TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG TRẦN THỊ VÂN ANH ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ NAA LÊN SỰ NHÂN CHỒI VÀ TẠO RỄ IN VITRO CÂY BẰNG LĂNG NHIỀU HOA Lagerstroemia floribund
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN THỊ VÂN ANH
ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ NAA LÊN SỰ NHÂN
CHỒI VÀ TẠO RỄ IN VITRO CÂY BẰNG LĂNG NHIỀU HOA (Lagerstroemia floribunda Jack)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Hoa viên và Cây cảnh
Cần Thơ, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Hoa viên và Cây cảnh
ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ NAA LÊN SỰ NHÂN
CHỒI VÀ TẠO RỄ IN VITRO CÂY BẰNG LĂNG
NHIỀU HOA (Lagerstroemia floribunda Jack)
ThS Nguyễn Văn Ây Trần Thị Vân Anh
Lớp: Hoa viên và Cây cảnh K34
Cần Thơ, 2012
Trang 3i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Đại học ngành Hoa viên & Cây cảnh với đề tài: “ẢNH HƯỞNG
CỦA BA VÀ NAA LÊN SỰ NHÂN CHỒI VÀ TẠO RỄ IN VITRO CÂY BẰNG LĂNG NHIỀU HOA (Lagerstroemia floribunda Jack)” do sinh viên TRẦN THỊ VÂN
ANH thực hiện, kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Ths Nguyễn Văn Ây
Trang 4ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Hoa viên &
Cây cảnh với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ NAA LÊN SỰ NHÂN CHỒI VÀ
TẠO RỄ IN VITRO CÂY BẰNG LĂNG NHIỀU HOA (Lagerstroemia floribunda Jack)”, do sinh viên TRẦN THỊ VÂN ANH thực hiện và bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp ngày….tháng….năm 2012
Ý kiến hội đồng:
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 Chữ kí của thành viên hội đồng Thành viên 1 Thành viên 2 Thành viên 3
Duyệt của Khoa
Trưởng khoa Nông nghiệp & SHƯD
Trang 5iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và thầy hướng dẫn Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trần Thị Vân Anh
Trang 6iv
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha mẹ suốt đời tận tụy vì tương lai của con
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Nguyễn Văn Ây đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Thầy Phạm Phước Nhẫn và cô Lê Minh Lý, cố vấn học tập, đã tận tâm dìu dắt, rèn luyện tôi suốt những năm học tại trường Đại Học Cần Thơ
Cô Phan Thị Hồng Nhung, cô Lê Hồng Giang đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Quý Thầy Cô và các anh chị, các bạn sinh viên trong phòng thí nghiệm nuôi cấy mô, Bộ Môn Sinh Lý-Sinh Hóa, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã hết lòng giúp đỡ
Các bạn sinh viên lớp Hoa viên & Cây cảnh - Khóa 34 đã giúp đỡ động viên tôi trong những năm tháng trên giảng đường Đại Học
Trang 7v
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: TRẦN THỊ VÂN ANH
Ngày sinh: 23/10/1987
Nơi sinh: Cần Thơ
Họ và tên cha: TRẦN VĂN Á Nghề nghiệp: Bác sĩ
Họ và tên mẹ: HÀ THỊ MỸ DUNG Nghề nghiệp: Nội trợ
Chỗ ở hiện nay: 10 Ngô Hữu Hạnh, phường An Hội, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Quá trình học tập:
1993 – 1998: Học sinh Trường Tiểu học Tân An – quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
1998 – 2002: Học sinh Trường Trung học cơ sở Đoàn Thị Điểm – quận Ninh Kiều, TP
Cần Thơ
2002 – 2005: Học sinh Trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm - quận Ninh Kiều,
TP Cần Thơ
2005 - 2007: Học sinh Trường Trung Học Y Tế - quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
2008 – 2012: Sinh viên Ngành Hoa viên & Cây cảnh - Khóa 34, Khoa Nông nghiệp và
Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Trần Thị Vân Anh
Trang 8vi
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan iii
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm tạ v
Mục lục vi
Danh sách chữ viết tắt viii
Danh sách bảng ix
Danh sách hình x
Tóm lược xi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Phân loại các loài Bằng Lăng 2
1.1.1 Bằng lăng nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack) 2
1.1.2 Bằng lăng hoa đỏ (Lagerstroemia balansae Koechne) 3
1.1.3 Bằng lăng ổi (Lagerstroemia calyculata Kurz hay Lagerstroemia angustifolia Pierre Ex Lann.) 3
1.1.4 Bằng lăng còi (Lagerstroemia lecomtei Cagnep.) 4
1.1.5 Bằng lăng xoan (Lagerstroemia ovalifolia Teijm Et Binn.) 4
1.1.6 Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.) 5
2.1.7 Bằng lăng lông (Lagerstroemia tomentosa Presl) 6
1.2 Nuôi cấy mô và phương pháp nhân giống 6
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa 6
1.2.2 Môi trường nuôi cấy 7
1.2.3 Các giai đoạn vi nhân giống 12
1.2.4 Các kết quả nghiên cứu đã được công bố 13
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 Phương tiện 15
2.1.1 Vật liệu thực vật 15
2.1.2 Thiết bị và hóa chất 15
Trang 9vii
2.1.3 Điều kiện thí nghiệm 15
2.1.4 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 15
2.2 Phương pháp thí nghiệm 15
2.2.1 Chuẩn bị môi trường nuôi cấy 15
2.2.2 Bố trí thí nghiệm 16
2.2.3 Xử lý số liệu 17
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
3.1 Ảnh hưởng của BA lên sự nhân chồi từ cụm chồi Bằng lăng nhiều hoa in vitro 18
3.1.1 Số chồi lớn 18
3.1.2 Số chồi nhỏ 19
3.1.3 Chiều cao cụm chồi 23
3.2 Ảnh hưởng của NAA và than hoạt tính lên sự tạo rễ của cây Bằng lăng nhiều hoa in vitro 24
3.2.1 Tỷ lệ (%) số chồi tạo rễ 24
3.2.2 Số rễ và chiều dài rễ 25
3.2.3 Chiều cao chồi 27
3.2.4 Số lá 29
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
4.1 Kết luận 31
4.2 Đề nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ CHƯƠNG
Trang 10viii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
HgCl2: Thủy ngân clorua
MS: Murashige và Skoog (1962)
EDTA: Ethylene diamine tetraacetic acid
BA: Benzyl adenine
NAA: 1-Naphthalene acetic acid
AgNO3: Bạc nitrate
ctv.: Cộng tác viên
Trang 11ix
DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa bảng Trang3.1 Ảnh hưởng của BA lên sự phát sinh chồi hữu hiệu của cụm chồi Bằng lăng nhiều hoa in vitro theo thời gian (ngày sau khi cấy) 18
3.2 Ảnh hưởng của BA lên sự tạo chồi vô hiệu của cụm chồi Bằng lăng
nhiều hoa in vitro theo thời gian (ngày sau khi cấy) 20
3.3 Ảnh hưởng của BA lên chiều cao gia tăng của cụm chồi Bằng lăng nhiều hoa in vitro theo thời gian (ngày sau khi cấy) 23 3.4 Ảnh hưởng của NAA và than hoạt tính đến tỷ lệ (%) số chồi tạo rễ của cây Bằng lăng nhiều hoa in vitro vào thời điểm 40 ngày sau khi cấy 24 3.5 Ảnh hưởng của NAA và than hoạt tính đến số rễ và chiều dài rễ của cây Bằng lăng nhiều hoa in vitro vào thời điểm 40 ngày sau khi cấy 25 3.6 Ảnh hưởng của NAA và than hoạt tính đến chiều cao gia tăng của chồi cây Bằng lăng nhiều hoa in vitro theo thời gian (ngày sau khi cấy) 27 3.7 Ảnh hưởng của NAA và than hoạt tính đến số lá của chồi cây Bằng lăng nhiều hoa in vitro theo thời gian (ngày sau khi cấy) 29
Trang 12Sự sinh trưởng của cụm chồi cây Bằng lăng nhiều hoa vào thời
điểm 40 ngày nuôi cấy in vitro trong môi trường bổ sung BA có
nồng độ khác nhau
22
3.2
Rễ của chồi Bằng lăng nhiều hoa sau 40 ngày nuôi cấy in vitro
trong môi trường có bổ sung than hoạt tính 2 g/l và NAA với các
3.3
Sự sinh trưởng của chồi Bằng lăng nhiều hoa vào thời điểm 40
ngày nuôi cấy in vitro trong môi trường có bổ sung than hoạt tính
2 g/l và NAA với các nồng độ khác nhau
28
Trang 13xi
TRẦN THỊ VÂN ANH 2012 “Ảnh hưởng của BA và NAA lên sự nhân chồi và tạo
rễ in vitro cây Bằng lăng nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack)” Luận văn tốt
nghiệp Đại học ngành Hoa viên & Cây cảnh, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ 33 trang Cán bộ hướng dẫn: Ths Nguyễn Văn Ây
TÓM LƯỢC
Bằng lăng nhiều hoa là loài cây có giá trị kinh tế, được sử dụng rộng rãi trong xây dựng,
đồ gia dụng và trị một số bệnh Bên cạnh đó, với sự phát triển của xã hội ngày nay, nhu cầu về giá trị tinh thần cũng được nâng cao nên cây Bằng lăng nhiều hoa cũng được sử dụng để tạo mảng xanh cho không gian sống Đây là một loài cây đang được nhiều người
ưa chuộng do có nhiều hoa và hoa đẹp nhưng trên thị trường nguồn cây giống không đủ
để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Phương pháp vi nhân giống in vitro là phương
pháp đã được áp dụng nhân giống thành công cho một số cây thân gỗ và mang lại hiệu
quả cao Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của BA và NAA lên sự nhân chồi và tạo rễ in vitro cây Bằng lăng nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack)” được thực hiện nhằm tìm ra môi trường nhân giống in vitro thích hợp cho cây Bằng lăng nhiều hoa Đề tài gồm 2 thí
nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố, 7 lần lặp lại, mỗi lần
lặp lại là 1 keo, mỗi keo cấy 3 mẫu Kết quả thí nghiệm cho thấy: (i) Môi trường MS bổ
sung BA ở nồng độ 0,5 mg/l mang lại hiệu cao cho sự nhân chồi của cây Bằng lăng nhiều
hoa in vitro Sau 40 ngày nuôi cấy, nghiệm thức BA 0,5 mg/l có đạt được số chồi vô hiệu
và hữu hiệu tương ứng là 2,43 chồi và 0,57 chồi; chiều cao gia tăng của cụm chồi là 1,29
cm; (ii) Để tạo cây hoàn chỉnh phục vụ cho giai đoạn thuần dưỡng thì môi trường MS bổ
sung NAA 4 mg/l kết hợp với than hoạt tính 2 g/l là thích nhất cho việc tạo rễ với tỷ lệ tạo rễ cao (100%), số rễ và chiều dài rễ sau 40 ngày nuôi cấy tương ứng là 7,43 rễ và 5,62
cm, các chồi nuôi cấy in vitro đều sinh trưởng và phát triển tốt (iii) Về mặt lý thuyết, từ một cụm 3 chồi in vitro ban đầu, nếu sử dụng môi trường MS + BA 0,5 mg/l để nhân chồi thì trong một năm, số chồi in vitro đạt được là trên 1500 chồi cây Bằng lăng nhiều
hoa
Từ khóa: Cây Bằng lăng nhiều hoa, BA, NAA, nhân chồi, tạo rễ
Trang 14Bằng lăng có nhiều loài nhưng hiện nay được ưa chuộng hơn cả là loài Bằng lăng
nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack) do chúng có màu hoa đặc biệt gồm những
hoa trắng, tím nhạt xen lẫn nhau và cho rất nhiều hoa vào mùa hè Cây Bằng lăng
nhiều hoa có đặc tính là rễ cọc ăn sâu không làm ảnh hưởng mặt đường và có chiều cao trung bình nên rất thích hợp trồng để tạo bóng mát, tạo vẻ mỹ quan cho đường phố
và trang trí trong sân vườn Hiện nay, Bằng lăng nhiều hoa có hai cách để nhân giống
là gieo hạt và chiết cành Tuy nhiên, việc nhân giống bằng cách gieo hạt thì tỉ lệ nảy mầm không cao còn việc chiết cành thì không đủ số lượng cây để cung cấp cho nhu cầu thị trường Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra phương pháp nhân nhanh với số lượng lớn cây Bằng lăng nhiều hoa là cần thiết
Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao Một số cây thân gỗ đã được nhân giống thành công bằng phương pháp
này như cây Lồng Mức Nhuộm Wrightia tinctoria (Purohit & ctv., 2006), cây Gao Rừng Banbax ceiba L (Chand và ctv., 1999), Anh Đào Đôi Prunus cerasus (Ozzamabak và ctv., 1997) Trong các phương pháp nuôi cấy mô thì phương pháp
nhân giống bằng chồi bên là phương pháp được áp dụng rộng rãi đối với các loài thực vật và có tiềm năng phát triển mạnh nhất khi áp dụng với các loài thân gỗ Vì những lý
do trên, đề tài “Ảnh hưởng của BA và NAA lên sự nhân chồi và tạo rễ in vitro cây Bằng lăng nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack)” được thực hiện nhằm tìm ra môi trường bổ sung BA và NAA thích hợp cho sự nhân chồi và tạo rễ in vitro cây
Bằng lăng nhiều hoa, góp phần hoàn chỉnh quy trình nhân giống cây này, đáp ứng nhu cầu về cây con giống cho nhu cầu thị trường hiện nay
Trang 152
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Phân loại các loài Bằng lăng
Theo Trần Hợp (2002) thì Bằng lăng là chi thuộc họ Tử vi (Lythraceae) và gồm nhiều loài:
1.1.1 Bằng lăng nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack)
Cây gỗ lớn, cao 10 - 15 m, thân mập xốp, màu xám nâu, gần nhẵn, phân cành lớn, cao, tán rộng, dày
Lá đơn mọc đối hay gần đối dạng bầu dục thuôn đều, đầu lá tù hẹp có mũi nhọn Gốc
tù rộng, màu xanh bóng dày, dai, nhẵn, cứng, dài 15 - 20 cm Gân bên 12 - 14 đôi, mảnh, nối lại với nhau ở mép lá Cuống lá dài 1 cm
Cụm hoa chùy lớn mọc ở đầu cành Hoa lớn màu trắng và tím nhạt xen lẫn nhau Cuống chung có lông mịn màu vàng nhạt Nụ hoa thuôn hẹp ở gốc, rộng ở đỉnh Đài hợp ở gốc hình chén, có 12 gờ dọc, thấp, mảnh Cánh hoa 4 - 5 cao 1,5 cm, nhăn nheo,
có cuống đính trên ống dài Nhị đực nhiều, hơi lộ ra ngoài hoa (Hình 1.1)
Hình 1.1: Cây Bằng lăng nhiều hoa
Quả nang thuôn hình tròn, dài 1,2 - 1,6 cm, mở làm 5 cánh Hạt nhiều, dài 1,1 cm, có cánh
Ở Việt Nam cây mọc rộng rãi ở các tỉnh Nam bộ: Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu (Côn Đảo) trong rừng khô, thưa, nửa rụng lá vùng đồi núi cao trung bình
Trang 163
Hoa tháng 5 - 7 Quả tháng 11 - 12 Cây cho quả tốt, dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc trong gia đình, làm ván, làm đồ mỹ nghệ Cây có hoa đẹp, làm cây bóng mát, cây
trang trí
1.1.2 Bằng lăng hoa đỏ (Lagerstroemia balansae Koechne)
Cây thân gỗ, cao 20 - 30 m, đường kính 30 - 50 cm Vỏ ngoài mỏng, thịt vỏ màu vàng sẫm Cành non màu nâu sẫm
Lá đơn mọc đối hoặc gần mọc đối, hình mác hay hình trứng thuôn, dài 6 - 15 cm, rộng
3 - 6 cm, đỉnh có mũi nhọn, gốc hình nêm rộng hoặc gần hình tròn, lúc non 2 mặt có lông màu vàng, sau nhẵn, 6 - 10 đôi gân bên Cuống lá dài 4 - 5 mm, có lông màu xám nâu, nách lá mang chồi nhỏ phủ lông
Cụm hoa hình chùy, mọc ở đầu cành Hoa khá lớn Cánh đài hợp hình chuông, 5 - 6 răng, cánh tràng 6 màu đỏ nhạt, hình tròn, có cuống dài Nhị đực 60 - 70 Bầu 3 - 6 ô, không cuống, phần dưới có phủ lông dày
Quả nang hình trứng, cao 1,2 - 1,5 m, màu đen, nứt thành 6 mảnh
Cây phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc
Ở Việt Nam cây mọc ở Hà Tây, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Gia Lai, Kon Tum…trong rừng nửa rụng lá
Cây ưa sáng Tái sinh tốt ở nơi có tàn che thưa
Hoa tháng 8 - 10 Quả tháng 11 đến tháng 1 năm sau
Gỗ cứng, nặng, mịn và có vân thẳng, đẹp Có thể làm đồ dùng trong nhà, đóng hòm hoặc gỗ xây dựng Cây có dáng và hoa đẹp có thể trồng làm cây bóng mát và làm cảnh trong công viên
1.1.3 Bằng lăng ổi (Lagerstroemia calyculata Kurz hay Lagerstroemia angustifolia
Pierre Ex Lann.)
Cây gỗ rụng lá, cao 30 - 35 m, đường kính 40 - 80 cm Vỏ màu vàng nhạt, xen những mảnh màu nâu lục rất nhẵn, thịt màu vàng nhạt, nhiều xơ Cành mảnh, có lông màu vàng
Lá hình mác thuôn, gốc tù, hơi lệch, đỉnh kéo dài thành mũi, dài 7 - 14 cm, rộng 2 - 5
cm Gân bên 10 - 13 đôi, có lông Cuống lá dài 3 - 5 mm, có lông
Cụm hoa hình chùy, có nhiều lông vàng, dài 12 - 20 cm Cánh dài hình chuông nhiều lông hình sao Trên mang 6 thùy hình tam giác Cánh tràng 6, hình tròn hay hình tim ngược, rộng 2 - 5 mm Nhị đực nhiều, gần bằng nhau Bầu 5 - 6 ô, có lông ở đỉnh, vòi nhụy dài
Quả nang hình trứng, dài 12 mm, ẩn 1/3 trong đài, nứt thành 6 mảnh Hạt dài 8 mm
Trang 174
Cây phân bố ở Việt Nam, Lào, Cambodia…
Ở Việt Nam, cây mọc ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng và nhiều tỉnh ở Nam bộ Cây ưa loại đất sâu hay có độ ẩm trung bình Tái sinh bằng hạt và chồi đều tốt Tốc độ sinh trưởng hơi chậm
Hoa tháng 6 - 7 Quả tháng 3 - 4 năm sau Gỗ có dác màu trắng, lõi màu vàng xám hay màu nâu, cứng và nặng Tỷ trọng 0,71 - 0,90, vòng năm khó thấy, tia rất nhỏ, mật độ rất cao Gỗ kém bền nếu để ra ngoài trời, dễ cưa xẻ nhưng khó gia công, dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc
1.1.4 Bằng lăng còi (Lagerstroemia lecomtei Cagnep.)
Cây gỗ nhỏ, cao 4 - 6 m, thân nhẵn, bong vỏ mỏng màu xám vàng, phân cách thấp, dài, mảnh, nhẵn Lá đơn mọc đối, nhỏ, dạng trái xoan tròn, đầu thuôn nhọn, gốc tròn hay tù rộng, dài khoảng 6 cm, rộng 3 cm, màu xanh lục bóng Gân bên 6 - 7 đôi Cuống lá dài 0,3 - 0,5 cm, nhẵn
Cụm hoa chùy lớn ở đầu cành, dài 5 cm Hoa có nụ tròn, đường kính 1,2 - 1,4 cm Lá đài hợp ở gốc dạng chén có 6 gờ dọc nổi, trên chia thùy dạng tam giác nhọn, có lông nhung màu vàng Cánh hoa 5 - 6 lớn, gần tròn, cao 1,2 - 1,4 cm, nhăn nheo, màu hồng hay tím, gốc có cuống dài 0,4 cm đính trên ống đài Nhị đực nhiều
Quả nang dạng trái xoan, cao 2 cm Gốc có đài còn, thùy bẻ cong xuống Quả nứt 4 -
6 mảnh Hạt dẹt có cánh
Loài đặc hữu của Trung bộ Việt Nam, mọc ỏ vùng khô hạn các tỉnh miền Trung: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận trên các khu đồi đá tảng, cát, khô nóng, chịu được hoàn cảnh sống khắc nghiệt
Hoa tháng 5 - 7 Quả tháng 8 - 10
Cây cho gỗ nhỏ, dùng làm nông cụ, gỗ cứng chắc, nặng Cây có dáng đẹp có thể làm cây cảnh, bonsai, dễ cắt tỉa uốn Gốc cây xù xì đẹp
1.1.5 Bằng lăng xoan (Lagerstroemia ovalifolia Teijm et Binn.)
Cây gỗ rụng lá mùa khô: cao 12 - 18 m, đường kính 18 - 45 cm; tán rậm, màu xanh lục đậm Thân không thẳng, có nhiều u mấu Vỏ thân màu xám trắng, lớp ngoài xốp, lớp giữa màu trắng vàng, lớp trong cùng nhẵn mịn Cành non màu xanh lục vuông cạnh
Lá đơn nguyên, mọc đối, hình trứng rộng, dài 4 - 15 cm, rộng 3,5 - 9 cm, phiến lá dày cứng mặt trên màu xanh lục thẫm, mặt dưới hơi nhạt hơn; khi khô lá có màu đỏ Đầu
lá nhọn, gốc lá hình nêm, có 7 - 11 đôi gân bên Cuống lá dài 3 - 5 cm, có cánh rất nhỏ men dọc cuống lá
Cụm hoa hình chùy, ít hoa, dài 12 - 35 cm, rộng 7 - 15 cm Hoa to màu tím hồng Cánh đài 6, hợp thành hình chuông, có 6 gờ cánh dọc, hơi lượn sóng hình tam giác có phần
Trang 18Cây phân bố ở Việt Nam, Malaysia, Indonesia…
Ở Việt Nam, cây mọc ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai… trong rừng trung gian giữa rừng khộp và rừng xanh, trên đất bazan vàng
đỏ có tầng mùn dày
Hoa tháng 5 - 6, quả tháng 8 - 10 hằng năm
Gỗ nhỡ, không thẳng, dùng làm cột nhà, đóng đồ đạc thường
1.1.6 Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.)
Cây rụng lá, cao 15 - 25 m, đường kính 30 - 50 cm Vỏ màu xám, nứt dọc Tán dày Cành con hình trụ, nhẵn hay phơi phủ lông nhung
Lá đơn, mọc đối hay gần đối, hình bầu dục, đầu có mũi nhọn, khi khô màu đỏ hung nhạt ở mặt dưới, dài 10 - 20 cm, rộng 5 - 9 cm Gân bên 12 - 17 đôi Cuống lá dài 8 -
10 mm, khỏe, nhẵn
Cụm hoa đầu cành hình chop, dài 15 - 20 cm Cánh đài hình ống với 6 dải lồi nổi lên, tận cùng bằng một vảy, và 6 răng hơi sâu, tận cùng bằng một mũi ngắn Cánh tràng 6, không lượn sóng hay ít, thót dần thành một móng rộng và ngắn Nhị nhiều, đính khoảng giữa của ống đài Bầu nhẵn, 6 ô
Quả nang, hình trứng, cao 2 cm, đường kính 18 mm
Cây phân bố ở Việt Nam, Lào, Cambodia, Thái Lan, Ấn Độ, Srilanca, Philippines, Australia…
Ở Việt Nam cây mọc trong rừng thưa rụng lá hay nửa rụng lá nhiệt đới và trong rừng thường xanh hay mưa mùa nhiệt đới, địa hình đồi, các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh
Cây ưa nắng, ưa ẩm, thường mọc ven sông lớn, ven suối khe, ven đầm lầy hay các vùng trũng thấp bị ngập nước định kỳ trên đất phù sa, xung tích hay dốc tụ có tầng dày, màu mở, rất ẩm Tái sinh bằng hạt tương đối mạnh
Hoa tháng 5 - 6 Quả tháng 2 - 3 năm sau
Gỗ màu đỏ nhạt, thớ thẳng, kết cấu mịn, tương đối nhẹ Tỷ trọng 0,712, lực kéo ngay thớ 28 kg/cm2, lực nén dọc thớ 454 kg/cm2,oằn 1.219 kg/cm2, hệ số co rút 0,30 - 0,57,
dễ gia công, khô ít nẻ, sắc gỗ tươi đẹp dùng xây dựng nhà cửa thích hợp
Trang 196
1.1.7 Bằng lăng lông (Lagerstroemia tomentosa Presl)
Cây gỗ rụng lá, cao tới 30 m, thân có bạnh to và cao Vỏ mỏng, nhẵn màu xanh hồng Cành con thuờng vuông 4 cạnh, phủ dày lông hình sao, màu nâu vàng
Lá đơn nguyên, mọc đối; hình trứng dài, dài 8 - 14 cm, rộng 4 - 6 cm Gân bên 9 - 11 đôi Cuống lá ngắn
Cụm hoa hình chóp, mọc ở đầu cành Hoa màu trắng Cánh tràng hình trứng, đuôi hình tim, có móng
Quả nang hình trái xoan, cánh đài tồn tại, nứt 5 - 6 mảnh Hạt có cánh dài 2 - 3 mm Cây ưa sáng, sinh trưởng chậm, mọc rải rác ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa…
Cây sinh trưởng tốt trên loại đất xung tích và các vùng đất bằng phẳng, sâu dày Tái sinh hạt tốt trong các loại hình rừng đã bị chặt phá kiệt Tái sinh chồi mạnh
Hoa tháng 6 Quả tháng 4 năm sau
Gỗ có lõi màu nâu vàng, dác màu xám xanh vòng năm khó nhận thấy, Gỗ muộn có màu, thưa mạch, tia rất nhỏ, mật độ cao Nhu mô quanh tủy gián đoạn Gỗ rắn, nặng,
tỷ trọng 0,8 Lực kéo ngang thớ 28 kg/cm2 Nén dọc thớ 454 kg/cm2, oằn 1,290 kg/cm2
Gỗ dùng để đóng tàu, thuyền, toa xe và trong xây dựng
1.2 Nuôi cấy mô và phương pháp nhân giống
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa
Nuôi cấy mô, tế bào thực vật là phạm trù khái niệm chung cho tất cả các loại nuôi cấy nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật, trên môi trường dinh dưỡng nhân
tạo, trong điều kiện vô trùng (Nguyễn Quang Thạch và ctv., 2005)
Vi nhân giống là việc nhân đúng kiểu cây (true-to-type) của một kiểu gen được tuyển
chọn bằng cách sử dụng kỹ thuật in vitro
Theo Nguyễn Văn Uyển (1993) thì khả năng ứng dụng nuôi cấy mô thực vật dễ thấy nhất là trong lĩnh vực nhân giống và phục tráng giống cây trồng
Những ưu điểm của nhân giống in vitro:
- Tạo cây sạch bệnh, hệ số nhân giống cao và thời gian sản xuất được rút ngắn (Dương Công Kiên, 2007);
- Vi nhân giống thông thường là phương pháp nhân nhanh và giảm giá thành (Nguyễn Bảo Toàn, 2010);
Trang 20- Bằng phương pháp nuôi cấy mô người ta có thể nhân giống rất nhiều loại cây từ các
vùng khí hậu khác nhau trên thế giới mà nhân giống vô tính in vivo không thể thực
hiện được (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002);
- Làm hạ giá thành vận chuyển, bảo quản cây giống cũng thuận tiện (Nguyễn Đức Thành, 2000);
- Tạo ra các cây con đồng nhất và giống như cây mẹ So với kiểu nhân giống vô tính thông thường (chiết cành, hom), nhân giống bằng nuôi cấy mô có ưu điểm là có thể nhân một số lượng cây con lớn từ một cá thể ban đầu trong thời gian ngắn Có thể tạo
ra các cây con sạch bệnh nhờ có thể áp dụng việc chọn lọc vật liệu ban đầu một cách chặt chẽ hoặc làm cho vật liệu ban đầu trở nên sạch bệnh Không chiếm nhiều diện tích, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, điều kiện ngoại cảnh Một giống cây quý có thể được nhân ra nhanh chóng để đưa vào sản xuất Việc trao đổi giống được dễ dàng
Nhìn chung, nhân giống vô tính in vitro được ứng dụng thành công và dễ dàng trên các
cây hai lá mầm hơn các cây 1 lá mầm cũng như các cây thân thảo dễ hơn các cây thân
gỗ (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
1.2.2 Môi trường nuôi cấy
Theo Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên (2002), một trong những yếu tố quan trọng nhất trong sự tăng trưởng và phát sinh hình thái của tế bào và mô thực vật trong nuôi cấy là thành phần môi trường nuôi cấy Thành phần môi trường nuôi cấy mô tế bào thay đổi tuỳ theo loài thực vật, loại tế bào, mô và cơ quan được nuôi cấy (Vũ Văn
Vụ và ctv., 2006), tuỳ theo mục đích thí nghiệm mà mô cấy được duy trì ở trạng thái
mô sẹo, tạo rễ tạo mầm hay muốn tái sinh thành cây hoàn chỉnh Tuy vậy, tất cả các môi trường nuôi cấy đều bao gồm các thành phần cơ bản sau: nước, các nguyên tố khoáng đa lượng, các nguyên tố khoáng vi lượng, nguồn carbohydrate, vitamin, các chất điều hoà sinh trưởng
Ngoài ra, người ta còn bổ sung một số chất hữu cơ có thành phần xác định (amino acid, EDTA, …) và một số chất có thành phần không xác định như nước dừa, dịch trích nấm men… (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
1.2.2.1 Nước
Theo Bùi Bá Bổng (1995) thì nước chiếm 95% môi trường nuôi cấy vì vậy để bảo đảm chất lượng nước, nên dùng nước cất Phẩm chất nước là điều kiện quan trọng trong nuôi cấy Nước sử dụng trong cấy mô thường là nước cất một lần Trong một số
Trang 218
trường hợp, người ta cũng sử dụng nước cất hai lần hoặc nước khử khoáng (Nguyễn Bảo Toàn, 2010)
1.2.2.2 Các nguyên tố khoáng đa lượng, vi lượng
Theo Lê Văn Hoà và ctv (1999) khoáng đa lượng rất cần cho cây, có ảnh hưởng rất tốt
cho sự hấp thu của mô cấy và chúng không gây độc Các nguyên tố khoáng đa lượng gồm các nguyên tố được sử dụng ở nồng độ trên 30 mg/l Những nguyên tố đó là N, S,
P, K, Mg và Ca Riêng Na và Cl cũng được sử dụng nhưng chưa rõ vai trò của chúng
(Lê Trần Bình và ctv., 1997)
Các nguyên tố khoáng vi lượng là các nguyên tố được sử dụng với nồng độ thấp hơn
30 mg/l Đó là các nguyên tố: Fe, Bo, Mn, I, Mo, Zn, Cu, Ni, Co Các nguyên tố này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các enzyme (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
1.2.2.3 Nguồn carbohydrate
Trong nuôi cấy mô, nguồn carbon giúp mô, tế bào thực vật tổng hợp nên các chất hữu
cơ giúp mô và tế bào phân chia, tăng sinh khối không phải là do quá trình quang hợp cung cấp mà chính là nguồn carbon bổ sung vào môi trường nuôi cấy dưới dạng đường Hai dạng đường thường gặp nhất là sucrose và glucose, nhưng hiện nay sucrose được sử dụng phổ biến hơn và nồng độ sucrose biến đổi từ 1- 8% (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
Đường sucrose vừa là nguồn carbon cung cấp cho mẫu cấy, đồng thời còn tham gia vào điều chỉnh khả năng thẩm thấu của môi trường Hàm lượng đường cao mô nuôi cấy khó hút được nước Hàm lượng đường quá thấp là một trong những nguyên nhân
gây hiện tượng mọng nước ở mẫu cấy (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006) Đường còn có vai
trò quan trọng trong sự tạo rễ bất định (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
Đường có vai trò quan trọng trong sự tạo rễ bất định vì sự hình thành rễ xảy ra trong tối hiệu quả hơn là ở ngoài sáng Theo Cheng và Voqui (1977) thì sự ra rễ bất định đòi hỏi nồng độ đường cao, đặc biệt là những cây thân gỗ ngoại trừ chỉ có một trường hợp
là Pseudotsuga menziessi là đòi hỏi nồng độ đường thấp (trích dẫn bởi Nguyễn Đức
Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
1.2.2.4 Vitamin
Thực vật cần vitamin để xúc tác các quá trình biến dưỡng khác nhau Khi tế bào và mô được nuôi cấy thì một vài vitamin trở thành yếu tố giới hạn của chúng (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
Theo Lê Văn Hòa và ctv (1999), trong môi trường nuôi cấy, đa số tế bào thực vật
chưa tự tổng hợp đủ lượng vitamin cần thiết cho cơ thể nên phải bổ sung vitamin từ
Trang 22Nicotinic acid (vitamin B3) tham gia vào thành phần các enzyme oxy hóa khử dehydrogenase xúc tác việc tách hydro ra khỏi các acid hữu cơ Nồng độ thường dùng
từ 0,5 - 1 mg/l (Nguyễn Đức Thành, 2000)
Pyridoxine (vitamin B6) tham gia vào thành phần các enzyme khử carbon và thay đổi
vị trí nhóm amin trong các acid amin Nồng độ thường dùng từ 0,1 - 1 mg/l (Nguyễn Đức Thành, 2000)
Myo-Inositol có vai trò trong sự sinh tổng hợp thành tế bào và thường được dùng với hàm lượng lớn từ 50 - 100 mg/l (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
1.2.2.5 Agar
Agar được trích từ tảo và được dùng để chuẩn bị môi trường đặc hay môi trường bán lỏng để nuôi cấy mô thực vật Agar tan ở 100oC và đông đặc ở 45oC (Nguyễn Đức Thành, 2000) Độ cứng của agar quyết định bởi nồng độ agar sử dụng và do pH của môi trường nuôi cấy (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002) Nồng độ agar thường sử dụng trong môi trường nuối cấy mô thực vật là 0,5 - 10% Theo Nguyễn Bảo Toàn (2010), nồng độ agar được sử dụng sẽ ảnh hưởng đến: thế năng nước trong môi trường nuôi cấy, độ cứng của môi trường, sự sinh trưởng của mẫu cấy, các vấn đề sinh lý của mẫu cấy như sự thừa nước, sự hoạt động của cytokinin trong môi trường có agar Nồng độ agar thường sử dụng trong môi trường nuôi cấy mô thực vật là 6 - 8 g (Nguyễn Xuân Linh, 1998)
1.2.2.6 Nước dừa
Nước dừa được bổ sung vào môi trường nhằm tăng sự sinh trưởng và phát triển mô Trong nước dừa có chứa các loại khoáng, acid amin, myo-inosytol, đường, chất béo và chất điều hòa sinh trưởng như cytokinin có lợi cho sự tạo phôi, tạo mô sẹo và tái sinh cây Đối với nhiều loại mẫu nuôi cấy, lượng nước dừa phù hợp nhất là 15 - 20% theo thể tích (Vũ Văn Vụ, 1999)
1.2.2.7 pH
pH của môi trường nuôi cấy mô có thể từ 5,0 - 6,5 và thường được điều chỉnh để đạt khoảng 6,0 Môi trường có pH thấp (thấp hơn 4,5) hoặc cao (cao hơn 7,0) ức chế sự phát triển của mô Môi trường trước và sau khi hấp vô trùng có pH thay đổi một ít (Bùi
Trang 23và sinh trưởng của rễ Than hoạt tính còn là một trong những chất chống oxy hóa tốt
(Vũ Văn Vụ và ctv., 2006) Than hoạt tính có khả năng hấp thu nhóm chất cytokinin
dư thừa trong môi trường nuôi cấy, đồng thời làm cho môi trường có màu tối, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh rễ, tạo cây hoàn chỉnh (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2003) Than hoạt tính thường được bổ sung vào môi trường nuôi cấy với nồng độ 0,5 - 3% (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên, 2002)
1.2.2.9 Chất điều hòa sinh trưởng
Chất điều hoà sinh trưởng thực vật là những chất có hoạt tính sinh học rất lớn, được tạo ra một lượng rất nhỏ để điều hoà các quá trình sinh trưởng và phát triển của các thưc vật các chất điều hòa sinh trưởng đóng vai trò quyết định đối với sự phát sinh hình thái, phân chia và phân cắt tế bào, hình thành mô và cơ quan như phát chồi và tạo
rễ Trong môi trường cấy mô, chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quyết định trong hầu
hết các trường hợp nuôi cấy in vitro (Lê Văn Hoà và ctv., 1999)
Trong môi trường cấy mô, chất điều hoà sinh trưởng có vai trò quyết định kết quả thí nghiệm Đây là chất có hoạt tính sinh học rất cao nên với một hàm lượng rất nhỏ (10-9)
có thể kích thích, ức chế hoặc bổ sung bất kỳ một quá trình sinh lý nào trong thực vật Hiện nay có hai nhóm chất điều hoà sinh trưởng thực vật được sử dụng phổ biến là auxin và cytokinin Tùy theo giống, loài thực vật mà nhu cầu về dạng và nồng độ của hai nhóm chất này khác nhau trong sự phát sinh hình thái Hiệu quả tác động của nó phụ thuộc vào: nồng độ sử dụng, mẫu nuôi cấy và hoạt tính vốn có của nó (Vũ Văn Vụ
và ctv., 2006)
* Auxin
Auxin có vai trò kích thích sự tăng trưởng và kéo dài tế bào Trong muôi cấy mô tế bào thực vật auxin được dung cho sự phân chia tế bào, phân hoá rễ và ức chế sự thành lập chồi bên (Bùi Bá Bổng, 1999)
Auxin có tác dụng kích thích quá trình tổng hợp và trao đổi chất, tham gia điều chỉnh
sự phân hoá của rễ, chồi… (Vũ Văn Vụ, 1999)
Trang 2411
Auxin có vai trò thúc đẩy sự sinh trưởng của tế bào, cụ thể là nới lỏng vách tế bào thông qua sự hoạt hoá các enzyme tổng hợp vách và làm giãn nở tế bào (Đặng Phương Trâm, 1997)
Theo Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên (2002), việc bổ sung auxin vào môi trường nuôi cấy là rất cần thiết vì chúng rất cần cho phân chia tế bào và quá trình phân biệt hoá tế bào
Auxin được chia thành hai loại: auxin tự nhiên và auxin tổng hợp Auxin tự nhiên được tìm thấy ở thực vật là indole-3-acetic acid (IAA) và auxin tổng hợp là indole-3-butyric acid (IBA), 2,4-dichloro phenoxy acetic acid (2,4-D), 1-naphthalene acetic acid (NAA) (Nguyễn Bảo Toàn, 2010)
Nồng độ auxin thường được sử dụng trong môi trường nuôi cấy là 0,1 - 2,0 mg/l vì
chúng có hiệu quả ở nồng độ thấp (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006)
Theo Lê Võ Thùy Ngân (2011) cho rằng ít có loài thực vật nào có thể ra rễ ngay trong môi trường nhân giống Nguyên nhân là do cytokinin hiện diện trong môi trường nuôi cấy đã ức chế sự hình thành rễ vì vậy cần có một môi trường chuyên biệt để cảm ứng
sự tạo rễ Do đó cần phải có auxin để cảm ứng tạo rễ và nhu cầu này sẽ giảm sau khi rễ được khởi tạo Các loài cây thân gỗ cần auxin ở nồng độ cao hơn cây thân thảo để ra
rễ Một trong các loại auxin có hiệu quả cao nhất trong sự kích thích tạo rễ là NAA Nếu sử dụng loại auxin mạnh như NAA với nồng độ cao thì có thể có sự tạo mô sẹo từ mẫu cấy Ngoài ra còn có các yếu tố ảnh hưởng đến sự tạo rễ là chất điều hòa sinh trưởng thực vật, khoáng đa vi lượng, các hợp chất hữu cơ, cơ chất (chất làm đặc môi trường), ánh sáng, nhiệt độ, điều kiện môi trường nuôi cấy cũng có thể ảnh hưởng đến
sự ra rễ của chồi (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
* Cytokinin
Cytokinin là những hợp chất adenine được thay thế, nó kích thích sự phân chia tế bào
và những chức năng điều hòa sinh trưởng khác giống như kinetin (Nguyễn Minh Chơn, 2010)
Kinetin và Benzyl adenine được tổng hợp đầu tiên nhưng gần đây người ta chứng minh là tạo ra tự nhiên ở một vài loại cây Cytokinin đóng vai trò chính trong sự thành lập chồi và cơ quan trong nuôi cấy mô (Nguyễn Bảo Toàn, 2010)
Ở nồng độ cao, cytokinin có tác dụng kích thích rõ rệt đến sự hình thành chồi bất định,
đồng thời ức chế sự tạo rễ của chồi nuôi cấy (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006)
BA và kinetin là hai loại được sử dụng rộng rãi hơn cả Nồng độ sử dụng 0,1 - 2 mg/l Tuy nhiên trong trường hợp không bổ sung cytokinin thì sau 10 - 12 ngày cũng cho ra chồi nhưng tỷ lệ rất thấp (Dương Công Kiên, 2007)
Trang 2512
1.2.3 Các giai đoạn vi nhân giống
Theo Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên (2002) quá trình nhân giống in vitro
được chia thành các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1: chuẩn bị cây mẹ Cây mẹ cần phải sạch bệnh và đang ở trong giai đoạn
tăng trưởng mạnhnhất thì khi nhân giống sẽ đạt hiệu quả cao
+ Giai đoạn 2: khử trùng mẫu cấy Một phần thích hợp của thực vật được khử trùng
và chuyển vào môi trường nuôi cấy trong điều kiện vô trùng Những mẫu cấy còn sống sau khi khử trùng sẽ được chuyển sang giai đoạn 3
+ Giai đoạn 3: tăng sinh Mục tiêu của giai đoạn này là tăng nhanh số lượng cá thể
bằng sự sinh phôi soma, tăng số lượng chồi bên, tạo chồi bất định Các chồi tăng
trưởng mạnh, đạt chiều cao thích hợp sẽ được chuyển sang giai đoạn ra rễ in vitro
+ Giai đoạn 4: ra rễ in vitro Những chồi đạt chiều cao thích hợp sẽ được chuyển sang
môi trường kích thích ra rễ Trong môi trường này cần phải bổ sung auxin để cảm ứng
rễ và nồng độ khoáng thường giảm so với môi trường tăng sinh
+ Giai đoạn 5: giai đoạn ra rễ in vivo Với những cây không ra rễ in vitro thì sẽ được
chuyển ra vườn ươm để ra rễ và phát triển thành cây hoàn chỉnh
1.2.3.1 Giai đoạn nhân chồi
Nhân chồi là giai đoạn quan trọng quyết định đến số lượng cây của quá trình nuôi cấy
in vitro Số lượng chồi (hệ số nhân chồi) càng nhiều thì khả năng nhân giống càng lớn
và ngược lại Nguyễn Xuân Linh (1998) cho rằng toàn bộ quá trình nhân giống in vitro
nhằm mục đích tạo ra hệ số nhân chồi cao nhất Vì vậy giai đoạn này được coi là giai đoạn then chốt của quá trình Để nâng cao hiệu quả nhân chồi cần kết hợp tốt các yếu
tố như môi trường, cách cắt tạo mẫu, điều kiện nuôi dưỡng (ánh sáng, nhiệt độ,…) Trong đó, việc bổ sung các chất điều hoà sinh trưởng thực vật như auxin, cytokinin, gibberellin,… và các chất bổ sung khác như nước dừa, dịch trích nấm men, là yếu tố quan trọng Tuỳ thuộc vào đối tượng nuôi cấy, người ta có thể nhân nhanh số lượng chồi bằng cách kích thích sự hình thành cụm chồi, kích thích sự phát triển của các chồi nách (vi giâm cành) hay qua việc tạo cây từ phôi vô tính Nhiều nghiên cứu đã cho thấy Benzyl adenine (BA), Thiadizuron (TDZ) và Naphthalene acetic acid (NAA) có tác dụng kích thích sự hình thành chồi và thích hợp với nhiều loại cây
Có 3 phương pháp nhân chồi là phát sinh chồi bất định từ mô sẹo nhận được từ mô sinh vật nuôi cấy, phát sinh chồi bất định trực tiếp từ mô sinh vật không thông qua mô sẹo và phương pháp nhân chồi bên (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002) Trong đó phương pháp khá đơn giản để nhân nhanh số chồi là phương pháp nhân chồi bên Một mẫu cấy có mang một chồi đơn sẽ phát triển thành một chồi hay thành một cụm chồi tùy thuộc vào loài thực vật và môi trường nuôi cấy (Nguyễn Đức Lượng và
Trang 2613
Lê Thị Thủy Tiên, 2002) Phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tế vì
nó đơn giản hơn phương pháp khác, tốc độ nhân giống cao, sản phẩm ổn định về mặt
di truyền, cây con tăng trưởng rất tốt có lẽ là do đã được trẻ hoá (Olufl và Gregory, 1995) Có lẽ tiềm năng phát triển mạnh nhất của phương pháp này là áp dụng đối với cây thân gỗ vì khó có thể áp dụng phương pháp nhân giống bằng cách tạo soma trên loại cây này (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này chính là kích thích sự tái sinh chồi từ các mầm ngủ Mầm ngủ thực chất có cấu tạo không khác đỉnh sinh trưởng thân Do tính
ưu thế chồi ngọn, các mầm bên ở trạng thái miên trạng và không phát triển
Do đó, khi các chồi bên được xử lý với chất điều hoà sinh trưởng sẽ phá vỡ miên trạng
và phát triển thành những chồi có lá đầy đủ như thân chính Các chồi có thể được tách
ra, đưa vào môi trường tạo rễ để tạo thành cây hoàn chỉnh hay sử dụng cho quá trình nhân giống trở lại (Olufl và Gregory, 1995)
Chồi được thành lập từ việc kích thích mầm ngủ nên số chồi phụ thuộc vào số mầm ngủ còn sống Bên cạnh việc sử dụng cytokinin ở nồng độ cao để loại bỏ ưu thế chồi ngọn, có thể cắt bỏ chồi ngọn hay làm chết chồi ngọn (George, 1993)
1.2.4 Một số kết quả nghiên cứu đã được công bố
1.2.4.1 Một số nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), ở giai đoạn nhân nhanh chồi hoa hồng nên sử dụng nồng độ BA 1,5 mg/l đối với giống hồng trắng cho hệ số nhân cao nhất là 5,94, còn đối với giống hồng đỏ thì sử dụng BA 2 mg/l cho hệ số nhân chồi cao nhất là 3,47 sau 4 tuần nuôi cấy
Ở giống hồng đỏ (Rosa chinensis), theo Nguyễn Kim Hằng (2005) sử dụng BA 1,5
mg/l để nhân chồi là tốt nhất (2,36 chồi sau 3 tuần nuôi cấy) Trong giai đoạn ra rễ, sử dụng môi trường MS bổ sung NAA 1 mg/l
Lê Minh Chiến (2006) sử dụng môi trường MS có bổ sung NAA 10 mg/l trong giai
đoạn tạo rễ cây ngưu báng (Arcitum lappa L.) sẽ cho hiệu quả cao nhất
Trang 27Đối với cây hoa hồng nhung (Rosa chinensis L.): sử dụng BA 1,5 mg/l kết hợp với
NAA 0,15 mg/l cho hệ số nhân chồi cao nhất; sử dụng NAA 0,5 mg/l kết hợp với 2 g/l than hoạt tính để tạo cây hoàn chỉnh là tốt nhất (Nguyễn Hữu Tính, 2008)
Theo Nguyễn Văn Uyển (1993), sử dụng môi trường MS kết hợp với BA 2 mg/l để nhân nhanh chồi hoa cẩm chướng Và ở cây hương nhu thì môi trường nuôi cấy tốt nhất cho giai đoạn nhân nhanh chồi là 1/2 MS kết hợp với BA 3 mg/l
1.2.4.2 Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước
Theo Ma và ctv (2006) ở cây mai vàng (Ochna integerrima) sử dụng NAA 0,1 mg/l +
BAP 1,0 mg/l để nhân chồi Trong giai đoạn ra rễ, nồng độ NAA 0,5 mg/l + IBA 1,5 mg/l và 0,1% than hoạt tính được sử dụng đạt hiệu quả tốt
Nasib và ctv (2008) ở giống Cô tòng (Codiaeum varigtum) sử dụng môi trường MS bổ sung IBA 2 mg/l cho hiệu quả trong giai đoạn ra rễ Trong giai đoạn ra rễ Callistemon
rigidus, sử dụng môi trường 1/2 MS bổ sung NAA 0,25 mg/l cho rễ nhiều đạt tỷ lệ
96,1% (Jiang Hong Ru và ctv., 2006)
Purohit và ctv (2006), đã sử dụng môi trường MS bổ sung BA 2 mg/l đạt hiệu quả cao trong nghiên cứu tạo chồi từ đoạn thân cây lòng mức nhuộm (Wrightia tinctoria) Trong thí nghiệm ra rễ ở giống hoa giấy (Bougainvillea buttiana), Sinha và ctv (1997)
sử dụng môi trường 1/2 MS bổ sung IBA 1 mg/l và NAA 1 mg/l, sau 4 tuần nuôi cấy
số rễ đạt 100% Shah và ctv (2006) sử dụng môi trường 1/2 MS bổ sung NAA 2,5
mg/l và IBA 2,5 mg/l cho kết quả tốt trong giai đoạn ra rễ ở giống hoa giấy
(Bougainvillea spectabilis)