BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA Chứng nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Hoa viên và cây cảnh với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU HOẠCH, pH NƯỚC VÀ DUNG DỊCH XỬ LÝ SƠ BỘ LÊN THỜI GIAN BẢO Q
Trang 2PGs Ts LÊ VĂN HÒA NGUYỄN NGỌC YẾN Ths PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO MSSV: 3083780
LỚP: TT0879A1
Cần Thơ, 2012
Trang 3BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Hoa viên và cây cảnh với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU HOẠCH, pH NƯỚC
VÀ DUNG DỊCH XỬ LÝ SƠ BỘ LÊN THỜI GIAN
BẢO QUẢN HOA HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa L.)
CẮT CÀNH”
Do sinh viên NGUYỄN NGỌC YẾN thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày …tháng….năm…
Cán bộ hướng dẫn
Trang 4BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa viên & cây cảnh với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU HOẠCH, pH VÀ DUNG DỊCH
XỬ LÝ SƠ BỘ LÊN THỜI GIAN BẢO QUẢN HOA HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa L.) CẮT CÀNH”
Do sinh viên NGUYỄN NGỌC YẾN thực hiện và bảo vệ trước Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua
Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức:………
Ý kiến của Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………
………
………
………
………
Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội Đồng
Trang 5Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Yến
Trang 61 Tiểu Sử Cá Nhân
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Yến
Sinh ngày: 05-01-1989
Nơi sinh: Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Giàu
Họ và tên mẹ: Trần Thị Thu Thủy
2 Quá Trình Học Tập
1995 – 2000: học tại trường tiểu học Thị trấn Giồng Riềng, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang
2001 – 2004: học tại trường trung học cơ sở Mai Thị Hồng Hạnh,
2005 – 2007: học tại trường trung học phổ thông Giồng Riềng, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang
2008 – 2012: học tại trường Đại học Cần Thơ, ngành Hoa viên và cây cảnh khóa
34, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ
Trang 7Kính dâng cha mẹ suốt đời nuôi nấng và dạy dỗ con khôn lớn nên người
Mãi biết ơn Thầy Lê Văn Hòa và Cô Phạm Thị Phương Thảo đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên hết sức bổ ích trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn:
Thầy Phạm Phước Nhẫn và Cô Lê Minh Lý – cố vấn học tập đã dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt những năm học vừa qua
Anh Nguyễn Hoàng Sơn, các bạn : Nguyễn Thị Phan Thanh, Chim Cẩm Chi, Phạm Thị Duyên, Nguyễn Thanh Trúc, Nguyễn Hữu Hiệu, Nguyễn Thị Minh Nhựt, Lương Thị Tuyết Nga và tập thể lớp Hoa viên & cây cảnh K34 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Thân gửi đến các bạn lớp Hoa viên cây cảnh K34 và toàn thể sinh viên Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng lời chúc tốt đẹp nhất
Nguyễn Ngọc Yến
Trang 8Chương Nội dung Trang
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc của hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) 2 1.2 Phân loại, đặc điểm hình thái và điều kiện ngoại cảnh
thích hợp trồng hoa huệ (Polianthes tuberosa L.)
Trang 91.4.5 Sự thoát hơi nước 10 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoa cắt 11
1.6 Một số hóa chất được sử dụng trong bảo quản hoa cắt
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chất lượng và
thời gian bảo quản hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) cắt
cành
27
3.1.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) của hoa huệ ở các thời
điểm thu hoạch khác nhau
27
3.1.2 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) của hoa huệ ở các thời điểm thu
hoạch khác nhau
29
Trang 103.1.4 Điểm đánh giá cảm quan của hoa huệ ở các thời điểm thu
3.2 Ảnh hưởng của pH nước đến thời gian bảo quản hoa huệ
(Polianthes tuberosa L.) sau thu hoạch
3.2.4 Điểm đánh giá cảm quan chất lượng hoa huệ cắt cành khi
bảo quản trong dung dịch có pH nước khác nhau
38
3.2.5 Thời gian bảo quản của hoa huệ sau thu hoạch ở các giá
trị pH khác nhau
39
3.3 Ảnh hưởng của dung dịch xử lý sơ bộ đến thời gian bảo
quản hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) sau thu hoạch
40
3.3.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian thu hoạch
sau khi tiến hành xử lý sơ bộ
3.3.4 Điểm đánh giá cảm quan hoa huệ cắt cành sau khi xử lý
sơ bộ theo thời gian bảo quản
45
3.3.5 Thời gian bảo quản hoa huệ trắng cắt cành sau khi xử lý 48
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƯƠNG
Trang 12BẢNG TỰA BẢNG TRANG
3.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) hoa huệ sau thu hoạch ở các
thời điểm thu hoạch khác nhau theo thời gian bảo quản
24
3.2 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) hoa huệ sau thu hoạch ở các thời
điểm thu hoạch khác nhau theo thời gian bảo quản
26
3.3 Tỷ lệ hoa héo (%) hoa huệ sau thu hoạch ở các thời điểm thu
hoạch khác nhau theo thời gian bảo quản
27
3.4 Điểm đánh giá cảm quan ngày thứ 7 sau thu hoạch của
hoa huệ thu hoạch ở các thời điểm khác nhau
28
3.5 Thời gian bảo quản của hoa huệ thu hoạch ở các thời điểm
khác nhau
29
3.6 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) của hoa huệ với các ngưỡng
pH khác nhau ở thời điểm từ ngày 3 đến ngày 11 sau thu
hoạch
31
3.7 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) của hoa huệ với các ngưỡng pH khác
nhau ở thời điểm từ ngày 3 và ngày 5 sau thu hoạch
33
3.8 Tỷ lệ hoa héo (%) của hoa huệ với các ngưỡng pH khác nhau
ở thời điểm từ ngày 5 và ngày 11 sau thu hoạch
34
3.9 Điểm đánh giá cảm quan của hoa huệ cắt cành sau 11 ngày
bảo quản ở các giá trị pH khác nhau
35
3.10 Thời gian bảo quản của hoa huệ sau thu hoạch ở các giá trị
pH khác nhau
37
3.11 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) của hoa huệ sau khi xử lý sơ
bộ với các hóa chất khác nhau sau 15 ngày bảo quản
38
3.12 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) của hoa huệ sau khi xử lý sơ bộ với
các hóa chất khác nhau ở thời điểm từ ngày thứ 3 đến ngày
thứ 5 sau thu hoạch
40
3.13 Tỷ lệ hoa héo (%) của hoa huệ sau khi xử lý sơ bộ với các
dung dịch khác nhau qua 15 ngày bảo quản
42
3.14 Điểm đánh giá cảm quan của hoa huệ khi xử lý sơ bộ với các
dung dịch khác nhau ở thời điểm từ ngày thứ 13 sau thu
hoạch
43
Trang 13hoạch
3.16 Thời gian bảo quản của hoa huệ sau khi xử lý sơ bộ và được
cắm vào dung dịch đường sucrose 3% + pH = 4 qua các ngày
bảo quản
47
Trang 14HÌNH TỰA HÌNH TRANG
2.1 Hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) được xử lý sơ bộ trong 24
3.1 Hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) ở các độ tuổi khác
nhau sau 7 ngày bảo quản
30
3.2 Hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) ở thời điểm 9 ngày
sau thu hoạch
36
3.3 Hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) ở nghiệm thức xử lý
đường sucrose 20 % bị thối thân sau 7 ngày bảo quản
39
3.4 Hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) vào thời điểm 13
ngày sau khi bảo quản bằng dung dịch pH = 4 + đường 3%
44
3.5 Hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) vào thời điểm 15
ngày sau khi bảo quản bằng dung dịch pH 4 + đường 3%
46
Trang 16L.) cắt cành” Luận văn tốt nghiệp đại học ngành Hoa viên & cây cảnh, khoa Nông
Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần thơ
Cán bộ hướng dẫn: PGs.Ts Lê văn Hòa và Ths Phạm Thị Phương Thảo
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của giai đoạn thu hoạch, pH nước và dung dịch xử lý sơ bộ
lên thời gian bảo quản hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) cắt cành” gồm 3
thí nghiệm: (1) Ảnh hưởng của giai đoạn thu hoạch đến chất lượng và thời gian bảo quản hoa huệ sau thu hoạch, (2) Ảnh hưởng của pH nước (điều chỉnh bằng acid citric) đến thời gian bảo quản hoa huệ sau thu hoạch, (3) Ảnh hưởng của dung dịch xử lý sơ bộ đến thời gian bảo quản hoa huệ sau thu hoạch Các thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 2-3 cành hoa Kết quả cho thấy hoa thu hoạch ở giai đoạn nụ hoa duy trì được đời sống cắm bình dài nhất, màu hoa đẹp, tỷ lệ hoa héo ít nhất, hoa chậm thay đổi, chất lượng hoa được duy trì sau thu hoạch đến 7 ngày Hoa bảo quản trong dung dịch pH nước = 3 giúp hoa có đời sống cắm bình dài nhất, hoa ít thay đổi, màu hoa đẹp, tỷ lệ hoa héo thấp nhất nhưng tỷ lệ hoa nở không khác biệt so với các nghiệm thức khác, chất lượng hoa duy trì đến 11 ngày được chấp nhận cảm quan Sau khi xử lý sơ bộ bằng cách cắm vào dung dịch đường 10% trong 24 giờ hoa và được tồn trữ trong dung dịch pH = 4 kết hợp với đường sucrose 3% giúp hoa huệ duy trì đến 15 ngày theo đánh giá cảm quan, chất lượng hoa ít thay đổi, màu sắc hoa đẹp, tỷ lệ hoa héo thấp, nhưng tỷ lệ hoa nở không khác biệt với các nghiệm thức khác
Trang 17MỞ ĐẦU
Việc nghiên cứu bảo quản hoa cắt cành là một lĩnh vực còn mới ở Việt Nam và kết quả nghiên cứu vẫn còn rất hạn chế Bên cạnh đặc tính giống, kỹ thuật trồng, giá trị của hoa phụ thuộc nhiều vào thời kỳ thu hoạch vì hoa đến tay người tiêu dùng phải là hoa tươi, đẹp, không dập nát, chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của người mua Vì vậy, vấn đề bảo quản hoa sau thu hoạch rất cần thiết
Hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) có nguồn gốc từ Mexico là loại hoa
được trồng khá phổ biến ở nước ta đặc biệt ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ… Do hương thơm tinh tế của hoa mà hoa huệ được sử dung quanh năm trong các dịp lễ, tết hoặc vào những ngày rằm hàng tháng như là một thói quen tiêu dùng của người Việt Nam Ngoài
ra, hoa huệ còn dùng để trang trí, kết thành vòng hoa và lấy tinh dầu Chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ hoa huệ trên thị trường là rất lớn Tuy nhiên, do quá trình
đô thị hoá nên diện tích trồng huệ ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng, trong khi
đó nhu cầu về hoa huệ trên thị trường ngày càng gia tăng làm cho giá hoa huệ vẫn ở mức cao
Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về bảo quản hoa huệ trắng sau thu
hoạch nhưng không nhiều Su và ctv (2001) đã tiến hành nghiên cứu cải thiện về
thời gian cắm bình của hoa huệ bằng sử dụng gibberellic acid và sucrose
Hutchinson và ctv (2003) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của cytokinin,
gibberellin, sucrose và thiosulphate bạc lên đặc tính sinh lý sau thu hoạch của hoa huệ cắt cành
Riêng ở nước ta, những nghiên cứu về hoa huệ trắng chủ yếu là về sâu bệnh trên huệ nhưng các nghiên cứu này vẫn còn rất ít và đặc biệt chưa có nghiên cứu về việc kéo dài đời sống cắm bình của hoa huệ trắng Chính vì vậy, đề tài
“Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch, pH nước và dung dịch xử lý sơ bộ đến
thời gian bảo quản hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) cắt cành” được
thực hiện với các mục tiêu chính là: xác định được thời điểm thu hoạch, ngưỡng
pH và dung dịch xử lý sơ bộ thích hợp để duy trì đời sống cắm bình của hoa huệ
Trang 18CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc của hoa huệ (Polianthes tuberosa L.)
Cây hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) thuộc họ Thùa (Agavaceae) Theo
Nguyễn Thị Diễm Chi (2009), người Aztec ở Mexico đã phát hiện và trồng cách đây 600 năm Năm 1519, hoa huệ được trồng ở Tây Ban Nha Sau đó, hoa huệ được trồng ở Ấn Độ, Pháp nhờ những người truyền giáo Huệ tiếp tục được đưa tới Châu Âu và lập tức trở thành những vườn hoa nổi tiếng dưới triều đại nữ hoàng Vitoria Từ đó, hoa huệ được trồng khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam, hoa huệ được trồng phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, năm 1997 cây hoa huệ lần đầu tiên được đưa vào trồng thử ở những chân ruộng khô tại tỉnh Khánh Hoà cũng đã phát triển rất tốt Huệ trắng là loại hoa được trồng phổ biến ở nước ta do có đặc tính dễ trồng và đem lại lợi nhuận cao nên nhiều hộ gia đình đã chuyển sang trồng huệ Hoa có mùi hương rất thơm, ngọt ngào, nhất là vào lúc hoàng hôn, chỉ cần 1 hoặc 2 nụ hoa trên cành nở thì mùi hương sẽ lan tỏa khắp khu vườn
1.2 Phân loại, đặc điểm hình thái và điều kiện ngoại cảnh thích hợp trồng
hoa huệ (Polianthes tuberosa L.)
Trang 19- Hoa: cành hoa dài khoảng 1 m, thẳng đứng, mang hoa ở phần đỉnh, với
lá tiêu giảm dần Hoa thường xếp thành đôi một ở một điểm, trên một cuống rất ngắn, hoa màu trắng, thơm Cánh hoa dính lại thành ống, hẹp và hơi cong, đỉnh loe rộng và có 6 thùy dài
Theo Đặng Phương Trâm (2005), đối với hoa huệ, từ khi trồng đến khi huệ cho lứa hoa đầu tiên vào khoảng 100 ngày Thời điểm thu hoạch tốt nhất khi trên cành hoa có chừng một vài nụ hoa hé nở, chuyển màu trắng Không nên thu hoạch quá sớm khi các nụ hoa còn búp xanh sẫm, nhất là huệ bông kép sẽ không thể nở hoa được nữa
Hình 1.1 Hoa huệ đơn (a) và hoa huệ kép (b)
Trang 201.2.3 Điều kiện ngoại cảnh
Theo Nguyễn Bảo Toàn và Nguyễn Thị Mai Anh (2010) thì huệ thích hợp với những điều kiện sau:
- Nhiệt độ: cây chịu được nhiệt độ cao 18 – 340C
- Ánh sáng: cây cần ánh sáng hoàn toàn, nắng càng nhiều hoa càng tốt
- Ẩm độ: cây ưa ẩm độ cao
• Đất: để huệ có nhiều bông và bông dài, đẹp nên chọn đất trồng huệ phải
là nơi trảng nắng Loại đất thích hợp là đất sét trắng Đào liếp sâu 0,5 m, liếp rộng khoảng 1,5 m và rãnh rộng 0,5 m Huệ rất kén đất nên không trồng huệ được lưu niên, mà chỉ khai thác được vài ba vụ là phải thay ruộng
• Bón phân:
- Bón lót: bón phân hữu cơ theo định mức 3 m3/ 1.000 m2 kết hợp với 10 kg phân lân, 80 – 100 kg vôi rải đều
- Bón vào lúc 10 ngày trước khi trồng
- Từ 30 ngày sau khi trồng: dùng hỗn hợp urea, lân và kali hòa nước tưới cho cây định kỳ 20 ngày/ lần cho đến lúc cây có hoa
Trang 21• Chăm sóc: tưới nước cho cây sau khi trồng, cứ vài ngày phải tưới nước
để cây bén rễ Khi cây bắt đầu phát triển lá sẽ tưới đẫm Thiếu nước hoa nhỏ, cánh hoa phát triển không hoàn hảo, bông ngắn Thường xuyên vun đất và làm
cỏ để gốc và rễ phát triển
• Sâu bệnh: các loại dịch hại hiện diện trên cây huệ khá đa dạng như: nhện đỏ, côn trùng (rệp sáp, bù lạch, sâu ăn lá, rầy mềm…), và một số loại bệnh như chai bông, thối nhũn
1.3 Tình hình nghiên cứu bảo quản hoa cắt cành trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Những nghiên cứu về hoa cắt cành trên thế giới
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp hoa tươi trên thế giới phát triển rất mạnh mẽ, chủ yếu ở các nước tiến tiến Những biến đổi sinh lý của hoa khi bảo quản và các phương pháp bảo quản hoa cắt cành sau khi thu hoạch đã được nghiên cứu Một số tác giả đã nghiên cứu thành công quy trình bảo quản nhiều loại hoa cắt cành như hoa hồng, hoa cúc, hoa cẩm chướng, hoa lay ơn Halevy và Mayak (1979 và 1981) đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý, những biến đổi sinh hoá trong quá trình bảo quản hoa cắt cành cho thấy mỗi loại hoa có cấu tạo khác nhau nên cũng có những đặc điểm sinh hoá khác nhau từ đó có những quy trình bảo quản cho mỗi loại hoa cũng khác nhau Hoa được đóng gói kín trong túi Polyethylene (PE) với thành phần khí quyển gồm: 5-8% CO2 và 6-12%
O2 Cách đóng gói này đã nâng cao chất lượng và tuổi thọ của hoa, làm chậm sự vàng lá Xử lý cành hoa bằng dung dịch đường sucrose 10% và STS 0,4 mM trước khi đóng gói cũng đã nâng cao chất lượng và khả năng nở của hoa
Tất cả các phương pháp bảo quản đều tuân theo nguyên tắc chung là:
Chất lượng hoa cắt cành đưa vào bảo quản phải khỏe, có độ nở thu hái phù hợp
Trong quá trình bảo quản phải điều khiển sao cho hoa có cường độ
hô hấp thấp, cường độ thoát nước giảm, đảm bảo duy trì nguồn dinh dưỡng nuôi hoa, ngăn cản sự sản sinh ethylene, sự phát triển của nấm bệnh ( Lê Văn Hòa, 2009)
Trang 221.3.2 Những nghiên cứu về hoa cắt cành tại Việt Nam
Việt Nam có nhiều giống hoa khá phong phú và kỹ thuật trồng có nhiều bước nhảy vọt Việc nghiên cứu bảo quản hoa cắt cành đã trở thành một lĩnh vực mới ở Việt Nam, tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm dinh dưỡng và chất kích thích sinh trưởng đến cúc vàng Đài Loan, tác giả Đặng Văn Đông (2000) đã nhận định rằng gibberellic acid (GA3) có tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, còn Spray-N-Grow và Atonik tác động mạnh ở giai đoạn sinh thực nâng cao tỷ lệ nở hoa hữu hiệu, nâng cao chất lượng hoa và kéo dài tuổi thọ của hoa Theo Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1993), sử dụng STS 0,5 ppm có tác dụng rõ rệt nhất đối với hoa cúc Nhật kéo dài tuổi thọ của hoa hơn 4 ngày so với đối chứng
Nguyễn Quang Thạch và ctv (1999) đã nghiên cứu ảnh hưởng của
ethylene đối với một số loại hoa cắt cành như hoa hồng, cẩm chướng, lan, cho thấy: ethylene làm tóp, rụng cánh hoa, làm rụng lá, làm mất màu xanh của lá, mất màu sắc sặc sỡ của cánh hoa, ức chế nụ hoa nở Bằng cách bổ sung STS bạc 0,5-
1 ppm vào dung dịch cắm hoa hay nhúng cuống hoa cắt vào dung dịch trên trước khi bảo quản lạnh có thể nâng cao tuổi thọ của hoa cắt đến 2 lần so với đối chứng
1.4 Hoạt động sinh lý, sinh hoá của hoa cắt cành sau thu hoạch
1.4.1 Sự sinh trưởng và phát triển của nụ đến khi nở hoàn toàn
Hoa cắt cành khi thu hoạch thường ở giai đoạn có độ chín thấp nhất để đảm bảo có thể nở được hoàn toàn và tươi tắn sau một thời gian vận chuyển Hoa cắt khi rời cơ thể mẹ vẫn tiếp tục quá trình sống dựa vào các chất dinh dưỡng còn lại trong cành, lá Tuy nhiên, quá trình sinh trưởng và phát triển của nụ hoa còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, độ ẩm môi trường, cường độ
hô hấp của nụ hoa, sự sản sinh ethylene…
Với mỗi loại hoa khác nhau sự sinh trưởng và phát triển của nụ đến khi nở
là hoàn toàn khác nhau, do vậy khi thu hái còn phải chú ý đến độ già thích hợp của từng loại hoa Ở một số loại hoa như hồng, lan, cẩm chướng… có thể thu hoạch ở giai đoạn nụ vì chúng có thể nở dễ dàng trong nước Một số loại hoa khác như: lan, cúc, đồng tiền… không thể thu hoạch ở giai đoạn nụ vì chúng
Trang 23không dễ dàng nở trong nước Đối với hoa cắt cành thu hoạch để bảo quản cần phải lưu tâm đến sự sinh trưởng và phát triển của nụ đến khi nở hoàn toàn để có thể thu hái ở độ già thích hợp nhất, đảm bảo cho hoa trong quá trình bảo quản không sinh trưởng quá mạnh gây hư hao chất khô trong hoa, mà cũng không quá chậm làm kìm hãm quá trình nở tiếp theo của hoa
1.4.2 Quá trình hô hấp
Hô hấp là quá trình cây trồng hấp thụ O2 và thải khí CO2, O2 từ không khí
sẽ phân huỷ các hợp chất hydratcarbon trong cây thành CO2 và nước Phản ứng này sinh ra năng lượng dưới dạng nhiệt năng Hô hấp hiếu khí sử dụng đủ O2 của không khí thải ra CO2 và hơi nước, cứ 1 phân tử đường sinh ra 674 Kcal (Hoàng
Minh Tấn và ctv., 2000)
Hô hấp gây ra 4 tác dụng cơ bản, đó là:
- Tiêu hao chất hữu cơ trong sản phẩm: trong thời kỳ sinh trưởng ngoài đồng, sự tiêu hao chất hữu cơ do hô hấp được bù đắp bằng quang hợp nhưng trong quá trình bảo quản sau thu hoạch sự hao hụt chất hữu cơ sẽ không được bù đắp lại Do đó, nếu cường độ hô thấp càng cao thì sự hao hụt chất hữu cơ càng lớn Sự cạn kiệt chất hữu cơ sẽ làm sản phẩm nhanh già hóa và hư hỏng Sự sống của hoa cắt cành sau thu hoạch nhờ vào quá trình hô hấp tạo ra năng lượng Biểu hiện của quá trình hô hấp là thuỷ phân tinh bột và các polysaccharide và đường
dự trữ trong hoa
- Thay đổi độ ẩm trong quá trình bảo quản của sản phẩm: nước thải ra trong quá trình hô hấp được sản phẩm giữ lại làm tăng độ ẩm môi trường xung quanh Độ ẩm tăng sẽ làm tăng nhanh cường độ hô hấp đồng thời thúc đẩy sự hoạt động của vi sinh vật gây hư hỏng cho sản phẩm bảo quản
- Thay đổi thành phần không khí do quá trình hô hấp: hô hấp thải ra CO2 và
H2O Nếu hàm lượng CO2 tăng sẽ ức chế hô hấp háo khí và chuyển sản phẩm sang
hô hấp yếm khí Tỷ lệ CO2/O2 khí quyển tồn trữ có tác dụng quyết định đến quá trình hô hấp Nếu O2 giảm xuống dưới 3,5% thì cường độ hô hấp bắt đầu giảm Tuy nhiên, quá trình hô hấp yếm khí sẽ tích tụ rượu, aldehyde, các chất gây độc cho hoạt động sinh lý của mô đồng thời tiêu hao chất dinh dưỡng Với trường hợp
Trang 24không đủ không khí, nhiều nhà nghiên cứu cho thấy khi bảo quản hoa cắt cành, các tế bào dần mất khả năng hấp thụ O2, chuyển sang quá trình hô hấp yếm khí, tích tụ các hợp chất trung gian của quá trình hô hấp không hoàn toàn như rượu, acid, aldehyde… có thể giết chết tế bào
- Thay nhiệt độ nơi tồn trữ: hô hấp sản sinh ra nhiệt và đây là tác nhân gây thối, hỏng hoa
Cường độ hô hấp của mỗi loại hoa phụ thuộc vào chính bản thân hoa bảo quản (giống, độ nở, mức độ nguyên vẹn) và các yếu tố của môi trường tồn trữ (nhiệt độ, độ ẩm, sự thông gió, thời gian tồn trữ, ánh sáng…) Cường độ hô hấp còn phụ thuộc vào việc cung cấp O2 Trong môi trường có ít O2, lượng O2 không
đủ cho quá trình hô hấp bình thường, mức độ hô hấp cực đại bị ức chế Để cung cấp đủ oxi cho quá trình hô hấp phải có sự thông gió cho sản phảm Hô hấp quá mức cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình bảo quản, tuy nhiên đó cũng là điều kiện cần thiết cho sự sống của hoa mà nếu thiếu nó thì sẽ không làm tế bào chết và hoa cũng sẽ bị ảnh hưởng nhanh chóng (Nguyễn Mạnh Khải, 1999)
1.4.3 Sự già hoá
Hoa sau khi thu hoạch tiếp tục sử dụng chất dinh dưỡng dự trữ và trải qua quá trình già hoá Khi quá trình già hoá diễn ra ở mức sâu sắc sẽ gây hư hỏng hoa, biểu hiện bằng sự héo
Sự già hoá có liên quan mật thiết đến việc sản sinh ethylene Ethylene đóng vai trò rất lớn trong việc gây ra già hoá nhanh như làm tăng tính thấm của màng tế bào, tăng cường độ hô hấp, giảm sự hấp thu dinh dưỡng của cánh hoa, phá vỡ chlorophyll
Hoa cắt cành ở dạng nụ có tốc độ sản sinh ethylene thấp hơn nhiều so với hoa cắt đã nở hoàn toàn Do vậy, sự già hóa của hoa ở dạng nụ diễn ra chậm hơn
ở hoa đã nở hoàn toàn Một số hoạt động khác dẫn đến sự già hoá ở hoa là hô hấp
và thoát hơi nước Quá trình già hóa là những quá trình hoàn toàn không có lợi cho chất lượng hoa cắt Do đó, cần phải kìm hãm các quá trình hoạt động này ở mức thấp nhất nếu có thể Sử dụng nhiệt độ thấp là một biện pháp quan trọng để hạn chế quá trình già hoá của hoa cắt cành sau thu hoạch Việc sử dụng dung
Trang 25dịch cắm hoa thích hợp nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng cho hoa khi cắm cũng
là một biện pháp đang được nghiên cứu để giảm tốc độ già hóa của hoa cắt cành, kéo dài thời gian sử dụng hoa (Vũ Thị Hường, 2009)
1.4.4 Sự sản sinh ethylene
Theo Nguyễn Thu Huyền (2006), ethylene là một hormon thực vật thuộc nhóm chất ức chế, kích thích quá trình chín cũng như điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và già hoá của thực vật, tăng cường độ hô hấp, tăng hoạt tính của nhiều enzyme thuỷ phân Sự tạo thành ethylene trong quá trình bảo quản là yếu tố bất lợi, làm giảm tuổi thọ bảo quản của hoa ngay cả khi ở nhiệt độ an toàn nhất Ethylene có hoạt tính sinh lý ở nồng độ rất thấp (chỉ 0,5 ppm) Sự nhạy cảm với ethylene khác nhau tùy theo loại hoa Tuy nhiên, sự tiếp xúc của hoa với ethylene sẽ tăng tốc độ hoá già
Ethylene được sản sinh ở tất cả các cơ quan của cây: lá, thân, rễ, hoa, quả Hoa cắt cành sản sinh một lượng rất lớn ethylene sau khi thu hoạch, đặc biệt sau khi thụ phấn Ethylene có thể làm thay đổi khí quyển bảo quản xung quanh hoa cắt cành, ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển và bảo quản hoa cắt (Nguyễn
Mạnh Khải và ctv., 2006) Ngoài ra, ethylene có thể làm:
- Đẩy nhanh quá trình già hóa
Tính mẫn cảm với ethylene ở các loài hoa khác nhau là khác nhau Tính mẫn cảm trên còn phụ thuộc vào giai đoạn sinh lý của hoa lúc thu hoạch và có thể phụ thuộc vào sự cân bằng các chất điều tiết sinh trưởng nội sinh
Việc chống lại tác động của ethylene có thể đạt được bằng cách xua đuổi ethylene ra khỏi phòng bảo quản, hoa cắt có thể được giữ xa nguồn sản sinh ethylene, bổ sung các chất hóa học nhằm ức chế sự sản sinh và tác động của
Trang 26ethylene Không nên bảo quản chung hoa nở với hoa chưa nở vì hoa đã nở đã có bao phấn - nguồn sản sinh lớn ethylene
Ở nhiệt độ thấp, ethylene sản sinh bởi hoa là thấp và bản thân ethylene hoạt động kém Tuy nhiên, ngay ở nhiệt độ này, một lượng nhỏ ethylene được sản sinh ra cũng đủ làm hư hỏng hoa cắt cành nếu nó tích luỹ đến nồng độ đủ lớn Do đó, trong quá trình bảo quản hoa việc làm lạnh ban đầu dể giảm tốc độ
sản sinh ethylene là rất quan trọng (Nowak và ctv.,1989)
1.4.5 Sự thoát hơi nước
Phần lớn các sản phẩm tươi chứa 65 ÷ 95% nước khi thu hoạch Nước trong cây ở dạng lỏng được rễ hấp thu từ đất, sau đó chuyển lên thân và cuối cùng thoát ra ngoài môi trường qua các cơ quan tiếp xúc với không khí, đặc biệt
là lá cây Đây chính là hiện tượng thoát hơi nước Sự mất nước tự nhiên chỉ xảy
ra qua các lổ nhỏ li ti trên bề mặt lá gọi là các tế bào khí khẩu Khí khẩu có thể đóng hoặc mở tuỳ theo điều kiện không khí thay đổi để điều chỉnh và giữ cho các phần của cây ở trạng thái ổn định
Sự thoát hơi nước tuỳ thuộc vào mức độ háo nước của hệ keo trong tế bào,
và cấu tạo và trạng thái của mô che, mức độ dập cơ học, độ ẩm và nhiệt độ của môi trường xung quanh, tốc độ chuyển động của không khí trong phòng, cách bảo quản và thời hạn bảo quản Khác với cây hoa đang sinh trưởng, hoa sau khi thu hoạch không thể thay thế nước mất đi bằng nước lấy từ đất, lượng nước mất
đi được bù đắp bằng lượng nước dự trữ trong cành, lá Nếu nguồn nước dự trữ
mà cạn kiệt do cuống hoa không hút được nước từ dung dịch cắm hoa thì cân bằng nước bị phá vỡ, biểu hiện bằng sự héo
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoa cắt
1.5.1 Nguyên liệu ban đầu
Để thời gian bảo quản hoa cắt cành được lâu dài, trước tiên yêu cầu hoa phải có chất lượng cao Điều này liên quan chặt chẽ đến các điều kiện trồng trọt trước thu hoạch như khí hậu, đất đai, mùa vụ, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…
Chất lượng hoa cắt cành còn phụ thuộc vào hàm lượng chất khô và hàm lượng ethylene do hoa sản sinh ra Nếu hoa có hàm lượng chất khô cao thì sẽ thuận
Trang 27lợi cho quá trình bảo quản Ngược lại, nếu hàm lượng chất khô trước thu hoạch thấp
sẽ hạn chế thời gian tồn tại tiếp theo của hoa cắt Sự sản sinh ethylene diễn ra ngay
cả khi hoa còn ở trên cây Hàm lượng ethylene do hoa sản sinh ra càng lớn sẽ làm tăng quá trình già hoá, làm cho hoa nhanh nở và chóng tàn
Điều kiện chăm sóc, đất trồng cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng và khả năng tồn trữ của hoa tươi Nếu bón quá nhiều urea thì lá mau thối Bón N-P-K không cân đối với nhu cầu sinh trưởng của cây hoa, thiếu các nguyên tố vi lượng đều làm giảm khả năng tồn trữ của hoa
1.5.2 Thời điểm thu hoạch
Mỗi loài hoa đều có thời điểm thu hoạch thích hợp Thời điểm này phụ thuộc vào giống, loài và mục đích sử dụng sau thu hoạch (như để bán ngay hay tồn trữ…) Hoa nếu thu hái sớm khi cuống còn non, hoa có thể không nở được hoàn toàn, hoa thu hái muộn quá thì lại chóng tàn
Hoa thu hoạch tốt nhất vào buổi sáng sớm, không thực hiện vào giữa trưa
vì lúc này nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh sẽ làm cho cành hoa héo tàn nhanh Sau khi cắt khỏi gốc hay rời khỏi cây mẹ, sự sống của cành hoa bắt đầu giảm dần vì khả năng hút chất dinh dưỡng, hút nước không còn nữa Hoa chỉ c hơi nước, do nấm hay vi khuẩn xâm nhập vào các tế bào mô làm thối rữa các msống được nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ còn lại trong cây, dần dần sẽ héo tàn do sự bó mạch dẫn truyền Vì vậy, phải nhanh chóng thực hiện các kỹ thuật phân loại và bảo quản
1.5.3 Kỹ thuật thu hoạch
Tùy theo loài hoa khác nhau sẽ có cách thu hoạch khác nhau Theo Trung tâm nghiên cứu khoa học Nông Vận (2010), hoa huệ thường được thu vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, thu lúc trời nắng hoặc để lâu không ngâm nước bông huệ sẽ bị hở yếm (phải vạt gốc lại và ngâm nước)
Cách thu hoạch bông: lần đầu thu dùng dao sắc cắt xéo bông gần sát củ
để nước không đọng trong cọng hoa dễ làm thối củ, lần thứ hai trở đi dùng chân giữ gốc huệ tay nắm cọng bông huệ ở phía dưới dặt mạnh ngang mặt đất, bông sẽ rời ngay khớp Nếu bông ngã bị cong phải buộc lại cho thẳng Nên ngâm bông
Trang 28vào nước sạch, không nên pha phèn chua vào nước để ngâm bông, vì bông huệ sẽ
bị nhầy gốc làm mau tàn Phân loại hoa ngay trong vườn để khi đưa vào hạn chể tránh làm dập hoa
1.5.4 Yếu tố ngoại cảnh
Theo Vũ Thị Hường (2009), trong quá trình bảo quản, chất lượng và tuổi thọ hoa cắt cành phụ thuộc vào các nhân tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, dịch hại…
- Nhiệt độ: nhiệt độ bảo quản có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ hoa cắt
Khi nhiệt độ bảo quản tăng sẽ làm tăng cường độ hô hấp, tăng sự thoát hơi nước, tăng sự sản sinh ethylene và nhanh chóng làm giảm chất lượng hoa Nếu nhiệt độ bảo quản quá thấp, hoa cắt sẽ chịu tác động xấu do lạnh: sự đóng băng dịch bào, chất lượng và tuổi thọ bảo quản hoa giảm Do đó, phải chọn nhiệt độ thích hợp
để bảo quản các loại hoa, mỗi loại hoa lại có khoảng nhiệt độ tối thích riêng
- Độ ẩm: trong phòng bảo quản nếu độ ẩm của không khí thấp sẽ thúc đẩy
sự thoát hơi nước của hoa làm hoa mau héo Vì vậy, cần bảo quản ở điều kiện độ
ẩm không khí cao (từ 80-90%) thì sự thoát ẩm chậm lại làm hạn chế quá trình hô hấp hiếu khí hoa có thể tồn trữ lâu hơn Tuy nhiên, nếu độ ẩm quá cao sẽ gây hiện tượng ngưng đọng ẩm trên cánh hoa tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc
dễ dàng phát triển
- Dịch hại: phòng bảo quản hoa và các dụng cụ cắm hoặc tồn trữ hoa (ống
nghiệm, ống đong, bình hoa, ) phải vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo chống sự xâm nhập của côn trùng, vi sinh vật gây hại
- Ánh sáng: dường như ánh sáng không có vai trò trong bảo quản hoa cắt
Tuy vậy ở hoa cúc, loa kèn,… khi bảo quản lạnh dài ngày thường thấy xuất hiện màu vàng của thân lá thay vì màu xanh Hiện tượng đó có thể khắc phục bằng cách chiếu sáng kho lạnh hoặc xử lý bằng các chất điều tiết sinh trưởng (gibberellin, cytokinin…) Theo Lê Văn Hòa (2009) lá của một vài giống như cúc, đỗ quyên, cúc tây và những giống khác có thể hóa vàng nếu tồn trữ trong tối
ở nhiệt độ ấm
Trang 291.6 Một số hóa chất được sử dụng trong bảo quản hoa cắt cành :
Đường sucrose
Đường sucrose là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu trong các chất bảo
quản hoa thường dùng hiện nay Tùy loại hoa và phương pháp xử lý mà hàm lượng đường có thể dao động từ 0,5÷20% Công thức hóa học của đường sucrose :
Khi còn ở trên cây, quá trình quang hợp tạo ra dinh dưỡng của cây và hoa vẫn được duy trì Nhưng khi bị cắt khỏi cây thì quá trình tự tổng hợp chất dinh dưỡng không được thực hiện, hoa phải sử dụng nguồn dinh dưỡng dự trữ, do đó hàm lượng đường trong hoa lúc này giảm dần Để cung cấp thêm cho hoa, dung dịch cắm có thể bổ sung thêm đường glucose hay đường sucrose
Ngoài ra, đường còn là nguồn năng lượng và chất nền của sự hô hấp Đường còn bảo vệ cấu trúc và chức năng của tế bào và tăng thời gian sống sau khi chiếu xạ cúc cắt cành Ngâm cành hoa trong dung dịch đường (2-5%) sẽ kích thích hoa nở, làm tăng số lượng hoa nở và thời gian sống của hoa Giả pháp này rất hiệu quả trên một vài cây trồng có hoa khó nở sau khi cắt, kích thích nở hoa cúc, hoa lay-ơn và đặc biệt là hoa cẩm chướng cắt cành khi cây còn non Theo
khảo sát của Pun và ctv., (2005) về ảnh hưởng của nồng độ đường sucrose khác
nhau từ 0 - 7,5% cho thấy nồng độ 5% là thích hợp nhất cho đời sống hoa cắt cành và hạn chế hô hấp ở cánh hoa
Hình 1.2 công thức cấu tạo của sucrose
Trang 30 Acid citric
Acid citric là một acid hữu cơ yếu, đây là một chất bảo quản tự nhiên và cũng được sử dụng để bổ sung vị chua cho thực phẩm hay các loại nước ngọt Trong hóa sinh học, acid citric cũng được coi là tác nhân làm sạch tốt về mặt môi trường và đóng vai trò là một chất chống ôxi hóa. Acid citric tồn tại trong một loạt
các loại rau quả, chủ yếu là các loại trái của chi Citrus
Acid citric là chất cơ bản làm mềm nước là thành phần không thể thiếu trong dung dịch dinh dưỡng gồm acid, nước, đường và sodium hoặc potassium benzoate (Nell và Reid, 2000) Sử dụng acid citric để điều chỉnh pH = 3,5 - 5,5 sẽ làm giảm quá trình oxi hóa, khống chế sự phát triển của vi khuẩn, làm giảm bạc màu của thân
Khi thu hoạch, thân hoa bị cắt tạo thành vết thương, từ đó vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhiễm, gây tắt nghẽn bó mạch làm hoa không hút được nên bị héo Để giảm tác hại của vi sinh vật có thể sử dụng nước sạch bổ sung acid citric
để dung dịch bảo quản hoa có giá trị pH = 3 - 3,5 nhằm ngăn cản sự phát triển của nấm, vi khuẩn (Nguyễn Thu Huyền, 2006)
Siver thiosulphate (STS)
Từ những năm 1970, người ta đã biết ion bạc (Ag+) có tác dụng ức chế hoạt động của ethylene Trước khi đóng gói cho cành hoa hấp thu Ag+ từ dung dịch STS làm tăng đời sống của hoa lên đến 2 lần Việc xử lý này có tác dụng tốt cho nhiều loài hoa mẫn cảm với ethylene Những nghiên cứu khác cũng cho thấy,
Hình 1.3 công thức cấu tạo của acid citric
Trang 31việc phun dung dịch STS cũng có tác dụng tốt và đã được ứng dụng rộng rãi trong thương mại (Lê Văn Hòa, 2009)
1.7 Tình hình nghiên cứu hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) trên thế giới:
Kỹ thuật trồng và thời vụ trồng cũng ảnh hưởng đến chất lượng của hoa
Theo Asif và ctv., (2001) khi nghiên cứu về hoa huệ đã kết luận rằng thời gian
trồng tốt nhất của hoa huệ cho tăng trưởng tốt và sản xuất hoa cắt cành tốt nhất cho các loại hoa thân hành dao động từ tuần cuối cùng của tháng Ba và tuần đầu tiên của tháng Tư theo điều kiện sinh thái nông nghiệp Faisalabad Ali (2002) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của tia gamma trên những đặc điểm thực vật và hoa của hoa huệ
đã kết luận rằng cường độ bức xạ thấp cho kết quả tốt hơn cường độ bức xạ cao về
sự tăng trưởng, chiều cao cây, số nụ hoa, số lượng lá, ngoại trừ chất lượng của hoa
Ngoài ra, Khalaj và ctv., (2007) khi nghiên cứu về hiệu lực của nồng độ nitơ và
khoảng cách giữa những luống trồng hoa huệ đã nhận thấy có sự ảnh hưởng quan trọng đến chiều dài cành, đường kính hoa, số lượng hoa và đời sống cắm bình hoa
Bên cạnh đó, đã có một số nghiên cứu về bảo quản hoa huệ trắng cắt cành đã
được công bố trên thế giới Anjum và ctv (2001), đã chỉ ra rằng, CaCl2.2H2O tỏ ra hiệu quả hơn trong việc làm chậm quá trình lão hóa cánh hoa và rụng cánh hoa, tri-Miltox Forte có tác dụng duy trì hương thơm của hoa trong một thời gian dài hơn
Suyanti (1999) khi nghiên cứu về ảnh hưởng một số hóa chất lên đời sống cắm bình của hoa huệ cho thấy, đường 4 % + 200 ppm Sodium Meta Bisulfit +
500 ppm acid citric nâng cao đời sống bình cây hoa huệ đến 12 ngày và sự tươi mát của hoa có thể được tăng lên 4,16 lần
Theo Jowkar (2003), STS gây ra cháy đọt nghiêm trọng Acid citric với nước cất khử trùng đã có một tác dụng mong muốn về kéo dài thời gian tồn trữ
của hoa huệ Hutchinson và ctv (2003), đã có kết luận rằng STS giúp cải thiện
lớn nhất về cuộc sống cắm bình của hoa huệ, dài hơn so với dùng dung dịch sucrose và tỷ lệ hoa nở là 88 %
Trang 321.8 Phương pháp đánh giá cảm quan
Phương pháp đánh giá cảm quan là phương pháp khoa học được sử dụng để đánh giá, đo đạc, phân tích và giải thích cảm giác đối với các sản phẩm vốn được nhận biết thông qua các giác quan: thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác và thính giác Việc phân tích đánh giá cảm quan được sử dụng để xác định các đặc tính của sản phẩm khác nhau cũng như sự chấp nhận của người tiêu dùng về sản phẩm Đây
là một phần của một loạt các thử nghiệm lớn hơn, bao gồm các xét nghiệm hóa chất, giác quan và khách quan (Stone và Side, 1993)
Theo Dương Thị Phượng Liên (2010), mục đích đánh giá cảm quan bằng
cách cho điểm chỉ tiêu sản phẩm theo sở thích của người tiêu dùng Hội đồng đánh
giá thường gồm 10 – 20 thành viên, số mẫu khoảng 20 – 25 mẫu đã được ghi mã số Quy trình thực hiện là mỗi thành viên nhận được một số mẫu ghi mã số Yêu cầu cho điểm những mẫu trên về một chỉ tiêu cảm quan nào đó theo thang điểm mô tả
Hà Tuyên Dư (2006) đã giới thiệu một số phương pháp đánh giá cảm quan trên hoa, đặc biệt là phương pháp bằng đánh giá cảm quan theo phép thử cho điểm bằng cách chọn 10 người (5 nam, 5 nữ) quan sát hoa bảo quản ở các nghiệm thức khác nhau từ khi thu hoạch, bảo quản hoa hàng ngày để đánh giá cảm quan chung và đánh giá cảm quan riêng trên các chỉ tiêu độ lớn, độ héo và màu hoa theo phiếu đánh giá và cho điểm tương ứng
Trang 33CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: thí nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật, Bộ môn Sinh lý Sinh hóa, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ Nhiệt độ phòng thí nghiệm 26 - 31oC, độ ẩm tương đối của không khí là 75 - 85% Hoa huệ trắng bông kép được mua tại vườn nhà ông Nguyễn Văn Điền Địa chỉ: số 200/2, xã Phong Hòa, huyện Lai Vung, Tỉnh Đồng Tháp
- Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2011 đến tháng 4/2012
- Vật liệu thí nghiệm: hoa huệ trắng bông kép Hoa sau khi được thu hoạch không qua xử lý bất kì hóa chất nào và được chuyển nhanh về phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật, Bộ môn Sinh lý Sinh hóa, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường đại học Cần Thơ Hoa được chọn là những bông hoa đồng nhất, có chiều dài cành khoảng 70 cm, cành mập khoẻ, không sâu bệnh, không bầm dập để đảm bảo cho hoa có chất lượng cao nhất để tiến hành thí nghiệm
2.1.2 Thiết bị, dụng cụ, hoá chất
Thiết bị, dụng cụ: thước đo, cân kỹ thuật, pipet, ống nghiệm lớn nhỏ, cốc thuỷ tinh, nhiệt kế, nhiệt ẩm, máy đo pH, sổ ghi chép, băng keo, bông gòn chống thấm
Hoá chất: acid citric dùng để điều chỉnh pH nước, đường sucrose (đường Biên Hòa, Việt Nam), silver thiosulfate (STS)
Dung dịch STS được pha chế theo công thức tham khảo được từ trang web: www.phytotechlab.com Cách pha cụ thể như sau:
- Chuẩn bị 0,1 M thiosulfate bằng cách hòa tan 1g sodium thiosulfate pentahydrate (Na2S2O3.5H2O) trong 40 ml nước cất
- Chuẩn bị 0,1 M bạc bằng cách hòa tan 0,68 g silver nitrate (AgNO3) trong 40 ml nước cất
Trang 34Dùng pipet hút và nhỏ từ từ 10 ml dung dịch nitrate (AgNO3) 0,1 M vào
40 ml dung dịch sodium thiosulfate 0,1 M (theo tỷ lệ 1:4) ta sẽ được 50 ml dung dịch STS 0,02 M (có công thức hóa học là [Ag(S2O3)2]3- Do nguồn hóa chất từ Trung Quốc nên trong thành phần hóa học của sodium thiosulfate pentahydrate (Na2S2O3.5H2O) có chứa một lượng nhỏ chì gây hiện tượng kết tủa đen (với một
tỷ lệ rất nhỏ), chính vì vậy, sau khi thấy xuất hiện kết tủa đen thì dùng giấy lọc để lọc bỏ đi phần kết tủa này Dung dịch STS còn lại có nồng độ 0,02 M được dùng làm dung dịch mẹ để pha ra các nồng độ (4 ppm, 8 ppm)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chất lượng và thời
gian bảo quản hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) sau thu hoạch
Mục đích: xác định thời điểm thu hoạch hoa huệ thích hợp nhằm duy trì chất
lượng của hoa huệ cắt cành sau thu hoạch
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên
gồm 4 nghiệm thức mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp lại mỗi lần lặp lại là 3 cành hoa
Nghiệm thức 1: nụ hoa sắp nở (có nụ màu trắng)
Nghiệm thức 2: 2 hoa nở/cành
Nghiệm thức 3: 4 hoa nở/cành
Nghiệm thức 4: 6 hoa nở/cành
Cách thực hiện: hoa huệ sau khi thu hái được chuyển nhanh về phòng thí
nghiệm Hoa được rửa sạch phần gốc và đặt vào chậu nước, cắt bỏ khoảng 10 - 15
cm, cắt xéo 300 để cho bề mặt cành hoa tiếp xúc nhiều hơn với dung dịch bảo quản Loại bỏ những lá dưới thấp giữ lại 2 cặp lá không mang hoa trên cùng Hoa được cắm vào ống nghiệm chứa 50 ml nước cất Dùng bông gòn chống thấm để
cố định cành hoa và hạn chế sự bay hơi Tiến hành đánh giá chỉ tiêu và theo dõi mỗi ngày (các chỉ tiêu theo dõi trình bày ở Mục 2.2.2)
Trang 35Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng pH nước đến thời gian bảo quản hoa huệ
(Polianthes tuberosa L.) sau thu hoạch
Mục đích: xác định ngưỡng pH thích hợp để kéo dài thời gian bảo quản hoa huệ sau thu hoạch
Cách bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố gồm 6 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 3 cành hoa
Nghiệm thức 1: đối chứng nước cất (pH = 6,4)
300 để cho bề mặt cành tiếp xúc nhiều hơn với dung dịch bảo quản Loại bỏ những lá dưới thấp, giữ lại 2 cặp lá không mang hoa trên cùng Đặt trong ống nghiệm có chứa 50 ml dung dịch theo từng nghiệm thức Dùng bông gòn chống thấm để cố định cành hoa và hạn chế sự bay hơi Tiến hành đánh giá lấy chỉ tiêu
và theo dõi mỗi ngày (các chỉ tiêu theo dõi trình bày ở Mục 2.2.2)
Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của dung dịch xử lý sơ bộ đến thời gian bảo
quản hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) sau thu hoạch
Mục đích: tìm ra dung dịch xử lý sơ bộ tốt nhất sau 24 giờ, kết hợp cắm hoa trong dung dịch có pH = 4 + đường 3% (Nguyễn Thị Phan Thanh, 2012) sau khi xử lý sơ bộ nhằm kéo dài chất lượng và đời sống cắm bình của hoa huệ
Cách bố trí thí nghiệm: theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố, gồm
9 nghiệm thức là 9 dung dịch xử lý sơ bộ hoa huệ trước khi bảo quản
Trang 36 Nghiệm thức 1: đối chứng (nước cất)
Nghiệm thức 2: 10% đường sucrose
Nghiệm thức 3: 20% đường sucrose
Nghiệm thức 4: 4 ppm STS
Nghiệm thức 5: 8 ppm STS
Nghiệm thức 6: 4 ppm STS + 10% đường sucrose
Nghiệm thức 7: 4 ppm STS + 20% đường sucrose
Nghiệm thức 8: 8 ppm STS + 10% đường sucrose
Nghiệm thức 9: 8 ppm STS + 20% đường sucrose
Cách tiến hành: hoa huệ sau khi được thu hái thì được chuyển nhanh về phòng thí nghiệm Tiến hành: rửa sạch phần gốc bằng nước máy, cắt bỏ khoảng 10 - 15 cm, cắt xéo 300 để cho bề mặt cành tiếp xúc nhiều hơn với dung dịch bảo quản Loại
bỏ những lá dưới thấp, giữ lại 2 cặp lá không mang hoa trên cùng Sau đó, hoa được cắm trong bình tam giác có chứa 200 ml dung dịch thí nghiệm trong vòng
24 giờ (Hình 2.1) Sau khi cắm hoa trong dung dịch sơ bộ được 24 giờ cắt bỏ khoảng 5 cm phần gốc thân và đặt cho vào ống nghiệm với dung dịch đường sucrose 3% + pH = 4 Tiến hành đánh giá lấy chỉ tiêu và theo dõi mỗi ngày (các chỉ tiêu theo dõi trình bày ở Mục 2.2.2)
Hình 2.1 hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) được xử lý sơ bộ
Trang 372.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi:
Theo dõi và lấy chỉ tiêu cách ngày (cách một ngày lấy một lần) từ ngày thu hoạch cho đến khi hoa héo khô không còn giá trị thẩm mỹ và điểm đánh giá
cảm quan <15 điểm Lấy chỉ tiêu vào buổi sáng
Xác định tỷ lệ hoa nở thêm trên cành (%): hàng ngày đếm số lượng hoa nở
(chỉ tiêu đếm hoa nở như Hình 2.2) Tính theo (%) với công thức:
Xác định tỷ lệ hoa héo, rụng (%): hàng ngày đếm số lượng hoa héo, tính
theo (%) với công thức:
HQS: Tổng số hoa quan sát
Hình 2.2 Hình dáng hoa huệ được tính tỷ lệ hoa nở trong quá trình bảo quản hoa
huệ (Polianthes tuberosa L.) cắt cành
Trang 38 Xác định thời gian tồn trữ của hoa
Thời gian tồn trữ hoa sau thu hoạch được tính từ khi bắt đầu cắm vào dung dịch đến khi có hiện tượng hư hỏng (hoa bị héo, rụng, xuất hiện vàng lá, cánh có vết sẫm màu và tóp lại) và số hoa héo chiếm 1/3 tổng số hoa trên cành
Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%):
Dùng cân điện tử (Sartorius CP 423S) cân khối lượng hoa lúc thu hoạch và trong quá trình tồn trữ hoa huệ Trọng lượng được cân bao gồm trọng lượng của ống nghiệm, dung dịch và cành hoa
Tỷ lệ hao hụt trọng lượng được tính theo công thức:
Đánh giá cảm quan chất lượng hoa huệ theo thời gian tồn trữ
Phương pháp đánh giá được dựa theo phương pháp đánh giá cảm quan của Nguyễn Ngọc Ngân Khánh (2010) trên hoa hồng và có điều chỉnh cho hợp với hoa huệ trắng Chọn 10 người (5 nam, 5 nữ) quan sát hoa bảo quản ở các nghiệm thức khác nhau từ khi thu hoạch, bảo quản hoa hàng ngày để đánh giá cảm quan chung và đánh giá cảm quan riêng trên các chỉ tiêu độ lớn, độ héo và màu hoa theo Bảng 2.1
Trang 39Bảng 2.1 Bảng đánh giá cảm quan hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) cắt
Tình hình nấm bệnh: được theo dõi hàng ngày và ghi nhận nếu có
Tổng số điểm đánh giá riêng Dáng cành Màu hoa Độ héo
NT1
NT2
NT3
Trang 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến chất lượng và thời gian bảo
quản hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) cắt cành
3.1.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) của hoa huệ ở các thời điểm thu hoạch khác nhau
Tỷ lệ hao hụt trọng lượng của các nghiệm thức thu hoạch ở thời điểm nở hoa khác nhau tăng dần theo thời gian tồn trữ Ở thời điểm 3 ngày sau khi thu hoạch, các nghiệm thức đã có sự thay đổi trọng lượng Khối lượng hoa thay đổi tùy theo độ tuổi thu hoạch Thu hoạch hoa ở thời điểm 6 hoa nở/cành có tỷ lệ hao hụt trọng lượng cao nhất (7,57%), không khác biệt với nghiệm thức có 2 hoa nở/cành (5,67%) và 4 hoa nở/cành (5,63%) Nghiệm thức thu hoạch ở thời điểm
nụ hoa sắp nở có tỷ lệ hao hụt trọng lượng ít nhất (3,92%) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê với nghiệm thức 6 hoa nở/cành (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) hoa huệ sau thu hoạch ở các thời điểm thu hoạch khác nhau theo thời gian bảo quản
Trong cùng một cột những số có chữ kèm theo giống nhau không khác biệt ý nghĩa ở mức 5% qua kiểm định LSD *