TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ PHAN THANH ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG DỊCH BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA HUỆ TRẮNG Polianthes tuberosa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ PHAN THANH
ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG DỊCH BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA
HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberosa L.)
CẮT CÀNH
Luận văn tốt nghiệp Chuyên ngành: Hoa Viên & Cây Cảnh
Cần Thơ, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Chuyên ngành: Hoa Viên & Cây Cảnh
ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG DỊCH BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA
HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberosa L.)
CẮT CÀNH
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGs Ts Lê Văn Hòa Nguyễn Thị Phan Thanh
Ths Phạm Thị Phương Thảo MSSV: 3083753
Lớp: Hoa Viên & Cây Cảnh K34
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Hoa viên và Cây cảnh với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG DỊCH BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG
VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa L.) CẮT CÀNH
Do sinh viên NGUYỄN THỊ PHAN THANH thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày …tháng….năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
PGs TS LÊ VĂN HÒA
Th.S PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HÓA
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa viên & Cây cảnh với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG DỊCH BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG
VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberose L.) CẮT CÀNH
Do sinh viên NGUYỄN THỊ PHAN THANH thực hiện và bảo vệ trước Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua
Luận văn tốt nghiệp được Hội Đồng đánh giá ở mức:………
Ý kiến của Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………
………
………
………
………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2012 Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội Đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phan Thanh
Trang 6Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Thình
Họ và tên mẹ: Phan Thị Xương
2008 – 2012: học tại trường Đại học Cần Thơ, ngành Hoa viên và Cây cảnh khóa
34, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ
Cần Thơ, ngày …tháng….năm 2012
Người khai ký tên
Nguyễn Thị Phan Thanh
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ suốt đời nuôi nấng và dạy dỗ con khôn lớn nên người
Mãi mãi biết ơn thầy Lê Văn Hòa và cô Phạm Thị Phương Thảo đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, cho em những lời khuyên hết sức bổ ích trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn:
Thầy Phạm Phước Nhẫn và cô Lê Minh Lý – cố vấn học tập đã dìu dắt, giúp
đỡ em trong những năm học vừa qua
Quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em suốt thời gian học tại trường
Các bạn lớp Hoa viên và Cây cảnh K34 đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này
Thân gửi đến các bạn lớp Hoa viên và Cây cảnh K34 và toàn thể sinh viên Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng lời chúc tốt đẹp nhất
Nguyễn Thị Phan Thanh
Trang 8MỤC LỤC
1.3 THU HOẠCH, BẢO QUẢN, ĐÓNG GÓI HOA CẮT CÀNH 4 1.3.1 Chăm sóc, bảo quản hoa sau thu hoạch 4 1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ hô hấp của hoa cắt cành 6 1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoa trước và sau thu hoạch 8 1.4 NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CHÍNH ĐỂ BẢO QUẢN HOA CẮT CÀNH 9 1.4.1 Điều kiện tồn trữ lạnh 9 1.4.2 Bảo quản hoa cắt cành trong khí quyển điều chỉnh 9 1.4.3 Bảo quản hoa cắt cành trong môi trường áp suất thấp 9 1.4.4 Bảo quản hoa cắt cành trong dung dịch cắm hoa 9 1.4.5 Một số hóa chất dùng để bảo quản hoa cắt cành 9
Trang 91.5 TIÊU CHUẨN HOA HUỆ CẮT CÀNH 13 1.6 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HOA CẮT CÀNH HIỆN NAY 14 1.6.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu hoa cắt cành trên thế giới 14 1.6.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu hoa cắt cành ở Việt Nam 15 1.7 ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN 16 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 18 2.1.1 Thời gian thí nghiệm 18 2.1.2 Địa điểm thực hiện 18 2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 18 2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 19 2.2.1 Bố trí thí nghiệm 19 2.2.2 Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu 21 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25 3.1 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PH VÀ ĐƯỜNG
SUCROSE LÊN CHẤT LƯỢNG VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA HUỆ
TRẮNG CẮT CÀNH STH
25
3.1.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian TTSTH 25 3.1.2 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) theo thời gian TTSTH 26 3.1.3 Tỷ lệ hoa héo, rụng (%) theo thời gian TTSTH 27 3.1.4 Điểm đánh giá cảm quan chất lượng hoa huệ trắng TTSTH 29 3.1.5 Thời gian tồn trữ (ngày) hoa huệ trắng TTSTH 32 3.2 KHẢO SÁT ẢNH HƯƠNG CỦA STS VÀ GA3 ĐẾN CHẤT LƯỢNG
VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA HUỆ TRẮNG CẮT CÀNH 33 3.2.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian TTSTH 33 3.2.2 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) theo thời gian TTSTH 34 3.2.3 Tỷ lệ hoa héo, rụng (%) theo thời gian TTSTH 35 3.2.4 Điểm đánh giá cảm quan chất lượng hoa huệ trắng TTSTH 36 3.2.5 Thời gian tồn trữ (ngày) hoa huệ trắng STH 39 CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
Trang 104.2 Đề nghị 40
PHỤ CHƯƠNG
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
1.1 Hộp carton theo các kích thước khác nhau 6 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới độ bền của hoa 8 2.1 Cách bố trí thí nghiệm 1 20 2.2 Phiếu đánh giá cảm quan 23 3.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) hoa huệ trắng cắt cành ở ngày thứ
3.5 Thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành ở các nghiệm thức có
pH và hàm lượng đường khác nhau
3.10 Thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành ở các nghiệm thức khi
được bảo quản trong các dung dịch bảo quản khác nhau
Trang 135 8-HQC 8- hydroxyl quinonlene citrate
6 AgNO3 Silver nitrate
7 STH Sau thu hoạch
8 TTSTH Tồn trữ sau thu hoạch
Trang 14NGUYỄN THỊ PHAN THANH (2012) “Ảnh hưởng của dung dịch bảo quản đến chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng (Polianthes tuberose L.) cắt cành” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Hoa Viên & Cây Cảnh, Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGs Ts Lê Văn Hòa, Ths Phạm Thị Phương Thảo
TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của dung dịch bảo quản đến chất lượng và thời gian tồn
trữ hoa huệ trắng (Polianthes tuberose L.) cắt cành” được thực hiện nhằm tìm
ra ngưỡng pH, đường sucrose, silver thiosulfate và gibberellic acid thích hợp đến
chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng (Polianthes tuberose L.) cắt cành.
Đề tài được thực hiện gồm có 2 thí nghiệm Thí nghiệm thứ nhất (khảo sát ảnh hưởng của nồng độ pH và đường sucrose đến chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành sau thu hoạch) được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 2 nhân tố (nhân tố A là pH =3 và pH = 4 và nhân tố B là đường sucrose với nồng độ 0%, 1%, 2%, và 3%) và thí nghiệm 2 (khảo sát ảnh hưởng của STS và GA3đến chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành) đượcbố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố (gồm các dung dịch bảo quản hoa huệ cắt cành); hai thí nghiệm gồm 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 2 cành hoa huệ cắm vào 2 ống nghiệm Kết quả thí nghiệm cho thấy: a) Thí nghiệm 1: cắm hoa trong dung dịch có bổ sung pH = 4 + đường 3% duy trì chất lượng hoa huệ cắt cành đến 12 ngày tồn trữ sau thu hoạch; b) Thí nghiệm 2: hoa huệ cắt cành được tồn trữ tốt hơn khi cắm trong dung dịch có bổ sung pH = 4 + đường 3% + 8 ppm STS Thời gian duy trì trong tồn trữ sau thu hoạch của hoa khi cắm trong dung dịch này là 15 ngày Đề nghị nên sử dụng dung dịch bảo quản hoa có bổ sung pH = 4 + đường 3% + 8 ppm STS giúp cải thiện chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành
Trang 15MỞ ĐẦU
Hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) có nguồn gốc từ Mexico, từ lâu đã được dùng làm
các loại dầu thơm chiết xuất từ hoa Đây cũng là một loài hoa cắt cành phổ biến, được dùng trong các nghi lễ tại nhà thờ, chùa và trưng bày trong nhà Hiện nay, một số quốc gia bao gồm Kenya, Ấn Độ và Mexico đang phát triển hoa huệ thương mại cho các thị trường xuất khẩu Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản (Reid, 1996) Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp bảo quản hoa huệ tươi trên thế giới phát triển rất mạnh mẽ
Ở Việt Nam, hoa huệ được trồng khá phổ biến tại Đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, và một số nơi tại thành phố Hồ Chí Minh Đây là loại hoa cắt cành mang lại lợi nhuận khá cao, có thể giúp cải thiện đời sống cho nông dân Hoa huệ là sản phẩm đặc biệt, giá trị của hoa phụ thuộc nhiều vào thời kỳ thu hoạch và điều kiện bảo quản Hoa đến tay người tiêu dùng phải là hoa đẹp, không dập nát, chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của người mua Vì vậy, vấn đề bảo quản hoa sau thu hoạch rất cần thiết Tuy nhiên, những biến đổi sinh lý của hoa khi bảo quản và các phương pháp bảo quản hoa cắt cành sau khi thu hoạch là lĩnh vực nghiên cứu còn mới ở Việt Nam, đặc biệt các nghiên cứu trên hoa huệ còn rất hạn chế
Chính vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của dung dịch bảo quản đến chất lượng và thời
gian tồn trữ hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) cắt cành” được thực hiện
Mục tiêu: xác định ngưỡng pH, hàm lượng đường sucrose, silver thiosulfate và gibberellic acid đến chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC
Theo Trần Hợp (2000), cây hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) thuộc họ Thùa
(Agavaceae) là loài cây được trồng sớm nhất Người Aztec thuộc nước Mexico đã phát hiện và trồng cách đây 600 năm Năm 1519, người Tây Ban Nha đem về trồng Sau đó, hoa huệ được trồng ở Ấn Độ, Pháp nhờ những người truyền giáo Huệ tiếp tục được đưa tới Châu Âu, nó lập tức trở thành những loài hoa nổi tiếng dưới triều đại Victoria Từ đó, hoa huệ được trồng khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Hoa có mùi rất thơm, ngọt ngào, nhất là vào lúc hoàng hôn, chỉ cần
1 hoặc 2 nụ hoa trên cành nở thì mùi hương sẽ lan tỏa khắp khu vườn Chính vì thế, người ta dần có thói quen dùng nhiều hoa huệ trong các dịp rằm, Tết hoặc các buổi lễ lớn (Nguyễn Thị Diễm Chi, 2009)
1.2 PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH THÁI THỰC VẬT 1.2.1 Phân loại
Theo Đào Mạnh Khuyến (1992), Đặng Phương Trâm (2005) và Nguyễn Bảo Toàn (2010) thì huệ trồng ở Việt Nam có hai giống phổ biến nhất:
- Huệ đơn: còn gọi là huệ xẻ, cây thấp, hoa ngắn và thưa, bông chỉ có một cánh, nhưng huệ có mùi thơm đậm hơn so với hoa kép (Hình 1.1)
- Huệ kép: còn gọi là huệ tàu, huệ trâu, huệ tứ diện; cây cao, hoa to và nhiều, cây mọc khỏe, tuy kém thơm nhưng hoa cánh kép được nhiều người ưa chuộng nên trồng rộng rãi (Hình 1.2)
Hình 1.1 Huệ đơn
Trang 171.2.3 Điều kiện ngoại cảnh
Nhiệt độ: cây chịu được nhiệt độ cao 18 – 34oC
Ánh sáng: nên trồng ở điều kiện ánh sáng hoàn toàn, nắng càng nhiều hoa càng tốt
Ẩm độ: cây chịu ẩm ướt nhiều, nên tưới cây bằng vòi phun vào sáng sớm hay chiều mát
1.2.4 Nhân giống
Cây được nhân giống bằng cách tách bụi Cứ vài ba năm cần nhổ hết các bụi huệ lên, cắt tỉa, loại bỏ các củ quá già đã cho hoa Mỗi bụi huệ có 4 hoặc 5 củ lớn cỡ ngón tay hay lớn hơn một chút Lá được cắt đi 2/3, rễ cắt gần sát với gốc và đưa trồng lại sau khi
đã làm liếp, cung cấp phân mới Khi trồng lại nên lựa củ có kích thước lớn và cùng một
cỡ để sau này cho hoa đều khắp vườn huệ và có thể cho hoa sớm
1.2.5 Chăm sóc
Sau khi trồng, cứ vài ngày phải tưới để giúp cây bén rễ Khi cây bắt đầu phát triển
và lá có dấu hiệu sinh trưởng tốt sẽ tưới đẫm Hằng tháng phải xới đất làm cỏ cho cây Trong canh tác hoa huệ, nước rất quan trọng, đủ nước thì cây huệ phát triển mạnh và cho bông đủ dài, bông nở trọn vẹn; khi thiếu nước, hoa nhỏ, cánh không phát triển và bông ngắn Sau một đợt mưa dầm nếu trời nắng to kéo dài mà không tưới đủ nước thì hoa sẽ bị cong thành ngấn, làm giảm giá trị hoa do cành hoa huệ bị cong thường khó bán, nhất là hoa xuất khẩu
Trang 18Bón phân bổ sung cho cây thường dùng hỗn hợp urê, lân và kali hòa nước tưới cho cây định kỳ 20 ngày/lần cho đến lúc cây có hoa Khi tưới phân cần tránh để đọng lại nơi
kẽ lá vì sẽ làm cây dễ bị bệnh (Nguyễn Bảo Toàn, 2010)
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2008), các loại dịch hại hiện diện trên cây huệ khá đa dạng như nhện đỏ, côn trùng (rệp sáp, bù lạch, sâu tai bông, sâu ăn lá, rầy mềm, ) và một số loại bệnh (chai bông, thối nhũng)
Theo Nguyễn Huy Trí và Đoàn Văn Lư (2006), bệnh chủ yếu trên huệ là nấm mốc
và phải dùng các loại thuốc như phèn xanh Ziam, Zinep, Simel nồng độ khoảng 0,1 – 0,2% Tránh dùng thuốc có lưu huỳnh ở thời kỳ ra hoa vì thuốc sẽ để lại trong cánh hoa nhiều oxyclorua đồng, vôi làm giảm giá trị hàng hoá Tuy nhiên, cũng có thể dùng lưu huỳnh khi cây chưa ra hoa ra nụ Hoa cũng có thể bị rệp muội, bọ trĩ, xén tóc, sâu non đục thân Người ta có thể dùng Decis 1 – 2o/oo hay Bizo 1 – 2 o/oo phun sẽ có tác dụng phòng chống
1.3 THU HOẠCH, BẢO QUẢN, ĐÓNG GÓI HOA CẮT CÀNH
1.3.1 Chăm sóc, bảo quản hoa sau thu hoạch
Thu hoạch đúng lúc sẽ đảm bảo hoa tươi lâu và đẹp Thu hoạch quá sớm lúc cuống hoa còn non hoa dễ bị cong queo và không nở được, thu hoạch muộn quá sẽ làm cho hoa mau tàn Tiêu chuẩn thu hoạch phụ thuộc vào giống và cự ly vận chuyển Khi thu hoạch hoa tại vườn cần sử dụng dụng cụ sắc bén và sạch để cắt hoa nhằm mục đích giảm ảnh hưởng đến khả năng hút nước của cành hoa và không tạo điều kiện cho nấm khuẩn phát triển (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007)
Theo Halevy và Mayak (1981), tuổi thọ của hoa cắt cành có sự tương quan với hàm lượng carbohydrate trong hoa Vì thế, những hoa cắt trễ vào buổi trưa không giữ được lâu
so với hoa cắt vào buổi sáng Hoa thu hoạch tốt nhất vào buổi sáng hoặc vào buổi chiều Không nên thu hoạch vào buổi trưa Hoa cần được thu đúng vào thời kỳ thu hoạch Thời
kỳ thu hoạch của hoa tùy vào loài, giống hoa và việc xử lý sau thu hoạch (như thu để bán ngay hay thu vận chuyển đi xa mới bán…)
Sau khi cắt, hoa vẫn còn sống nhưng sẽ nhanh chóng hư hỏng nếu không được xử lý cẩn thận Các loài hoa khác nhau được xử lý bằng nhiều cách thức khác nhau Nói chung
Trang 19các loài hoa tươi lâu và bền hơn nếu được ngâm trong nước ngay sau khi cắt Người ta thường sử dụng citric acid và các hóa chất khác để làm giảm pH xuống còn khoảng 3 –
3,5 Hóa chất được dùng rộng rãi để giữ hoa là silver thiosulfate (STS) có tác dụng ức chế
một số ảnh hưởng có hại của khí ethylene
Sau khi thu hoạch, cần đưa hoa vào nhiệt độ lạnh thích hợp càng sớm càng tốt Có thể dùng hệ thống điều hòa lạnh để hạ nhiệt độ xuống Độ ẩm có thể vẫn giữ cao Mức độ giữ nhiệt độ phụ thuộc vào loại hoa Trong cửa hàng bán hoa thường có buồng lạnh để giữ hoa trong suốt quá trình bán
Phân loại hoa
Việc lựa chọn tiêu chuẩn phân loại cho hoa cắt cành còn là một trong những vấn đề tranh cãi nhất trong việc chăm sóc và đóng gói Tiêu chuẩn khách quan như chiều dài thân, độ thẳng của cành hoa, cành khỏe mạnh, kích cỡ hoa, hoa không có khuyết tật, độ trưởng thành, đồng đều, chất lượng hoa cao là những nhân tố chung cho việc phân loại hoa cắt cành Hệ thống phân loại bằng cơ giới hóa cần được thiết kế cẩn thận để chắc rằng nó mang lại hiệu quả và tránh tổn thương hoa
Hoa đem bán được phân loại theo tiêu chuẩn của các loại hoa Theo Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý (2005), một số tiêu chuẩn chung thường dùng phân loại hoa là:
- Độ dài hoa
- Số lượng hoa trên thân Cành hoa phải có số hoa và búp tối thiểu trên thân
- Độ dài thân: hoa ở thân chính thường dài, khỏe và có chất lượng cao hơn
- Hình dáng chung: cành hoa phải có hình dáng đẹp, có sự cân đối giữa hoa, lá và thân Hoa có dạng khỏe, đẹp
- Không có vết sâu bệnh trên thân lá và hoa
- Trọng lượng: trọng lượng thể hiện phẩm chất của hoa
Bó hoa
Hoa sau khi thu hoạch thường được bó lại và hoa huệ cũng vậy Số lượng hoa trong
bó khác nhau tùy theo từng vùng, thị trường và loại hoa Nếu hoa khoảng 10, 12, 25 cành hoặc hoa cỡ nhỏ thì nên bao lại bằng giấy báo và cột vòng bên ngoài bằng dây thép hoặc nhựa dẻo Việc này nên thực hiện sớm sau khi thu hoạch để bảo vệ toàn bộ hoa, tránh để
Trang 20lộn xộn và giúp người trồng hay người chuyên chở vận chuyển dễ dàng Vật liệu được dùng cho việc bao gói thường là giấy báo (có phủ sáp hoặc không), ống giấy carton có gấp nếp (bề mặt láng thì hướng vào trong cành hoa)
Sự hư hại trong quá trình đóng gói có thể giảm được nếu việc phân loại, buộc lại thành bó thực hiện ngay ngoài đồng hoặc ngay trong nhà lưới Hoa nên được phân loại và buộc lại thành từng bó trước khi xử lý với hóa chất hoặc đem đi tồn trữ
Đóng gói
Có nhiều cách đóng gói cho hoa cắt cành nhưng cách chủ yếu là để hoa nằm dài trên một mặt phẳng Cách này hạn chế chiều sâu của hoa trong hộp vì vậy có thể giảm tổn thương vật lý Cũng cần chú ý thêm là cần nén chặt khi đóng gói bằng cách sử dụng
đủ lượng hoa cho vào trong một hộp và cố định chúng một cách chắc chắn Thông thường thì hoa được bảo vệ bằng giấy hoặc bằng những ống làm bằng chất liệu PE (Polyethylene) Vật liệu để lót hoa thường được sử dụng như là giấy vụn, sợi giấy, sợi gỗ đặt ở giữa những thùng đựng hoa để giảm sự hư hại Nếu đưa hoa đi bán ở xa, hoa cần đóng gói cẩn thận để đảm bảo không khô, héo, dập nát trong quá trình vận chuyển (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
Cũng theo Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý (2005), mỗi loại hoa khác nhau, được đóng gói theo phương pháp khác nhau Thông thường, hoa được đóng gói trong hộp carton có kích thước đa dạng như trình bày ở Bảng 1.1
Bảng 1.1 Hộp carton theo các kích thước khác nhau
(cm)
Chiều rộng (cm)
Chiều cao (cm)
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ hô hấp của hoa cắt cành
Quá trình hô hấp: hoa là một cơ thể sống nên cần phải hô hấp Hô hấp là quá trình phân giải các chất dinh dưỡng dự trữ (chủ yếu là đường) và giải phóng ra năng lượng
Trang 21Năng lượng này được sử dụng để duy trì sự sống cho tế bào và mô Hoa cắt cành bị mất nguồn cung cấp dinh dưỡng nên thiếu nguồn nguyên liệu cho hô hấp và nhanh chóng hoá già Cường độ hô hấp bị chi phối bởi nhiệt độ, nhiệt độ cao thì cường độ hô hấp cao Làm mát nhanh ngay sau khi thu hoạch hoa và chế độ lạnh thích hợp trong suốt quá trình bảo quản (thực chất là kìm hãm quá trình hô hấp) là biện pháp chủ yếu để kéo dài tuổi thọ hoa cắt cành (Nguyễn Thu Huyền, 2006)
Nhiệt độ
Nhiệt độ tăng làm tăng cường độ hô hấp và tăng nhu cầu oxy Thông thường, khi tăng nhiệt độ của môi trường bảo quản lên 10oC thì lượng CO2 sinh ra do 1 kg hoa tươi là khoảng 1 mg trong 1 giờ Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột trong quá trình bảo quản cũng làm tăng cường độ hô hấp
Độ trưởng thành
Theo Nguyễn Thu Huyền (2006), những thay đổi về sinh hóa chủ yếu trong quá trình phát triển, quá trình trưởng thành và bảo quản gồm những thay đổi về màu sắc, trạng thái nở, mùi, mức độ hô hấp Tiêu chuẩn về độ trưởng thành để thu hái của hoa cắt cành phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của từng loại hoa Nên thu hái hoa cùng một loại tuổi, thu hái đúng độ trưởng thành sẽ có cường độ hô hấp nhỏ hơn so với hoa đã nở
Độ ẩm
Môi trường có độ ẩm cao, sự thoát ẩm chậm lại sẽ giúp hạn chế quá trình hô hấp hiếu khí, làm cho hoa có thể tồn trữ lâu hơn Độ ẩm không khí càng cao thì hoa càng ít bốc hơi và lâu khô héo Tuy nhiên, độ ẩm tương đối của không khí càng cao lại là điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc dễ dàng phát triển Do vậy, trong các kho tồn trữ, độ ẩm tương đối của không khí thường được khống chế ở mức 80 – 90%
Quá trình thoát hơi nước
Nước là thành phần chủ yếu trong hoa, thường chiếm hơn 80% khối lượng hoa Vì vậy, khi mất nước sẽ làm mất độ tươi và gây héo hoa Hoa cắt cành dễ dàng mất nước do
có bề mặt thoát nước lớn Do đó, sau khi thu hoạch cần đảm bảo cân bằng nước cho hoa cắt cành và bảo quản ở độ ẩm cao (trên 95%)
Trang 22Sự sản sinh ethylene
Ethylene là một hormon thực vật thuộc nhóm chất ức chế gây già hoá ở một số loại hoa Sự tạo thành ethylene trong quá trình bảo quản là yếu tố bất lợi, làm giảm tuổi thọ bảo quản của hoa ngay cả khi ở nhiệt độ an toàn nhất Ethylene có hoạt tính sinh lý ở nồng độ rất thấp (chỉ 0,5 ppm) Sự nhạy cảm với ethylene khác nhau tuỳ theo loại hoa Tuy nhiên, sự tiếp xúc của hoa với ethylene sẽ tăng tốc độ hoá già Sự tăng hàm lượng ethylene trong hoa sẽ làm tăng cường độ hô hấp Người ta thấy rằng sự tăng cường độ
CO2 trùng với sự tăng ethylene, ethylene bắt đầu xuất hiện khi có mặt CO2 Vì vậy, trong quá trình bảo quản hoa thường sử dụng một số chất kháng ethylene như STS, Chrysal AVB, (Nguyễn Thu Huyền, 2006)
Sự hư hỏng cơ học
Hoa cắt cành bị tổn thương sẽ hoá già nhanh hơn, làm tăng cường độ hô hấp, tăng
sự mất nước và tạo ra ethylene Những hoa có dấu hiệu bị tổn thương cần phải loại ra trước khi bảo quản
Ảnh hưởng của vi sinh vật gây bệnh
Khi thu hoạch, thân hoa bị cắt tạo thành vết thương, từ đó vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhiễm, gây tắc bó mạch, hoa không hút được nước nên bị héo Để giảm tác hại của vi sinh vật, có thể sử dụng nước sạch có bổ sung citric acid để pH của dung dịch bảo quản hoa từ 3 - 3,5 nhằm ngăn cản sự phát triển của nấm khuẩn và sử dụng một số hoá chất kháng nấm khuẩn như benzoic acid (BA), chlorine hay 8- hydroxyl quinonlene citrate (8-HQC)
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoa trước và sau thu hoạch
Theo Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý (2005), chất lượng của hoa phụ
thuộc vào điều kiện trước thu hoạch thời điểm lúc thu hoa và điều kiện bảo quản hoa Sau đây là các yếu tố chính ảnh hưởng tới độ bền và chất lượng của hoa (Bảng 1.2)
Trang 23Bảng 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới độ bền của hoa
Độ ẩm Phòng trừ sâu bệnh Thời điểm thu hoạch
Thời gian thu hái Cách thức thu hái Nhiệt độ
Ẩm độ Ánh sáng Phản ứng của hoa đối với ethylene
(Nguồn: Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)
1.4 NHỮNG PHƯƠNG PHÁP CHÍNH ĐỂ BẢO QUẢN HOA CẮT CÀNH 1.4.1 Điều kiện tồn trữ lạnh
Theo Lê Văn Hoà (2009), nhiệt độ tối hảo cho việc làm lạnh và tồn trữ hoa huệ khoảng 32oF, nhưng chỉ sau một thời gian tồn trữ ngắn những nụ hoa trên nhánh sẽ không
nở được Xử lý với dung dịch có chứa đường sucrose sẽ tránh được hiện tượng này và sau 6 ngày tồn trữ hoa sẽ nở tốt như những hoa tươi vừa cắt
Yêu cầu về dung dịch cắm hoa: cần cung cấp dung dịch thức ăn cho hoa để cho hoa tiếp tục quá trình nở sau khi thu hoạch hoặc sử dụng tiền xử lý các nhánh
1.4.2 Bảo quản hoa cắt cành trong khí quyển điều chỉnh
Nguyên tắc của phương pháp này là sự điều chỉnh 3 thành phần chính trong khi bảo quản: nhiệt độ, O2 và CO2 theo hướng giảm nhiệt độ, giảm nồng độ O2 và tăng nồng độ
CO2
1.4.3 Bảo quản hoa cắt cành trong môi trường áp suất thấp
Áp suất thấp có tác dụng giảm nồng độ O2, do đó các quá trình hô hấp, trao đổi chất,
sự sản sinh và tác động của ethylene đều giảm
1.4.4 Bảo quản hoa cắt cành trong dung dịch cắm hoa
Dung dịch cắm hoa gồm các chất dinh dưỡng, chất điều hòa sinh trưởng, chất kháng nấm khuẩn (chlorine, 8-HQC) và các chất kháng ethylene nhằm kéo dài tuổi thọ của hoa
1.4.5 Một số hóa chất dùng để bảo quản hoa cắt cành
Sự thúc đẩy quá trình già hoá của hoa trong bảo quản liên quan tới sự giảm hàm lượng nước, sự giảm carbohydrate và các chất dinh dưỡng dự trữ khác, sự tăng sản sinh ethylene, sự giảm hấp thu nước của hoa và sự xuất hiện nấm khuẩn ở hoa
Trang 24Khác với nông sản khác, hoa cắt cành có khả năng hấp thụ nước, chất dinh dưỡng, các chất kháng ethylene qua vết cắt của cuống hoa Do đó bảo quản hoa tươi bằng dung dịch hoá chất cho chất lượng hoa tương đối cao đồng thời ít tốn kém Việc sử dụng một dung dịch hoá chất hợp lý để bảo quản hoa là đúng đắn như chất dinh dưỡng, chất kháng ethylene, chất diệt nấm khuẩn, chất làm giảm pH để tăng cường hấp thu nước
* Chất dinh dưỡng
Đường sucrose và glucose là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu trong các chất
bảo quản hoa thường dùng hiện nay Theo khảo sát của Pun và ctv (2005), đường là
nguồn năng lượng và chất nền cho sự hô hấp Ngoài ra, đường bảo vệ cấu trúc và chức năng của tế bào và tăng thời gian sống sau khi chiếu xạ cúc cắt cành Ngâm cành hoa trong dung dịch đường (2 - 5%) sẽ kích thích hoa nở, làm tăng số lượng hoa nở và thời gian sống của hoa
* Chất làm giảm pH, tăng cường độ hấp thụ nước và kháng khuẩn
Theo Nell và Reid (2000), acid có hai chức năng quan trọng là giúp hoa hấp thu nước tốt do làm giảm pH nước (pH = 3,5 - 4) và hạn chế sự phát triển của vi sinh vật Khi thu hoạch, thân hoa bị cắt tạo nên vết thương, từ đó vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhiễm, gây tắc bó mạch, hoa không hút nước được nên bị héo Để giảm tác hại của vi sinh vật có thể sử dụng nước sạch có bổ sung citric acid để dung dịch bảo quản hoa có giá trị pH = 3 - 3,5 nhằm ngăn cản sự phát triển của nấm khuẩn (Nguyễn Thu Huyền, 2006)
Citric acid là chất cơ bản không thể thiếu trong dung dịch dinh dưỡng gồm acid, nước, đường và sodium hoặc potassium benzoate (Nell và Reid, 2000)
Citric acid có trong rau quả với hàm lượng khá cao Trong cây họ citrus phần lớn đều chứa acid này Trong bảo quản hoa cắt cành, citric acid có khả năng làm giảm pH môi trường bảo quản Hầu hết các vi sinh vật thích hợp với pH trung tính nên khi pH thấp
vi sinh vật sẽ bị co nguyên sinh và chết (Vũ Thị Hường, 2009)
Độ pH thích hợp trong dung dịch bảo quản là 3,5 – 4,0 (Đoàn Doãn Ái, 2010)
Trang 25* Chất kháng ethylene
Nguyễn Quang Thạch và ctv (2000) đã nghiên cứu ảnh hưởng của ethylene đối với
một số loại hoa cắt cành nhận thấy ethylene làm tóp cánh hoa, làm rụng lá và mất màu
xanh của lá, mất màu sặc sỡ của cánh hoa và ức chế nụ hoa nở
Một số chất kháng ethylene thường được sử dụng:
- Các chất kích thích sinh trưởng – các chất kháng ethylene gián tiếp
Theo Vũ Thị Hường (2009), nên cân bằng các chất kích thích sinh trưởng và ức chế sinh trưởng nhằm giảm bớt tác động của ethylene Trong các chất kích thích sinh trưởng, gibberellins (GAs) thường được sử dụng để kháng lại tác động của ethylene
- Các ion kim loại nặng như như bạc (Ag), coban (Co), titan (Ti)… có thể đã ức chế quá trình chuyển triptophan thành ACC (chất tiền thân của ethylene), do đó ethylene không được hình thành Các hợp chất như AgNO3, STS, TiCl2, CoCl2 được bổ sung vào dung dịch cắm hoa hay xử lý hoa cắt cành trước hoặc sau bảo quản lạnh là các chất kháng ethylene có hiệu quả (Vũ Thị Hường, 2009)
- Các chất oxi hóa mạnh như ozon (O3), thuốc tím (KMnO4), tia cực tím (UV) sẽ oxi hóa ngay lập tức ethylene trước khi chúng gây ra những tác động xấu
- Làm mất nhanh chóng ethylene cùng nhiệt lượng cao ra khỏi phòng bảo quản bằng cách thông gió sao cho nồng độ ethylene nhỏ hơn 0,01µl/l
- Thu non sản phẩm nếu có thể
- Không bảo quản chung các sản phẩm đã có độ trưởng thành khác nhau
- Bảo quản ở nhiệt độ thấp, nồng độ CO2 thấp và trong khí quyển điều chỉnh
* Chất diệt nấm khuẩn
Chất này được dùng để ngăn cản vi khuẩn và nấm phát triển, hoạt động trong dung dịch cắm hoa Các vi sinh vật này sẽ sản sinh ra ethylene cùng các chất độc khác gây hại cho hoa, đồng thời chúng cũng làm nghẽn, tắc mạch dẫn trong hoa làm hoa không hút được nước và sẽ bị héo Có thí nghiệm đã chứng minh rằng trong dung dịch có khoảng 10÷100 triệu vi khuẩn/ml thì gây tắc mạch dẫn, nếu lên tới 3 tỷ vi khuẩn/ml thì làm hoa héo Chất trừ nấm khuẩn thường là chất kháng sinh như streptomicine hoặc 8-HQC
Trang 26Với các loại hạt chuẩn bị nảy mầm, GAs gây nên sự giải phóng các gen chịu trách nhiệm tổng hợp các enzyme thuỷ phân mà trong hạt đang ngủ nghỉ chúng hoàn toàn bị trấn áp bằng các protein histon GAs đóng vai trò như là chất cảm ứng mở gen để hệ thống tổng hợp protein enzyme thủy phân hoạt động Ngoài vai trò cảm ứng hình thành enzyme thì GAs còn có vai trò kích thích sự giải phóng các enzyme thủy phân vào nội nhũ, xúc tiến quá trình thủy phân các polymer thành các monomer, kích thích sự nảy mầm của các loại hạt
Gas xúc tiến hoạt động của auxin, hạn chế sự phân giải auxin do chúng có tác dụng kìm hãm hoạt tính xúc tác của enzyme phân giải auxin (auxinoxydase, flavinoxydase), khử tác nhân kìm hãm hoạt động của auxin
Cơ chế kích thích giãn tế bào bởi GAs cũng liên quan đến hoạt hóa bơm proton như auxin Tuy nhiên, các tế bào nhạy cảm với auxin và GAs khác nhau có những đặc trưng khác nhau Ðiều đó liên quan đến sự có mặt các nhân tố tiếp nhận hormone khác nhau trong các kiểu tế bào khác nhau
GA3 được tổng hợp ở trong phôi đang sinh trưởng, trong các cơ quan sinh trưởng khác như lá non, quả non, rễ non… chúng được vận chuyển không phân cực, có thể hướng ngọn hoặc hướng gốc tuỳ nơi sử dụng Trong tế bào, GA3 được tổng hợp mạnh
Trang 27nhất ở lục lạp Để làm hoa nở lúc cần thiết, người ta sử dụng GA3 ở nồng độ dao động trong khoảng 2 ÷ 50 ppm (Vũ Thị Hường, 2009)
Trong bảo quản lạnh, GA3 cũng đóng vai trò quan trọng Nó ngăn cản quá trình mất chlorophyll (mất màu xanh của lá và cành) làm giảm chất lượng hoa Vì vậy, hoa cắt trước khi đem đi bảo quản lạnh thường được cắm trong dung dịch GA3 trong thời gian 6 – 8 giờ sẽ có tác dụng giữ màu xanh của lá và cành hoa rất tốt (Nguyễn Thị Nhung, 2008)
* Bảo quản hoa dạng khô và bảo quản dạng ướt
Sử dụng dung dịch bao gồm các chất dinh dưỡng, chất điều hòa sinh trưởng, chất kháng khuẩn, kháng nấm, chất kháng ethylene… xử lý trong quá trình bảo quản
1.5 TIÊU CHUẨN HOA HUỆ CẮT CÀNH
Theo Dương Công Kiên (1994), các tiêu chuẩn về đặc điểm của hoa cắt cành phải phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng
- Thân cành: cành dài là một trong những yếu tố phân đẳng cấp hoa Cành hoa có độ dài nhất định, nói chung khoảng 70 cm, to và thẳng
- Hình dáng và màu sắc hoa: hoa to, đẹp, đồng đều, không lốm đốm Lá có độ lớn vừa phải, xanh bóng, tươi tốt, không có dị hình, không sâu rầy
- Cuống hoa: cuống hoa cần khỏe mạnh, không sâu bệnh, nụ hoa đồng đều, không
rũ xuống
Theo Halevy và Mayak (1979), điều kiện đo lường trong suốt quá trình tồn trữ có ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ của hoa cắm bình Điều kiện quan trọng nhất trong số đó là nhiệt độ, độ ẩm tương đối, ánh sáng, vận tốc không khí và nồng độ ethylene Các thông
số này cần được kiểm soát trong suốt quá trình thí nghiệm hoặc ít nhất là khi đo lường hoặc báo cáo Ngoài ra, thành phần của dung dịch bảo quản và chất lượng nước ảnh hưởng nhiều đến tuổi thọ Vài trường hợp sử dụng nước máy, phương pháp đo đánh giá tuổi thọ tiêu chuẩn cần được thực hiện với nước khử ion trong chậu sạch và vô trùng trước mỗi thử nghiệm Nhiều tác giả còn bổ sung thuốc sát trùng vào nước bảo quản Một vài tác giả tính thời điểm tồn trữ hoa cắt cành bắt đầu từ khi hoa được đặt trong nước hoặc dung dịch bảo quản Thời điểm kết thúc của đời sống cắm bình được xác định từ
Trang 28biểu hiện đầu tiên của sự tàn héo hoặc sự suy giảm chất lượng, hoặc đến khi tất cả hoa chết Bên cạnh đó, thời gian hoa sống cắm bình thể hiện thời gian sống hữu ích của hoa ở nơi tiêu thụ cuối cùng Vì thế, đánh giá thời gian cắm bình không bao gồm thời gian tiền
xử lý và vận chuyển tiêu thụ Để kết luận thời gian cắm bình cần được xác định cụ thể cho mỗi loại hoa và phải được xác định rõ ràng trong tất cả trường hợp
Đánh giá chất lượng hoa sau thu hoạch (STH) được sử dụng như:
Kích thước và hình dạng cuối của hoa
Sự thay đổi khối lượng tươi của hoa
Sự thay đổi màu sắc của hoa
Sự chuyển sang màu vàng hoặc nâu của lá và cuống hoa
1.6 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HOA CẮT CÀNH HIỆN NAY
1.6.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu hoa cắt cành trên thế giới
* Tình hình sản xuất
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp hoa tươi trên thế giới phát triển mạnh mẽ, chủ yếu ở các nước tiên tiến Hiện nay, tiêu dùng hoa cắt cành có xu hướng gia tăng ở một số nước Đông Âu, Châu Á và Mỹ Latinh (Phạm Xuân Tùng, 2009) Điển hình trong các nước châu Á đó là Malaysia
* Tình hình nghiên cứu
Một số tác giả đã nghiên cứu thành công quy trình bảo quản nhiều loại hoa cắt cành
như hoa Hồng, hoa Cúc, hoa Cẩm Chướng, hoa Lay-ơn… Goszczynska và Danuta (1988
và 1991) đã nghiên cứu bảo quản hoa cúc cắt cành, kết quả cho thấy sau 15 ngày bảo quản hoa duy trì chất lượng tốt Halevy và Mayak (1979 và 1981) đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý, những biến đổi trong quá trình bảo quản hoa cắt cành cho thấy mỗi loại hoa khác nhau có những biến đổi sinh hóa khác nhau từ đó có các quy trình bảo quản cho mỗi
loại hoa cũng khác nhau
* Các đề tài nghiên cứu hoa huệ trắng cắt cành trên thế giới
Hutchinson và ctv (2010) thực hiện nghiên cứu để điều tra ảnh hưởng của BA,
sucrose và STS trên hoa huệ cho thấy, sự tích tụ của sucrose và đường giảm trong cánh
hoa huệ cắt cành (Polianthes tuberosa L.) tại các vị trí khác nhau dọc theo cành Cành
Trang 29hoa huệ được ngâm trong dung dịch có 25 mg/l BA, ngâm trong sucrose 20% trong khoảng 24 giờ và sau đó giữ bảo quản trong nước cất hoặc thêm 25 mg/l BA, ngâm trong
2 mM STS trong 1 giờ và giữ tiếp trong nước cất. Cho thấy, ngâm thân trong STS hoặc
trong BA không có ảnh hưởng đáng kể về mức độ đường sucrose hoặc giảm đường trong vòng 9 ngày kể từ ngày kiểm tra mặc dù hầu hết nụ đã mở ra bởi thời gian này Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng trong khi sucrose có một ảnh hưởng trực tiếp tích lũy của đường sucrose và giảm đường trong trong các nụ hoa, BA và STS cải thiện cuộc sống bình và mở nụ hoa của hoa huệ cắt cành bắt nguồn hoặc gián tiếp thông qua huy động chất nền và quá trình trao đổi chất tăng lên, hoặc có một vai trò khác hơn so với huy động chất nền khác nhau
Kiến nghị xử lý sau thu hoạch cho hoa huệ cắt cành của Reid (1996) cho biết, hoa
huệ tươi có một cuộc sống bình khoảng 9 ngày khi đưa các hoa huệ cắt cành tươi vào bảo quản trong một dung dịch có chứa chất bảo quản là 250 ppm 8-HQC và sucrose 2% đã giúp cho cuộc sống cắm bình của hoa tăng trên 30% Kết quả này cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng chất bảo quản ở hoa huệ
Abbasi và Asil (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 và STS về chất lượng sau thu hoạch của hoa hoa huệ cắt cành với các nồng độ GA3 (40, 80 và 120 ppm)và STS (0,2, 0,4 và 0,6 mM) Kết quả cho thấy rằng điều kiện tối ưu nhất để kéo dài tuổi thọ hoa huệ cắt cành là GA3 với nồng độ 40 ppm, mặc dù không có sự khác biệt rõ ràng đã được quan sát giữa các nồng độ khác
Bakhsh và ctv (1999) cho biết, cuộc sống của hoa huệ cắt cành tăng lên ba lần nếu
được bổ sung một dung dịch chứa 200 ppm AgNO3 và 4 mM STS Ngoài ra, ngâm hoa huệ cắt cành trong một dung dịch chứa glucose và sucrose cuộc sống của hoa cũng được kéo dài và chất lượng được cải thiện Hoa thu hoạch ở giai đoạn búp có cuộc sống bình lâu hơn đáng kể so với hoa đã nở một nửa
Serek và Reid (1997) đã nghiên cứu sử dụng một số chất điều hòa sinh trưởng để nâng cao chất lượng hoa STH và chất lượng của cây cảnh như auxin, ethylene, cytokinin
tự nhiên và nhân tạo, abscisic acid và gibberellins
Trang 301.6.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu hoa cắt cành ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất
Thị trường hoa cắt cành Việt Nam tuy phát triển đáng kể trong những năm qua nhưng vẫn được coi là thị trường còn non trẻ Hoa cắt cành được sử dụng nhiều nhất cho các mục đích thờ cúng, lễ hội, tiếp tân và giao lưu Thị trường hoa Việt Nam còn là một thị trường hầu như khép kín Xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 5% tổng sản lượng hoa của cả nước, trong
đó Đà Lạt là vùng xuất khẩu lớn nhất (Sở Công thương Lâm Đồng, 2009)
* Tình hình nghiên cứu
Việt Nam có rất nhiều giống hoa quý và kỹ thuật trồng hoa đã có nhiều bước nhảy vọt Việc nghiên cứu kỹ thuật bảo quản hoa, bảo quản nguồn gen quý có ý nghĩa quan trọng Nghiên cứu hoa cắt cành ở Việt Nam đã trở thành một lĩnh vực mới song còn rất hạn chế Sau đây là một số nội dung mà một số tác giả ở Việt Nam bước đầu đã nghiên cứu Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm dinh dưỡng và chất kích thích trên cúc Đài Loan, Đặng Văn Đông (2000) đã rút ra kết luận là GA3 tác động mạnh trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, còn Spray-N-Grow và Atonik tác động mạnh trong giai đoạn sinh dục nâng cao tỷ lệ nở hoa hữu hiệu, nâng cao chất lượng hoa, kéo dài tuổi thọ
hoa Nguyễn Quang Thạch và ctv (2000) đã nghiên cứu ảnh hưởng của ethylene với một
số loại hoa cắt cành như hồng, cẩm chướng, lan… cho thấy ethylene làm tóp, rụng cánh hoa, rụng lá, làm mất màu xanh của lá, mất màu sắc rực rỡ của cánh hoa, ức chế nụ hoa
nở Bằng cách bổ sung 0,5 - 1 ppm STS vào dung dịch cắm hoa hay nhúng cuống hoa vào dung dịch trên trước khi bảo quản lạnh có thể nâng cao tuổi thọ hoa gấp 2 lần so với đối chứng Phạm Thị Duyên (2012) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch,
đường sucrose và citric acid lên thời gian bảo quản hoa lan cắt cành Dendrobium ‘Sanan
White’ sau thu hoạch cho thấy, thu hoạch hoa giai đoạn 7 hoa nở/phát hoa và cắm hoa trong dung dịch bổ sung đường sucrose 4% + citric acid 100 ppm giúp duy trì chất lượng hoa STH đến 29 ngày
1.7 ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN
Phương pháp đánh giá cảm quan là phương pháp khoa học được sử dụng để gợi lên,
đo đạc, phân tích và giải thích cảm giác đối với các sản phẩm vốn được nhận biết thông
Trang 31qua các giác quan như thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác và thính giác Việc phân tích đánh giá cảm quan được sử dụng để xác định các đặc tính của sản phẩm khác nhau cũng như sự chấp nhận của người tiêu dùng về sản phẩm Đây là một phần của một loạt các thử nghiệm lớn hơn, bao gồm các xét nghiệm hóa chất, giác quan và khách quan (Stone
và Side, 1993)
Thời điểm đánh giá cảm quan cũng là một vấn đề làm nhiều người băn khoăn Theo thông lệ, người ta chấp nhận rằng một thí nghiệm cảm quan tốt nhất nên được tổ chức vào khoảng 10.00 – 11.30 giờ và 15.00 - 17.00 giờ hằng ngày Tuy nhiên khoảng thời gian trên đây còn thiếu cở sở thực nghiệm (Sauvageot và Catherine, 1997)
Phép thử cho điểm
- Mục đích: cho điểm chỉ tiêu sản phẩm, theo sở thích của người tiêu dùng
- Hội đồng: 10 – 20 thành viên
- Số mẫu: 20 – 25 mẫu đã được ghi mã số
- Quy trình: mỗi thành viên nhận được một số mẫu ghi mã số Yêu cầu cho điểm những mẫu trên về một chỉ tiêu cảm quan nào đó theo thang điểm mô tả (Dương Thị Phượng Liên, 2010)
Trang 32
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Thời gian thí nghiệm
Đề tài “Ảnh hưởng của dung dịch bảo quản đến chất lượng và thời gian tồn trữ
hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa L.) cắt cành” được thực hiện từ tháng 01 đến tháng
05 năm 2012
2.1.2 Địa điểm thực hiện thí nghiệm
Các thí nghiệm tồn trữ sau thu hoạch (TTSTH) được thực hiện tại Bộ môn Sinh lý - Sinh hóa, khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Phòng thí nghiệm bố trí có nhiệt độ khoảng 30oC, ẩm độ tương đối của không khí khoảng 65 - 71% (được đo vào thời điểm 9 giờ sáng)
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm
Hoa huệ được trồng tại vườn ông Nguyễn Thanh Điền (số nhà 200/2, Phong Hòa, Lai Vung, Đồng Tháp) Hoa huệ trắng cắt cành được thu hoạch tại vườn trồng huệ có cùng điều kiện canh tác và chăm sóc trước thu hoạch Hoa huệ được thu hoạch khi các nụ hoa trên cành còn búp sắp nở, kích thước cành khoảng 80 cm Hoa huệ STH không qua
xử lý bất kỳ hóa chất nào và được vận chuyển về phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh lý – Sinh hoá, khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ
* Các trang thiết bị, dụng cụ và hóa chất dùng trong thí nghiệm
Thước kẹp, beaker, ống đong (50 - 200 ml), băng keo giấy, cân phân tích, dụng cụ
đo pH, giá đựng ống nghiệm, kéo cắt cành, dao, micropipet (1- 5 ml), ống nghiệm lớn
Dung dịch STS được pha theo công thức tham khảo được từ trang web:
www.phytotechlab.com/pdf/STSSolution.pdf Cách pha chế cụ thể như sau:
Trang 33- Chuẩn bị 0,1 M thiosulfate bằng cách hòa tan 1 g sodium thiosulfate pentahydrate (Na2S2O3.5H2O) trong 40 ml nước cất
- Chuẩn bị 0,1 M bạc bằng cách hòa tan 0,68 g AgNO3 trong 40 ml nước cất
Dùng pipet hút và nhỏ từ từ 10 ml dung dịch AgNO3 0,1 M vào 40 ml dung dịch sodium thiosulfate pentahydrate (Na2S2O3.5H2O) 0.1 M theo tỷ lệ 1:4 để được 50 ml dung dịch 0,02 M STS (công thức hóa học là [Ag (S2O3)2]3-) Do nguồn hóa chất từ Trung Quốc nên trong thành phần hóa học của sodium thiosulfate pentahydrate (Na2S2O3.5H2O) có chứa một lượng nhỏ chì gây nên hiện tượng kết tủa đen (với tỷ lệ rất nhỏ), sau khi thấy xuất hiện kết tủa thì dùng giấy lọc để lọc đi phần kết tủa này Dung dịch STS còn lại có nồng độ 0,02 M được dùng làm dung dịch gốc để pha ra các nồng độ
là 4 và 8 ppm cho thí nghiệm 2
Pha dung dịch GA 3
GA3 được mua ở dạng viên có khối lượng 1 g, nghiền nhuyễn, đem cân 0,1 g rồi hòa tan vào 100 ml nước cất để được dung dịch GA3 có nồng độ 1.000 ppm, sau đó tiếp tục pha nồng độ GA3 20 và 40 ppm cho thí nghiệm 2
* Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm
2 nhân tố: pH (nhân tố A) gồm 2 mức độ (pH = 3 và pH = 4), pH được điều chỉnh bằng citric acid; đường sucrose (nhân tố B) gồm 4 mức độ (0, 1%, 2%, 3%) Thí nghiệm bao gồm 8 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng là 2 cành hoa huệ (Bảng 2.1)
Trang 34NT2 NT6
NT3 NT7
NT4 NT8
* Cách thực hiện: hoa huệ được thu hái tại vườn vào lúc sáng sớm (6 giờ) Chọn cành hoa tương đồng, khỏe, thẳng, nụ hoa đều, hoa chưa nở và cành không bị sâu bệnh Sau khi thu hái, hoa được bao gói kỹ bằng giấy báo, vận chuyển nhanh và tiến hành thí nghiệm tại Bộ môn Sinh lý - Sinh hóa, khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Hoa được tỉa bỏ lá, giữ lại hai lá phía trên cùng không mang hoa Độ dài cành hoa khoảng 70 cm và được vạt xéo 45o mỗi cành ngay trong nước, sau
đó được cắm ngay vào trong mỗi ống nghiệm chứa 50 ml dung dịch khảo sát đã được chuẩn bị sẵn Tiến hành đánh giá chỉ tiêu theo dõi
* Chỉ tiêu theo dõi:
Theo dõi và lấy chỉ tiêu (cách 1 ngày lấy 1 lần), thời gian từ ngày thu hoạch cho đến khi hơn 2/3 hoa tàn
Các chỉ tiêu theo dõi gồm:
Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%)
Tỷ lệ hoa nở thêm (%)
Tỷ lệ hoa héo, rụng (%)
Đánh giá cảm quan (dáng cành, màu sắc hoa, độ tươi của hoa)
Thời gian tồn trữ (ngày)
Thí nghiệm 2: khảo sát ảnh hưởng của STS và GA 3 đến chất lượng và thời gian tồn trữ hoa huệ trắng cắt cành
* Mục tiêu thí nghiệm: Xác định dung dịch bảo quản thích hợp để bảo tồn trữ hoa huệ cắt cành
Trang 35Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên (1 nhân tố) gồm 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 2 cành hoa huệ
Wt: Trọng lượng hoa ngày phân tích
* Tỷ lệ hoa nở thêm trong thời gian tồn trữ (%)
Trang 36Tỷ lệ hoa bị héo, rụng (%) trong thời gian tồn trữ
Trang 37* Đánh giá cảm quan
Cách thực hiện: chọn 10 người (5 nam, 5 nữ) quan sát hoa bảo quản ở các nghiệm
thức khác nhau từ khi thu hoạch, đánh giá cảm quan chung và đánh giá riêng hoa bảo quản theo các chỉ tiêu dáng cành, màu hoa và độ héo theo Bảng 2.2
Đánh giá riêng các chỉ tiêu dáng cành, màu hoa và độ héo cho điểm theo thang điểm:
Đánh giá chung
NT1
NT2
NT3
…
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Ngân Khánh, 2011)
Tổng hợp đánh giá cảm quan bằng cách chọn mức đánh giá chung của đa số phiếu và tổng hợp điểm của các chỉ tiêu trên từng nghiệm thức Sau đó, kết quả được thống kê trên 4 lần lặp lại của các nghiệm thức
Thời gian tồn trữ (ngày)
Theo dõi đến khi 2/3 hoa trên cành héo, rụng và dựa vào đánh giá cảm quan nếu trung bình điểm đánh giá của các phiếu nhỏ hơn 21 điểm sẽ không theo dõi nữa
Trang 38
Xử lý số liệu
Số liệu được thu thập bằng phần mềm Excel và sử dụng phần mềm SPSS để phân tích số liệu
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ PH VÀ ĐƯỜNG SUCROSE ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ THỜI GIAN TỒN TRỮ HOA HUỆ TRẮNG CẮT CÀNH STH
3.1.1 Tỷ lệ hao hụt trọng lượng (%) theo thời gian TTSTH
Kết quả bảng 3.1 cho thấy, ở thời điểm ngày thứ 4 TTSTH, tỷ lệ hao hụt trọng lượng của các nghiệm thức bảo quản ở 2 mức pH khác nhau không khác biệt qua phân tích thống kê giữa hai pH Nghiệm thức có pH = 3 có tỷ lệ hao hụt trọng lượng là 9,39%
Tỷ lệ hao hụt trọng lượng khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% giữa các nồng độ đường khác nhau Trong đó, cả ba nồng độ đường 0%, 1%, và 3% có tỷ lệ hao hụt trọng lượng cao (tương ứng với 10,33%, 10,26% và 9,66%), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức sử dụng nồng độ đường 2% (8,42%)
Sự tương tác giữa pH và các nồng độ đường khác nhau lên tỷ lệ hao hụt trọng lượng khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% Nghiệm thức có pH = 3 + đường 2% có
tỷ lệ hao hụt trọng lượng thấp nhất (7,14%), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại
Trang 40Như vậy, kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ hao hụt trọng lượng tăng dần theo thời gian TTSTH, tỷ lệ hao hụt trọng lượng gia tăng từ ngày thứ 4 TTSTH
Theo Halevy và Mayaka (1981), sự tổn thất khối lượng tươi là do sự mất tính toàn vẹn của màng, làm tăng tính thấm và sự rò rỉ Đường ảnh hưởng lên sự đóng kín của khí khẩu và làm giảm mất nước Lượng đường khử trong cuống hoa tăng vào một thời gian ngắn sau khi ngâm trong dung dịch đường sucrose và sẽ được vận chuyển đến búp Thêm vào đó sự tích lũy của đường chuyển đổi làm tăng tính thấm, cải thiện khả năng hút nước
3.1.2 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) theo thời gian TTSTH
Tỷ lệ hoa nở của các nghiệm thức khác nhau không khác biệt qua phân tích thống
kê ở các ngày TTSTH khi so sánh giữa các mức pH, đường và sự tương tác giữa pH và đường Kết quả thí nghiệm cho thấy các nghiệm thức có dung dịch bảo quản hoa huệ trắng cắt cành không ảnh hưởng đến tỷ lệ hoa nở STH (Bảng 3.3)
Bảng 3.2 Tỷ lệ hoa nở thêm (%) trên cành hoa huệ trắng cắt cành ở ngày thứ 4, thứ 6
Ghi chú: ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê
3.1.3 Tỷ lệ hoa héo, rụng (%) theo thời gian TTSTH
Theo kết quả Bảng 3.4, ở ngày thứ 6 TTSTH, tỷ lệ hoa héo, rụng ở các nghiệm thức
về pH và nồng độ đường khác nhau không khác biệt qua phân tích thống kê Trong khi