BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ Luận văn kỹ sư Hoa viên và cây cảnh ĐỀ TÀI ẢNH HƯỞNG CỦA POTASSIUM CLORATE KCLO3 LÊN SỰ RỤNG LÁ Ở MAI TA VÀ MAI GIẢO VÀ KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG QU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MAI GIẢO (Ochna integerrima ) VÀ
KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA KÍCH THƯỚC NỤ HOA
VÀ THỜI ĐIỂM NỞ HOA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
Cần Thơ - 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MAI GIẢO (Ochna integerrima ) VÀ
KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA KÍCH THƯỚC NỤ HOA
VÀ THỜI ĐIỂM NỞ HOA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ HOA VIÊN VÀ CÂY CẢNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.Trần Văn Hâu
Cần Thơ - 2009
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Luận văn kỹ sư Hoa viên và cây cảnh
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA POTASSIUM CLORATE (KCLO3) LÊN SỰ RỤNG LÁ Ở MAI TA VÀ MAI GIẢO VÀ KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA KÍCH THƯỚC NỤ HOA
VÀ THỜI ĐIỂM NỞ HOA
Do sinh viên Phạm Thị Tố Lan thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2009
Cán bộ hướng dẫn
TS Trần Văn Hâu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn kỹ sư nông nghiệp với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA POTASSIUM CLORATE (KCLO 3 ) LÊN SỰ RỤNG LÁ
Ở MAI VÀNG VÀ MAI GIẢO VÀ KHẢO SÁT SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA
KÍCH THƯỚC NỤ HOA VÀ THỜI ĐIỂM NỞ HOA
Do sinh viên Phạm Thị Tố Lan thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức
Cần Thơ, ngày tháng năm 2009
Chủ tịch hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Phạm Thị Tố Lan
Trang 6LỜI CẢM TẠ Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
TS Trần Văn Hâu, người đã tận tình hướng dẫn, gợi ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
- Cô Trần Thị Thanh Thủy, giáo viên môn xác suất thống kê đã tận tình chỉ
dẫn tôi trong quá trình xử lý số liệu thí nghiệm
- Anh Triệu Quốc Dương, học viên cao học khóa 14 đã tận tình chỉ dẫn trong việc tiến hành thí nghiệm
- Các sinh viên Nguyễn Thị Quế Lê, Ngô Hoàng Tuấn, Lê Thành Phát đã hỗ trợ trong việc tiến hành thí nghiệm
- Anh Nguyễn Văn Đại đã cho những lời khuyên chân thành trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu
- Anh Trần Vũ Duy đã tích cực hỗ trợ tôi trong thời gian tiến hành thí nghiệm Xin chân trọng ghi nhớ những chân tình, sự giúp đỡ của bạn bè đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện thí nghiệm mà tôi không thể liệt kê trong trang cảm tạ này
Trang 7QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC:
Họ và tên: Phạm Thị Tố Lan Giới tính: nữ
Ngày , tháng, năm sinh: 05/06/1986 Dân tộc: kinh
Nơi sinh: xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Là con ông Phạm Văn Điện, sinh năm 1956, nghề nghiệp: làm ruộng và bà Phạm Thị Sạn, sinh năm 1961, nghề nghiệp: làm ruộng
Chỗ ở hoặc địa chỉ liên lạc: xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Trang 8Ngày tháng năm
Người khai ký tên KÍNH DÂNG
Cha, mẹ đã hết lòng nuôi con khôn lớn nên người
Thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành luận văn
Tất cả các thầy cô đã giảng dạy trong suốt 4 năm học, cùng tập thể lớp Hoa viên và cảnh khóa 31
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
2.1 Số liệu khí tượng tại đài khí tượng Cần Thơ từ tháng 10 năm
2007 đến tháng 2 năm 2008; (a) Lượng mưa (mm) và độ ẩm tương đối (%) hàng tháng; (b) Nhiệt độ trung bình hàng tháng (0C)
28
3.1 Tổng số lá rụng sau khi xử lý KClO3 trên mai Giảo tại Cần
Thơ, năm 2008
30
3.2 Biểu hiện của lá mai ở nồng độ 2,5‰ và 3‰ sau ngày xử lý
hóa chất; (a) Lá mai xuất hiện lớp màng phủ trắng, lá có hiện tượng khô, rìa lá hơi quăn, cháy nám nhẹ ở nồng độ 3‰; (b)
Lá mai non bị cháy nám trước khi rụng ở nồng độ 3‰; (c) Lá mai bị cháy nám nhẹ ở nồng độ 2,5‰; (d) Lá mai bị khô và có vết nám khi được xử lý KClO3 ở nồng độ 2‰ vào ngày thứ nhất sau khi phun hóa chất
31
3.3 Biểu hiện của lá mai đã rụng vào ngày thứ hai dưới ảnh hưởng
của KClO3, lá bị nám
31
3.4 Tốc độ rụng lá mai Giảo dưới ảnh hưởng của biện pháp xử lý
KClO3 ở các nồng độ khác nhau tại Cần Thơ, năm 2008
32
3.5 Chiều rộng hoa mai Giảo dưới biện pháp xử lý KClO3 ở các
nồng độ khác nhau tại Cần Thơ, năm 2008
34
3.6 Nụ mai Giảo tăng trưởng bình thường ở nghiệm thức 2,0‰
vào ngày thứ 2 sau khi xử lí hóa chất tại Cần Thơ, năm 2008
35
3.7 Tổng tỷ lệ nụ hoa mai Giảo bung vỏ trấu sau khi xử lý hóa
chất tại Cần Thơ, năm 2008
36
3.8 Tốc độ bung vỏ trấu của mai Giảo sau ngày xử lý hóa chất tại 36
Trang 10Cần Thơ, năm 2008 3.9 Tốc độ hoa mai Giảo nở dưới ảnh hưởng của biện pháp xử lý
KClO3 sau ngày xử lý hóa chất tại Cần Thơ, năm 2008
38
3.10 Tổng số lá rụng dưới ảnh hưởng của biện pháp xử lý KClO3 ở
nồng độ khác nhau tại Cần Thơ, năm 2008
40
3.11 Tốc độ rụng lá mai Vàng dưới ảnh hưởng của nồng độ KClO3
tại Cần Thơ, năm 2008
41
3.12 Biểu hiện của lá mai Vàng vào ngày thứ hai sau khi xử lí hóa
chất KClO3 tại Cần Thơ; (a) Lá bị cháy nám dữ dội, có hiện tượng khô héo; (b) Lá bị cháy rìa
41
3.13 (a) nụ hoa mai Vàng phát triển bình thường ở ngày thứ hai sau
khi xử lí hóa chất ở nồng độ 2,5‰; (b) nụ hoa mai Vàng phát triển bình thường ở ngày thứ năm sau khi xử lí hóa chất ở nồng độ 3‰
43
3.14 Chiều rộng hoa mai Vàng (cm) dưới biện pháp xử lý KClO3 ở
các nồng độ khác nhau tại Cần Thơ, năm 2008
44
3.15 Tổng tỷ lệ (%) nụ hoa bung vỏ trấu ở mai Vàng sau khi xử lý
hóa chất KClO3 tại Cần Thơ, năm 2008
46
3.16 Tốc độ bung vỏ trấu của mai Vàng đươi ảnh hưởng của hóa
chất KClO3 tại Cần Thơ, năm 2008
46
3.17 Tổng (%) tỷ lệ hoa mai Vàng nở ở các nồng độ KClO3 sau khi
xử lý hóa chất tại Cần Thơ, năm 2008
48
3.18 Tốc độ nở hoa ở mai Vàng dưới ảnh hưởng của nồng độ
KClO3 sau khi xử lý hóa chất tại Cần Thơ, năm 2008
49
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
2.1 Kích thước nụ hoa mai Giảo tại vườn mai 69, Cần Thơ
trước khi phun hóa chất ở 4 nghiệm thức
22
2.2 Kích thước nụ mai Vàng tại trại thực nghiệm trường đại
học Cần Thơ trước khi tiến hành phun hóa chất
23
3.1 Ảnh hưởng nồng độ KClO3 lên quá trình nở hoa của mai
Giảo tại Cần Thơ, năm 2008
34
3.2 Ảnh hưởng của nồng độ KClO3 lên tỷ lệ (%) hoa nở qua
các ngày sau khi xử lý hóa chất tại Cần Thơ, năm 2008
37
3.3 Ảnh hưởng của nồng độ Potassium Chlorate đến quá trình
nở hoa của mai Vàng tại Cần Thơ, năm 2008 (ngày lặt lá 15-12al)
43
3.4 Chiều dài (cm), chiều rộng (cm) và thời gian nụ mai Giảo
bung vỏ trấu tại Cần Thơ, năm 2008
53
3.5 Chiều dài (cm), chiều rộng (cm) và thời gian hoa mai
Giảo nở tại Cần Thơ, năm 2008
54
Trang 12Phạm Thị Tố Lan 2009 Ảnh hưởng của Potassium Chlorate lên sự rụng lá mai
Giảo và mai Vàng Khảo sát sự tương quan giữa kích thước nụ hoa với thời điểm nở hoa Luận văn tốt nghiệp kỹ sư hoa viên và cây cảnh Trường Đại học Cần Thơ Tp Cần Thơ 57trang.
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của Potassium Chlorate lên sự rụng lá mai Giảo và mai Vàng Khảo sát sự tương quan giữa kích thước nụ hoa với thời điểm nở hoa” được tiến hành nhằm tìm được nồng độ KClO3 thích hợp để gây rụng lá mai Giảo và mai Vàng nhưng không làm ảnh hưởng đến hoa, đồng thời tìm sự tương quan giữa kích thước nụ hoa với thời gian nụ bung và thời gian hoa nở Thí nghiệm được bố trí tại vườn mai 69, phường An Hòa, thành phố Cần Thơ và tại trại nghiên cứu thực nghiệm trường Đại học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ với 3 nghiệm thức tương ứng với 3 mức nồng độ của KClO3 và nghiệm thức đối chứng (lặt lá bằng tay), mỗi nghiệm thức có 5 lần lặp lại, mỗi lặp lại tương ứng với một cây trên cả hai giống mai Phun hóa chất vào lúc sáng sớm (khoảng 7 giờ 30 phút), trong lúc phun ta di chuyển những cây phun đến vị trí khác để tránh ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Đếm số lá ban đầu và số lá còn lại trên cây rồi suy ra số lá rụng mỗi ngày cho đến ngày 15/12 âm lịch ta tiến hành lặt hết lá ở cả 4 nghiệm thức Kết quả thí nghiệm cho thấy trên mai Giảo hóa chất gây rụng lá vào ngày thứ hai sau khi xử lý, gây rụng hiệu quả nhất là ngày thứ ba sau khi xử lý hóa chất, nồng độ 3‰ gây hiệu quả rụng cao nhất Hóa chất không làm ảnh hưởng đến thời gian nụ hoa bung vỏ trấu, thời gian hoa nở và thời gian hoa tàn, kích thước hoa, cũng như không làm ảnh hưởng đến chất lượng hoa Nồng độ 2‰ cho tỷ lệ nụ bung, tỷ lệ hoa nở gần như tương đương với nghiệm thức đối chứng, trong khi nồng độ 3‰ và 2,5‰ có tỷ lệ nụ bung và tỷ lệ hoa nở kém hơn rất nhiều Trên mai Vàng hóa chất gây rụng vào ngày thứ hai sau khi xử lý, gây rụng hiệu quả nhất vào ngày thứ ba, nồng độ 3‰ cho tỷ lệ
Trang 13lá rụng cao nhất Hóa chất không gây ảnh hưởng đến thời gian nụ bung vỏ trấu, thời gian hoa nở, thời gian hoa tàn, kích thước hoa và chất lượng hoa Nồng độ 2‰ và 3‰ cho tỷ lệ nụ bung và tỷ lệ hoa nở là cao nhất Kích thước nụ hoa không ảnh hưởng đến thời gian nụ hoa bung vỏ trấu, thời gian hoa nở Qua đó tôi đề nghị rằng
có thể áp dụng qui trình xử lý rụng lá mai Giảo và mai Vàng như sau: phun KClO3
vào lá ở nồng độ 2‰ trước ngày rằm tháng chạp 4 ngày Cần tiến hành thí nghiệm thêm để có kết quả chính xác hơn
Trang 14MỤC LỤC
Trang
Danh sách hình viii
Danh sách bảng x
Tóm lược xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG MỘT: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Nguồn gốc và sự phân bố 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Sự phân bố 2
1.2 Đặc điểm sinh học của cây mai Vàng 2
1.2.1 Rễ 2
1.2.2 Thân 3
1.2.3 Lá 3
1.2.4 Hoa 3
1.2.5 Trái và hạt 4
1.3 Phân loại 4
1.4 Môi trường sống của cây mai 5
1.4.1 Nhiệt độ 5
1.4.2 Ánh sáng 5
1.4.3 Khí hậu thời tiết 6
1.4.4 Ảnh hưởng bởi sức gió 6
1.4.5 Đất trồng mai 6
1.5 Chăm sóc cho mai 7
1.5.1 Tưới nước 7
1.5.2 Bón phân cho mai 7
Trang 151.5.3 Diệt cỏ 7
1.6 Sự phát triển hoa ở thực vật 8
1.6.1 Nguồn gốc và sự hình thành hoa 8
1.6.2 Cảm ứng hình thành hoa 8
1.6.2.1 Sự cảm ứng hình thành hoa bởi nhiệt độ (sự xuân hóa) 8
1.6.2.2 Cảm ứng ra hoa bởi ánh sáng 10
1.7 Phòng trừ sâu bệnh 12
1.7.1 Côn trùng 12
1.7.1.1 Bọ trĩ (Stenchaetothrips biformis), nhện đỏ (Panonychus citri) 12
1.7.1.2 Rầy bông (Idioscopus niveosparsus) 12
1.7.1.3 Sâu đục thân (Scirpophaga incertulas) 12
1.7.1.4 Sâu nái (Parasa lepida) 13
1.7.1.5 Sâu tơ (Plutella xylostella) 13
1.7.2 Nấm bệnh hại mai 13
1.7.2.1 Nấm hồng 13
1.7.2.2 Bệnh cháy lá 13
1.8 Qui trình nở hoa của mai 14
1.9 Một số kỹ thuật để mai ra hoa đúng Tết 14
1.9.1 Để cây mai nở sớm 14
1.9.2 Để cây mai nở trễ 15
1.10 Sự rụng lá 15
1.10.1 Giải phẫu học của sự rụng 16
1.10.2 Sinh lý của sự rụng 17
1.10.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ, oxygen và dinh dưỡng 17
1.10.2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lê sự rụng 18
1.11 Potassium chlorate 19
1.11.1 Đặc tính của Potassiun chlorate 19
1.11.1 Biện pháp xử lý 20
1.11.2 Tác động bất lợi của chlorate kali 20
CHƯƠNG HAI : PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 22
Trang 162.1 Phương tiện 22
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm 22
2.1.2 Hóa chất 23
2.1.3 Dụng cụ thí nghiệm 23
2.1.4 Địa điểm thí nghiệm 23
2.1.5 Thời gian thí nghiệm 23
2.2 Phương pháp 24
2.2.1 Nội dung một : Ảnh hưởng của cac mức nồng độ KclO3 lên sự rụng lá mai Giảo và mai Vàng 24
2.2.1.1 Mục tiêu thí nghiệm 24
2.2.1.2 Phương pháp thí nghiệm 24
2.2.1.3 Cách phun 25
2.2.1.4 Cách thu mẫu 25
2.2.1.5 Chỉ tiêu theo dõi 25
2.2.2 Nội dung hai : Khảo sát sự tương quan giữa kích thước nụ hoa với thời điểm nở hoa 26
2.2.2.1 Mục đích 26
2.2.2.2 Phương pháp khảo sát 26
2.2.3 Qui trình chăm sóc 27
2.2.4 Số liệu khí tượng 27
2.3 Xử lý số liệu 28
CHƯƠNG BA : KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29
3.1 Ảnh hưởng của nồng độ KClO3 lên sự rụng lá mai Giảo 29
3.1.1 Sự rụng lá 29
3.1.2 Qui trình nở hoa 32
3.1.3 Tỷ lệ (%) nụ hoa bung vỏ lụa 35
3.1.4 Tỷ lệ (%) hoa nở 36
3.2 Ảnh hưởng của nồng độ KClO3 lên sự rụng lá mai Vàng 39
3.2.1 Sự rụng lá 39
3.2.2 Qui trình nở hoa 41
Trang 173.2.3 Tỷ lệ (%) nụ hoa bung vỏ lụa 44
3.2.4 Tỷ lệ (%) hoa nở 46
3.3 Thảo luận chung 50
3.4 Phân tích sự tương quan giữa kích thước nụ hoa và thời điểm nở hoa 52
3.4.1 Sự tương quan giữa kích thước nụ hoa với thời gian nụ hoa bung vỏ lụa kể từ ngày lặt lá 52
3.4.2 Sự tương quan giữa kích thước nụ hoa với thời gian hoa nở kể từ ngày lặt lá 53
CHƯƠNG BỐN : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55
4.1 Kết luận 55
4.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 18MỞ ĐẦU
Cây mai là một trong những cây quan trọng luôn có mặt trong ngày tết cổ truyền của người Việt Nam Với sắc hoa vàng rực rở mai tượng trưng cho sự giàu sang, may mắn và hạnh phúc, những điều mà ai cũng hằng mơ ước và mong đợi trong cuộc sống này Đó là lý do khiến người người ngày càng thêm yêu quí và trân trọng cây mai hơn nữa
So với thời kỳ ông cha ta ngày trước, quả thật hình ảnh và giá trị của cây mai
rõ ràng đã có vị thế hơn rất nhiều lần Ngay cả thị trường mai kiểng ngày nay cũng
đã sôi động hơn, do đó cây mai ngày càng được các nhà vườn đầu tư phát triển và
mở rộng diện tích trồng để có thể đáp ứng được nhu cầu chơi mai trong và ngoài nước
Để có một cây mai hoàn hảo: ra hoa đúng ngày, nở nhiều hoa và phải lâu tàn thì đòi hỏi người nghệ nhân không chỉ nắm được đặc điểm của từng loại mai mà các khâu kỹ thuật như bón phân, thay chậu, tưới nước, làm cỏ và đặc biệt để mai nở một cách đồng đều, nhiều hoa và phải nở đúng ngày tết thì khâu lặt lá mai phải được thực hiện một cách đồng bộ, tránh làm rải rác và thời gian được canh rất cẩn thận Những năm thời tiết không thuận lợi thì việc mai trổ sớm hơn hoặc lặt lá rồi mà vẫn chậm nở hoa, gây thất thu lớn cho các chủ vườn
Với một diện tích lớn, số lượng mai nhiều thì việc lặt hết lá trong một ngày rất khó, nhà vườn có thể mướn nhân công nhưng sẽ tốn chi phí và thời gian rất nhiều và
họ chưa từng sử dụng hóa chất để làm rụng lá mai cũng như chưa từng để ý đến kích thước nụ hoa có thể giúp canh thời gian lặt lá tốt hơn do đó để có thể giúp nhà vườn đở tốn chi phí hơn mà vẫn có thể giúp cây mai ra hoa đồng loạt, đúng ngày, hoa vẫn đẹp; đề tài “ảnh hưởng của Potassium Clorate lên sự rụng lá mai Vàng và mai Giảo và khảo sát sự tương quan giữa kích thước nụ hoa và thời điểm nở hoa ở mai Giảo” được tiến hành nhằm tìm ra nồng độ thích hợp của hóa chất lên sự rụng
lá mai mà vẫn không ảnh hưởng đến nụ, sự trổ hoa, sự sinh trưởng, đồng thời có thể xác định khoảng kích thước của nụ để biết được thời gian có thể tiến hành lặt lá giúp mai ra hoa đúng ngày
Trang 19CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ 1.1.1 Nguồn gốc
Cây mai vàng có tên khoa học là Ochna integerrima còn gọi là Huỳnh mai, thuộc họ lão mai Ochnaceae (Trần Hợp, 2003 và Phạm Văn Duệ, 2005) Theo sự
tích để lại cây mai vàng bắt đầu được coi là hoa tết truyền thống ở miền Nam nước
ta từ thời chúa Nguyễn mở đất phương Nam, cách đây 300 năm (Phạm Văn Duệ, 2005) Theo Việt Chương (2000) xuất xứ của cây mai vốn là cây hoa rừng hoang dại, thích hợp khí hậu nhiệt đới
1.1.2 Sự phân bố
Theo Trần Hợp (2002) cây mai phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á nhiệt đới như Ấn Độ, Myanma, Thái Lan, Malaysia, Nam Trung Quốc, Việt Nam,… Quan sát trong tự nhiên trên lãnh thổ Việt Nam, cây mai vàng mọc hoang dại ở rất nhiều nơi, khu vực phân bố chủ yếu kéo dài từ Huế trở vào Nam Cây mai có thể phát triển được ở những vùng đất có điều kiện thổ nhưỡng khác nhau, như vùng núi cao, đồng bằng hoặc ven biển, có những lòai còn phát triển được ở những vùng đất cát ven biển như cây mai biển vùng Cam Ranh – Khánh Hòa (Thái Văn Thiện, 2007)
1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÂY MAI VÀNG 1.2.1 Rễ
Rễ là cơ quan dinh dưỡng dưới đất của cây, có chức năng hấp thu nước và các muối khoáng hòa tan trong đó, và giữ chặc cây vào đất (Nguyễn Bá, 1978)
Ngoài rễ cái ra cây mai còn có vô số rễ bàng mọc tua tủa quanh đoạn cổ rễ, có nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng trong tầng đất mặt để nuôi cây (Việt Chương, 2000) Theo Huỳnh Văn Thới (2005) rễ mai là thành phần nằm sâu trong đất, rất cứng, rất dòn
Trang 201.2.2 Thân
Theo Huỳnh Văn Thới (2005) thì mai thuộc cây đa niên, thân xù xì, cành nhánh nhiều Cây gỗ nhỡ cao 3-7 mét, cành nhánh thưa dài, mảnh (Trần Hợp, 2000) Còn theo Phạm Văn Duệ (2005) thì mai có thân cây bụi gỗ nhỏ, cao 2-7 mét,
vỏ cây màu nâu vàng
1.2.3 Lá
Lá thưa thường xanh (để có hoa nở rộ thường cắt bớt lá vào mùa có nụ).Lá đơn, mọc cách, mềm, xanh nhạt bóng, mép có gân cưa nhỏ (Trần Hợp, 2000) Theo Phạm Văn Duệ (2005) mai có lá đơn, mọc đối, mặt trên nhẵn, mạt dưới thô, không
có lông, dày, mép lá có gân cưa nhỏ, thuộc loại cây rụng lá và ra hoa đẹp vào cuối mùa đông, đầu xuân
Ở thực vật có hạt người ta còn phân biệt ra các kiểu lá khác nhau về hình dạng, cấu tạo và chức năng Người ta thường chia ra lá dinh dưỡng, lá phía dưới, lá phía trên và lá mầm (Nguyễn Bá, 1978) Đến nay, chúng ta đã biết rằng: cơ quan làm nhiệm vụ quang hợp ở thực vật chủ yếu là lá Chính vì vậy lá có những đặc điểm đặc biệt về hình thái, cũng như cấu tạo giải phẫu thích hợp với chức năng quang
hợp (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
1.2.4 Hoa
Nếu như hoa được xem như là chồi biến dị thì các thành phần của nó cũng là cấu tạo của lá (Nguyễn Bá, 1978) Sự hình thành hoa là dấu hiệu của việc chuyển cây từ giai đoạn sinh trưởng, phát triển dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng, phát triển sinh sản bằng việc chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm
hoa (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Hoa mai thường mọc ra từ nách lá, mới đầu là một hoa to gọi là hoa cái có vỏ lụa “vỏ trấu” bọc bên ngoài Mỗi hoa bên ngoài có 5 đài màu xanh, bên trong có 5 cánh màu vàng, ở giữa là một chùm nhụy mang phấn màu đậm hơn (Huỳnh Văn Thới, 2005)
Trang 21Theo Trần Hợp (2003) cụm hoa hình chùy, mọc ở nách lá hay đầu cành, cuống chung dài khoảng 1 cm, có đốt gần gốc Mỗi hoa có cuống dài từ 1-3 cm Cánh đài hình trứng hay mũi mác, thường dính tới lúc hoa nở Cánh tràng màu vàng, hình mác, tù hay tròn ở đỉnh Nhị nhiều, chỉ nhị dài bằng hay ngắn hơn bao phấn Bầu 10-12 dính trên một đĩa Vòi dài hơn nhị, đầu 5 thùy
Theo Phạm Văn Duệ (2005) hoa có 5 cánh đài màu xanh, 5-8 cánh tràng hoa mỏng màu vàng có sáp, dễ rụng Hoa mai còn cất dầu thơm chửa bỏng nước, uống chửa ngứa, phơi khô chửa ho suyễn
1.2.5 Trái và hạt
Quả mai có nhiều hạch nhỏ, không cuống xếp quanh đế hoa (Trần Hợp, 2000) Quả có nhân cứng đen, 7-10 quả chụm quanh một đế hoa (Phạm Văn Duệ, 2005) Theo Huỳnh Văn Thới (2005) hoa nào đậu thì bầu noãn phình to lên và kết hạt, hạt non màu xanh, hạt già màu đen, hạt chín rụng xuống đất mọc lên cây con
1.3 PHÂN LOẠI
Theo Đặng Phương Trâm (2005) có nhiều giống mai, phân biệt ở màu sắc (vàng tươi, vàng sẫm, trắng, xanh…) kích thước hoa, cấu trúc hoa (cánh đơn hay cánh kép, cánh tròn hay cánh hở)
+ Các giống mai thường gặp như mai sẽ, mai châu, mai cánh nhọn, mai cánh tròn, mai cánh dún…
+ Các giống mai đẹp có giá trị như mai liễu có cành rủ tha thướt, mai giảo Thủ Đức, mai 12 cánh Bến Tre, mai cúc Thủ Đức, mai Huỳnh Tỷ, mai Ba Bi, mai Gò Đen 48 cánh…
+ Mai đột biến như mai vàng viền đỏ, mai vàng lá trắng hay mai màu cam, màu kem…
Huỳnh Văn Thới (2005) phân loại mai như sau:
+ Mai vàng thường gồm có mai vàng 5 cánh, mai sẽ, mai châu, mai liễu, mai chùm gởi, mai thơm, mai hương, mai ngự, mai cánh nhọn, mai cánh tròn, mai cánh
Trang 22dún, mai rừng Cà Ná, mai rừng Bình Châu, mai Vĩnh Hảo, mai Chủy Hốc Môn, mai
lá quắn, mai vàng lá trắng, đài hoa có sọc xanh của ông Ba Thật
+ Mai vàng nhiều cánh gồm có mai 9 cánh, mai giảo 12 cánh Thủ Đức, mai 12 cánh Bến Tre, mai 18 cánh Bến Tranh, mai 12-14 cánh Tư Giỏi, mai 24 cánh Cửu Long, mai cúc 24 cánh Thủ Đức, mai 32 cánh Ba Bi, mai 24 cánh Huỳnh Tỷ, mai
24 cánh 9 Đợi, mai 48 cánh Gò Đen, mai 120-150 cánh Bến Tre
+ Mai vàng nhiều cánh đột biến gồm có các loại sau mai 12-15 cánh, mai
18-20 cánh, mai 36-40 cánh, mai 70-80 cánh
+ Mai vàng khác như mai vàng viền đỏ, mai vàng lá trắng, hồng diệp mai
1.4 MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA CÂY MAI 1.4.1 Nhiệt độ
Theo Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh (2007) thì thích hợp với mai nhất là những vùng đất có khí hậu nhiệt đới ấm áp, đặc biệt là khi được trồng ở miền Nam nước ta là nơi có nhiệt độ trung bình từ 25-30o
C mới thật sự là môi trường lý tưởng nhất cho mai không ngừng phát triển Ở những vùng có khí hậu mát lạnh dưới 10o
C thì mai sinh trưởng kém (Việt Chương, 2000) Nên đem trồng ở miền Bắc thì ra hoa trễ, sau tết (Huỳnh Văn Thới, 1998)
1.4.2 Ánh sáng
Cây mai có đặc điểm ưa sáng, chịu được nắng nên đối với những khu đất trồng
có nhiều cây to tán lá rậm rạp che mất ánh sáng mặt trời lại không phải là nơi phù hợp để trồng hoặc lập một vườn mai (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007) Theo Việt Chương (2000) thì số giờ nắng trên dưới 2.000 giờ trong năm tại Nam bộ thích hợp với sự sinh trưởng của cây mai Nếu thời gian chiếu sáng ít hơn 1.000 giờ/năm cây mai sẽ hình thành nụ kém, cành nhánh phát triển yếu ớt, lóng dài, lá mỏng thiếu diệp lục (Thái Văn Thiện, 2007)
Trang 231.4.3 Khí hậu thời tiết
Cây mai rất thích nghi với điều kiện khí hậu nắng ấm Những nước lân cận chúng ta như Lào, Thái Lan, Campuchia cũng có sự hiện diện của cây mai ở rất nhiều nơi, thậm chí chúng còn có thể tồn tại được ở những vùng có điều kiện thời tiết cuối năm rất lạnh gần giống như miền Bắc Việt Nam hay Bắc Thái Lan.Ở những nơi có điều kiện thời tiết lạnh và có sự chênh lệch nhiệt độ lớn theo mùa thì hoa của nó nở muộn hơn, có thể kéo dài đến tháng 4-5 khi tiết trời đã nắng ấm lên nhiều.Điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho cây mai phát triển tốt là nắng ấm, mưa nhiều như ở khu vực miền Nam Việt Nam (Thái Văn Thiện, 2007)
1.4.4 Ảnh hưởng bởi sức gió
Cây mai không ngã đổ, trốc gốc vì gió to do có rễ cái khá dài (với cây già lão
rễ cái dài hơn 1 mét) cắm sâu vào lòng đất để giữ thế đứng cho cây Mai chỉ thích hợp với những vùng có gió nhẹ, sức gió từ 2 mét đến 3 mét một giây là vừa (Việt Chương, 2000)
1.4.5 Đất trồng mai
Cây mai không kén đất trồng Bằng chứng cho thấy các loại đất thịt, đất pha cát, sét pha, đất phù sa, đất đỏ badan, thậm chí đất có lẫn đá sỏi… vẫn trồng được mai (Việt Chương, 2000) Theo Đặng Phương Trâm (2005) mai không kén đất nên
có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau trừ nơi có độ phèn quá cao Tốt nhất là đất thịt nhẹ có nhiều mùn đã được phơi khô và lượm sạch cỏ rác pha thêm một phần phân chuồng Theo Việt Chương (2000) với những nơi có tầng đất mặt dày như đất miền Đông Nam Bộ, đất vùng Tây Nguyên cây mai sống tốt, phát triển mạnh nhờ vào rễ cái ăn sâu vào lòng đất để hút dưỡng chất lên nuôi cây
Tuy cây mai sống khỏe, nhưng muốn cây mai phát triển thật tốt, ra hoa đẹp như ý muốn thì tốt nhất là phải chú ý chọn lựa loại đất màu mỡ giàu chất dinh dưỡng nhất để trồng Đối với những cây mai trồng trong chậu kiểng thì cần phải chú
ý bồi bổ thật nhiều chất dinh dưỡng thì cây mới có đủ điều kiện để phát triển và ra hoa đẹp như ý muốn (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh 2007) Đất trồng mai
Trang 24bao gồm: 70% đất thịt, 20% đất cát và 10% phân hữu cơ thật hoai mục (Huỳnh Văn Thới, 1998)
1.5 CHĂM SÓC CHO MAI 1.5.1 Tưới nước
Nước rất quan trọng đối với cây mai, thiếu nước cây mai khô héo, rụng lá, mà rụng lá là cây sẽ trổ hoa sớm (Huỳnh Văn Thới, 1998) Theo Việt Chương (2000) vào mùa nắng thì tưới mỗi ngày hoặc cách ngày tưới nước một lần mới tốt Tưới thẳng vào gốc và xịt nước với tia nhỏ lên khắp tán lá lại tốt hơn Tưới vào lúc sáng sớm (trước 9 giờ) hoặc vào lúc chiều Vào mùa mưa, mai trồng vườn khỏi tưới nước cũng được Mai kiểng trồng chậu phải tưới nước mỗi ngày, ngày tưới hai lần sáng chiều mới tốt
1.5.2 Bón phân cho mai
Theo Việt Chương (2000) mai tỏ ra chịu nhất phân chuồng hoai và phân rác mục, gọi là phân hữu cơ
- Bón phân cho mai ngoài vườn: bón thúc mai hai đợt: đợt đầu vào mùa mưa
và đợt sau vào tháng trước kỳ mai ra hoa
- Bón phân cho mai trồng chậu: nhà vườn thường dùng hỗn hợp
+ 80% đất thịt tơi nhuyễn và 20% phân hữu cơ
Trang 251.6 SỰ PHÁT TRIỂN HOA Ở THỰC VẬT 1.6.1 Nguồn gốc và sự hình thành hoa
Sự hình thành hoa là dấu hiệu của việc chuyển cây từ giai đoạn sinh trưởng, phát triển dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng, phát triển sinh sản, bằng việc
chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mần hoa (Vũ Văn Vụ và ctv.,
2005) Hoa là một chồi rút ngắn, sinh trưởng có hạn, có mang những lá bào tử tức là nhị đực và lá noãn và trong trường hợp điển hình có mang những lá bất thụ-đài và tràng-tạo thành bao hoa (Nguyễn Bá, 1978)
Sự phát triển hoa là giai đoạn quan trọng nhất trong đời sống thực vật, vì có sự phát triển của hoa mới có sự thụ phấn, thụ tinh, hình thành hạt, rất cần cho sự duy trì nồi giống (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005) Đỉnh chồi dinh dưỡng khi chuyển sang hình thành cơ quan sinh sản thì hoặc trực tiếp biến đổi thành „chồi hoa‟ hoặc thông thường hình thành nên đỉnh chồi của cụm hoa (Nguyễn Bá, 1978) Theo Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn (2005) thông thường là các chồi ngọn, chồi thân hoặc trên thân các tế bào hoạt động dinh dưỡng biến đổi thành tế bào hoạt động sinh dục hình thành nên mầm nguyên thủy của hoa Các mầm nguyên thủy dần dần u lên thành các phát thể
Theo Trần Văn Hâu (2005) sự gợi ra hoa được quan niệm một cách kinh điển như là kết quả sinh ra từ một chất điều hòa sinh trưởng đặc biệt nào đó mà thúc đẩy
sự ra hoa Chất điều hòa sinh trưởng này khi đạt đến mô phân sinh tiếp nhận sẽ gây
ra hàng loạt sự thay đổi phức tạp tiếp theo xảy ra một cách đồng thời dẫn đến sự hình thành mầm hoa
1.6.2 Cảm ứng hình thành hoa
1.6.2.1 Sự cảm ứng hình thành hoa bởi nhiệt độ (sự xuân hóa)
Có rất nhiều loài thực vật mà nhiệt độ có ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự khởi
đầu và phát triển của các cấu trúc sinh sản (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005) Hiện tượng
này thường thấy ở các cây mùa đông Ví dụ: khi gieo hạt của cây mùa đông (mạch đen, đại mạch…) vào mùa xuân thì mặc dầu cây mọc khỏe, đẻ khỏe nhưng không
Trang 26thể sinh sản được Nếu tác động nhiệt độ thấp lên hạt như mầm của các cây mùa đông này với thời gian nhất định thì chúng có thể trổ bông bất kì mặc dù gieo hạt
vào thời gian nào (Phạm Đình Thái và ctv., 1987) Chính vì vậy mà thuật ngữ „xuân
hóa‟ xuất hiện và coi như một sự thúc đẩy ra hoa của cây bởi xử lý nhiệt độ thấp Như vậy nhiệt độ thấp có vai trò như là một yếu tố cảm ứng ra hoa và yêu cầu về nhiệt độ thấp của cây có thể có hai đặc trưng như sau:
- Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp là bắt buộc và có tính chất cảm ứng rõ rệt Những thực vật chỉ ra hoa khi có một giai đoạn phát triển trong điều kiện nhiệt độ thấp thích hợp (gọi là nhiệt độ xuân hóa) Nếu nhiệt độ cao hơn nhiệt độ xuân hóa thì cây chỉ sinh trưởng mà không ra hoa
- Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp là không bắt buộc Nếu nhiệt độ cao hơn nhiệt
độ xuân hóa thì cây vẫn ra hoa nhưng muộn hơn (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Trên cây xoài, khi có đủ khả năng ra hoa trong lá và mầm thì một dấu hiệu cảm ứng cần thiết xảy ra đồng thời với sự phân hóa mầm hoa Dấu hiệu này là những đợt lạnh của mùa đông ở vùng Á Nhiệt đới, trong khi ở vùng nhiệt đới thì thiếu dấu hiệu này Sự khô hạn có thể thay thế phần nào yếu tố nhiệt độ lạnh nhưng
ở vùng nhiệt đới với lượng mưa phân bố đồng đều trong năm làm sự ra hoa không đều nên năng suất thấp (Trần Văn Hâu, 2005)
Từ lâu người ta đã chứng minh rằng cơ quan tiếp nhận (cảm thụ) phản ứng nhiệt độ là đỉnh sinh trưởng của thân Chỉ cần đỉnh sinh trưởng chịu tác động của nhiệt độ cũng có thể gây nên sự phân hóa mầm hoa Như vậy đối với sự cảm nhận quá trình xuân hóa cần có các tế bào đang phân chia của đỉnh sinh trưởng (Vũ Văn
Vụ và ctv., 2005)
Thời gian đòi hỏi nhiệt độ thấp cần cho sự ra hoa tùy thuộc vào từng loài (species), thậm chí từng thứ (variety) và tuổi cây Thông thường, thời gian xử lý nhiệt độ thấp đạt hiệu quả từ 1-3 tháng cho cây mùa đông hàng niên, cây hai năm và cây đa niên Đối với cây đòi hỏi thời gian xử lý nhiệt độ thấp ngắn, chỉ cần một vài
ngày hoặc hai tuần là có hiệu quả Như cây Apium gravcolens (celery) và
Anthriscus cerefolius (chervil) có hiệu quả thúc đẩy sự ra hoa sau 1-2 ngày trong
điều kiện nhiệt độ thấp
Trang 27Càng xử lý nhiệt độ thấp càng lâu thì hiệu quả càng nhiều Nhiệt độ từ 1-7 o
Về bản chất của sự xuân hóa cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ Người
ta cho rằng: dưới tác động của nhiệt độ thấp, trong đỉnh sinh trưởng xuất hiện một
„tác nhân xuân hóa‟ nào đấy (vernalin) Chất đó được vận chuyển dễ dàng trong cây
và đến đỉnh sinh trưởng của cành để quyết định sự phân hóa mầm hoa (Vũ Văn Vụ
và ctv., 2005)
1.6.2.2 Sự cảm ứng ra hoa bởi ánh sáng (quang chu kì)
Nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động lên sinh vật có tính chất chu kỳ ngày đêm Ánh sáng là yếu tố biểu hiện rất rõ tác động này lên quá trình phát triển của thực vật
Họ đã phát hiện ra rằng vào dịp Noel là thời gian có độ chiếu sáng ngắn nhất, chứng
tỏ rằng cây thuốc lá này rất mẫn cảm với ngày ngắn Khi trồng chúng trong điều
kiện ngày ngắn nhân tạo thì chúng ra hoa bình thường (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Chu kỳ quang cũng như sự xuân hóa đều là phản ứng thích nghi, giúp cho cây
ra hoa trong thười gian thuận lợi nhất của năm Thường các cây ngày ngắn có nguồn gốc từ vùng gần xích đạo, còn các cây ngày dài có nguồn gốc từ các vùng càng xa
xích đạo (Phạm Đình Thái và ctv., 1987)
Trên quan điểm đó, người ta phân thực vật thành các nhóm cây có sự mẫn cảm khác nhau với độ dài chiếu sáng trong ngày (chu kỳ ngày đêm 24 giờ):
Trang 28- Nhóm cây ngày ngắn: là những cây ra hoa được khi có thời gian chiếu sáng trong ngày nhỏ hơn thời gian chiếu sáng tới hạn
- Nhóm cây ngày dài: gồm những thực vật ra hoa khi có thời gian chiếu sáng dài hơn thời gian chiếu sáng tới hạn
- Nhóm cây trung tính: ra hoa không phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng mà chỉ cần đạt được một mức độ sinh trưởng, phát triển nhất định, chẳng hạn như đạt
được số lá nhất định ví dụ: cà chua, đậu Hà lan…(Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Quang chu kỳ cảm ứng cho sự ra hoa không cần thiết phải kéo dài suốt thời gian sinh trưởng, phát triển mà chỉ cần tác động một số quang chu kỳ cảm ứng nhất
định vào giai đoạn nhất định cũng đủ cho sự phân hóa hoa (Vũ Văn Vụ và ctv.,
2005)
Những phản ứng quang chu kỳ của cây chỉ diển ra với điều kiện ánh sáng nhất định, nghĩa là phụ thuộc vào độ dài bước sóng của nó Theo các nhà bác học Mỹ
Hendriks và Bortswik () (trích bởi Phạm Đình Thái và ctv., 1987), đậu tương bị
kiềm hãm ra hoa mạnh nhất lúc được chiếu sáng là ánh sáng đỏ (độ dài sóng 660 nm) Ánh sáng xanh tím (dùng trong quang hợp) biểu hiện tác dụng này yếu Như vậy phổ tác dụng của phản ứng quang chu kỳ phù hợp với phổ tác dụng của hệ phytochrôm Điều đó khẳng định tác động của ánh sáng đỏ kìm hãm, làm mất tác dụng của tia hồng ngoại Trong thời gian ban đêm phytôchrôm P730 dưới tác dụng của tia hồng ngoại, chuyển sang P660 và thúc đẩy phản ứng, đưa cây ngày ngắn đến thời kỳ ra hoa Nếu chiếu tức khắc ánh sáng đỏ thì phitôcrôm P660 chuyển sang
P730 và do đó kìm hãm phản ứng dẫn tới ra hoa (Phạm Đình Thái và ctv., 1987)
Sự mẫn cảm của sự cảm ứng quang kỳ tùy thuộc vào nhiều yếu tố Sự mẫn cảm thay đổi với tuổi sinh lý của lá Sự mẫn cảm đạt hiệu quả cao nhất khi lá đạt tới kích thước hoàn toàn Lá quá non ít đạt hiệu quả hơn lá đã mở ra, lá già cũng giảm
hiệu quả Như trường hợp cây Anagallis và Xanthium và có thể giữ mẫn cảm đối với quang kỳ trong thời gian rất lâu như trên cây Perilla và cây Lolium Khả năng
mẫn cảm của lá còn tùy thuộc vào vị trí của chúng trên cây (Trần Văn Hâu, 2005)
Lá là nơi đầu tiên tiếp nhận yếu tố quang kỳ do đó với một diện tích tối thiểu
cũng cần thiết cho sự cảm ứng như trên cây Xanthium và cây Lolium chỉ cần 1 cm2
Trang 29lá cảm ứng hay một tử diệp của cây bắp cải cũng đủ kích thích ra hoa Trong một số
trường hợp, cường độ tượng hoa có liên quan đến diện tích lá Có một số loài có thể
diện tích lá không liên quan đến sự ra hoa nhưng phải cung cấp đủ lượng cần thiết
chất đồng hóa cho mô phân sinh ngọn (Trần Văn Hâu, 2005)
1.7 SÂU BỆNH GÂY HẠI CÂY MAI 1.7.1 Côn trùng
1.7.1.1 Bọ trĩ (Stenchaetothrip biformis), nhện đỏ (Tetranychidae)
Ban ngày bọ trĩ núp ở mặt dưới của lá nên rất khó phát hiện, ban đêm mới chui
ra ăn lá non, chồi non của cây mai Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ, thường tụ tập ở
mặt dưới của lá mai non gần đọt cành để hút nhựa lá khiến lá bị héo quắt lại Khi
phát hiện sự xuất hiện của nhện đỏ và bù lạch, cần nhanh chóng phun một trong các
loại thuốc sau để diệt trừ: Lananate, Regent, Confidon (Trần Văn Mười và
Nguyễn Thanh Minh, 2007)
1.7.1.2 Rầy bông (Idioscopus niveosparsus)
Giống rầy này tác hại nặng làm hư hại cành lá và nhiều khi dẫn đến cả cây
hoặc cả vườn mai bị chết Khi thấy chúng vừa xuất hiện trên đọt mai nào thì dứt
khoát bẻ bỏ cành đó đừng thương tiếc Gặp trường hợp rầy đã xuất hiện quá nhiều,
nên xịt thuốc rầy mỗi tuần 3 lần cho đến khi biết chắc là đã trừ hẵn được (Việt
Chương, 2000)
1.7.1.3 Sâu đục thân (cossidae)
Sâu đục thân tác hại bằng cách đục một lổ nhỏ bằng đầu que nhang vào nhánh
cây hay thân cây để chui vào trong đó âm thầm đục rỗng lõi gỗ và làm chết phần
cây bị nó tác hại Nên phun xịt định kỳ bằng thuốc Basudin rất tốt (Việt Chương,
2000)
Trang 301.7.1.4 Sâu nái (Parasa lepida)
Tác hại cũng giống sâu tơ là chuyên ăn lá non Nếu xuất hiện ít thì nên lảy bỏ chiếc lá mà chúng bám, nếu có nhiều thì dùng thuốc rầy diệt (Việt Chương, 2000)
1.7.1.5 Sâu tơ (Plutella xylostella)
Đây là giống sâu nhỏ chuyên ăn lá mai non Nếu ít thì ta lần lượt phá bỏ các tổ
tơ của chúng và bắt sâu giết đi Còn xuất hiện nhiều thì nên dùng thuốc rầy trừ chúng (Việt Chương, 2000)
1.7.2 Nấm, bệnh hại mai
1.7.2.1 Nấm hồng
Thường xuất hiện ở những cây mai có tán lá rậm rạp hay nơi trồng có đất quá
ẩm ướt Chúng thường bám vào những chỗ cành, thân mai có vỏ nứt nẻ Triệu chứng lúc đầu là những đốm vàng màu hồng nhỏ, sau đó phát triển và lan rộng thành từng mảng màu hồng, khiến cho cành hay thân mai khô nhựa mà chết Phòng nấm hồng bằng cách phun thuốc Rovral 50WP nồng độ 0,2% (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
1.7.2.2 Bệnh cháy lá
Cây mai thường bị mắc bệnh cháy lá, tuy không làm chết cây nhưng dễ làm cây suy yếu Triệu chứng đầu tiên là rìa lá có hiện tượng cháy khô Dần dần phần khô này sẽ lan rộng ra hết mặt lá làm lá chết khô rụng đi
Bệnh cháy lá có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như sau:
- Do bón phân hóa học quá liều
- Do phun xịt thuốc trừ sâu bệnh quá liều lượng
- Do đất trong chậu bị dẽ, đông cứng thành một „tảng‟ khiến cho cây mai thiếu dưỡng khí không đủ sức sống mà sinh ra bệnh cháy lá
- Do lỗ thoát nước dưới đáy chậu bị nghẹt, bít lâu ngày
Trang 31- Do thiếu nước tưới (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
1.8 QUY TRÌNH NỞ HOA CỦA MAI
Từ ngày cây mai bị tuốt hết lá (thông thường là ngày rằm tháng chạp) trên các cành mai cũng đã chớm xuất hiện những nụ hoa nhỏ bằng nửa hột gạo hoặc đã bằng hột gạo Những nụ mai này thường xuất hiện ở nách lá Mỗi nụ mai như vậy lớn dần lên thành một cái hoa to (gọi là hoa cái) có lớp vỏ lụa bao bọc kín bên ngoài
Tính từ ngày vỏ lụa của hoa cái bung ra, các nụ hoa xuất hiện rồi lớn rất nhanh, độ 7 ngày sau thì nở Trong một chùm nụ hoa nào phát triển nhanh thì nở sớm, nụ nào phát triển chậm sẽ nở sau đó đôi ba ngày
Thông thường hoa mai chỉ nở được ba ngày rồi tàn Ngày đầu những cánh hoa
nở bung ra, chùm nhụy vàng ở giữa cũng xòe ra khoe sắc Qua ngày thứ hai đầu các cánh hoa không còn ngay thẳng nửa mà cong lên, chùm nhụy cũng chụm lại Và qua hôm sau các cánh hoa tự rời ra rơi lả tả xuống đất khi gặp cơn gió nhẹ hoặc bị
C Theo quan sát của Huỳnh Văn Thới (2005), năm 1992, vào tháng Chạp trời đang nắng gắt thình lình trời đổ mưa to, năm đó mai đều nở sớm Chúng ta cũng nên áp dụng: là đem cây mai ra phơi nắng và tưới nước vào giữa trưa, không tưới vào sáng sớm và chiều tối nửa, nếu vỏ lụa chưa chịu bung, thì ta phải tưới bằng nước ấm cỡ 40o
C hoặc xịt thuốc rầy thì cây mai sẽ nở hoa sớm hơn
Theo Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh (2007) đến ngày tuốt lá mà chưa có dấu hiệu vàng úa chỉ thấy toàn sắc xanh mơn mởn tức là lá vẫn còn đang sinh trưởng, có khả năng rất cao là cây mai này sẽ ra hoa trễ nên sau khi tuốt lá
Trang 32xong, cần nhanh chóng bón thúc NPK tỷ lệ 15-30-15 theo cách hòa gói nhỏ 10 gram vào 8 lít nước để bón
1.9.2 Cách hãm mai nở trễ
Nếu thời tiết đang khô ráo bình thường mà trời lại đột nhiên đổ cơn mưa rào thì rất có nguy cơ mai sẽ ra hoa sớm hơn thời điểm mong muốn Ta cần đem chậu mai vào trong nhà hoặc để chổ khô ráo ấm áp và cắt giảm ngay số lần tưới nước cho mai Chỉ cần tưới nước một lần vào buổi trưa là đủ Ngay khi nắng trở lại cần đem mai ra phơi nắng ngay để hãm không cho hoa nở sớm (Trần Văn Mười và Nguyễn Thanh Minh, 2007)
Lấy vải đen che trùm cây mai lại, tưới nước vào chiều tối để làm lạnh cây mai Nếu có urea thì mỗi lần tưới nên pha loãng thêm urea 1 gram với 8 lít nước, kích thích cho cây mai ra lá (Huỳnh Văn Thới, 2005)
1.10 SỰ RỤNG LÁ
Sự rụng lá là một trong những quá trình sinh lý phức tạp ở trong cây gắn liền với tuổi cây và sự hóa già của lá Sự rụng lá của một số cây gỗ thường xảy ra vào mùa thu, trước khi vào đông và sang xuân, hè lại thay bộ lá mới có hoạt động sinh
lý ở mức độ cao hơn Một số cây hằng năm thì sự rụng lá là quanh năm Nói chung
sự rụng lá là sự thích ứng cần thiết của cây vì lá là cơ quan quang hợp và thoát hơi
nước (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Theo Nguyễn Minh Chơn (2005) sự rụng được định nghĩa là sự tách rời của một phần thực vật như lá, hoa, trái, hột, cành hoặc bộ phận khác của cây mẹ Đối với lá có dạng rụng lá như sau:
- Ở những cây dễ rụng lá và cây bụi được trồng trong vùng ôn đới: Sự rụng lá liên quan đến những yếu tố môi trường như quang kỳ ngắn và lạnh
- Những cây dễ rụng lá và cây bụi trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới: Sự rụng
lá phụ thuộc vào những thay đổi trong sinh trưởng và cường lực của cây
Trang 33- Những cây thường xanh trồng trong vùng ôn đới và á nhiệt đới: Sự rụng lá thuộc về sự phát triển của mùa trước xảy ra trong khi có sự nới khởi đầu của sự sinh trưởng trong mùa xuân
- Sự rụng cành cũng có thể xem như là một thói quen tự tỉa cành
- Sự rụng hoa, trái và hột thường xảy ra ở thực vật bậc cao tạo sự thuận lợi cho quá trình sinh sản
Sự rụng lá tiến hành do kết quả của các quá trình biến đổi đặc biệt bao gồm sự phân chia tế bào và những biến đổi trong màng tế bào tại vùng nhất định của cuống
lá, vùng đó gọi là lớp phân cách, lớp này gồm nhiều nhất là hai dãy tế bào xếp cạnh nhau (Nguyễn Bá, 1978), lớp phân cách, qua lớp này thực hiện sự tách rụng lá và lớp bảo vệ, bảo vệ cho cây khi lá rụng không bị các vật ký sinh phá hoại (Nguyễn
Bá, 2006)
Hiện tượng rụng lá định kỳ được xem là tính chất thứ sinh, xuất hiện trong quá trình tiến hóa do thích nghi với khí hậu khô lạnh hằng năm (Nguyễn Bá,1978)
1.10.1 Giải phẫu học của sự rụng
Sự rụng của lá, cành, hoa trái và hột trong phần lớn loài cây đến trước bằng sự thành lập vùng hoặc tầng rời từ những tế bào đặc biệt (Nguyễn Minh Chơn, 2005) Tầng rời là một vài lớp tế bào mô mềm (nhu mô) đặc biệt có đặc trưng giải phẫu là:
tế bào bé hơn, tròn, chất nguyên sinh đặc hơn, gian bào bé hơn, không hóa suberin
và lignin Ngoài ra yếu tố mạch dẫn thường ngắn và ở vùng này thường thiếu yếu tố sợi trong hệ thống dẫn… Tất cả các cấu trúc đó làm cho vùng tế bào này yếu hơn các vùng khác Khi có những yếu tố cảm ứng sự rụng thì tầng rời xuất hiện nhanh
Trang 34bần đó chết đi, trở nên khô Lúc đó lá chỉ dựa vào thân nhờ các yếu tố dẫn nửa mà thôi, còn các phần mô khác của lớp phân cách là những tế bào chết, dính với nhau rất yếu ớt (Nguyễn Bá, 1978)
1.10.2 Sinh lý của sự rụng
1.10.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ, oxygen và những yếu tố dinh dưỡng
Sự rụng được kiểm tra bằng các nhân tố ngoại cảnh như: độ dài ngày, nhiệt độ thấp quá hoặc cao quá, hạn hoặc úng, thiếu chất dinh dưỡng… Các nhân tố ngoại cảnh này là những nhân tố cảm ứng, các tín hiệu bên ngoài gây nên những biến đổi
sâu sắc bên trong cơ quan và tầng rời dẫn đến sự rụng (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Theo Nguyễn Minh Chơn (2005) thì nhiệt độ chi phối quan trọng đến sự rụng Khi nhiệt độ tăng cao sẽ làm gia tăng sự rụng Có một nhiệt độ tối hảo cho sự rụng tối đa Sự đáp ứng của nhiệt độ cho sự rụng cũng khác nhau Ở đậu cove nhiệt độ này là 25oC, trong khi đó ở bông vải là 30o
C
Hàm lượng oxy cao cũng làm gia tăng sự rụng Vấn đề này được giả thiết rằng
sự gia tăng oxy sẽ kích thích enzyme IAA oxidase dẫn đến sự oxy hóa IAA và làm giảm IAA nội sinh trong mô Giả thiết khác cho rằng oxy kích thích sự chuyển hóa ACC thành ethylene và kích thích sự rụng
Hàm lượng carbohydrate cao sẽ giảm sự rụng và ngược lại Dưới điều kiện ánh sáng cao sẽ kích thích quang hợp để sinh tổng hợp nhiều carbohydrate và làm chậm sự rụng Các quá trình dẫn đến sự tích lũy carbohydrate thấp sẽ dẫn đến sự rụng
Cây được cung cấp đạm đầy đủ cũng duy trì lá lâu hơn và cho nhiều trái hơn cây thiếu đạm Những cây này đặc biệt có hàm lượng amino acid và những hợp chất chứa đạm cao hơn là yếu tố giúp cho sự tổng hợp DNA, RNA, protein và những thành phần khác có khả năng ngăn sự rụng Cây có chứa đạm cao cũng chứa nhiều auxin và cytokinin Các nguyên tố khoáng cũng rất cần cho sự phát triển của cây, thiếu kẽm hay thiếu calcium đều làm lá dễ rụng
Trang 351.10.2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên sự rụng
Sự rụng của các cơ quan được điều chỉnh bằng sự cân bằng hoocmon trong chúng Sự cân bằng này chủ yếu xảy ra giữa auxin và axit absxixic, ethylene (Vũ
Văn Vụ và ctv., 2005)
- Auxin: Auxin có thể hạn chế sự rụng hoặc kích thích sự rụng Hàm lượng auxin nội sinh trong lá hoặc trong những cơ quan khác giảm sẽ kích thích sự rụng
Xử lý auxin ngoại sinh xa tầng rụng (về phía lá của tầng rụng) làm giảm sự lão hóa,
ở đầu gần tầng rụng (về phía thân của tầng rụng) kích thích sự lão hóa (Nguyễn Minh Chơn 2005) Sự hình thành lớp tách rời xảy ra sau khi dòng auxin từ phiến lá chuyển xuống cuống lá bị yếu đi Nếu ta cắt bỏ phiến lá thì cuống cũng chóng bị lìa cành Nếu ở chổ cắt ta phết bột nhão có chứa heteroauxin thì cuống giữ được lâu không rụng (Opakin, 1977)
- ABA và ethylene có tác dụng đối kháng tuyệt đối với auxin trong sự rụng của lá, quả Khi có một tác nhân cảm ứng sự rụng (nước, nhiệt độ, ánh sáng… ) thì lập tức trong lá tăng cường tổng hợp và tích lũy ethylene và ABA Đấy là những nhân tố hóa già và đồng thời cũng là nhân tố của sự rụng Hàm lượng của ethylene
và ABA tăng lên sẽ cảm ứng sự hình thành tầng rời vì nó ức chế tổng hợp auxin trong lá, đồng thời cảm ứng sự tổng hợp các enzime xenluloza và pectinaza gây ra
sự phân hủy thành tế bào (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005)
Theo Pôvôlôtxkaia (1958) (trích bởi Opakin, 1977) ethylene được tạo thành trong các quả chín và lá già Nhiều tác giả cho rằng sự biến đổi của tỷ lệ ethylene và auxin trong cuống trước khi lá rụng là một trong những nguyên nhân rụng lá
- GA có thể làm gia tăng sự rụng nếu hàm lượng đủ lớn để kích thích sản xuất ethylene Hiện tượng gây ra sự rụng bởi GA được xem là tác động của ethylene, GA không tự gây ra sự rụng Mặt khác GA cũng giảm sự rụng do gia tăng hoạt động của các cơ quan tích lũy
- Cytokinin có tác dụng kích thích sinh trưởng và giảm sự rụng Xử lý cytokinin ở vị trí xa tầng rụng sẽ kích thích sự rụng Xử lý cytokinin trực tiếp trên tầng rụng sẽ ức chế sự rụng
Trang 36- Jasmonate được biết là chất kích thích sự rụng do kích thích quá trình lão hóa
- Những chất kích thích rụng lá: chất kích thích rụng lá hiện nay phổ biến như calcium, thidiazuron, ammonium nitrate, endothall, paraquat, sodium cacodylate, sodium chlorate, tributyl phosphorotrithioate và ethephon
1.11 POTASSIUM CHLORATE (KClO 3 )
Bắt đầu từ những năm 1999, việc sử dụng chlorate kali kích thích ra hoa có hiệu quả trên cây nhãn E-daw (giống nhãn khá nổi tiếng của Thái Lan) trồng ở Đồng Nai và những kết quả từ Thái Lan cho biết việc sử dụng kali chlorate để kích thích cho nhãn ra hoa đã làm xôn xao dư luận người trồng nhãn (Trần Văn Hâu, 2005)
1.11.1 Đặc tính của chlorate potassium
Chlorate kali là một chất có tính oxid hóa rất mạnh, phóng thích ra khí oxy khi
bị oxid hóa (KClO3 → KClO + O2), có thể dùng như một chất diệt cỏ, làm lá bị vàng và rụng khi phun lên lá hoặc làm rễ và chóp rễ bị thối khi tưới vào đất Khi áp dụng ở nồng độ thấp hơn liều lượng để diệt cỏ, chlorate kali sẽ làm lá bị vàng, tinh bột trong thân và rễ bị phân hủy Chlorate kali là một chất dễ cháy và gây nổ khi hỗn hợp với một số chất khác như một số loại phân bón có gốc ammonium Theo khuyến cáo của cơ quan nghiên cứu thì việc bảo quản chlorate kali cần phải tránh những va chạm, ma sát Tránh xa những chất dễ gây cháy như xăng, dầu, các chất hữu cơ, acid, các muối ammonium (như phân SA) Không nên để hóa chất trên sàn
gỗ Tránh gây ra cháy, nổ khi vân chuyển chlorate kali cũng là vấn đề cần được quan tâm đúng mức để bảo đãm sự an toàn về người và tài sản Các nguyên tắc an toàn khi sử dụng hóa chất phải được chấp hành nghiêm ngặt để đề phòng ảnh hưởng của hóa chất đến sức khỏe của người sử dụng (Trần Văn Hâu, 2005)
Ngoài ra, việc tiếp xúc với hóa chất qua da, mắt, nuốt vào bụng hay hít vào phổi cũng có thể làm ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe con người
Trang 37Do khả năng có thể gây cháy, nổ nên chlorate kali phải được sử dụng với một chất chống cháy hòa tan trong nước như Magnsium (MgCl2) hoặc ure và phải được bảo quản rất kỹ trong điều kiện khô ráo, mát, ngăn cản sự cháy bằng cách tránh xa các chất acid, chất hữu cơ, lưu huỳnh, bột kim loại, muối ammonium và tránh xa các vùng có nguy cơ cháy (Trần Văn Hâu, 2005)
1.11.2 Biện pháp xử lý
Tổng kết một số biện pháp xử lý ra hoa trên cây nhãn ở Thái Lan, Manochai
và ctv (2005) (trích bởi Trần Văn Hâu, 2005) cho biết có thể tưới vào đất với liều
lượng 4-8 g/m2
tùy theo giống, phun lên lá ở nồng độ 1.000 ppm hoặc tiêm vào thân với liều lượng 0,25 g/cm đường kính nhánh Trong mùa lạnh và khô có tỷ lệ ra hoa cao (80-90%) hơn so với mùa mưa (dưới 50%) Xử lý khi lá 40-45 ngày tuổi Xử lý
bằng cách phun lên lá, Lê Văn Bé và ctv (2003) (trích bởi Trần Văn Hâu, 2005)
nhận thấy ở nồng độ 2.000-4.000 ppm cây nhãn ra hoa 100% sau 30 ngày xử lý Mặc dù biện pháp xử lý bằng phương pháp tiêm vào thân không gây ảnh hưởng đến môi trường đất và làm chết rễ nhưng do khó áp dụng nên nhà vườn vẫn áp dụng biện pháp tưới vào đất (Trần Văn Hâu, 2005)
1.11.3 Tác động bất lợi của chlorate kali
Do tác động của chlorate kali là làm chết rễ, đặc biệt là các chóp rễ-nơi tổng hợp ra các chất điều hòa sinh trưởng chuyển lên thân, lá – có thể làm cho cây nhãn
bị „stress‟ và kích thích cây nhãn ra hoa Như vậy khi tưới hóa chất vào đất với nồng độ càng cao sẽ làm cho rễ cây nhãn chết càng nhiều gây ra hiện tượng „stress‟ trên cây nhãn càng mạnh có thể làm chết cây Khảo sát tác động của chlorate kali
lên sự biến đổi hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, Lê Văn Bé và ctv (2003)
(trích bởi Trần Văn Hâu, 2005) nhận thấy 7 ngày sau khi xử lý hàm lượng đạm dễ tiêu dạng NH4+ tăng lên 18 lần, NO3- tăng 12 lần, lân dễ tiêu tăng 3 lần và kali trao đổi tăng một ít so với đối chứng Tác giả cho rằng chlorate kali đã oxid hóa chất hữu cơ trong đất làm tăng các chất vô cơ này và đây có lẽ là nguyên nhân làm cho
lá cây nhãn có xử lý chlorate kali có màu xanh một cách bất thường (tăng hàm
Trang 38lượng diệp lục tố) ở giai đoạn ra hoa Khi áp dụng ở nồng độ thấp hơn liều lượng để diệt cỏ, chlorate kali sẽ làm lá bị vàng, tinh bột trong thân và rễ bị phân hủy (Trần Văn Hâu, 2005)
Khảo sát tác động của chlorate kali lên rễ của cây nhãn Da Bò cho thấy tưới vào đất ở nồng độ 80 g/m đường kính tán rễ non bị thiệt hại đến 50% và tỉ lệ rễ bị thối nhãn đạt đạt 20% sau 3 ngày kể từ khi tưới hóa chất vào đất và tỉ lệ này giảm còn 23% sau 3 tháng Đối với nồng độ 20 g/m đường kính tán thì chỉ có 12% rễ bị thiệt hại sau 3 ngày và 15% rễ bị nhũn sau 7 ngày và thiệt hại của rễ chỉ còn 5% sau
ba tháng Về tác động của chlorate kali lên sự ra hoa trong mùa thuận của cây nhãn Tiêu Da Bò thì nồng độ 20-80 g/m đường kính tán đều cho tỷ lệ ra hoa trên 80% và không khác biệt với biện pháp xử lý khoanh cành (Trần Văn Hâu, 2005)
Trang 39CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm
+ Các cây mai Giảo đem thí nghiệm đã được ghép sẵn và trồng trong chậu có
độ tuổi của nhánh ghép từ 2-3 năm, cao khoảng 50-60 cm, đường kính gốc từ 2-3
cm, đường kính tán từ 50-60 cm
Chọn cây mai đồng đều về kích thước, ít sâu bệnh, các chậu mai được đặt tự nhiên trên sân cát, không che nắng và được tưới nước 2 lần/ngày và buổi sáng lúc 7-
9 giờ và buổi chiều lúc 16-17 giờ Chất trồng trong chậu là mụn dừa và trấu
Khảo sát kích thước nụ mai Giảo trước khi phun hóa chất cho thấy nụ phát triển bình thường, không thấy tình trạng dị dạng hay sự cắn phá của côn trùng Qua phân tích thống kê cho thấy chiều dài (mm) và chiều rộng (mm) nụ hoa mai Giảo khác biệt không ý nghĩa ở mức ý nghĩa 5%, kích thước trung bình lần lượt là 5,52 x 3,18 điều này rất thuận lợi cho việc tiến hành thí nghiệm
Bảng 2.1 Kích thước nụ hoa mai Giảo tại vườn mai 69, Cần Thơ trước khi phun hóa
chất
Nồng độ KClO3 (‰) Kích thước nụ hoa mai Giảo trước khi phun hóa chất (mm)
- ns: Khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
+ Các cây mai Vàng trồng tại trại thực nghiệm trường Đại học Cần Thơ có
độ tuổi từ 3-4 năm, cao khoảng 1,0-1,5 m, đường kính gốc từ 3-4 cm và đường kính tán từ 1-2 m
Trang 40Khảo sát kích thước nụ hoa mai Vàng trước khi phun hóa chất cho thấy nụ mai phát triển bình thường, không thấy sự cắn phá của côn trùng Kích thước nụ hoa trước khi xử lý khá đồng đều, khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%, chiều dài và chiều rộng trung bình lần lượt là 6,16 mm x 3,50 mm điều này rất thuận lợi cho việc tiến hành thí nghiệm
Bảng 2.2 Kích thước nụ mai Vàng tại trại thực nghiệm trường đại học Cần Thơ
trước khi tiến hành phun hóa chất
Nồng độ KClO3 (‰) Kích thước nụ hoa mai Vàng trước khi phun hóa chất (mm)
+ Thước kẹp, viết long, thước kẻ ly
2.1.4 Địa điểm thí nghiệm
Vườn mai 69, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ và tại trại thực nghiệm trường Đại Học Cần Thơ
2.1.5 Thời gian: Thí nghiệm tiến hành từ 11/2007 đến 3/2008