TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC HOÀNG THỊ NGỌC YẾN TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
HOÀNG THỊ NGỌC YẾN
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
Người hướng dẫn khoa học Thạc Sỹ: VŨ LONG GIANG
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khoá luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập vầ
nghiên cứu tại trường Đại học Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “ Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong
tự nhiên” không trùng lặp với bất kỳ một đề tài nào khác và chưa được công bố
trên bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh Viên
Hoàng Thị Ngọc Yến
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
GDTM: Giáo dục thẩm mỹ
NXB: Nhà xuất bản
GD – ĐT: Giáo dục – Đào tạo
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU……….1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài……… 3
3 Mục đích nghiên cứu……… 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu………4
6 Giả thuyết khoa học……… 5
7 Phương pháp nghiên cứu……… 5
8 Cấu trúc khoá luận……… 5
PHẦN 2: NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 7
1.1 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN 7
1.1.1 Đặc điểm tâm lý……… 7
1.1.2 Đặc điểm sinh lý……….7
1.2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ - GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 10
1.2.1 Khái niệm thẩm mỹ……… 10
1.2.2 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn……… 11
1.2.2.1 Giáo dục thẩm mỹ………12
1.2.2.2 Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn……… 14
1.2.2.3 Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn…… 16
1.3 GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN 16
Trang 51.3.1 Khái quát về hoạt động tạo hình ở trường mầm non………16
1.3.2 Hoạt động tạo hình từ vật liệu cón sẵn trong tự nhiên và vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ……… 18
1.3.2.1 Nguyên vật liệu……….18
1.3.2.2 Yêu cầu khi sử dụng nguyên vật liệu 18
1.3.2.3 Vai trò của hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ………19
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN 21
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈ1H VĨNH PHÚC……… 21
2.2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN 23
2.2.1 Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng……… 23
2.2.1.1 Mục đích nghiên cứu……….23
2.2.1.2 Khách thể nghiên cứu……… 23
2.2.1.3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu……….24
2.2.1.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.2.Quy trình thường dùng để tổ chức hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên của giáo viên trường mầm non Hương Sơn ………27
2.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 29
2.4 NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN……….31
Trang 62.5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ HẠN CHẾ TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT
LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN 32
CHƯƠNG 3:ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN 1.3 ĐỀ XUẤT VỚI NHÀ TRƯỜNG VÀ CÁC CẤP QUẢN LÝ………35
3.2 VỚI GIÁO VIÊN MẦM NON………35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM……… 43
1 KẾT LUẬN………43
2 KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM………45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 47 PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Trẻ em chính là tương lai của đất nước, vì vậy việc giáo dục, bồi dưỡng những thế hệ măng non trở thành những công dân tốt với đầy đủ nhân lực, trí lực
để góp phần xây dựng đất nước là nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục và toàn
xã hội
Trong đó, giáo dục mầm non là những viên gạch đầu tiên của hệ thống giáo dục Nhân cách của trẻ cũng được hình thành mạnh mẽ trong giai đoạn lứa tuổi này Việc thiếu quan tâm đến giáo dục mầm non chính là sự bỏ lỡ cơ hội cải thiện triển vọng cho trẻ Vì vậy giáo dục trẻ trong độ tuổi này vô cùng quan trọng và cần được sự quan tâm của cả cộng đồng
Nhà giáo dục Xô Viết A S Makarenkô khẳng định: “ Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ
ở thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa thơm đó được vun trồng trong 5 năm đầu”
Trong điều 21, 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu
giáo dục mầm non “ Giáo dục mầm non thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”
Như vậy, giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhân cách bắt đầu được hình thành tuy chưa hoàn toàn định hình nhưng nó có cơ sở tương đối ổn định trong việc tiếp tục
Trang 8phát triển và hình thành nhân cách Lúc này trẻ đặc biệt dễ dàng tiếp nhận những
ấn tượng từ phía bên ngoài mang tính hình tượng và giàu màu sắc cảm xúc Đó là những cái đẹp trong thiên nhiên, trong đời sống và trong nghệ thuật Một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ đều dễ gợi lên những rung động trong lòng đứa trẻ Đó chính là những cảm xúc thẩm mỹ - xúc cảm về cái đẹp Hơn nữa, tuổi mẫu giáo là thời kỳ nhạy cảm với cái đẹp xung quanh, có thể coi đây là thời kỳ phát cảm của những cảm xúc thẩm mỹ - những xúc cảm tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp, tạo nên tinh thần sảng khoái, khiến trẻ cảm thấy thiết tha với con người và cảnh vật xung quanh, làm nảy nở ở trẻ lòng mong muốn làm những điều tốt lành để đem niềm vui đến cho mọi người Do những đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi này, đặc biệt là trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ “ Hoàng kim” cho giáo dục thẩm mỹ và chính việc giáo dục thẩm mỹ có khả năng kỳ diệu tạo ra hiệu quả to lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ, đặc biệt là giáo dục đạo đức, giáo dục lòng nhân ái
Ở trẻ mẫu giáo lớn, mặt thẩm mỹ phát triển nhanh nhất Bởi đặc trưng tâm lý của giai đoạn này được biểu hiện ở tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm Bên cạnh đó, bản thân sự phát triển thẩm mỹ dễ kéo theo sự phát triển của các mặt khác như đạo đức, trí tuệ và cả thể chất Vì vậy, giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn là một việc làm hết sức cần thiết và cần được tiến hành một cánh nghiêm túc để ươm trồng những tài năng cho tương lai
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn có thể thực hiện theo nhiều con đường, nhiều hoạt động và nhiều hình thức khác nhau Song con đường giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong
tự nhiên là một hoạt động trong hoạt động tạo hình nói chung Đó là con đường mới lạ nhưng lại đạt hiệu quả cao bởi nó là một trong những hoạt
Trang 9động thu hút được sự chú ý của trẻ mẫu giáo lớn Khi tham gia vào tiết học tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên, trẻ được tiếp xúc với các vật liệu khác nhau, khám phá chúng và tạo ra được những sản phẩm mà mình mong muốn, làm cho trẻ cảm thấy thích thú, say mê Từ đó gợi ở trẻ nhu cầu muốn tạo ra cái đẹp, cái hay và
có ý thức tôn trọng, bảo vệ cái đẹp, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả
Thực tế trong công tác giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hương Sơn – Huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc những năm gần đây cũng được chú trọng hơn Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ được lồng ghép thông qua các hoạt động vui chơi, học tập của trẻ Việc lồng ghép tích hợp giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên giúp trẻ thoả sức khám phá, trải nghiệm và sáng tạo Bên cạnh những mặt thuận lợi thì cũng có không ít những khó khăn cần phải giải quyết để có thể nâng cao mặt thẩm mỹ của trẻ
Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục thẩm mỹ nói riêng cho trẻ mẫu giáo thì việc tìm ra phương thức giáo dục thẩm mỹ hiệu quả là vấn đề cần thiết, là vấn đề hết sức quan trọng và luôn được quan tâm chú ý đặc biệt trong trường mầm non hiện nay
Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, là một giáo viên mầm non tương lai chúng tôi thấy cần phải nhận thức đúng vai trò của việc giáo dục thẩm mỹ trong trường mầm non nói chung và đối với trẻ mẫu giáo lớn nói riêng Chính vì vậy mà
chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “ Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho
trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên.”
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non là một vấn đề quan trọng, luôn được quan tâm và chú ý, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
Tái giả Nguyễn Ánh Tuyết, (1989), với cuốn “ Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ”, NXB Giáo Dục Hà Nội
Tác giả Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yến, (2006), với cuốn: “ Mỹ học
và giáo dục thẩm mỹ”, NXB Đại học Sư phạm
Đỗ Huy, (1987) “ Giáo dục thẩm mỹ - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
NXB Thông tin lý luận
Và nhiều công trình nghiên cứu khác
Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề khảo sát thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên Với đề tài này, tôi hy vọng sẽ tìm ra những biện pháp giúp nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
3 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng vật liệu có sẵn trong tự nhiên để hướng dẫn trẻ vui chơi, tham gia
vào hoạt động tạo hình, từ đó nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Phát triển các chức năng tâm lý như khả năng tri giác sự vật, hiện tượng xung quanh, từ đó phát triển óc tưởng tượng, sáng tạo, ham muốn tạo ra cái đẹp Qua tìm hiểu đề tài này giúp giáo viên trau dồi những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề lý luận về giáo dục thẩm mỹ và hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên của trẻ mẫu giáo lớn
Tìm hiểu thực trạng về giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
Bước đầu đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao việc giáo dục thẩm mỹ trong hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
6 Giả thuyết khoa học
Với việc giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình tại lớp trẻ mẫu giáo lớn ( 5- 6 tuổi) trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
mà có sự đa dạng về vật liệu, đặc biệt là những vật liệu có sẵn trong tự nhiên và quen thuộc với trẻ sẽ góp phần nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho trẻ, tăng hiệu quả giáo dục toàn diện nói chung, hiệu quả giáo dục thẩm mỹ nói riêng
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, nghiên cứu tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, mỹ thuật học, phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình,………
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 12
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của khoá luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
Chương 3: Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
Trang 13PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển:
Hệ tiêu hoá ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hoá được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn
Hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn
Hệ cơ xương của trẻ đang dần hoàn thiện, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ quan điều khiển vận động được tăng cường… Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt động đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay, chân và toàn thân ( chạy, nhảy, vẽ, nặn, cắt, dán…)
Cơ quan phát âm cũng phát triển và hoàn thiện dần Ở giai đoạn này, ngôn ngữ của trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ
Trang 14của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý ( nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người
Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày.Một trong những
thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày Tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học…
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh, và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở trẻ mẫu giáo lớn theo các hướng sau:
- Nắm vững ngữ âm và ngư điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ
- Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp
- Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào lứa tuổi học sinh đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng với sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải mái Tóm lại, trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý Ý thức
bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về bản thân Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe người xung quanh đánh giá mình như thế nào Ban đầu, sự đánh giá của trẻ về người khác còn phụ thuộc vào tình cảm
Trang 15của nó đối với người này Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và
cũng là cơ sở để trẻ noi gương tốt
Trẻ mẫu giáo lớn, sự tự ý thức được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ.Ở tuổi này, trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết thực hiện hành vi sao cho phù hợp với giới tính của mình Lúc này, tấm gương của người lớn tác động mạnh mẽ đến trẻ
Ý thức bản ngã được xách định rõ ràng giúp trẻ điều khiển, điều chỉnh hành
vi của mình phù hợp với chuẩn mực, quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang đậm tính xã hội, tính nhân cách Bên cạch đó, còn cho phép trẻ thực hiện hành động một cách chủ tâm hơn, làm cho các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt
Ở tuổi mẫu giáo bé, trẻ chỉ tập trung chú ý vào một đối tượng trong thời gian ngắn và dễ thay đổi sang đối tượng khác hấp đẫn hơn Nhưng đến tuổi mẫu giáo lớn, sự chú ý đã tập trung và bền vững hơn Cũng tương tự như vậy, ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn càng ngày càng có tính chủ định nhiều hơn
Do sự xác định ý thức bản ngã được rõ ràng hơn và các quá trình tâm lý không chủ định chuyển dần sang quá trình tâm lý mang tính chủ định, làm cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng được bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui chơi và trong cuộc sống
Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của tư duy lôgic Để đáp ứng với khả năng và nhu cầu phát triển của
trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo cần phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan – hình tượng mới, đó là kiểu tư duy trực quan sơ đồ Kiểu tư duy này tạo cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào hành động hay ý muốn của bản thân trẻ Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ
Trang 16đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật Trong thời gian này, trẻ bắt đầu hiểu rằng, có thể biểu thị một sự vật hay một hình tượng nào đó bằng những từ ngữ hay các ký kiệu khác nhau khi phải giải những bài toán tư duy độc
lập
Tư duy trược quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn đứa trẻ đến ngưỡng cửa của
tư duy trừu tượng Trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo có thể lĩnh hội được những khái niệm khoa học đơn giản Điều đó giúp trẻ thay đổi khá nhiều trong hoạt động tư duy của chúng, biểu hiện ở sự nảy sinh các yếu tố tư duy lôgic cùng với sự dạy dỗ đặc biệt
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ - GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO
1.2.1 Khái niệm thẩm mỹ
Nói đến thẩm mỹ là nói đến cái đẹp Cái đẹp là cái hài hoà, vừa có tính bản thể, vừa có tính định hướng Có tính bản thể là vì “ cái đẹp” có thể là một hiện tượng, sự vật hay một ý nghĩa, một hành vi, là tinh thần hay vật chất… nó tồn tại như những chỉnh thể độc lập Có tính định hướng vì “ cái đẹp” là một trong những chuẩn mực mà con người luôn mong mỏi đạt tới Có rất nhiều quan điểm của các nhà Mỹ học về cái đẹp:
Palaton coi cái đẹp là ý niệm chung được thâm nhập vào các hiện tượng cụ thể mà tạo thành vẻ đẹp, ông cho rằng cái đẹp có tính chất vĩnh cửu trong mọi thời gian, mọi địa điểm, mọi ý nghĩa
Giáo sư người Đức- Baumgacten cho rằng: cái hoàn mỹ là một cơ sở của cái đẹp, sự hoàn mỹ là nhận thức thuần tuý bao gồm có lí tính và ý chí, do đó sự hoàn
mỹ là sự thống nhất của Chân- Thiện- Mỹ
Theo C.Mác: “ cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất con người” Ông viết: “ Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo giống loài nó, còn con người thì có thể áp
Trang 17dụng thước đo cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” ( C.Mác Awnghen Tuyển tập, T1, NXB Sự thật, Hà Nội
1980, trang 19)
Cái đẹp luôn đem lại cho con người một cảm giác khoái lạc về mặt thẩm mỹ, được biểu hiện dưới nhiều hình thức, có giá trị thẩm mỹ cao nhất, vì vậy cần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ
1.2.2 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục có tính trường quy về
cái đẹp, giáo dục con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp
Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục và tự giáo dục nhằm
phát huy mọi năng lực của con người theo quy luật cái đẹp, trong đó có việc bồi dưỡng nhận thức thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ của con người Xây dựng những tình cảm mạnh mẽ để con người có thể phân biệt rạch ròi giữa cái đẹp và cái xấu, cái cao cả và cái thấp hèn
Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp
và đưa cái đẹp vào trong đời sống xã hội một cách sáng tạo Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ là hình thành ở trẻ các quan hệ thẩm mỹ
Trang 18đối với hiện thực, thúc đẩy trẻ hoạt động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp Một cách đơn giản cũng có thể hiểu được cái đẹp trong hiện thực, trong tự nhiên, trong lao động sinh hoạt, trong các mối quan hệ và hành vi của con người cũng như trong nghệ thuật, phát triển các quan điểm thị hiếu, tình cảm, nhu cầu và năng lực xây dựng cái đẹp một cách tích cực và sáng tạo
Như vậy, bản chất của giáo dục thẩm mỹ là nguyên tắc hoạt động sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp Nghĩa là con người luôn hướng tới những cái mới, cái tốt đẹp hơn
1.2.2.2 Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
Sự phát triển tri giác, tình cảm và khái niệm thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự phát triển năng lực tri giác cái đẹp, cảm thụ
cái đẹp, hiểu cái đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật
Theo quan điểm của mỹ học Mác – Lê Nin: “Sự tri giác cái đẹp được hiểu
là quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả của nó là những rung cảm thẩm mỹ, những tình cảm thẩm mỹ”
Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là sự nhận thức cảm tính cụ thể về mặt thẩm
mỹ Nhìn và nghe là cơ sở hoàn toàn đầy đủ về phương diện tâm sinh lý để tri giác cái đẹp Từ “ đẹp” sớm đi vào cuộc sống của trẻ Trẻ say sưa lắng nghe bài hát, xenh tranh ảnh, bị lôi cuốn vào những sự vật sống động, sặc sỡ Tuy nhiên, đó chưa phải là tình cảm thẩm mỹ mà chỉ là sự biểu hiện của hứng thú nhận thức Giáo viên cần làm cho trẻ chú ý đến những sự vật và hiện tượng tự nhiên, đến những hành vi của con người, dạy cho các em biết nhìn ra và phát triển được cái đẹp trong đời sống, trong thiên nhiên lao động, trong hành vi và hành động của con người, dạy cho các em biết nhìn nhận về phương diện thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh
Tri giác thẩm mỹ có liên quan chặt chẽ với cảm xúc và tình cảm thẩm
mỹ Với trẻ em, đặc điểm của tình cảm thẩm mỹ là niềm vui vô tư, là
Trang 19cảm xúc tâm hồn trong sáng xuất hiện khi thấy cái đẹp Tình cảm thẩm mỹ giữ vai trò rất to lớn trong việc đánh giá các sự vật và hiện tượng khác nhau Trong việc rèn luyện thị hiếu thẩm mỹ sau này cho trẻ Giáo viên có nhiệm vụ dẫn dắt trẻ đi từ
sự tri giác cái đẹp, cảm xúc đối với nó đến chỗ hiểu và hình thành khái niệm, các nhận xét và đánh giá thẩm mỹ
Phát triển các năng lực nghệ thuật sáng tạo của trẻ Nghệ thuật là hình
thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng những hình tượng sinh động, cụ thể, gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm Bởi vậy, giáo dục nghệ thuật
cho trẻ là một quá trình khó khăn và phức tạp
Đặc điểm sáng tạo của trẻ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động trẻ thực hiện một cách có chủ định, biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình ở tính chân thật cao khi thể hiện tình cảm và tư tưởng Hơn nữa, đặc điểm tâm lý được thể hiện rất rõ ở tuổi mẫu giáo là sự bắt chước Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong hoạt động vui chơi của trẻ Trong trò chơi trẻ bắt chước những hoạt động của người lớn, trẻ biết mô phỏng bằng hình ảnh, những ấn tượng lấy trong thế giới xung quanh
Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ các em thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau Các em lấy tư tưởng từ truyện cổ tích, trong phim ảnh, trong cuộc sống… các em phối hợp các tri thức, ấn tượng và thống nhất chúng trong một cái hoàn chỉnh
Tính sáng tạo của trẻ còn được thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác như: vẽ, nặn, kể chuyện hay ca hát
Ở tuổi mẫu giáo đã có mầm mống của tính sáng tạo, chúng thể hiện ở sự phát triển năng lực xây dựng có chủ định và thực hiện nó; ở kỹ năng phối hợp các tri thức, các khái niệm của mình Vì vậy, để phát triển óc sáng tạo cho trẻ cần có quá trình dạy học để giúp trẻ cách diễn đạt hình tượng và mô tả chủ định, khơi dậy
ở trẻ những biểu hiện có ý thức về nghệ thuật, gây ra cảm
Trang 20xúc tích cực và phát triển năng lực cho trẻ Mục đích của việc dạy kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghệ thuật không chỉ giúp trẻ có tri thức và kỹ xảo về ca, hát, vẽ, mà còn gây ở trẻ hứng thú, hoạt động độc lập, sáng tạo, đem lại niềm vui trong cuộc sống của trẻ, trong tập thể và gia đình
Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ Sự cảm thụ cái đẹp có liên
hệ mật thiết đến năng lực đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn Thị hiếu thẩm mỹ của con người thể hiện lở sự phán đoán đánh giá Cần dạy cho trẻ phân biệt cái đep với cái không đẹp, cái thô kệch với cái xấu xí Giáo dục cho các em năng lực trình
bày lý do tại sao lại thích bức tranh này, bài hát này, câu truyện này
Có thể hình thành cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc tìm hiểu các tác phẩm cổ điển của thiếu nhi, tìm hiểu âm nhạc, hội hoạ Từ đó, trẻ học cách nhận biết, yêu mến các tác phẩm nghệ thuật chân chính, phù hợp với lứa tuổi trẻ Cũng cần dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ cái đẹp ở cuộc sống xung quanh và biết bảo vệ nó
1.2.2.3 Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
Giáo dục thẩm mỹ là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ, và là việc cần phải tiến hành một cách nghiêm túc từ tuổi mẫu giáo Có thể coi trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của giáo dục thẩm
mỹ Ở lứa tuổi này, tâm hồn trẻ rất nhạy cảm, dễ xúc động với con người và cảnh vật xung quanh, trí tưởng của trẻ bay bổng và phong phú Tính hình tượng đang phát triển mạnh mẽ, hầu như chi phối mọi hoạt động tâm lý của trẻ Với các đặc điểm tâm lý như vậy mà năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi thơ và tất nhiên việc giáo dục thẩm mỹ cần tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo để ươm trồng những tài năng cho tương lai
Trang 21
Giáo dục thẩm mỹ là một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo dục thái độ thẩm mỹ đối với thiên nhiên, lao động, đời sống xã hội, sinh hoạt và nghệ thuật Bởi vậy, thẩm mỹ thuộc phạm trù quan hệ, đánh giá Khi có quan hệ đến đối tượng thẩm mỹ, cá nhân bộc lộ thái độ của mình qua sự đánh giá Thái độ thẩm mỹ của trẻ đối với thế giới xung quanh là một hệ thống hoàn chỉnh của những mối liên hệ
cá nhân, có chọn lọc của trẻ với những phẩm chất mỹ học của xunh quanh Thái độ thẩm mỹ của trẻ bao gồm những phản ứng xúc cảm của trẻ đối với cái tuyệt vời, cái đẹp, những xúc cảm lành mạnh, hoạt động sáng tạo của trẻ, nguyện vọng biến đổi xung quanh vừa sức mình, cũng như đánh giá những sự kết hợi đẹp đẽ, hài hoà
về màu sắc, âm thanh…
Giáo dục nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ Tuy nhiên, việc nhận thức nghệ thuật rất đa dạng và độc đáo đến mức nó được tách
ra trong hệ thống giáo dục thẩm mỹ như một bộ phận riêng biệt của nó Giáo dục trẻ bằng các phương tiện nghệ thuật là đối tượng của giáo dục nghệ thuật, một bộ phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức và trí tuệ Cảm xúc thẩm mỹ không những được xây dựng trên cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dụng tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Những cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hưởng lớn đến bộ mặt đạo đức của con người và làm cho tính cách của con người thêm cao thượng Cảm xúc thẩm mỹ làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ, góp phần giáo dục tính lạc quan, yêu đời của các em, khêu gợi ở các em tính tích cực sáng tạo và ảnh hưởng đến việc hình thành mối quan hệ của các em với cuộc sống và những người xung quanh Giáo dục thẩm mỹ làm cho sự
tự giác được sắc bén hơn, giúp cho việc hiểu cái đã tự giác được sâu sắc hơn và góp phần phát triển
Trang 22
Giáo dục thẩm mỹ có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục Bản thân lao động được tổ chức là một phương thiện giáo dục thẩm mỹ Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có tác dụng nâng cao năng suất lao đông Sức khoẻ và phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp và có tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con người Vẻ đẹp của các thao tác, các vận động, của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối với việc tập thể dục và thể thao
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của giáo dục toàn diện, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện, Giáo dục thẩm mỹ cần được tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo Các hình tượng nghệ thuật tác động vô cũng mạnh mẽ đến trẻ em Bởi vì trẻ em cảm thụ nhờ tư duy trực quan hình tượng, nhờ tính dễ xúc cảm và nhờ mối quan hệ tích cực của trẻ mẫu giáo đối với hiện thực xung quanh
1.3 GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN
1.3.1 Khái quát về hoạt động tạo hình ở trường mầm non
Hoạt động tạo hình gắn liền với hoạt động của con người Ngay từ khi con
người chưa có ngôn ngữ học đã sử dụng hoạt động tạo hình như một phương tiện
để giao tiếp và truyền đạt lại kinh nghiệm sản xuất Điều đó chứng tỏ hoạt động tạo hình là một trong những nhu cầu cần thiết của đời sống con người
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động của co người để tạo ra các sản phẩm có hình thể và màu sắc đẹp, đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người xem – nhận ra cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp
Hoạt động tạo hình ở trường mầm non là hoạt động cho trẻ làm quen và tiếp xúc với nghệ thuật tạo hình, từ đó trẻ có thể cảm nhận được ngôn ngữ, đường nét, màu sắc,… qua đó nâng cao được nhận thức cho trẻ Hoạt động
Trang 23này được tổ chức thông qua các bài học như: vẽ, nặn, chắp ghép, làm quen với tác phẩm tạo hình…
Trẻ thường tạo hình một cách tự nhiên nhất, trẻ có thể vạch lên bàn, lên giấy
để tạo thành những nét thẳng, nét cong…chẳng ra hình thù gì như những sợi chỉ rối
mù Song hoạt động này là cần thiết vì nó phát triển thị giác, nâng cao nhận thức về
sự vật, hiên tượng trong cuộc sống hằng ngày mà chúng ta chưa được tiếp xúc, giúp trẻ tạo ra sản phẩm đẹp, đó là nét và hình, mà trước đó là ở mặt đất, mặt giấy…
Đối với việc giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, hoạt động tạo hình có vị trí rất quan trọng
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động hấp dẫn nhất đối với trẻ mẫu giáo, nó giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và thể hiện một cách sinh động những gì
mà chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh, những gì làm chúng rung động mạnh mẽ và gây cho chúng những cảm xúc, tình cảm tích cực
Hoạt động tạo hình là hoạt động có đầy đủ điều kiện để đảm bảo sự tác động đồng bộ lên mọi mặt phát triển của trẻ em, về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất và hình thành các phẩm chất, kỹ năng ban đầu của con người như một thành viên trong xã hội biết lao động tích cực sáng tạo
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động khó, đòi hỏi bàn tay khéo léo, óc quan sát, tư duy tưởng tượng….góp phần phát triển trí tuệ, trẻ tìm tòi khám phá để tạo ra sản phẩm đẹp giúp cho trẻ hiểu biết thêm những kiến thức cơ bản của hoạt động tạo hình và sử dụng hiệu quả trong tác phẩm nghệ thuật của mình
Trong tác phẩm nghệ thuật tạo hình của trẻ, người ta có thể hiểu được trẻ muốn nói gì ( ngôn ngữ tạo hình ), thể hiện tình cảm gì ( phương tiện truyền cảm)
Trang 24Hoạt động tạo hình là một hình thức hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính hình tượng Bởi vậy, nội dung chương trình hoạt động tạo hình có thể được xem như hệ thống những nhiệm vụ giáo dục và phát triển cụ thể nhằm hình thành ở trẻ khả năng nhận thức thẩm mỹ, khả năng phản ánh thế giới xung quanh, thâm nhập vào thế giới xung quanh thông qua hoạt động tạo hình
Ở trường mầm non từ nhiều năm nay, hoạt động tạo hình là một môn học chính, bao gồm nhiều hoạt động như: vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép… Khác với việc tổ chức hoạt động tạo hình có sử dụng các vật liệu thông thường, thì hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên đem lại cho trẻ sự hào hứng khi tham gia, trẻ được làm quen, tiếp xúc với những vật liệu gần gũi, quen thuộc, thân thiện với môi
trường Bên cạnh đó, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo và hướng dẫn trẻ tỉ mỉ, để trẻ có thể tham gia vào hoạt động một cách có hiệu quả
Hoạt động này còn khá mới mẻ ở các trường mầm non Trẻ sử dụng các vật liệu có sẵn trong tự nhiên như: cát, sỏi, lá cây, hột hạt, gỗ, vỏ sỏ, trai, ốc, chai, lo – những vật liệu quen thuôc và gần gũi với trẻ để tạo ra những sản phẩm độc đáo,
mang đậm tính sáng tạo của cá nhân trẻ
1.3.2 Hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên và vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ
1.3.2.1 Nguyên vật liệu
Vật liệu sử dụng trong hoạt động tạo hình của trẻ vô cùng phong phú và
đa dạng Bên cạnh những gì nhà trường đã trang bị ( giấy, bút sáp, bút màu ), các lớp nên huy động các phụ huynh học sinh cùng nhau đóng góp cho “ quỹ vật liệu” của lớp Nguồn vật liệu được lấy từ tự nhiên và các vật liệu tái chế tìm thấy trong
gia đình, ngoài cửa hàng, trên đường làng…
Nguyên vật liệu có thể sưu tầm dễ dàng như:
Trang 25
Từ động vật: vỏ sò, vỏ ốc, vỏ hến, lông chim…
Từ thực vật: gỗ, thân tre, cành cây, rơm rạ, lá cây, quả khô, hột hạt…
Từ nguồn vô cơ như: đá, sỏi, cát, đất sét…
1.3.2.2 Yêu cầu khi sử dụng nguyên vật liệu
Đảm bảo vệ sinh, an toàn cho trẻ: Các nguyên vật liệu tự nhiên cần được
làm vệ sinh sạch sẽ trước khi cho trẻ sử dụng ( rửa sạch, phơi khô và loại bỏ những nguyên vật liệu không còn nguyên hình, rách nát); không có gai sắc nhọn, không
độc hại và gây không nguy hiểm cho trẻ
Phù hợp với khả năng sử dụng của trẻ: Kích thước phải vừa tay trẻ,
không quá to và cũng không quá nhỏ, phù hợp với nội dung tạo hình Khi cho trẻ
sử dụng các nguyên vật liệu nhỏ như : cát, hột, hạt…thì giáo viên phải bao quát tốt Các thao tác để tạo sản phẩm cần đơn giản, phù hợp với trình độ và sự phát triển của từng lứa tuổi Khi sử dụng đất sét trong hoạt động nặn, giáo viên phải hướng dẫn trẻ cụ thể, nặn từng bộ phận, tránh để đất dính bẩn ra quần áo
Đảm bảo thẩm mỹ: Nên lựa chọn những nguyên vật liệu có màu sắc tươi,
đẹp Có thể sơn màu cho các nguyên vật liệu trước khi cho trẻ sử dụng và có hình dáng đặc trưng Có thể cắt, tạo dáng lá cây trước khi sử dụng
1.3.2.3 Vai trò của hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ
Với tư cách là một hoạt động nghệ thuật, hoạt động tạo hình tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cảm giác, tri giác thẩm mỹ Việc quan sát, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc
Trang 26điểm thẩm mỹ (hình dáng, màu sắc, cấu trúc, tỉ lệ, sự sắp xếp không gian…), nhận
ra những nét độc đáo, tạo nên sức hấp dẫn của đối tượng miêu tả
Các đặc điểm thẩm mỹ phong phú,đa dạng của đối tượng miêu tả là
những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, của những xúc cảm thẩm mỹ (cảm xúc về vẻ đẹp của hình, màu, nhịp điệu, vẻ cân đối hài hoà,…) Từ những cảm xúc thẩm mỹ giúp trẻ biết thưởng thức cái đẹp từ thiên nhiên và qua các tác phẩm nghệ thuật do chính trẻ tạo ra
Bên cạnh việc sử dụng các vật liệu thông thường như: bút sáp, bút màu, giấy màu… chúng ta có thể tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên như: đá, sỏi, cát, lá cây, hột hạt, gỗ… để làm nguyên vật liệu chính cho hoạt động tạo hình của trẻ Qua đó trẻ được, khám phá, trải nghiệm, tiếp xúc trực tiếp với chúng Từ những vật liệu vô tri vô giác, trẻ biết cách “ thổi hồn” để tạo nên những sản phẩm hay, độc đáo, có tính thẩm mỹ và gần gũi với thiên nhiên Khơi dậy ở trẻ trí tưởng tượng, sáng tạo, đặc biệt là tạo cầu nối cho trẻ đến với thiên nhiên một cách tự nhiên nhất, hình thành tình yêu và có ý thức bảo vệ thiên nhiên
Sự thể hiện nội dung tạo hình bằng phương tiện truyền cảm mang tính trực quan ( màu sắc, hình dạng…) sẽ làm cho các xúc cảm thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng mang tính nghệ thuật của trẻ ngày càng phong phú hơn
Hoạt động thực tiễn tạo ra các sản phẩm nghệ thuật tạo hình không chỉ là
cơ hội thuận lợi cho trẻ luôn được tiếp xúc với cái đẹp, luôn được rèn luyện trong việc tìm kiếm, tìm hiểu về cái đẹp mà còn nảy sinh và nuôi dưỡng ở chúng hứng thú với hoạt động nghệ thuật và niềm say mê sáng taọ nghệ thuật
Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình phù hợp với lứa tuổi sẽ mở ra trước mắt trẻ sự phong phú, sống động, vẻ rực rỡ của các màu sắc, hình dạng,
Trang 27ánh sáng và không gian… và những biến đổi của chúng trong thế giới xung quanh
So sánh đối chiếu với hiện thực được thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật sẽ giúp trẻ nhận ra giá trị thẩm mỹ của các sự vật hiện tượng xung quanh và mong muốn thể hiện vẻ đẹp đó một cách sáng tạo nhất Sự phản ánh hiện thực và biểu lộ tình cảm qua các phương tiện truyền cảm đặc trưng cho loại hình nghệ thuật vật thể như đường nét, hình dạng, màu sắc, bố cục, không gian,… chính là con đường lĩnh hội các kinh nghiệm văn hoá thẩm mỹ rất phù hợp với lứa tuổi trẻ em, trên cơ
sở đó mà hình thành thị hiếu thẩm mỹ sau này
Trang 28CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO
HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG MẦM NON HƯƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC
Trường mầm non Hương Sơn có tổng diện tích là 1220 m2, được thành lập năm
2002 Trường được xây dựng trên địa bàn xã Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
Khuân viên, cảnh quan của nhà trường xanh, sạch, đẹp, thuận lợi cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ Do Bình Xuyên là một huyện đang trên đà phát triển nên việc chăm sóc, giáo dục cho thế hệ trẻ - nhất là lứa tuổi mầm non ngày càng được quan tâm nhiều hơn Hiện nay, trường cũng có nhiều đổi mới trong phương pháp
và hình hình thức giáo dục Tập thể Giáo viên trong nhà trường đã không ngừng học hỏi, phấn đấu, nâng cao trình độ chuyên môn, do vậy, chất lượng nuôi và dạy trẻ ngày càng có bước chuyển biến rõ rệt Các Giáo viên đã tích cực đầu tư trong soạn bài, giảng bài và làm đồ dùng dạy học, nhiệt tình trong chăm sóc trẻ, giúp trẻ
tự tin, nhanh nhẹn trong sinh hoạt và học tập
Công tác chăm sóc giáo dục trẻ được nhà trường thực hiện tốt ở từng năm học, chú trọng trong việc nuôi dưỡng, đảm bảo sức khoẻ cho trẻ Từ đầu năm học, nhà trường đã có kế hoạch phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ Kết hợp
Trang 29với trạm Y tế của xã khám sức khoẻ định kỹ cho các cháu, thực hiện theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ tăng trưởng Từng trẻ đến trường được chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo, được đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần, nên sức khoẻ của trẻ cuối năm được tăng lên rõ rệt, số trẻ có sức khoẻ tốt đạt kênh A từ 92% trở lên, còn lại số trẻ trung bình là 8% Hàng năm, số lượng trẻ đến trường đạt 97,5%, tỉ lệ trẻ ngoan đạt 90% trở lên Nhà trường cũng đã tham gia tốt các phong trào của ngành và địa phương phát động như: phong trào văn nghệ, hội thi giáo viên giỏi các các cấp, hội thi làm đồ dùng đồ chơi, hội thi bé khoẻ bé ngoan… Có được chất lượng chăm sóc giáo dục như trên phải kể đến sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán
bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, luôn bám sát, vì mục tiêu đào tạo và nội dung chương trình chăm sóc trẻ
Hiện nay, tổng số Giáo viên trong toàn trường là 29, trong đó:
+ Ban giám hiệu: 3 cô
+ Giáo viên đứng lớp: 26 cô
Tổng số nhóm lớp: 20
Tổng số học sinh: 603
Về công tác chuyên môn:
Nhà trường sinh hoạt theo 2 tổ công tác: