TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG -# "---- Chứng nhận đề cương luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Hoa viên và cây cảnh với đề tài: “ẢNH HƯỞNG
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
# "
PHẠM THỊ XUÂN QUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHIẾU SÁNG BỔ SUNG
CHO TỪNG TUỔI NỤ KHÁC NHAU LÊN SỰ
TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HOA
VÀ PHẨM CHẤT HOA CÚC MÂM XÔI
(Chrysanthemum morifolium)
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa viên và cây cảnh
Cần Thơ, 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
# "
PHẠM THỊ XUÂN QUYÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHIẾU SÁNG BỔ SUNG
CHO TỪNG TUỔI NỤ KHÁC NHAU LÊN SỰ
TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HOA
VÀ PHẨM CHẤT HOA CÚC MÂM XÔI
(Chrysanthemum morifolium)
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa viên và cây cảnh
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-# "
Chứng nhận đề cương luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Hoa viên và cây cảnh với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHIẾU SÁNG BỔ SUNG
CHO TỪNG TUỔI NỤ KHÁC NHAU LÊN SỰ
TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HOA
VÀ PHẨM CHẤT HOA CÚC MÂM XÔI
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp kèm theo với đề tài: “ ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHIẾU SÁNG BỔ SUNG CHO TỪNG TUỔI NỤ KHÁC NHAU LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HOA VÀ PHẨM CHẤT HOA CÚC MÂM XÔI
(Chryranthemum morifolium)”, do PHẠM THỊ XUÂN QUYÊNthực hiện và bảo vệ trước Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp ngày … tháng … năm
2009 và được thông qua
Luận văn tốt nghiệp đã được Hội Đồng đánh giá ở mức:………
Ý kiến của Hội Đồng:…
Trang 5TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: PHẠM THỊ XUÂN QUYÊN
Con ông: PHẠM TẤN GIÀU và bà NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
Sinh năm 1986 tai xã Hoà Bình, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Đã tốt nghiệp Tú Tài năm 2004, học lớp Hoa viên và cây cảnh khoá 31, thuộc khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ, Tp Cần Thơ
Địa chỉ liên lạc: Ấp Tân Thạnh, xã Hoà Bình, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Điện thoại: 0936242735
Email: ptxquyenvl@gmail.com
Ngày.….tháng.….năm 2009
Phạm Thị Xuân Quyên
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Mãi mãi biết ơn!
Thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho con trong suốt thời gian làm luận văn
Bạn Nguyễn Ái Thơ và các bạn lớp Hoa viên và cây cảnh 31 đã tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Kính gởi đến!
Cha me, người đã hết lòng nuôi con khôn lớn nên người
Phạm Thị Xuân Quyên
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nhiên cứu của bản thân Các số liệu , kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trang 8MỤC LỤC
Chương Nội dung Trang
Danh sách hình viii
Danh sánh bảng x
Tóm lược xii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1- LUỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 NGUỒN GỐC, SỰ PHÂN BỐ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÂY HOA CÚC 2
1.2 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH GIỐNG CÚC MÂM XÔI 3
1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT,THƯƠNG MẠI CÂY HOA CÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 3
1.3.1 Tình hình sản xuất, thương mại cây hoa cúc trên thế giới 3
1.3.2 Tình hình sản xuất, thương mại cây hoa cúc ở Việt Nam 4
1.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 5
1.5 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH 6
1 5.1 Nhiệt độ 6
1.5.2 Ẩm độ 7
1.5.3 Ánh sáng 7
1.5.3.1 Cường độ ánh sáng 7
1.5.3.2 Phản ứng chu kỳ chiếu sáng trong ngày (quang chu kỳ) 7
1.6 MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÚC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ 8
1.6.1 Các loại bệnh quan trọng trên cúc 8
1.6.1.1 Bệnh không truyền nhiễm (bệnh sinh lý) 8
1.6.1.2 Bệnh truyền nhiễm 8
1.6.2 Các loại sâu hại thường gặp trên cây cúc 10
1.7 QUANG KỲ VÀ SINH LÝ CỦA SỰ RA HOA 11
1.7.1 Sự cảm ứng quang kỳ 14
1.7.2 Nơi cảm ứng ra hoa và sự truyền ảnh hưởng 14
1.7.3 Vai của của ánh sáng và bóng tối trong quang kỳ 15
Trang 91.7.4 Sinh lý của sự ra hoa 16
1.8 PHẢN ỨNG CỦA QUANG KỲ VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN HOA CÚC 17
1.8.1 Ứng dụng quang kỳ trong sản xuất 17
1.8.2 Ảnh hưởng của ánh sáng lên sự ra hoa cúc 17
1.8.3 Ảnh hưởng của biện pháp chiếu sáng lên tăng trưởng đường kính hoa cúc 18
Chương 2- PHƯƠNG TIỆN – PHƯƠNG PHÁP 20
2.1 PHƯƠNG TIỆN 20
2.1.1 Vật liệu 20
2.1.2 Số liệu khí tượng trong thời gian thực hiện thí ngiệm 20
2.2 PHƯƠNG PHÁP 22
2.2.1 Bố trí thí nghệm 22
2.2.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cúc Mâm Xôi 23
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 24
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT 28
3.2 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CÂY HOA CÚC MÂM XÔI TRONG QUÁ TRÌNH THÍ NGHIỆM 29
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHIẾU SÁNG BỔ SUNG KHÁC NHAU LÊN SỰ PHÁT TRIỂN NỤ HOA 30
3.3.1 Đường kính nụ hoa 30
3.3.2 Chiều dài cánh 35
3.3.3 Sự phát triển chiều dài cuống hoa 38
3.3.4 Số cành, số hoa/chậu và bình quân số hoa trên cành 39
KẾT LUẬN-ĐỀ NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 101.1 Ảnh hưởng của quang kỳ lên sự ra hoa của cây ngày dài và cây
ngàyngắn (Bùi Tấn Anh và ctv., 2004
15
2.1 Số liệu khí tượng tại trung tâm khí tượng Cần Thơ từ tháng 8 năm
2008 đến tháng 2 năm 2009
21
3.1 Diễn biến sự phát triển hoa cúc Mâm Xôi từ lúc hình thành nụ
đến khi hoa nở hoàn toàn tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
31
3.2 Sự phát triển đường kính nụ hoa (mm) cúc Mâm Xôi dưới ảnh
hưởng của biện pháp chiếu sáng bổ sung tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân
2009
32
3.3 Đường kính hoa (mm) cúc Mâm Xôi ở các nghiệm thức tuổi nụ
40 ngày tuổi, chiếu sáng 30 ngày và 20 ngày tại trại nghiên cứu
và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
34
3.4 Tốc độ tăng trưởng đường kính nụ hoa (mm) cúc Mâm Xôi dưới
ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung lên từng tuổi nụ khác nhau tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu
II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
35
3.5 Sự phát triển chiều dài cánh hoa (cm) cúc Mâm Xôi dưới ảnh
hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung lên từng tuổi nụ khác nhau tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
36
Trang 113.6 Tốc độ tăng trưởng chiều dài cánh cúc Mâm Xôi vào các ngày
chiếu sáng, tại trại thực nghiệm và nghiên cứu giống cây trồng, Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
38
Trang 12DANH SÁCH BẢNG Bảng Tựa bảng Trang 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hoa cúc hàng năm của một số nước
(Đặng Văn Đông và Đinh Thế Dinh, 2003)
4
2.1 Tóm tắt tiến trình thí nghiệm trên cây hoa cú Mâm Xôi tại trại
nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II Đại Học Cần
Thơ mùa xuân 2009
23
2.2 Quy trình trồng và chăm sóc cây hoa cúc Mâm Xôi tại trại nghiên
cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II Đại Học Cần Thơ mùa
xuân 2009
26
3.1 Đặc tính nông học của cây cúc Mâm Xôi vào thời điểm tiến hành
thí nghiệm tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu
II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
29
3.2 Đặc tính nông học của cây cúc Mâm Xôi vào thời điểm hoa nở rộ
tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại học
Cần Thơ, mùa xuân 2009
30
3.3 Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung và tuổi nụ hoa lên sự
phát triển đường kính hoa (mm) cúc Mâm Xôi vào thời điểm kết
thúc thí nghiệm tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp,
Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
33
3.4 Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung lên từng tuổi nụ hoa
khác nhau lên sự phát triển chiều dài cánh hoa (cm) cúc Mâm
Xôi vào thời điểm kết thúc thí nghiệm, tại trại nghiên cứu và thực
nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
37
3.5 Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung lên từng tuổi nụ hoa
khác nhau lên sự phát triển chiều dài cuống hoa (cm) cúc Mâm
Xôi vào thời điểm kết thúc thí nghiệm, tại trại nghiên cứu và thực
nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
39
Trang 133.7 Khảo sát tổng số cành, tổng số hoa cúc Mâm Xôi tại trại thực
nghiệm nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II, Đại
học Cần Thơ, mùa xuân 2009
40
Trang 14PHẠM THỊ XUÂN QUYÊN, 2009 “ Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung cho từng tuổi nụ khác nhau lên sự tăng trưởng, phát triển hoa và phẩm chất chậu
hoa cúc Mâm Xôi (Chrysanthemum morifolium)” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư
nghành Hoa viên và cây cảnh, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn khoa học: Ts Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện nhằm xác định thời gian chiếu sáng và tuổi nụ thích hợp nhất để làm tăng đường kính hoa cúc Mâm Xôi và cho hiệu quả cao nhất Thí nghiệm được thực hiện tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, khu II, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 2 năm 2009 Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên hai nhân tố, nhân tố A: thời gian chiếu sáng, nhân tố B: tuổi nụ hoa, với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại có 3 chậu Thí nghiệm có 9 nghiệm thức với mỗi ngày chiếu sáng 6 giờ (từ 17 giờ 30 đến 23 giờ 30) liên tục trong 0, 20, 30 ngày (nhân tố A) cho các tuổi nụ 40, 50, 60 ngày tuổi (nhân tố B) Chiếu sáng bổ sung được thực hiện bằng bóng đèn tròn 75 W treo cách đỉnh cây 70 cm, sử dụng màng đen ngăn cách ảnh hưởng của ánh sáng lên các nghiệm thức khác Kết quả cho thấy chiếu sáng bổ sung 6 giờ mỗi ngày liên tục trong 20 ngày và 30 ngày đều có kết quả như nhau làm tăng đường kính hoa, chiều dài cánh hoa được chiếu sáng 30 ngày lớn hơn chiều dài cánh hoa được chiếu sáng
20 ngày Tất cả các nghiệm thức chiếu sáng đều cho đường kính hoa và chiều dài cánh hoa cao hơn đối chứng (không chiếu sáng) Bên cạnh đó, chiếu sáng bổ sung cho từng tuổi nụ 40, 50, 60 ngày tuổi thì trong đó tuổi nụ 40 ngày tuổi cho đường kính hoa và chiều dài cánh kết quả tốt nhất và đường kính nụ hoa và chiều dài cánh giảm dần ở tuổi nụ 50 và 60 ngày tuổi Có sự tương tác giữa hai nhân tố thời gian chiếu sáng và tuổi nụ hoa, chiếu sáng 30 ngày cho tuổi nụ 40 ngày tuổi cho kết quả đường kính hoa cao nhất (38,4 mm) và chiều dài cánh lớn nhất (1,6 cm) Chiều dài cuống cuống hoa khác biệt không ý nghĩa ở tất cả các nghiệm thức Theo đánh giá cảm quan thì chiếu sáng bổ sung cho các tuổi nụ khác nhau không làm ảnh hưởng
Trang 15MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi điều kiện sống ngày càng cải thiện, kinh tế của nhiều gia đình ngày càng phát đạt nên nhu cầu về tinh thần ngày một cao Xu hướng hiện nay giá trị về mặt tinh thần đang rất được đề cao và hoa kiểng là một trong những lĩnh vực mạnh nhất Ở Việt Nam từ thuở xa xưa, nghề trồ ng hoa vào dịp tết Nguyên Đán đã
có từ lâu đời đặc biệt là ở làng hoa Sa Đéc - Đồng Tháp Một trong những cây hoa rất được ưa chuộng vào dịp tết Nguyên Đán là cây cúc Mâm Xôi Trồng hoa cúc không khó, cái khó là làm sao để điều khiển cho cây ra hoa đồng đều, chậu hoa đẹp vào đúng dịp tết âm lịch Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự bất thường của thời tiết, việc trồng cúc Mâm Xôi không mấy thuận lợi Nhiều nhà vườn đã rất đau đầu vì hoa không nở đúng vào dịp tết Những năm gần đây người ta đã phát
hiện ra phản ứng của cúc với quang kỳ Theo Đặng Văn Đông và ctv (2003) thì
chiếu sáng bổ sung còn có thể kéo dài thời gian nở hoa, làm cho lá dày, hoa to, nâng cao chất lượng hoa Nhưng việc chiếu sáng bổ sung phải được tiến hành vào lúc thích hợp, cây nhỏ quá không đủ số lá sẽ không hấp thu được ánh sáng, chiếu sáng quá muộn khi cây đã bắt đầu phân hóa hoa thì sẽ sản sinh hiện tượng đầu lá liễu hoặc mất hiệu quả, phẩm chất hoa kém Hơn nữa theo kết quả điều tra của Lâm Thăng Long về kỹ thuật trồng hoa cúc ở Sa Đéc (2008) cho biết: chậu hoa nở đúng tết nhưng chưa đồng đều, hoa chưa to, “mâm xôi” chưa đều…theo đúng yêu cầu của một số thị trường tiêu thụ khó như Hà Nội, Hồ Chí Minh…Do vậy, đề tài “ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng bổ sung cho từng tuổi nụ khác nhau lên sự tăng trưởng, phát triển và phẩm chất hoa cúc Mâm Xôi” được thực hiện nhằm xác định thời gian chiếu sáng bổ sung và tuổi nụ hoa thích hợp lên sự tăng trưởng, phát triển
nụ hoa và độ đồng đều của chậu cúc Mâm Xôi Để giúp cho nhà trồng cúc Mâm Xôi giảm chi phí đầu tư, cho ra hoa đúng tết, phẩm chất hoa cao và tăng thêm giá trị của cây cúc Mâm Xôi
Trang 16Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, SỰ PHÂN BỐ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÂY HOA CÚC
Cây hoa Cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp có nguồn gốc từ Trung
Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Đây là một loại hoa được nhập nội, trồng
ở Việt Nam từ lâu đời và khi nói đến hoa người Việt Nam không thể không nói đến hoa cúc, một trong bốn cây tượng trưng cho người “quân tử”, tượng trưng cho bốn mùa “Tứ Quí” (Nguyễn Xuân Linh, 2000)
Trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa Cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp Cúc (Asterydae), bộ Cúc (Asterales), họ Cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi Chrysenthemum Có năm loài chủ yếu thuộc hoa cảnh hiện nay được trồng phổ biến là Cúc Đại Đóa
(Chrysanthemum maximum Ramond), Cúc tầng ô (Chrysanthemum coronarrium L), Cúc trắng (Chrysanthemum morifolium Ramat), Kim cúc (Chrysanthemum idicumL.), Cúc (Chrysanthemum cinerarriifolium (Trevis) Vis.) (Võ Văn Chi,
2003- trích dẫn bởi Trần Thị Lệ Trinh, 2007)
Hiện nay, trên thế giới cúc có khoảng 200 loài và ở Việt Nam có năm loài chủ yếu thuộc hoa cảnh hiện được ưa chuộng trồng phổ biến vì vẻ đẹp của hoa Hoa cúc không chỉ đẹp mà còn thơm và rất lâu tàn, đặc biệt khi héo cành không rời cành Cúc có thể cắt bông hay trồng chậu vì dáng vẻ cây rất đẹp (Đặng Phương Trâm,
2005) Còn theo Chu Thị Thơm và ctv (2005) thì cúc có khoảng trên dưới 3.600
loài, với các sắc màu phong phú như vàng, đen, trắng, tím, hồng, vàng kim, xanh lục
Hoa Cúc là vị thuốc quí Hoa cúc đã trở thành cây hoa phổ biến khắp các vùng từ Bắc tới Nam trở thành hình tượng quen thuộc trong cuộc sống tinh thần của người Việt (Đặng Phương Trâm, 2005) Cúc được trồng khắp nơi, cúc có mặt ở các vườn hoa, công viên, trong phòng khách, bàn làm việc, trong các lễ hội, sinh nhật, đám cưới, đám ma…(Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003)
Trang 171.2 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH GIỐNG CÚC MÂM XÔI
Cây cúc Mâm Xôi (hay còn gọi là cây cúc gấm) là giống lai có tên khoa học
là Chrysanthemum morifolium, có dạng cây bụi cao khoảng 30-40 cm, khả năng
phân cành rất mạnh tạo thành một thế hình hơi tròn trông xa giống như mâm xôi (Nguyễn Xuân Linh, 1998; Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003) Trong sản xuất thường bầm ngọn và cành phụ nhiều lần để tạo cho cây có đường kính tán lớn, rất thích hợp cho trang trí khuôn viên, vườn hoa nhà cửa Hoa kép nhỏ khoảng 2-3
cm, có màu vàng pha nâu (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Còn theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì hoa có màu vàng nhạt, đường kính từ 1,5-2,5 cm Giống này thường trồng sớm và khả năng chịu rét kém, có thời gian sinh trưởng dài (Nguyễn Xuân Linh, 1998; Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003)
1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, THƯƠNG MẠI CÂY HOA CÚC TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.3.1 Tình hình sản xuất, thương mại cây hoa cúc trên thế giới
Tuy cây cúc có nguồn gốc từ lâu đời nhưng đến năm 1688 Jacob Layn người
Hà Lan mới trồng phát triển mang tính thương mại trên đất nước của ông Đến tận đầu thế kỉ XVIII, cây hoa cúc mới được trồng rất nhiều và là cây hoa quan trọng nhất đối với Trung Quốc, Nhật Bản Ở Hà Lan, cúc là cây hoa quan trọng thứ hai sau hồng Hàng năm kim ngạch giao lưu buôn bán về hoa cúc trên thị trường thế giới ước đạt tới 1 tỷ USD (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003)
Trang 18Bảng 1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hoa cúc hàng năm của một số nước (Đặng Văn
Đông và Đinh Thế Dinh, 2003)
STT Tên nước Xuất Khẩu (triệu USD) Nhập khẩu (triệu USD)
1.3.2 Tình hình sản xuất, thương mại cây hoa cúc ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, hoa cúc được du nhập vào thế kỉ XV, đến đầu thế kỉ XIX
đã hình thành một số vùng chuyên nhỏ cung cấp cho nhân dân Một phần để thưởng thức, một phần phục vụ việc cúng lễ và một phần dùng làm dược liêụ Hiện nay, hoa cúc có mặt khắp nơi từ vùng núi cao đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị Các vùng trồng nhiều mang tính tập trung là Hà Nội (450 ha), thành phố Hồ Chí Minh (370 ha), Đà Lạt (160 ha), Hải Phòng (110 ha) Hầu hết các tỉnh đều trồng cúc với diện tích từ vài hecta đến vài chục hecta (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc,
2003)
Nếu xét về cơ cấu chủng loại tất cả các loại hoa thì trước những năm 1997 diện tích hoa hồng nhiều nhất (31%) nhưng từ năm 1998 trở lại đây diện tích hoa cúc đã vượt lên (chiếm 42%, nhưng trong đó hồng chỉ còn 29,4%) Riêng ở Hà Nội tổng sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41,2 tỷ đồng, xuất khẩu sang Trung Quốc 3,6
tỷ đồng, tốc độ hàng năm tăng khoảng 10% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003)
Trang 191.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
ÑRễ
Rễ là cơ quan sinh dưỡng dưới mặt đất của cúc, có nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng và nước cho cây, giữ cho cây khỏi đỗ Rễ của cúc là loại rễ chùm, phần lớn phát triển theo chiều ngang, phân bố ở phân lớp mặt từ 5-20 cm Kích thước các rễ trong bộ rễ chênh lệch nhau không nhiều, số lượng rễ rất lớn do vậy khả năng hút nước và dinh dưỡng rất mạnh Cúc chủ yếu trồng bằng nhân giống vô tính nên các
rễ không phát sinh từ mầm rễ của hạt mà từ những rễ mọc ở mấu của thân (gọi là mắt) ở những phần ngay sát đất (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003; Preil và
ctv., 1988)
ÑThân
Cây thân thảo nhỏ, có nhiều đốt giòn dễ gãy, càng lớn càng cứng, cây dạng đứng hoặc bò Kích thước thân cao hay thấp, to hay nhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ trồng Những giống nhập nội thân thường to, mập, thẳng
và giòn Những giống cúc dại hay giống cổ truyền Việt Nam ngược lại thân nhỏ mảnh và cong Thân có ống tiết nhựa mủ trắng, mạch có bản ngăn đơn (Đặng Văn
Đông và Đinh Thế Lộc, 2003; Preil và ctv., 1988)
Ñ Lá
Thường là lá đơn không có lá kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻ thuỳ lông chim, phiến lá mềm mỏng có thể to hay nhỏ, màu sắc xanh đậm hay nhạt phụ thuộc vào từng giống Mặt dưới phiến lá bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng Trong một chu kì sinh trưởng tuỳ từng giống mà trên một thân cây cúc có từ
30-50 lá (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003; Preil và ctv., 1988)
ÑHoa, quả
Hoa cúc có thể có hai dạng: dạng lưỡng tính tức là trong hoa có cả nhị đực
và nhụy cái Dạng đơn tính chỉ có nhị đực hoặc nhụy cái, đôi khi có loại vô tính (không có cả nhụy, nhị), hoa này thường ở phía ngoài đầu Mỗi hoa gồm rất nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa từ đầu trạng mà mỗi đầu trạng
là một bông hoa Trong thực tế tuỳ theo mục đích sử dụng mà người ta để một bông
Trang 20trên một cành hay nhiều bông trên một cành Màu sắc của hoa cúc rất khác nhau, hầu như có tất cả các màu của tự nhiên: trắng, vàng, đỏ, tím, hồng, nâu, xanh Trong
đó trên mỗi bông hoa có thể có một màu duy nhất, có thể có nhiều màu riêng biệt và
có thể có rất nhiều màu pha trộn, tạo nên một thế giới màu sắc vô cùng phong phú
và đa dạng Tuỳ theo cách sắp xếp của cánh hoa mà người ta phân ra thành nhóm hoa kép (có nhiều vòng hoa sắp xếp trên bông) và nhóm hoa đơn (chỉ có một vòng hoa trên bông hoa) Những cánh hoa nằm ở phía ngoài có màu sắc đậm hơn, xếp nhiều tầng, sít chặt hay lỏng tuỳ từng giống Cánh hoa có nhiều hình dáng khác nhau: có dạng cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn cũng có loại cánh dài, cuốn ra ngoài hay cuốn vào trong Đường kính của bông hoa phụ thuộc vào giống; giống hoa to có đường kính 10-12 cm, loại trung bình 5-7 cm và loại nhỏ từ 1-2 cm Hoa
có 4-5 nhị đực dính vào nhau làm thành một ống bao quanh vòi nhụy Khi phấn nở phía trong teo khe nứt dọc Khi phấn nhị đực chín, bao phấn nở tung ra ngoài Lúc này nhụy chưa đến tuổi trưởng thành, chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn vì vậy sự thụ phấn, thụ tinh không thành, dẫn đến quả không có hạt Muốn có hạt giống phải thụ nhờ côn trùng hoặc thụ phấn nhân tạo cho hoa Quả bế, đóng, chứa một hạt, quả
có chùm lông do đài tồn tại để phát tán hạt, có phôi thẳng mà không có nội nhủ (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003)
1.5 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH 1.5.1 Nhiệt độ
Cúc có nguồn gốc ôn đới ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp 15 - 20oC (chịu được trong phạm vi nhiệt độ 10-35oC, chịu nóng trung bình) Nếu to > 35oC và
to < 10oC làm cho cúc sinh trưởng và phát triển kém, giai đoạn cây con thì yêu cầu nhiệt độ cao hơn (Phạm Văn Duệ, 2005) Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì nhiệt độ là một trong những yếu tố quyết định sự sinh trưởng, phát triển,
nở hoa và chất lượng hoa cúc Đa số các giống cúc đều ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 15 - 20oC; tuy nhiên một số giống có thể chịu được nhiệt độ từ 30-
35oC
Trang 211.5.3 Ánh sáng
Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì ánh sáng có hai tác dụng chính đối với Cúc Thứ nhất, ánh sáng là một yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây, cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây Thứ hai, ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân hoá mầm hoa và nở hoa của cúc
1.5.3.1 Cường độ ánh sáng
Theo Phạm Văn Duệ (2005) thì thời kì mầm non cây mới ra rễ thì cần ít ánh sáng Khi hạt hoặc hom hết chất dinh dưỡng dự trữ thì cây con chuyển sang tự dưỡng và cần nhiều ánh sáng dần lên Thời kì phân cành cây cúc cần nhiều ánh sáng
để quang hợp tạo nên chất hữu cơ duy trì hoạt động sống của cây Nhưng ánh sáng quá mạnh làm cho cây chậm lớn
1.5.3.2 Phản ứng chu kì chiếu sáng trong ngày (quang chu kì)
Theo Phạm Văn Duệ (2005) thì hầu hết giống cúc là cây phản ứng ánh sáng ngày ngắn Để sinh trưởng thân lá thì cây cúc cần điều kiện ánh sang ngày dài, thời gian chiếu sáng trong ngày là trên 13giờ Để ra hoa thì đa số giống cúc yêu cầu điều kiện chiếu sáng trong ngày 10 đến 11 giờ và nhiệt độ trên dưới 20oC Sự phân hoá mầm hoa tốt nhất ở nhiệt độ 18oC, thời gian chiếu sáng là 10 giờ trên ngày Chất
Trang 22lượng hoa tốt nhất ở điều kiện 11 giờ trên ngày (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc,
2003; Anderson và ctv., 1990; Nguyễn Xuân Linh, 1998)
1.6 MỘT SỐ SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÚC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ 1.6.1 Các loại bệnh quan trọng trên cây cúc
1.6.1.1 Bệnh không truyền nhiễm (bệnh sinh lý)
Ò Bệnh do thiếu hoặc thừa nước
Nếu bị thiếu nước cúc sẽ có biểu hiện lá khô héo, mềm và hơi rủ xuống, thân teo, rễ nhỏ Nếu thừa nước (ngập úng lâu ngày) lá úa vàng, rễ thâm đen gây chết cây (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Ò Bệnh thiếu hoặc thừa dinh dưỡng
Khi đất trồng không đủ dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng cây cúc sẽ còi cọc, phát triển chậm, lá vàng hoặc biến màu Tuỳ theo độ thiếu hụt từng yếu tố mà
có thể có cac hiện tượng như khô đầu lá, thối ngọn, khảm vàng trên lá, nụ nghẹn không nở thành hoa, hoa chống tàn, màu sắc nhợt nhạt (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Ò Bệnh do thời tiết bất thuận
Thời tiết quá nóng (nhiệt độ cao, cường độ ánh sáng mạnh) gây cháy lá cúc,
là biến màu một số sắc tố của hoa, là cho hoa có màu sắc nhợt nhạt, chất lượng giảm Nếu trời quá lạnh, cây sẽ ngừng sinh trưởng, ngọn thui, lá mất màu (trắng lá),
nụ lụi và thui chột (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003
1.6.1.2 Bệnh truyền nhiễm
Ò Bệnh đốm lá (đốm xám) (Cercospora Chrysanthemi)
Vết bệnh dạng hình tròn hoặc hình bất định, màu nâu nhạt hoặc nâu đen nằm rãi rác ở mép lá, dọc gân lá hoặc ở giữa phiến lá Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bi thối nát Bệnh thường lan từ các lá gốc lên phía trên (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
Trang 23Khi bị bệnh phun thay đỗi Benlat 0,2% và Amobam 0,1%, cứ 7 ngày phun 1 lần, phun 2-3 lần (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Còn Nguyễn xuân Linh và Nguyễn thị Kim Lý (2005) thì biện pháp phòng trừ bệnh đốm lá là có thể dùng Topsin-M70NP với nồng độ 5-10 g thuốc/bình 8 lít
Ò Bệnh phấn trắng (Oidium chrysanthemi)
Theo Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn thị Kim Lý (2005) thì vết bệnh phấn trắng dạng bột phấn màu trắng xám, hình bất định Mặt dưới mô bệnh chuyển sang màu vàng nhạt Bệnh hại lá là chủ yếu, bệnh nặng hại thân cành, nụ hoa là lá rụng sớm, thối nụ, hoa nhỏ không nở hoặc nở một bên Nấm này chỉ phát triển thuận lợi
ở nhiệt độ 15-25oC Nếu nhiệt độ cao hơn 33oC nấm sẽ chết sau 24 giờ (Đặng Văn Đông Đinh Dinh, 2003) Lúc mới chớm bệnh phun thuốc Benlat 0,1-0,3% Be mỗi tuần phun thuốc 1 lần (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001)
Ò Bệnh đốm đen (Curvularia sp.)
Lúc đầu trên bề mặt lá xuất hiện những chấm nâu đen, sau chuyển thành nâu đen, vết bệnh lan khắp phiến lá và được giới hạn bởi hai đường gân lá (Đặng Văn Đông Đinh Thị Dinh, 2003) Vết bệnh thường có màu nâu xám hoặc nâu đen, hình tròn hay hình bán nguyệt đôi khi hình bất định, bệnh làm lá dễ rụng (Nguyễn Xuân Linh, 1998; Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Để kiểm soát cần thường xuyên làm vệ sinh xung quanh vườn trồng, tránh đọng nước trên lá, nên tưới vào buổi sáng nắng, ngắt bỏ các lá già, lá bị bệnh Khi cây bị bệnh có thể dùng một trong các loại thuốc hoá học như Anvil 5 SC (10-15ml/8 lít), Topsin M70WP (5-8 g/8 lít), Maneb BTN (25-30 g/10 lít) (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Ò Bệnh thán thư (Colleotrichum chaysanthemi)
Vết bệnh có hình tròn, màu nâu vàng đến xám, đường kín vết bệnh khoảng 2-5 mm, mép hơi lồi lên (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Nơi có nhiệt
độ cao, bón nhiều phân, bộ rễ phát triển kém bệnh thường rất nặng Để hạn chế bệnh cần cân đối lượng N-P-K, có thể thay đổi Benlate 0,2% và Amobam 0,1% (7-
10 ngày phun 1 lần, phun 2-3 lần) (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001)
Ò Bệnh đốm lá (Cercospora chrysanthemi)
Trang 24Vết bệnh có hình tròn hoặc hình bất định, màu nâu nhạt hoặc nâu đen nằm rải rác ở mép lá, dọc gân lá hoặc phiến lá (Nguyễn Xuân Linh, 1998) Vết bệnh thường ở ngọn lá, mép lá, có viền nâu, tâm màu xám Trên bề mặt vết bệnh thường
có nhiều chấm đen (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Khi cây bệnh có thể
sử dụng Benlate 0,2% hoặc Amobam 0,1% (7-10 ngày/lần, phun 2-3 lần) (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001)
Ò Bệnh thối gốc, khô héo (Fusarium sp.)
Lá bệnh ban đầu nhạt dần rồi héo rũ xuống, không biến vàng; gốc hơi phin lên biến màu nâu, biểu bì nứt ra Trong điều kiện ẩm ướt rễ thối đen, cắt ngang rễ thấy ruột biến thanh màu đen, càng lên cao càng nhạt dần Bệnh thường phát sinh vào mùa hè, ngồn xâm nhiễm chủ yếu từ đất và phân bón (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001) Khi bệnh nhẹ có thể dung thuốc Benlate hoặc Dacnil 0.2- 0,3 hoặc dung Zineb 0,1% tưới vào gốc cây (Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã, 2001)
Ò Bệnh héo xanh vi khuẩn (héo vi khuẩn) (Pseudomonas solanacearum)
Bệnh do vi khuẩn tác động vào bộ phận rễ, làm thối rễ, cây bị bệnh lá héo rũ tái xanh, héo từ lá, gốc lên ngọn Cắt ngang gốc thân cây bệnh thấy bó mạch thâm đen, có dịch nhầy trắng tiết ra Có thể dùng Streptomicin nồng độ 100-150 ppm để trừ khuẩn (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
1.6.2 Các loại sâu hại thường gặp trên cây hoa cúc
Ò Sâu xanh (Helicoverpa armigera Hb)
Phá hoại trên lá non, ngọn non, nụ và hoa Khi sâu trưởng thành đẻ trứng rải rác thành từng cụm ở cả hai mặt lá non ở nụ hoa, đài hoa và hoa (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
Biện pháp phòng trừ: bằng biện pháp thủ công dẫn dụ sâu trưởng thành bả chua ngọt, dùng tay ngắt bỏ ổ trứng, tiêu huỷ các bộ phận sâu phá hoại như lá, cành,
nụ hoa và diệt trừ sâu non bằng tay Hoặc sử dụng biện pháp sinh học: sử dụng chế phẩm virus nhân đa diện NPV1 phun vào thời kỳ sâu non Cách này rất hiệu quả mà không gây ô nhiểm môi trường (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
Trang 25Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì khi mật độ sâu lên quá cao, quá ngưỡng kinh tế có thể dùng một trong các loại thuốc trừ sâu như:
• Pegasus 500 SC, nồng độ 0,07-0,1%
• ANCOL 20 EC, nồng độ 0,1-0,15%
• Supracide 40 ND nồng độ 0,1-0,15% liều lượng 1-1,5 lít/ha
• Decis 2,5 EC nồng độ 0,3% hoặc Ofatoc 400 EC nồng độ 0,1-0,15% liều lượng 1-1,5 lít/ha
Ò Sâu khoang (Spodoptera litura Fabricuis)
Sâu non trên lưng có vết đen hình bán nguyệt, chúng sống thành từng đám dưới lá hoặc trê hoa, ăn lớp biểu bì của lá chỉ còn lại gân màu trắng và đục rổng bông hoa Chúng thường ẩn náo dưới gốc cây hoa, đẫy sức hoá nhộng ở trong đất xung quanh gốc cây hoa (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)
1.7 QUANG KỲ VÀ SINH LÝ CỦA SỰ RA HOA
Hiện tượng quang chu kỳ ánh sáng được khám phá bởi Tournois năm 1912
phát hiện rằng tuỳ thuộc vào thời gian gieo, cây gai dầu (Canabis sativa) hoặc
chuyển sang trạng thái ra hoa, hoặc ở trạng thái sinh trưởng sinh dưỡng Năm 1913,
Klebs trên ví dụ cây cỏ trường sinh (Sempervium) đã chỉ cho thấy có thể làm cho
cây ra hoa vào mùa đông bằng cách chiếu ánh sáng bổ sung (Nguyễn Như Khanh, 2006) Garner và Allard mở rộng sự quan sát trên nhiều loại cây trong vườn, cây kiểng trong giai đoạn từ 1920 - 1940 Về căn bản, sự đáp ứng của cây trồng với quang chu kỳ sáng được chia thành ba loại: cây ngày ngắn, cây ngày dài và cây trung gian Sau đó bốn loại cây được thêm vào là cây ngày dài -ngắn, cây ngày ngắn
- dài, cây trung gian và cây không thể hiện rõ quang kỳ (ambiphotoperiol) (Trần Văn Hâu, 2005) Năm 1920, Garner và Allard nghiên cứu về sự không ra hoa của
cây thuốc lá Maryland mammouth trong mùa hè với quang kỳ dài và ra hoa trong
mùa đông với quang kỳ ngắn Nhiều thí nghiệm được thực hiện trên nhiều loại cây khác nhau chứng minh được sự ra hoa tuỳ thuộc vào độ dài của ngày và đêm (Lê
Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Bùi Tấn Anh và ctv., 2004)
Trang 26Trong một ngày, chu kỳ sáng tối là 24 giờ Vào mùa hè, thời gian chiếu sáng trong ngày dài hơn thời gian chiếu sáng trong ngày của các tháng mùa đông Trên
cơ sở đó người ta chia thực vật thàn các cây ngày dài, cây ngày ngắn và cây trung gian (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
y Cây ngày dài: là những cây ra hoa trong quang kỳ dài và chiếu sáng liên tục, trong thời gian quang kỳ ngắn cây chỉ sinh trưởng về mặt dinh dưỡng (Lê Văn Hòa va Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Thường là các cây trổ hoa vào mùa hè như hành
(Alliumeepa), cà rốt (Dacus carota), thuốc lá (Nicotiana tabacum), củ cải đường (Beta vulgaris) (Bùi Tấn Anh và ctv., 2004)
Trong một ngày, chu kỳ sáng tối là 24 giờ Vào mùa hè, thời gian chiếu sáng trong ngày dài hơn chiếu sáng trong ngày của các tháng mùa đông Trên cơ sở đó người ta chia thực vật thành các nhóm cây ngày dài, cây ngày ngắn và cây trung gian (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
y Cây ngày dài: là cây ra hoa trong quang kỳ dài và chiếu sáng liên tục trong thời gian quang kỳ ngắn cây sinh trưởng về mặt dinh dưỡng (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Thường là các cây trổ hoa vào mùa hè như hành
(Alliumcepa), cà rốt (Dacus carota), thuốc lá (Nicotiana tabacum), củ cải đường (Betavugaris) (Bùi Tấn Anh và ctv.,2004)
y Cây ngày ngắn: là những cây ra hoa trong quang kỳ ngắn, trong điều kiện quang kỳ dài cây không ra hoa mà chỉ sinh trưởng sinh dưỡng (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Thường là những cây trổ hoa vào mùa xuân và màu thu
như các cây đậu xanh (Vigna radiata), trạng nguyên (Poinsettia pulcherrima), thược dược (Dahlia pinnata), cải bắp (Brassica vulgaris), thuốc lá (Nicotiana tabacum) độ biến (Bùi Tấn Anh va ctv.,2004)
y Cây trung gian: là cây ra hoa không phụ thuộc vaò quang kỳ mà phụ thuộc vào chu kỳ sống (Lê Văn Hoà Và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Các loại cây như húng
quế (Ocimum basilicum), hướng dương (Helipanthus anmus), cẩm chướng (Dianthus caryophyllus), cà chua (Lycopersicum esculenum) (Bùi Tấn Anh và ctv.,2004)
Trang 27Thời gian chiếu sáng ngày và đêm ảnh hưởng lên sự ra hoa thay đổi tuỳ theo loài (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Giới hạn thời gian cảm ứng ra hoa
gọi là quang kỳ tới hạn (critical photoperiod) Trong những cây đáp ứng với quang
kỳ thì co cây đòi hỏi sự đáp ứng tuyệt đối và cây đòi hỏi không bắt buộc Những cây đòi hỏi bắt buộc như cây ngày nắng hay ngày dài thường có giá trị tới hạng rất hẹp Trong khi cây đòi hỏi chu kỳ sáng không bắt buộc thì có thể có hoặc không độ dài sáng tới hạn (Trần Văn Hâu, 2005)
Quang kỳ tới hạn có thể xác định trong khoảng tới hạn của quang kỳ đối với cây ngày dài hoặc cây ngày ngắn Từ đó người ta xác định: cây ngày dài là những
cây mà thời gian chiếu sáng trong ngày dài hơn độ dài tới hạn (critical day length hay cirritical photoperiod) để cây ra hoa; cây ngày ngắn là những cây mà thời gian
chiếu sáng trong ngày ngắn hơn độ dài tới hạn để cây ra hoa; cây trung gian là những cây ra hoa không ảnh hưởng bởi quang kỳ (Lê văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Nguyễn Như Khanh, 2006; Nguyễn Đình Giậu, 1997)
Sự phản ứng của thực vật đối với độ dài ngày và đêm được Allard và Garrner
(1920) gọi là sự quang kỳ (photoperiodism) Các nhà nghiên cứu trong những năm
40 của thế kỉ XX đã phát hiện ra rằng sự ra hoa và các phản ứng khác đối với quang
kỳ quang thực chất là do độ dài đêm chứ không phải do độ dài ngày kiểm soát (Nguyễn Như Khanh, 2006) Thực chất cho thấy thực vật được gọi là ngày ngắn cần
có đêm tối liên tục Nếu trong thời gian tối bị loé sáng với cường độ rất thấp chỉ khoảng 3-5 lux trong thời gian 3-5 phút là đủ để ngăn chặn cây ngày ngắn ra hoa trong mùa trổ hoa Tuy nhiên, đối với cây ngày dài nếu ta che ánh sáng một giờ hay hơn nữa trong ngày, cây vẫn trổ hoa bình thường Do đó, yếu tố thật sự quyết định
sự trổ hoa là độ dài của đêm chứ không phải là độ dài của ngày Thay vì nói cây ngày dài, cây ngày ngắn nên nói cây đêm ngắn, cây đêm dài (Bùi Tấn Anh và
ctv.,2004; Nguyễn Như Khanh, 2006)
Trang 281.7.1 Sự cảm ứng quang kỳ
Nếu một cây ngày ngắn trồng trong điều kiện ngày dài, sau đó chuyển qua trồng trong điều kiện ngày ngắn rồi trở lại ngày dài, sự ra hoa sẽ được bắt đầu Hiện
tượng này gọi là sự cảm ứng quang kỳ (photoperiodic induction) (Lê Văn Hoà và
Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Số chu kỳ quang cần thiết để cảm ứng ra hoa từ loài này sang loài khác Ở cây ké, chu kỳ quang chỉ cần một lần 14-15 giờ là có thể ra hoa Trong khi ở cây đậu nành Biloxi phải cần tối thiểu hai chu kỳ quang cây mới cảm ứng ra hoa Hiện tượng cảm ứng quang kỳ đối với cây ngày dài chu kỳ quang tương
đối nhiều Thí dụ: ở cây Platiro lanceolata, chu kỳ quang tối thiểu từ 15-20 ngày
dài để cảm ứng ra hoa (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Trần Văn Hâu, 2005)
1.7.2 Nơi cảm ứng ra hoa và sự truyền ảnh hưởng
Năm 1936, Chailakhyan (người Nga) làm các thí nghiệm ảnh hưởng quang
kỳ trên cây thu cúc Cắt bỏ lá ở nửa phần trên và chừa lại ở nửa phần dưới để phần
có lá trong điều kiện ngày ngắn, đồng thời phần không có lá trong điều kiện ngàydài: cây trổ hoa Sau đó ông làm thí nghiệm ngược lại, để phần có lá trong điều kiện ngày dài và phần không có lá ttrong điều kiện ngày ngắn, cây không trổ hoa
Từ các kết quả của thí nghiệm, ông kết luận rằng độ dài của ngày không ảnh hưởng trực tiếp lên nụ mà làm lá tạo ra một hormon rồi di chuyển từ lá lên chồi và gây cảm ứng cho sự trổ hoa Hormon giả thuyết này được đặt tên là florigen (Bùi Tấn Anh
và ctv.,2004) Florigen là một chất kích thích ra hoa được tìm thấy nhưng cho đến
nay chưa có một phương pháp trắc nghiệm sinh học nào đẻ xác định nó Người ta tạm kết luận: có bằng chứng khá tường tận rằng sự khởi sự ra hoa bị kiểm soát hay ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hormones: một hoặc hai florigen tác động dương và một hoặc hai chất ức chế tác động âm Các hợp chất này vẫn còn chờ đợi được nhận dạng (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Có lẽ kích thích trổ hoa có sự tham gia của gibberellin, cytokinin và một số carbohydrat làm thành một phức hợp hơn là
chỉ riêng chất “florigen’’ (Bùi Tấn Anh và ctv., 2004)
Trang 29Bằng thí nghiệm với giống đậu nành Biloxi là cây ngày ngắn được trồng trong điều kiện ngày dài, quang kỳ 17 giờ, cây không ra hoa Tuy nhiên, nếu lấy cây đậu nành đã được cảm ứng quang kỳ ghép vào cây đậu nành trên, cây dậu nành Biloxi sẽ ra hoa Vậy có sự ảnh hưởng từ cây cảm ứng ra hoa sang cây cảm ứng không ra hoa Sự truyền này do một chất kích thích ra hoa di chuyển từ cây này sang cây khác Trong điều kiện quang kỳ không thuận lợi, một chất ức chế ra hoa
cũng thành lập ở lá (Lê Văn Hoà và Nguyễn Bảo Toàn, 2004; Trần Văn Hâu, 2005)
1.7.3 Vai trò của ánh sáng và bóng tối trong quang kỳ
Hình 1.1 Ảnh hưởng của quang kỳ lên sự ra hoa của cây ngày dài và cây ngày ngắn
Trang 301.7.4 Sinh lý của sự ra hoa
Theo Bùi Trang Việt (2000) thì hoa được thành lập từ chồi ngọn hay chồi nách qua ba giai đoạn chính: chuyển tiếp ra hoa, tượng hoa, tăng trưởng và nở hoa
y Sự chuyển tiếp ra hoa: sự chuyển tiếp ra hoa gây nên các biến đổi sâu sắc của mô phân sinh ngọn, từ mô phân sinh dinh dưỡng thành mô phân sinh tiền hoa Các biểu hiện đầu tiên của sự chuyển tiếp ra hoa không thấy được bằng mắt thường, chỉ biết được bởi các phân tích tế bào học hay sinh hoá học,với sự tăng mạnh họat tính biến dưỡng (tổng hợp RNA, ribosom, protein), đặc biệt trong vùng đỉnh Đây là
sự đánh thức mô phân sinh chờ, nơi mà bây giờ mà các chu kỳ tế bào rút ngắn đáng
kể Sự chuyển tiếp ra hoa xãy ra đồng thời với sự biến đổi rất rõ của bộ máy dinh dưỡng, đặc biệt là sự kéo dài lóng thân do hoạt động mạnh của vùng dưới ngọn của
mô phân sinh tiền hoa
y Sự tượng hoa: sự chuyển tiếp ra hoa cần khoảng 2-3 ngày để dẫn tới sự tượng hoa, tức sự sinh cơ quan hoa: các tế bào ngoại vi phân hoá thành cacs cơ khởi bầu noãn và bao phấn, các tế bào sâu hơn bên trong cho các hoa, các đài hoa từ vòng khởi sinh Sự phát triển của các cơ khởi hoa nói chung xãy ra nhanh chóng, làm chồi phồng lên thành nụ hoa
y Sự tăng trưởng và nở hoa: khi sự tượng hoa hình thành, nụ hoa tiếp tục tăng trưởng và nở Sự tăng trưởng và nở hoa giống với sự phát triển dinh dưỡng Theo đó sự phát triển hoa gồm các giai đoạn lần lượt: sự cảm ứng do quang kỳ và tạo florigen ở lá; sự vận chuyển florigen (thành phần được cảm ứng từ lá tới mô phân sinh ngọn, sự tượng hoa với các biến đổi tại mô phân sinh ngọn để tạo phát thể hoa; sự tăng trưởng và nở hoa Riêng sự tượng hoa có hai bước quan trọng: kéo dài cuống hoa do tác động của Gibberellin trên vùng mô phân sinh lõi; phân hoá các bộ phận của hoa do tác động của anthesin trên vùng ngoại vi của mô phân sinh ngọn
Cơ chế hormon dầu chưa được chứng minh thoả đáng (đặc biệt là về bản chất của anththesin), nhưng có giá trị tham khảo quan trọng cho các nghiên cứu về
sự tượng hoa (Bùi Trang Việt, 2000; Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Trang 311.8 PHẢN ỨNG CỦA QUANG KỲ VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA HOA CÚC 1.8.1 Ứng dụng quang kỳ trong sản xuất
Trong thực tế có thể áp dụng quang kỳ nhân tạo để thúc đẩy hay làm chậm
sự ra hoa Sự chiếu sáng (ở cường độ yếu) có thể kéo dài ngày hay gián đoạn đêm, tạo nên các điều kiện ngày dài; ngược lại, sự che tối thực vật trong ngày cho phép tạo các ngày ngắn nhân tạo Chẳng hạn, người ta dùng trực thăng bay trong đêm, với đèn pha quay trên đồng mía đường (cây ngày dài) để làm chậm sự ra hoa (trổ cờ) và duy trì trạng thái dinh dưỡng cho cây (đường tích tụ trong thân) Sự chiếu sáng thêm hay che tối các chậu cúc được áp dụng để giúp sự ra hoa đầy đủ và đúng vào các dịp lễ Trong những năm gần đây, kỹ thuật “đốt đèn’’ cho cây Thanh Long được áp dụng phổ biến ở tỉnh Bình Thuận, Việt Nam (Bùi Trang Việt, 2000)
1.8.2 Ảnh hưởng của ánh sáng lên sự ra hoa cúc
Theo Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003) thì tuyệt đại bộ phận các giống hoa cúc không thể ra hoa được trong điều kiện ánh sáng ngày dài (thời gian chiếu sáng trong ngày dài), hoặc những nụ mới được phân hoá thành cũng dừng lại tạo thành hình đầu lá liễu Chỉ trong điều kiện ngày ngắn đêm dài mới có thể phân hóa hoa và tiếp tục tạo thành hoa Giữa các giống hoa khác nhau, lúc bắt đầu phân hoá mầm hoa và sự sinh trưởng phát dục của hoa yêu cầu độ dài chiếu sáng cũng khác nhau Vì vậy, trong trồng trọt, cần nắm vững phản ứng của các giống cúc với
độ dài chiếu sáng của từng giống để xác định thời vụ trồng, thời gian ngắt đọt và biện pháp khắc phục cho phù hợp
Xử lí ánh sáng ngày ngắn để thúc đẩy sự phân hoá mầm hoa và ra hoa bằng cách mỗi ngày che 3 - 4 giờ vào thời gian từ 16 giờ đến 19 giờ hàng ngày Thời gian che liên tục trong 15 ngày, cúc sẽ phân hoá mầm hoa và ra hoa hoa theo ý muốn Hoặc dùng bóng đèn điện 100 W treo cách ngọn cây cúc khoảng 50-60 cm (luôn thay đổi chiều cao dây treo bóng theo độ lớn của cây) với mật độ 1 bóng/10 m2 Hàng ngày chiếu sáng từ 22 giờ đêm đến 2 giờ sáng, chiếu sáng liên tục trong thời
Trang 32gian khoảng 1 tháng sẽ là cho cây không phân hoá mầm hoa và nở sớm (Trồng hoa cúc áp dụng công nghệ cao Ngày 7-4-2004 http://agrriviet.com)
1.8.3 Ảnh hưởng của biện pháp chiếu sáng lên tăng trưởng đường kính hoa cúc
Độ lớn của hoa là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng hoa cúc Trong trồng trọt ngoài biện pháp tăng cường bón phân, tưới nước, phun phân bón lá, phun chất kích thích sinh trưởng, biện pháp ghép…để là tăng đường kính hoa có thể dùng biện pháp kéo dài thời gian chiếu sáng trong ngày sau khi mầm hoa đã phân hoá để tăng đường kính hoa Biện pháp: sau khi xử lí chiếu sáng ngày ngắn 35 ngày để cho mầm hoa phân hoá, khi đã có nụ và sau khi tỉa bớt
nụ thì đặt cây trong điều kiện chiếu sáng ngày dài cho đến khi hoa nở Điều này có thể làm cho rất nhiều giống tăng đường kính hoa (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003)
Theo viện Nghiên cứu Rau quả Trung ương thì đa số giống hoa cúc hiện đang được trồng ở Việt Nam thuộc nhóm cây nhày ngắn, nếu trồng trong vụ đông (sau 15/10 có thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn), sẽ xãy ra hiện tượng: xuất hiện
nụ và nở hoa rất sớm khi cây chưa đủ điều kiện mang hoa, làm cho chất lượng hoa không bảo đảm Nhằm khắc phục hiện tượng này để kéo dài thời gian sinh trưởng (từ trồng đến xuất hiện nụ hoa đầu tiên) và điều khiển cho hoa cúc nở theo ý muốn một cách có hiệu quả cao nhất, tập thể cán bộ khoa học Bộ môn Hoa cà cây cảnh (Viện nghiên cứu rau quả) đã tiến hành nghiên cứu thành công đề tài: “ Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng bổ sung trong kỹ thuật trồng hoa cúc vàng vụ đông ở vùng đồng bằng Bắc bộ” Theo các kết quả nghiên cưú và mô hình trồng thử nghiệm ở nhiều nơi thì biện pháp chiếu sáng bổ sung có tác dụng rõ rệt trong việc kéo dài thời gian sinh trưởng, nở hoa và nâng cao chất lượng vàng pha lê trong vụ đông vùng đồng bằng Bắc bộ một cách rõ rệt Các tác giả đã xử lí chiếu sáng giai đoạn (ngắt quãng lúc nữa đêm) bằng các bóng đèn tròn dây tóc với công suất 100 W với mật
độ 1 bóng/10 m2; thời gian chiếu sáng 2 giờ từ lúc 11 giờ đêm hôm trước đến 01 giờ sáng hôm sau liên tục trong 30 ngày kể từ sau khi trồng 10 ngày, cho năng suất chất
Trang 33lượng hoa cao nhất, đồng thời hiệu quả trồng hoa tăng lên 4,8 lần so với không xử
lý (Nguồn: báo Nông Nghiệp Việt Nam, số 221, ngày 4 tháng 11 năm 2004)
Xử lý chiếu sáng gián đoạn nhiều kần trong đêm có tác dụng tương như xử lý chiếu sang liên tục cho giống cúc vàng, pha lê: kéo dài thời gian sinh trưởng, sinh dưỡng, tăng sinh trưởng thân lá làm cây chậm ra hoa, nâng cao năng suất và chất lượng hoa, tiết kiệm điện Thời lượng chiếu sáng gián đoạn khác nhau không gây sự sai khác đáng kể về hiệu ứng quang gián đoạn Công thức xử lý tối ưu là chiếu sáng gián đoạn cho cây sau 15 ngày trồng vào thời gian từ 22 giờ đến 1 giờ sáng Chiếu sáng ba lần, mỗi lần năm phút, các lần cách nhau 55 phút Việc xử lý quang gián đoạn kéo dài từ 15 ngày sau trồng cho đến 60 ngày sau trồng (Đặng Văn Đông và Nguyễn Quang Thạch, 2005)
Trang 34Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
¾ Thời gian từ tháng 8 năm 2008 đến 20 tháng 2 năm 2009
¾ Địa điểm tại trại nghiên cứu và thực nghiệm Nông Nghiệp, khu II, trường Đại
2.1.2 Số liệu khí tượng trong thời gian thực hiện thí nghiệm
Thu thập số liệu tại trung tâm khí tượng Cần Thơ bao gồm nhiệt độ trung bình, ẩm độ tương đối, số giờ chiếu sáng/ngày và lượng mưa từ tháng 08/2008 đến tháng 02/2009 trong suốt quá trình thí nghiệm
Trang 35Số giờ nắng (giờ) Nhiệt độ (oC)
Hình 2.1 Số liệu khí tượng tại tring tâm khí tượng Cần Thơ từ tháng 8 năm 2008
đến tháng 2 năm 2009
(a) Lượng mưa trung bình (mm) và ẩm độ tương đối (%) hàng
tháng (b) Số giờ nắng (giờ)và nhiệt độ trung bình (oC) hàng tháng
(a)
(b)
Trang 362.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm với 2 nhân tố (thời gian chiếu sáng và tuổi nụ) được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên
Với: Ao: không chiếu sáng
có đặc điểm là sau khi ra nụ tập trung ở đợt đầu tiên thì sau đó trên cây vẫn tiếp tục hình thành những đợt nụ mới với nhiều kích cỡ khác nhau Khi đợt nụ đầu tiên cũng
là đợt rộ nhất được 40 ngày tuổi thì tiến hành chiếu sáng Cùng thời điểm đó ngoài
cỡ nụ 40 ngày tuổi chiếm ưu thế thì trên cây còn có nhiều cỡ nụ nhỏ tuổi hơn Dùng màn đen để ngăn cách ảnh hưởng của ánh sáng lên các nghiệm thức khác Bóng đèn được treo cách đỉnh cây 70 cm, thường xuyên điều chỉnh khoảng cách từ đỉnh lên cây đến bóng đèn khi cây phát triển
Trang 37Bảng 2.1 Tóm tắt tiến trình thí nghiệm trên cây hoa cú Mâm Xôi tại trại nghiên cứu
và thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II Đại Học Cần Thơ mùa xuân 2009
Ngày chiếu sáng Nghiệm
2.2.2 Kĩ thuật trồng và chăm sóc cây cúc Mâm Xôi
¾ Cách trồng: trồng trong chậu tre kích thước 20 x 20 cm
¾ Cơ chất trồng: Phân rơm
¾Tưới nước: 1-2 lần trên ngày, tuỳ điều kiện thời tiết, kiểm tra độ ẩm cơ chất thường xuyên
ý giai đoạn phát triển nụ và hoa bổ sung thêm Kali và Canxi nồng độ 0,3%
¾ Phòng trừ sâu bệnh: phun thuốc ngừa sâu bệnh 7-10 ngày/lần Sử dụng Kocide 53,8 DF và Abatin 1,5 EC trộn chung Nếu xuất hiện sâu bệnh với mật độ cao thì dùng thuốc đặc trị cho từng loại sâu bệnh Thường gặp là sâu xanh nhỏ bám
Trang 38trên đọt ăn lá non và sâu màu đen chuyên ăn lá cả non lẫn già chỉ xuất hiện ban đêm, ban ngày thường trốn trong đất
¾ Ngắt đọt: sau khi trồng 7-10 ngày thì tiến hành ngắt đọt lần 1 Sau đó thì
20 ngày thì ngắt đọt 1 lần Ở đây chúng tôi ngắt đọt 3 lần, sau đó cho đọt thành thục
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
ÔChỉ tiêu nông học: bao gồm:
- Chiều cao cây (cm): được tính từ gốc tới đỉnh sinh trưởng của chồi cao nhất
- Đường kính tán (cm): đo hai đường chéo tán vuông góc nhau
- Đếm tổng số chồi: đếm tổng số chồi cấp hai (sau 3 lần ngắt đọt)
- Đo vào lúc trước khi nụ hoa xuất hiện 7 ngày, cách 7 ngày lấy chỉ tiêu 1 lần
ÔChỉ tiêu tăng trưởng
- Số hoa/chậu: đếm số hoa trên từng chậu
- Số hoa/cành: đếm tổng số hoa trên tổng số cành, sau dó tính bình quân số hoa trên một cành
ÔTheo dõi sự phát triển của nụ hoa
Ở mỗi chậu chọn và đánh dấu 3 nụ hoa vào thời điểm trước khi tiến hành thí nghiệm 5 ngày Dùng thước kẹp đo đường kính nụ hoa (mm), thước kẻ đo chiều dài cuống hoa (cm) và chiều dài cánh hoa (cm) của hoa cách 5 ngày 1 lần cho đến khi
hoa tàn
ÔGhi nhận:
Trang 39Ngày ngắt đọt: lần 1, lần 2, lần3
Ngày xuất hiện chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sang sinh sản
Ngày xuất hiện hoa đầu tiên
Ngày hoa nở đầu tiên
Ngày hoa tàn đầu tiên
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu ở thí nghiệm được nhập và xử lí bằng chương trình Microsoft Excel Phân tích phương sai (ANOVA - analysis of variance) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức So sánh các giá trị trung bình bằng kiểm định DUNCAN ở mức nghĩa 5% hoặc 1% bằng phần mềm MSTAT C
Trang 40Bảng 2.2 Quy trình trồng và chăm sóc cây hoa cúc Mâm Xôi tại trại nghiên cứu và
thực nghiệm Nông Nghiệp, Khu II Đại học Cần Thơ, mùa xuân 2009
3 Phun phân bón lá HVP 401 10/08/2008
4 Vô phân DAP gốc (15-20 hạt/chậu) 11/08/2008
6 Phun thuốc bệnh COC 85 19/08/2008
7 Phun phân bón lá 20/08/2008
10 Vô phân chậu lần 1 30/08/2008
11 Phun phân bón lá + Thuốc trừ sâu Map green 03/09/2008
12 Phun thuốc trừ sâu Regent 08/09/2008
13 Phun thuốc trừ sâu Regent + COC 85 11/09/2008
15 Phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh 17/09/2008
16 Cơi đọt lần 3 (rải DAP 10-15 hạt/chậu) 19/09/2008
17 Phun phân bón lá Thần Nông 22/09/2008
18 Phun phân bón lá 29/09/2008
19 Phun thuốc bệnh Anvin 30/09/2008
20 Phun thuốc sâu Regent 01/10/2008
33 Phun thuốc trừ sâu + Phun thuốc trừ bệnh 10/11/2008
34 Có hiện tượng chẻ đọt xuất hiện lá me rất nhỏ 15/11/2008
35 Phun thuốc trừ sâu (Fornado 10EC) 16/11/2008
36 Phun thuốc trừ bệnh 17/11/2008