chế phẩm vi sinh BT bột thấm nước với liều lượng 1 kg/ha, cách này hiệu quả cao trong trừ sâu khoang hại hoa (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
1.5.9 Bọ trĩ (Thysanoptera)
Đặc điểm hình thái và cách gây hại: Bọ trĩ hại hồng có kích thước nhỏ bằng đầu kim, màu đen Bọ trĩ non có màu nâu vàng, miệng chích hút, thường ẩn nấp ở mặt dưới lá, trong cánh hoa Trưởng thành đẻ trứng trong mô lá non, nở sau vài ngày, trưởng thành thường chạy trốn hoặc bay đi nếu bị khua động Bọ trĩ có vòng đời ngắn, khả năng sinh trưởng rất cao Khi còn non chúng chạy trốn ở gốc cây hay nhảy lên các cánh hoa, hút mật hoa và nhựa cây làm cho lá, hoa bị mất sắc tố dẫn đến hiện tượng lá vàng, hoa màu nhạt (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Biện pháp phòng trừ: thuốc có hiệu lực cao để diệt bọ trĩ là Dimethoate
nồng độ 5-15 g/10 lít, Match 50 ND nồng độ 15 ml/8 lít, Sumithion nồng độ
10-15 ml/8 lít, Cabosulfan 0,05-0,1% (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Bên cạnh các loại kể trên thì cào cào và sạt sành cũng là hai đối tượng gây
hại đáng kể trên cây hồng (Nguyễn Trí Thanh, 2007)
Trang 241.6 CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG NAA, 2,4-D
1.6.1 Cơ chế tác động của Auxin
Cơ chế tác động của Auxin rất phức tạp Ở pha dãn dài tế bào, Auxin tác động lên những vi sợi cellulose tăng cường quá trình biến dưỡng làm cho các tế bào hấp thu nước và tăng thể tích tế bào Màng này hoạt động như một bơm proton và bơm ra ngoài ion H+, Auxin kích thích đẩy ion H+ ra khỏi màng làm cho màng mềm
ra
Auxin tác động qua tính thấm của màng Màng tăng thể tích không thể thấm được, Auxin làm cho màng xếp lên để cho các chất dễ đi qua Auxin còn tác động lên sự chuyển động của dòng nguyên sinh chất, dòng này không chuyển động nếu không có Auxin
Auxin tác động vào gene và enzyme phân giải nucleic acid Nếu gene nào ở trạng thái không hoạt động thì Auxin có thể điều khiển sự hình thành các enzyme (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2005)
1.6.2 Tác động sinh lý của Auxin
Theo Nguyễn Minh Chơn (2005) auxin có một số tác động sinh lý lên cây trồng như sau:
- Vươn dài tế bào
Trang 25Chức năng của napthyl acetic acid (NAA):
Hình 1.1 Công thức cấu tạo của NAA
- Kích thích sự ra rễ của cành giâm
- Kích thích đậu trái (giảm sự rụng trái)
- Ức chế sự thành lập hoa khi được áp dụng dưới những điều kiện cảm ứng Theo Hoàng Minh Tấn, Đỗ Quý Hai và Nguyễn Đình Thi (2008) α -NAA ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất lạc quả So với công thức đối chứng, năng suất lạc tăng tới 10,56-11,71% Nồng độ xử lí α -NAA thích hợp nhất cho lạc xuân trồng đất cát là 20 ppm và thời kì xử lí α -NAA có hiệu quả cao
là ngâm hạt trước khi gieo và phun lên lá lúc cây lạc kết thúc ra hoa
Chức năng của dichlorophenoxy acetic acid (2,4-D):
Hình 1.2 Công thức cấu tạo của 2,4-D
- Hoạt tính của 2,4-D rất mạnh, trong thương mại thường được dùng như là thuốc diệt cỏ
- Giảm sự rụng trái (Nguyễn Minh Chơn, 2005)
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
Phân rơm đã được ủ hoai, được mua tại Sa Đéc, Đồng Tháp
2.1.5 Hoá chất
NAA độ tinh khiết 99%, sản phẩm Trung Quốc
2,4-D độ tinh khiết 80% sản phẩm của Trung Quốc
Atonik của công ty ADC Cần Thơ
2.1.6 Số liệu khí tượng:
Trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm số liệu khí tượng được thu thập dữ liệu tại đài khí tượng Cần Thơ gồm nhiệt độ trung bình, ẩm độ tương đối và lượng mưa từ tháng 07/2008 đến tháng 02/2009 được trình bày trong Hình 2.1
Trang 270 100
Trang 28- Nghiệm thức E: Phun NAA nồng độ 10 ppm
- Nghiệm thức F: Phun NAA nồng độ 20 ppm
Trang 29- Nghiệm thức G: Phun NAA nồng độ 40 ppm
- Nghiệm thức H: Atonik nồng độ 0,07%
Cách tiến hành thí nghiệm:
Tiến hành phun hoá chất trước khi “cơi” 2 ngày Phun vào buổi chiều, ướt đều hai mặt lá, sau đó bắt đầu theo dõi các chỉ tiêu
“Cơi” là việc cắt tỉa những cành đã trưởng thành, lá xanh đậm hoàn toàn để
từ những cành mẹ ban đầu tạo nhiều cành con mới và tạo nhiều hoa
2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi và cách thu thập số liệu
2.2.2.1 Đặc điểm nông học:
Chiều cao cây: chiều cao cây tính từ gốc cây đến chót lá cao nhất của cây khi
đo Đo từ lần cơi đầu tiên có xử lý hoá chất đến khi kết thúc thí nghiệm 20 ngày đo một lần
Đường kính tán: lấy số đo trung bình đường kính tán lá của mỗi chậu, đường kính của hai lần đo vuông góc nhau, 20 ngày đo một lần
Đường kính gốc: đo ở vị trí cách cổ rễ 1,5 cm bằng thước kẹp, 20 ngày đo một lần
2.2.2.2 Đặc điểm phát triển đọt, hoa:
Quan sát sự ra đọt sau khi cơi:
Số đọt trên thân: đếm số đọt mới mọc sau khi cơi trên mỗi thân Ghi nhận số chồi lá, số chồi cành
Thời gian đọt trưởng thành: là thời gian tính từ khi đọt mới nhú ra 0,5 cm đến khi đọt phát triển hoàn toàn và lá có màu xanh đậm
Tỷ lệ ra đọt sau khi “cơi”: ghi nhận số đọt mới xuất hiện trên những cành được cơi Tỷ lệ ra đọt được tính theo công thức: Tỷ lệ ra đọt (%) = tổng đọt mới/ tổng cành được cơi
Chiều dài đọt: đo chiều dài ba đọt trên mỗi chậu khi đọt trưởng thành, lá xanh đậm hoàn toàn
Trang 30Đường kính đọt: đo đường kính của đọt mới xuất hiện ở vị trí 1 cm từ gốc cành mới, đo khi đọt trưởng thành, lá xanh đậm hoàn toàn
Số lá trên mỗi đọt: đếm số lá trên mỗi đọt khi cành mới đã trưởng thành
Kích thước lá: đo chiều dài và chiều rộng của lá thứ tư (tính từ gốc cành lên) trên mỗi đọt quan sát Chiều dài lá chính được đo từ đầu cuốn lá đến phần chót lá, chiều rộng được tính là khoảng cách lớn nhất của hai bên lá Đo chiều dài và chiều rộng lá chét, lá chét được chọn là lá chét ở vị trí chót lá
Quan sát sự phát triển của hoa:
Ngày nhú mầm hoa: quan sát và ghi nhận ngày mầm hoa xuất hiện Mỗi chậu quan sát ba mầm hoa
Kích thước nụ: Đo đường kính và chiều cao của nụ khi lá đài chưa bung ra
Ngày hoa nở: được ghi nhận khi lá đài bung ra
Ngày hoa tàn: ghi nhận ngày hoa tàn là khi cánh hoa bắt đầu đổi màu
Số nụ hoa trên mỗi chậu: đếm số nụ hoa xuất hiện trên mỗi chậu
Giá thể: Phân rơm được xử lý bằng cách xả nước nhiều lần để giảm lượng
acid hữu cơ tồn tại trong phân rơm
Vật chứa: Hồng được trồng trong giỏ tre với kích thước chiều cao 20 cm,
đường kính đáy 17 cm, đường kính mặt 23 cm, bên trong có lót bao nylon xốp, hoặc trồng trong chậu nhựa có kích thước tương đương
Trang 31Kỹ thuật trồng:
Cây giống: được nhân giống từ phương pháp chiết cành Cành chiết dài 10
cm có 3-4 lá Sau khi chiết cành 20 ngày, rễ trên cành chiết ra nhiều, ta cắt cành, tưới nước để giữ ẩm trước khi trồng
Cách trồng: Cho phân rơm vào 2/3 chiều cao của giỏ tre Đặt cành chiết vào,
ém chặt sao cho cành đứng cố định trong giỏ Đặt giỏ lên gạch đã kê sẳn để hồng dễ thoát nước và tạo sự thông thoáng, giảm nấm bệnh Để cây vừa trồng ở nơi râm mát khoảng nửa tháng để cây thích nghi trước khi đem ra trồng ở nơi nắng hoàn toàn Tưới nước ngay sau khi trồng
Tưới nước: Một tuần đầu tưới nước 2 lần/ngày Sau đó tưới một lần/ngày Tưới vào buổi sáng trước chín giờ hoặc buổi chiều trước bốn giờ vì cây hồng ban đêm bị đọng nước trên lá dễ bị nấm bệnh tấn công Những ngày nắng gắt nên tưới thêm buổi trưa và cữ tưới này phải tưới thật đẫm, nếu không đất sẽ nóng lên làm cây chết Mùa mưa nên chú ý việc tưới và tiêu nước, tránh để úng nước gây thối rễ
mà chết, chỉ những ngày nắng gắt mới tưới cho cây hồng mà thôi Nước tưới phải không mặn, không có phèn, không có nhiều Clo
Phân bón: Một tháng sau khi trồng thì bắt đầu bón phân Pha phân hột NPK 13-13-13+TE (TE: có bổ sung phân vi lượng) với nước, liều lượng 20-30 g/cây, tưới vào sáng sớm hoặc chiều mát, tưới cả lên thân, lá, gốc, rễ vì lá cũng hút được phân Định kỳ tưới phân là 15-20 ngày/lần Có thể kết hợp phun phân bón lá Đầu Trâu 501 giúp cây tốt hơn Liều lượng phun từ 1-2 g/lít nước, định kì 7-10 ngày/lần Cây hồng ra hoa tuyệt đối không tưới phân, tưới nước lên hoa, hoa bị ướt sẽ mau tàn 3 tháng nên xới gốc 1 lần để rễ được thoáng khí
Phòng trị sâu bệnh:
Một tuần sau khi trồng thì bắt đầu phun thuốc sâu, bệnh Định kỳ là 1 tuần/lần, nhưng phải thường xuyên theo dõi để phát hiện và phun kịp thời khi gặp sâu bệnh tấn công Phun vào sáng sớm hoặc chiều mát để tránh trời nắng làm thuốc
bị bốc hơi hoặc có thể làm cháy lá
Khi phun thuốc bệnh tránh phun cùng lúc với phân bón lá vì sẽ làm mất tác dụng của thuốc do phân bón lá tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển mạnh làm
Trang 32thuốc kém hiệu quả Nhưng có thể kết hợp phân bón lá với thuốc trừ sâu, tuy nhiên phải chú ý sự tương thích của các loại thuốc với nhau
Thêm phân rơm: Theo dõi tình trạng sinh trưởng của cây để thêm phân, đảm bảo đủ giá thể cho rễ phát triển tốt Thêm phân trước khi cơi đọt lần một và lần hai
1 tuần
Tỉa cành, cơi đọt:
Thường xuyên tỉa bỏ những cành đâm ra từ gốc, những cành không tăng trưởng mạnh, nhánh hư khô, những nhánh không cần thiết, cắt những lá vàng úa, những lá sâu bệnh để giữ cho cây thông thoáng, tránh rậm rạp cây sẽ dễ bị sâu bệnh, mất sức, để cây tập trung nuôi những cành to, khoẻ Một tháng sau khi trồng thì những đọt non nhú ra, tỉa bớt những đọt đèo đẹt Tháng tiếp theo cơi đọt lần thứ nhất, trước khi cơi đọt 2-3 ngày phun thuốc ngừa bệnh
Cách cơi là trên mỗi cây chọn ra 3 cành khoẻ nhất, đếm từ chỗ bánh tẻ lên (chỗ đầu cành) chừa 3 lá, cắt cành bằng dao thật bén hoặc kéo cắt cây, tránh làm dập cành, tổn thương cây nấm bệnh sẽ dễ dàng xâm nhập
Cứ như vậy định kỳ một tháng cơi đọt 1 lần, tất cả là 3 lần Hai lần cơi sau cũng chọn trên mỗi cây những cành khoẻ nhất, đảm bảo mỗi cây sau khi cơi còn lại
từ 6-8 cành Sau khi cơi đọt 2 ngày thì phun phân bón lá
2.2.4 Xử lí số liệu
Tất cả các số liệu được xử lí bằng phần mềm Excel và MSTAT-C Phân tích phương sai (ANOVA) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức và so sánh các giá trị trung bình bằng phép thử LSD/DUNCAN ở mức ý nghĩa 5% hoặc 1%
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nhận thấy trong giai đoạn cây còn nhỏ có sự xuất hiện của bệnh thán thư, sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius); giai đoạn cây trưởng thành và cho hoa thấy có xuất hiện thêm nhện đỏ (Tetranychus sp.) chích hút nhựa lá và bọ trĩ (Thysanoptera) chích hút nụ và hoa, nhưng được xử lí kịp thời bằng Abamectin, Methidathion nên không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Ngoài
ra cây còn chịu ảnh hưởng của thời tiết như mưa nhiều (lượng mưa là 254,5 mm) và
ẩm độ cao (ẩm độ là 88%) vào tháng 9 làm cây hoa hồng dễ nhiễm bệnh Nhiệt độ tháng 1 lạnh đột ngột (nhiệt độ trung bình là 24,3oC) có ảnh hưởng làm chậm sự tăng trưởng của chồi