Những nghiên cứu về hội chứng ADHD Rối loạn tăng động, giảm chú ý ADHD dùng để mô tả những trẻ có biểu hiện kém chú ý, tăng hoạt động, xung động không phù hợp theo tuổi, những triệu chứ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học Th.S LÊ THỊ NGUYÊN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, Th.S Lê Thị Nguyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại nhà trường Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo ở trường mầm non Sao Mai (Đông Anh, Hà Nội) đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra, khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả, nội dung khóa luận không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADHD Attention Deficit Hyperactivity Disorder- rối loạn tăng
động giảm chú ý
ADD Attention Deficit Disorder -rối loạn giảm chú ý
APA Americann Psychological Association - Hội tâm lý học
Hoa Kỳ
CD Conduct Discoder- rối loạn hành vi
DSM Diagnostic anh statistical Manual of Mental Discorders -
Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm thần (của hội tâm thần học Hoa Kỳ)
GV Giáo viên
Related Health Problems - Hệ thống phân loại quốc tế các bệnh và vấn đề sức khỏe liên quan (hiện nay dùng ICD-10)
NIMH National Institute of Mental Health - Viện sức khỏe Tâm
thần Quốc gia (Hoa Kỳ) TKT Trẻ khuyết tật
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Cấu trúc đề tài 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC 5
PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD 5
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu về hội chứng ADHD 5
1.1.2 Nghiên cứu về việc phát triển chú ý của trẻ ADHD 7
1.2 Hội chứng tăng động giảm chú ý ADHD ở trẻ em 8
1.2.1 Khái niệm và phân loại 8
1.2.2 Chuẩn đoán ADHD ở trẻ em 12
1.2.3 Nguyên nhân và những giải thích về cơ chế gây ADHD 19
1.2.4 Can thiệp và trị liệu ADHD ở trẻ em 23
1.3 Đặc điểm chú ý của trẻ mắc hội chứng ADHD lứa tuổi mầm non 25
1.3.1 Các phương thức giáo dục cho trẻ ADHD ở mầm non 25
1.3.2 Đặc điểm chú ý của trẻ lứa tuổi mầm non 26
1.3.3 Đặc điểm chú ý của trẻ ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 27
Trang 6CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC 29
PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD 29
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON 29
2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 29
2.2 Nội dung khảo sát thực trạng 29
2.3 Phương pháp khảo sát thực trạng 29
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng 31
2.4.1 Nhận thức của giáo viên về phát triển chú ý cho trẻ ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 31
2.4.2 Đặc điểm chú ý của trẻ ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 32
2.4.3 Biện pháp phát triển chú ý cho trẻ ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 33
2.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung chú ý của trẻ ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 34
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT VÀ MINH HỌA CÁC BIỆN PHÁP 35
PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD 35
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON 35
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 35
3.1.1 Đảm bảo tính tổng thể và toàn diện trong giáo dục hòa nhập cho trẻ ADHD 35
3.1.2 Đảm bảo tính phù hợp, xuất phát từ nhu cầu & khả năng của cá nhân trẻ ADHD 35
3.1.3 Đảm bảo tính đa dạng hóa 36
3.2 Biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non 36
3.1.1 Biện pháp khen thưởng, khích lệ 36
3.2.2 Sử dụng và phối hợp các yếu tố trực quan (đồ vật, tranh ảnh, kí hiệu đường nét, màu sắc…) để thu hút sự chú ý của trẻ 37
Trang 73.2.3 Biện pháp phân tích và chia nhỏ nhiệm vụ học tập (trong các hoạt động
học có chủ đích) 43
3.2.4 Thiết kế không gian và môi trường học tập 45
3.3 Một số đề xuất khác 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 1
Trang 8Rối loạn tăng động giảm chú ý là một hiện tượng mang tính toàn cầu
Nó nảy sinh và tồn tại không phân biệt ranh giới, xã hội, văn hóa cũng như các nhóm dân tộc Ở hầu hết trẻ em, các triệu chứng này xuất hiện từ trước tuổi lên 7 Các triệu chứng này ảnh hưởng đến khả năng của trẻ ở mức độ cao tại ít nhất hai môi trường xã hội, đặc biệt là ở nhà và trường học Theo sổ tay Chẩn đoán thống kê những rối nhiễu tâm thần xuất bản lần IV (DSM- IV) khoảng 3-7% trẻ em ở độ tuổi đến trường bị ảnh hưởng bởi rối loạn này Hiện nay, trẻ mắc hội chứng ADHD ngày càng phổ biến Tuy nhiên, các bậc phụ huynh thường chỉ quan tâm tới trẻ bị đau ốm, bị bệnh thực thể (ho, sốt, viêm đau, nhiễm trùng, chấn thương…) bởi đó là những bệnh có thể nhìn thấy và nếu không khám chữa ngay thì sẽ gây nguy hiểm cho trẻ Họ ít quan tâm tới những biểu hiện của hội chứng tăng động giảm chú ý và không biết rằng đó là một căn bệnh nguy hiểm, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ Những trẻ mắc ADHD không thể tập trung lâu vào các hoạt động học tập cũng như vui chơi, không thể ngồi yên, hành động thiếu suy nghĩ, và hiếm khi hoàn thành được một nhiệm vụ nào đó Nếu không được điều trị,
Trang 92
rối loạn có thể ảnh hưởng lâu dài đến khả năng học tập, kết bạn và những công việc của trẻ Chính vì vậy, cần phải phát hiện sớm và đưa ra những biện pháp can thiệp, hỗ trợ để trẻ giúp những trẻ ADHD có thể có cuộc sống bình thường như những đứa trẻ khác là một vấn đề rất cần thiết
Các phương thức giáo dục trẻ khuyết tật hiện nay bao gồm: giáo dục hoà nhập, giáo dục bán hoà nhập và giáo dục chuyên biệt Trong đó, phương thức giáo dục hòa nhập là dựa trên quan điểm tích cực, đánh giá đúng trẻ khuyết tật
và các em được nhìn nhận như mọi trẻ em khác Trẻ khuyết tật sẽ được học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với trẻ bình thường Và như mọi trẻ khác, trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục
Trên thực tế, công tác giáo dục hòa nhập đã được nhà nước quan tâm nhưng do cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong việc giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Một số cha mẹ trẻ khuyết tật cũng đặc biệt là trẻ ADHD chưa tin tưởng vào chất lượng giáo dục hòa nhập nên không gửi con đến trường Một số phụ huynh khác không chấp nhận khi nghe cô giáo nói con mình có triệu chứng ADHD Họ cho rằng, cô có định kiến với con họ, ghét bỏ con họ và lập tức cho con nghỉ học hoặc chuyển trường… Việc phát hiện ra trẻ có triệu chứng ADHD không phải là một việc quá khó khăn đối với các cô giáo ở trường mầm non, bởi họ là người trực tiếp chăm sóc, dạy dỗ trẻ Tuy nhiên việc đánh giá mức độ hiếu động - kém chú ý
và nhất là việc đưa ra những biện pháp can thiệp là một điều không đơn giản Với những trường học có trẻ ADHD, GV cần phải được đào tạo hay tập huấn
về tâm lý của các trẻ này để có biện pháp ứng xử và dạy dỗ đúng cách
Từ những yêu cầu của xã hội ngày càng lớn và những lí do kể trên là
căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Phát triển chú ý cho trẻ mắc hội
chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non”
Trang 103
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cho trẻ ADHD ở các trường mầm non hòa nhập
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non
- Đề xuất các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non
- Minh họa một số biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến chú ý của trẻ mắc hội chứng ADHD lứa tuổi 3-6 tuổi trong lớp học hòa nhập mầm non
- Khách thể nghiên cứu: trẻ mắc hội chứng ADHD trong các hoạt động học tập, vui chơi, sinh hoạt…ở trường, lớp hòa nhập mầm non
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn nghiên cứu trẻ ADHD lứa tuổi từ 3- 6 tuổi, địa bàn nghiên cứu: trường mầm non Sao Mai (Đông Anh - Hà Nội) và một số trung tâm: Khánh Tâm, Nắng Mai (Hà Nội)
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Trang 114
7 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ ADHD được sử dụng và phối hợp một cách hệ thống, thường xuyên và linh hoạt phù hợp với các dạng hoạt động ở trường mầm non hòa nhập thì sẽ giúp trẻ cải thiện, nâng cao khả năng tập trung, chú ý
Trang 125
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD
TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về hội chứng ADHD
Rối loạn tăng động, giảm chú ý (ADHD) dùng để mô tả những trẻ có biểu hiện kém chú ý, tăng hoạt động, xung động không phù hợp theo tuổi, những triệu chứng này đủ để gây ra suy kém các hoạt động chủ yếu trong đời sống hằng ngày Thuật ngữ ADHD có thể mới có nhưng mô tả về những trẻ
có các hành vi hoạt động quá mức, không biết kềm chế đã có từ lâu
Trong văn học, đã có những mô tả về một số người có vấn đề nghiêm trọng về chú ý, tăng động, và suy yếu kiềm chế xung động Đại văn hào Shakespeare (Anh) đã mô tả về sự suy giảm chú ý như là một trong những đặc điểm của vua Henry VIII Năm 1845, Herinich Hoffman, một bác sĩ người Đức đã mô tả về một cậu bé tăng động giảm chú ý trong bài thơ của
mình có tên “Bé Phil hay cựa quậy”
Năm 1902, bác sĩ nhi khoa người Anh Goerge F.Still đã mô tả rõ ràng một nhóm trẻ có vấn đề nghiêm trọng về hành vi đạo đức, không thể tập trung
và gặp khó khăn trong học tập ở bài thuyết trình của mình trước Viện Hàn lâm Y khoa Hoàng gia Ông cho rằng nhóm trẻ đó có sự thiếu hụt khả năng kiểm soát hành vi Tuy nhiên, phát hiện này của ông hầu như rất ít được quan tâm (Mash EJ & Barkley, 1996)
Một cách nhìn nhận khác về ADHD và cơ chế gây ra nó cũng bắt đầu xuất hiện ở Bắc Mỹ xung quanh thời điểm dịch viêm não lớn vào năm 1917-
1918 Kết quả của trận đại dịch gây ra là những vấn đề liên quan đến hành vi
Trang 136
ở trẻ như sự tăng động, dễ kích thích, mất tập trung chú ý Những trẻ này và những trẻ bị chấn thương khi sinh, chấn thương đầu hoặc tiếp xúc với độc chất cũng biểu hiện các vấn đề về hành vi được gọi là “hội chứng trẻ em bị tổn thương não”, thường có kèm theo chậm phát triển tâm thần Trong những năm 1940 đến 1950, thuật ngữ này cũng được sử dụng cho những trẻ có biểu hiện các hành vi tương tự nhưng không có bằng chứng tổn thương não hoặc chậm phát triển tâm thần và được gọi với tên: “tổn thương não tối thiểu” (Minimal brain damage) hay “rối loạn chức năng não tối thiểu” (Minimal brain dysfunction) Những thuật ngữ này làm cho mọi người quy kết một cách
dễ dàng rằng nguyên nhân của những vấn đề về hành vi là do nguyên nhân thực thể (Schacar, 1986) Mặc dù một vài trường hợp ADHD có thể giải thích bởi các chấn thương não nhưng các giả thuyết cuối cùng bị từ chối vì nó chỉ giải thích được một số ít các trường hợp (Rie, 1980)
Những năm 50 của thế kỉ XX, nhiều tác giả lại quan tâm đến những hành
vi đặc trưng của tăng động và xung động, được gọi là rối loạn tăng động xung
động, và quy cho là do sự suy yếu bộ lọc của đồi não đối với những kích thích
quá mức của vỏ não Đến năm 1969, DSM-II đã miêu tả tất cả rối loạn thời thơ
ấu như là “những phản ứng” và hội chứng tăng động giảm chú ý ở trẻ em được
gọi với cái tên “phản ứng tăng động thời thơ ấu”
Cho đến những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề duy trì chú ý và kiểm soát xung động (Douglas, 1972) Những quan điểm của Douglas ảnh hưởng lớn đến nhiều
nghiên cứu về chú ý sau này, dẫn đến việc đổi tên gọi từ phản ứng tăng động
thời thơ ấu trong II thành rối loạn suy giảm chú ý (ADD) trong
DSM-III (APA, 1980) Theo DSM-DSM-III, ADD được chia làm hai thể: thể có tăng động và thể không tăng động (Mash EJ & Barkley, 1996)
Tuy nhiên, chỉ một vài năm sau khi khái niệm ADD ra đời, các nghiên cứu lại cho thấy rằng tăng hoạt động và xung động là những đặc trưng rất
Trang 147
quan trọng để phân biệt những rối loạn này với rối loạn khác và để dự đoán sự
phát triển sau này Sau đó, rối loạn được đổi tên thành rối loạn tăng động
giảm chú ý (ADHD) trong DSM-III-R (APA, 1987)
Đến DSM-IV, tên gọi ADHD vẫn giữ nguyên nhưng cách phân loại các thể ADHD đã tách tăng động và giảm chú ý ra thành: thể tăng động chiếm ưu thế, thể giảm chú ý chiếm ưu thế và thể kết hợp cả tăng động và giảm chú ý [9]
1.1.2 Nghiên cứu về việc phát triển chú ý của trẻ ADHD
Nền kinh tế - xã hội ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu rất phát triển cùng với đó là sự phát triển cao của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần Tuy nhiên các nghiên cứu mới về ADHD ở các nước tiên tiến này chủ yếu tập trung vào vấn đề so sánh hiệu quả giữa các cách can thiệp khác nhau: dùng thuốc, điều trị tâm lý, chăm sóc cộng đồng Các nghiên cứu về điều trị ADHD gần đây của Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia, Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, Học viện nhi khoa Hoa Kỳ chủ yếu nhằm so sánh hiệu quả giữa các phương thức khác nhau Các phương thức bao gồm: dùng thuốc đơn thuần, trị liệu tâm
lý (chủ yếu là cách tiếp cận hành vi), kết hợp dùng thuốc và điều trị tâm lý, còn lại là chăm sóc cộng đồng
Mặc dù can thiệp tâm lý được các chuyên gia, gia đình và nhà trường đánh giá cao nhưng nó ít được chứng minh bằng tài liệu về hiệu quả điều trị ADHD
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ADHD chủ yếu dừng lại ở mức độ thống kê, mô tả như đã đề cập ở trên Có thể kể đến các công trình nghiên cứu
khoa học như: “Tìm hiểu ảnh hưởng của hội chứng tăng động giảm chú ý đối
với học tập ở trẻ em tiểu học” (Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú, 2001);
“Bước đầu thích nghi hóa các thang đánh giá những hành vi kém thích nghi
của Conner trên học sinh tiểu học và trung học cơ sở” (Nguyễn Công Khanh,
2002); “Đặc điểm tâm lý tâm sàng của học sinh tiểu học có rối loạn tăng
Trang 158
động giảm chú ý” (Nguyễn Thị Vân Thanh, 2010); đề tài “Thử ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trong trị liệu tăng động giảm chú ý ở học sinh trung học
cơ sở ở Hà Nội” (Nguyễn Thị Hồng Nga, 2003)… Ngoài ra còn có một số bài
viết chuyên ngành, các khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học Lâm sàng của khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa Học xã hội và Nhân văn; Tâm lý giáo dục, Giáo dục đặc biệt thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội cũng đề cập đến rối loạn tăng động giảm chú ý Các nghiên cứu cho thấy, các triệu chứng ADHD xuất hiện ở trẻ em từ 3 đến 6 tuổi Vì vậy, phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ ADHD ngay từ lứa tuổi mầm non là rất quan trọng, bởi nó ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển và hòa nhập của trẻ ở các lứa tuổi sau này Trẻ ADHD do thiếu tập trung, chú ý, tăng động - bồng bột nên trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, giao tiếp và quan hệ xã hội Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm can thiệp và hỗ trợ cho trẻ ADHD Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu theo hướng tiếp cận can thiệp cá nhân Trong khi đó, thực tiễn giáo dục cho thấy, giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ ADHD nói riêng là một tất yếu nhằm giúp trẻ có thể phát triển và hòa nhập vào cộng đồng (theo mục tiêu của UNESCO) Do vậy, việc nghiên cứu hỗ trợ trẻ ADHD ở trường mầm non hòa nhập là một việc rất cần thiết Đây cũng chính là lí do để người nghiên cứu lựa chọn đề tài: Phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non
1.2 Hội chứng tăng động giảm chú ý ADHD ở trẻ em
1.2.1 Khái niệm và phân loại
Hội chứng tăng động giảm chú ý ADHD
Theo DSM-IV: ADHD là một mẫu hành vi khó kiểm soát, biểu hiện dai
dẳng của sự kém tập trung chú ý và tăng cường hoạt động một cách thái quá, khác biệt hẳn với mẫu hành vi của những trẻ bình thường khác cùng tuổi phát triển [2]
Trang 169
Theo ICD-10, rối loạn tăng động giảm chú ý có đặc điểm: dấu hiệu khởi
phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài theo thời gian
ADHD - Hội chứng tăng động giảm tập trung chú ý - là một dạng rối loạn gây ra những khó khăn vĩnh viễn biểu hiện ở một hoặc nhiều hành vi
sau: a) Thiếu chú ý, b) Quá hiếu động, c) Hấp tấp [7]
- Thiếu chú ý: khó khăn trong việc tập trung vào các chi tiết hay tham gia vào các công việc cụ thể; khó duy trì thời gian tham gia công việc, hay sai sót; có vẻ mơ màng, thờ thẫn, hay quên, không chú ý khi người khác nói với mình và hiếm khi hoàn thành nhiệm vụ
- Quá hiếu động: khó kiềm chế các hành vi: cơ thể luôn vận động không ngừng; khó khăn khi chơi hoặc khó tham gia một cách bình tĩnh vào các hoạt động giải trí; nói quá nhiều, gây ồn ào cho các hoạt động cần im lặng
- Hấp tấp: khó kiềm chế phản ứng, không kiên nhẫn, trả lời trước khi người khác hỏi hết câu hỏi; ngắt lời hoặc nói leo theo; đi linh tinh vào những chỗ không được phép
ADHD là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý Căn bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập và gây khó khăn trong quan hệ với mọi người [10]
Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về ADHD của một số tác giả, người
nghiên cứu nhìn nhận: Rối loạn tăng động giảm chú ý là một trong những rối
loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý thường xuất hiện trước 7 tuổi
ADHD là dạng rối nhiễu xuất hiện ở trẻ em tại tất cả các quốc gia trên thế giới với các nền văn hóa khác nhau.Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh,
Trang 1710
số bé trai có khả năng bị chẩn đoán mắc ADHD hơn bé nhưng các chuyên gia không chắc chắn vì nếu điều đó Có nghĩa là nhiều bé trai thực sự có tình trạng ADHD, hoặc nếu chúng chỉ là nhiều khả năng có dạng ADHD mà theo kết quả thống kê của hành vi nghịch phá [8]
ADHD ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng học tập và quan hệ giao tiếp với mọi người Theo DSM-IV, hiện nay hội chứng ADHD không chỉ tổn tại với 3 biểu hiện chính như trên mà người ta còn xem xét ADHD đi kèm với các biểu hiện khác như:
Các nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ không nhỏ trẻ ADHD được chuẩn
đoán kèm với rối loạn tính cách (Mood Disorders), rối loạn chống đối
(Oppositional Defiant Disorders), rối loạn lo âu (Anxiety Disorders)
Các thuật ngữ có liên quan
ADHD - Rối loạn tăng động giảm chú ý (trước đây gọi là ADD) một dạng rối nhiễu phát triển thường gặp ở trẻ em Đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm theo sự suy giảm khả năng chú ý Nếu không được điều trị, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập và khó khăn trong quan hệ với mọi người
Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến liên quan đến các thuật ngữ hay định
nghĩa về ADHD Những định nghĩa được đưa ra hầu hết là các định nghĩa
mang tính mô tả về những triệu chứng điển hình của hội chứng ADHD
Trang 18 Dạng kết hợp (tăng động - hấp tấp, thiếu tập trung chú ý)
Ngoài ra, trường hợp những người có triệu chứng giống như ADHD nhưng không đủ các tiêu chí để chuẩn đoán là ADHD theo ba dạng trên được gọi là “ADHD không điển hình” (ADHD not Otherwise Specified)
Về ý nghĩa, thuật ngữ ADHD dùng để mô tả cho rối loạn tăng động
giảm tập trung Thuật ngữ ADD để mô tả cho rối loạn giảm tập trung Một
người có khả năng mắc ADD mà không hề tăng động, nói cách khác người đó
có thể được chuẩn đoán là ADHD hay ADD dựa vào việc người đó có tăng
động hay không Do đó, để điều chỉnh cho khả năng một người mắc rối loạn chú ý có hay không tăng động, hội chứng này được viết là AD(H)D -
AttentionDeficit (Hyperactivity) Disorder hoặc AD/HD Attention Deficit/Hyperactivity Disorder)
-Thuật ngữ của ICD: những trẻ có triệu chứng của hội chứng này được gọi “Rối nhiễu Hyperkinetic” (Hyperkinetic Disorder), trong đó chia thành:
Dạng rối nhiễu hoạt động & tập trung (Disturbance of Activity and Attention)
Các rối nhiễu Hyperkinetic khác (Other Hyperkinetic Disorder)
Rối nhiễu Hyperkinetic không điển hình (Hyperkinetic Disorder, Unspecifeid)
Thuật ngữ ADS (Attention-deficit syndrome) nghĩa là “Hội chứng giảm
tập trung” Thuật ngữ ADS tương đương với thuật ngữ ADHD song được
đưa ra với là do một số nhà chuyên môn không muốn gọi hội chứng này là
một “Rối nhiễu” (Disorder)
Trang 1912
Thuật ngữ MCD (Minimal Cerebral Dysfunction) nghĩa là “Giảm chức năng não bộ tối thiểu” Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi ở Mỹ
Thuật ngữ DAMP (Deficits in Attention, Motor control and Perception)
nghĩa là “Suy giảm khả năng tập trung, kiểm soát vận động & tri giác” Thuật
ngữ này thường được sử dụng ở Đan Mạch & Thụy Điển để chỉ những trẻ
mang ADHD kèm dyspraxia (chứng rối loạn phối hợp động tác)
Hội chứng tăng động giảm chú ý ở lứa tuổi mầm non
Trẻ em bị ADHD ít chú ý, hiếu động hay bốc đồng, và nhiều trẻ có thể kết hợp cả những hành vi này
Khi tham gia môi trường hòa nhập, trẻ ADHD hay bị xem là những kẻ phá rối trong các hoạt động ở lớp học Trong khi tất cả trẻ nhỏ có thể bốc đồng, hiếu động hoặc không chú ý ở một giai đoạn, thì ở những trẻ em ADHD các hành vi này xảy ra thường xuyên và liên tục [4]
Như vậy trên cơ sở tổng hợp khái niệm về trẻ ADHD của một số tác giả,
người nghiên cứu nhìn nhận: Trẻ ADHD là trẻ có những hành vi hiếu động
quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý
1.2.2 Chuẩn đoán ADHD ở trẻ em
Thứ nhất: chẩn đoán ADHD theo DSM - IV
Việc chuẩn đoán ADHD căn cứ theo các tiêu chí phân loại của DSM-IV, bao gồm 5 tiêu chí (A-E) Đây cũng là những biểu hiện/đặc trưng của trẻ mắc hội chứng ADHD xét trong môi trường chủ yếu là ở lớp học/trường hoặc gia đình
A Mắc phải một trong hai triệu chứng (A1) hoặc (A2) sau:
(A1): Có ít nhất 6 triệu chứng giảm tập trung - chú ý, kéo dài trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, ở mức độ không thích nghi và không phù hợp/mẫu thuẫn với mức phát triển
- Thường khó tập trung vào các chi tiết hoặc thường mắc lỗi do cẩu thả khi làm bài ở trường, ở nơi làm việc hay trong các hoạt động khác
Trang 2013
- Thường khó duy trì sự tập trung vào nhiệm vụ hoặc hoạt động giải trí
- Thường có vẻ không chăm chú vào những điều người đối thoại đang nói
- Thường không theo dõi các hướng dẫn và không làm hết bài tập ở trường, các việc vặt và những nhiệm vụ khác ở nơi làm việc (không phải hành
vi chống đối hay không hiểu được lời hướng dẫn)
- Thường khó tổ chức các nhiệm vụ và hoạt động
- Thường tránh né, không thích hoặc miễn cưỡng tham gia các hoạt động đòi hỏi phải duy trì nỗ lực trí tuệ (ví dụ như học bài ở trường hoặc bài tập về nhà)
- Thường quên những thứ quan trọng cho nhiệm vụ hoặc hoạt động (ví
dụ như: đồ chơi, quần áo, giày, dép, ba lô…)
- Thường dễ bị sao lãng bởi kích thích bên ngoài
- Thường đãng trí trong các hoạt động hằng ngày
(A2): Có ít nhất 6 triệu chứng tăng động - bồng bột, kéo dài trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, ở mức độ không thích nghi và không phù hợp/mẫu thuẫn với mức phát triển
Quá hiếu động:
- Thường hay cựa quậy chân tay hoặc cả người khi ngồi
- Thường rời khỏi ghế trong lớp học hoặc trong những trường hợp cần ngồi cố định
- Thường chạy hoặc leo chèo quá mức trong những tình huống không phù hợp
- Thường khó khăn khi chơi hoặc tham gia một cách yên tĩnh vào các hoạt động giải trí
- Thường “luôn tay luôn chân” hoặc thường hành động như thể “được gắn động cơ”
- Thường nói quá nhiều
Trang 2114
Bồng bột - hấp tấp:
- Thường đưa ra câu trả lời trước khi người hỏi đặt xong câu hỏi
- Thường khó chờ đợi đến lượt mình
- Thường cắt ngang hoặc nói leo người khác (ví dụ như chen vào cuộc
trò chuyện hay thứ tự chơi trò chơi)
B Một vài triệu chứng quá hiếu động - hấp tấp hoặc giảm tập trung gây ra sự kém khả năng xuất hiện trước 7 tuổi
C Có một dạng khuyết tật nào đó từ những triệu chứng này bộc lộ trong hai môi trường hoặc hơn (như ở trường/ở nơi làm việc và ở nhà)
D Phải có bằng chứng lâm sàng rõ ràng về sự suy yếu đáng kể trong các chức năng xã hội, học tập và nghề nghiệp
E Những triệu chứng không xuất hiện riêng biệt trong các loại rối loạn phát triển diện rộng, bệnh loạn tinh thần, hoặc rối loạn tinh thần khác và không thể xếp vào một dạng rối loạn trí tuệ nào (như rối loạn tâm trạng, rối loạn lo lắng, rối loạn không giao tiếp hay rối loạn nhân cách)
Diễn giải các dạng ADHD theo kết quả chuẩn đoán:
- Nếu cả triệu chứng (A1) và (A2) đều có trong 6 tháng qua: Rối loạn tăng động giảm chú ý dạng kết hợp
- Nếu có triệu chứng (A1) nhưng có triệu chứng (A2) trong 6 tháng qua: Rối loạn tăng động giảm chú ý dạng ADD
- Nếu có triệu chứng (A2) nhưng không có (A1) trong 6 tháng qua: Rối loạn tăng động giảm chú ý dạng tăng động - hấp tấp
Thứ hai: chẩn đoán ADHD theo ICD - 10
Theo tổ chức y tế thế giới (1990), mặc dù ICD-10 không đưa ra các tiêu chí cụ thể để chẩn đoán ADHD và các dạng của chúng, song ICD-10 đã đưa
ra mã bệnh ADHD-F90 và đề cập đến các nguyên tắc chẩn đoán Quán triệt
Trang 22- Thiếu kiên trì và thiếu chú ý chỉ được đưa vào chẩn đoán nếu suy giảm quá mức so với lứa tuổi
- Tiêu chuẩn đánh giá là mức độ hoạt động quá cao trong những hoàn cảnh nhất định, so với trẻ cùng tuổi và cùng mức trí tuệ
- Các triệu chứng kết hợp không đủ hoặc không cần thiết để chẩn đoán, nhưng có thể giúp cho chẩn đoán: Thiếu kiềm chế trong mối quan hệ xã hội,
sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các quy tắc xã hội một cách tự phát, ngẫu hứng (can thiệp hay làm gián đoạn công việc của người khác, vội vã đưa ra câu trả lời trước khi trẻ hiểu đầy đủ câu hỏi hoặc không yên tâm chờ đợi đến lượt mình) đều là những nét đặc trưng của trẻ em
có rối nhiễu ADHD
- Những khó khăn trong học tập và sự vụng về trong vận động không được xem là một thành phần của chẩn đoán hiện tại về rối loạn tăng động
- Rối loạn ADHD thường khởi phát sớm và tồn tại lâu dài Tuy nhiên,
để có thể chẩn đoán quyết định có hay không có ADHD thì thường phải ở thời điểm khi trẻ đến trường
Như vậy, từ các nguyên tắc chẩn đoán ADHD của ICD-10 cho thấy:
- Các tiêu chí để chẩn đoán ADHD gồm các dấu hiệu (triệu chứng) đặc trưng và dấu hiệu kết hợp Các dấu hiệu kết hợp sẽ là số liệu bổ sung để chẩn đoán đạt kết quả chính xác
- Tiêu chí đánh giá ADHD phải dựa vào chuẩn mực, đặc điểm lứa tuổi tương ứng về mặt tâm sinh lí lẫn kĩ năng thích ứng, giao tiếp xã hội
Trang 2316
- Các triệu chứng, dấu hiệu để kết luận về rối nhiễu ADHD phải được xuất hiện như nhau trong hành vi của trẻ ở mọi lúc, mọi nơi
- Cần phải có sự chẩn đoán phân biệt giữa ADHD với các rối nhiễu hành
vi khác có những triệu chứng chung giống nhau
Thứ ba: chẩn đoán ADHD theo thang lượng giá của C Keith Conner
C.Keith Conner, một trong những nhà tâm lí học lâm sàng nổi tiếng nhất trong lĩnh vực rối nhiễu hành vi với 30 năm nghiên cứu về ADHD và các rối nhiễu hành vi khác, năm 1989, lần đầu tiên ông công bố thang đánh giá hành
vi kém thích nghi “Conner’s Test” (Bộ trắc nghiệm Conners Rating Scales - CRS) Thang CRS được xây dựng từ số liệu nghiên cứu trên các mẫu hành vi kém thích nghi của trẻ bình thường và trẻ có vấn đề về hành vi điều trị ngoại trú tại các cơ sở y tế Ban đầu, bộ trắc nghiệm CRS được sử dụng để phát hiện trẻ ADHD, nhưng sau nhiều lần bổ sung, hoàn thiện, nó được phát triển thành công cụ phát hiện, chẩn đoán rối nhiễu ADHD và các rối nhiễu hành vi kém thích nghi khác có liên quan Năm 1997, C.K.Conner đã sửa chữa bổ sung thêm hàng loạt đề mục và chuẩn hóa lại bộ trắc nghiệm này Bộ trắc nghiệm được chỉnh sửa mới gọi tắt là CRS-R (Conners Rating Scales - Revised) bao gồm các thang đo:
Thang đo Conners’ Parent Rating Scale - Revised (CPRS-R): Thang
đo Conner dành cho cha mẹ - Bảng sửa đổi (phiên bản đầy đủ và phiên bản rút gọn)
Thang đo Conners’ Teacher Rating Scale - Revised (CTRS-R): Thang
đo Conner dành cho giáo viên - Bảng sửa đổi (phiên bản đầy đủ và phiên bản rút gọn)
Thang đo Conners’ - Wells’Adolescent Self-Report - Revised R): Thang đo Conner dành cho vị thành niên tự đánh giá - Bảng sửa đổi
Trang 24(CASS-17
Thang CRS-R bao gồm các tiểu thang liên kết trực tiếp với DSM-IV và nhấn mạnh đến đánh giá đa phương thức (thang dành cho cha mẹ và giáo viên), do đó CRS-R liên quan trực tiếp đến đánh giá lâm sàng và chẩn đoán Theo Barkley (1990), phiên bản CRS-R thực sự chứa đựng các tiêu chí cơ bản
và quy chuẩn Đặc biệt, thang chỉ số ADHD liệt kê các đề mục tốt nhất để phân biệt trẻ em ADHD với trẻ bình thường
Bảng liệt kê này giúp kiểm soát trẻ em và trẻ vị thành niên có nguy cơ mắc ADHD Thang CRS-R hoàn toàn thích hợp trong quản lí, chăm sóc, theo dõi, điều trị, giáo dục và đánh giá hiệu quả quá trình điều trị và giáo dục Đặc biệt các thang rút gọn rất hữu ích trong việc theo dõi thường xuyên tình trạng của trẻ ADHD
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đứng ở góc độ là một giáo viên mầm non, người nghiên cứu chỉ trình bày thang đánh giá ADHD dạng rút gọn dành cho giáo viên (CTRS-R: S) (chi tiết xem phụ lục 2)
- Chống đối gồm 5 đề mục: 2, 6, 10, 15, 20 Những trẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện rối loạn cư xử thể chống đối đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV rối loạn chống đối
- Thiếu hụt chú ý gồm 5 đề mục: 4, 8, 13, 18, 22 Những trẻ có điểm cao
ở thang này có biểu hiện thiếu hụt chú ý đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể thiếu hụt chú ý chiếm ưu thế
- Tăng động, xung động gồm 7 đề mục: 3, 7, 11, 17, 21, 24, 27 Những trẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện tăng động, xung động đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán cúa DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể tăng động chiếm ưu thế
- Hỗn hợp tăng động giảm chú ý gồm 12 đề mục: 1, 5, 9, 12, 14, 16, 19,
23, 25, 26, 27, 28 Những trẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện tăng động giảm chú ý đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể hỗn hợp, tăng động giảm chú ý cùng chiếm ưu thế
Trang 2518
Thứ tư: Chẩn đoán phân biệt
Hầu hết các bậc cha mẹ đều quan sát thấy những vận động quá mức của trẻ lần đầu tiên khi trẻ mới biết đi, trùng hợp với thời điểm phát triển khả năng vận động độc lập Tuy nhiên, vì có rất nhiều trẻ nhỏ tăng vận động không phát triển tình trạng ADHD về sau, nên việc chẩn đoán ADHD phải hết sức thận trọng vào những năm đầu đời
Ở trẻ nhỏ, có thể khó phân biệt các triệu chứng của ADHD với những hành vi bình thường của những trẻ nhỏ tăng động (như chạy nhảy, làm ồn ) Tuy vậy, khả năng chú ý của những trẻ nhỏ cũng có thể được đánh giá (ví dụ trẻ khoảng 2-3 tuổi đã có thể cùng ngồi với người lớn và xem một quyển sách hình Ngược lại, trẻ nhỏ có tình trạng ADHD thường không chú ý được hoặc chúng tăng động quá mức và khó có thể kiềm chế)
Việc chẩn đoán đặc biệt khó thực hiện ở trẻ nhỏ dưới 4-5 tuổi, bởi vì hành vi đặc trưng của chúng thay đổi nhiều hơn so với trẻ lớn và có thể gồm những nét tương tự như các triệu chứng của ADHD Hơn nữa, triệu chứng giảm chú ý ở trẻ chưa đến tuổi đi học thường ít được quan sát thấy, bởi những trẻ nhỏ ở tuổi này thường không được đòi hỏi phải chú ý nhiều
Các triệu chứng giảm chú ý cũng thường gặp ở những trẻ chậm phát triển trí tuệ được bố trí học trong những môi trường học tập không phù hợp với khả năng của trẻ Những hành vi này phải được phân biệt với các dấu hiệu tương tự của trẻ bị ADHD Ở trẻ chậm phát triển trí tuệ, một chẩn đoán ADHD chỉ nên tiến hành khi tình trạng giảm chú ý hoặc tăng động trở nên quá mức đối với tuổi khôn (Mental Age) của trẻ
Giảm chú ý cũng có thể xảy ra ở một trẻ rất thông minh được bố trí trong một môi trường học tập “dưới ngưỡng” (Understimulating Environment)
Trang 2619
ADHD cũng phải được phân biệt với sự khó khăn trong việc định hướng mục đích cho hành vi của những trẻ sống trong môi trường thiếu thốn, hỗn độn và vô tổ chức
Những trẻ có hành vi chống đối có thể từ chối những công việc và bài học ở trường đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo, bởi những trẻ này thiếu khả năng đáp ứng các yêu cầu của người khác Những triệu chứng này cũng phải phân biệt với sự tránh né công việc học tập ở trường, một điều thường gặp ở trẻ bị ADHD Sự phức tạp trong chẩn đoán phân biệt là trẻ bị ADHD có thể phát sinh một thái độ chống đối thứ phát đối với những công việc như thế
Không chẩn đoán là ADHD nếu các triệu chứng được giải thích bởi một rối loạn tâm thần khác (rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn phân li, rối loạn nhân cách) Nếu rối loạn khí sắc hoặc lo âu cùng xảy ra đồng thời với ADHD, từng tình trạng nên được chẩn đoán riêng
ADHD không được chẩn đoán khi các triệu chứng tăng động và giảm chú ý xảy ra trong thời gian diễn tiến của một rối loạn phát triển lan tỏa (Pervasive Developmental Disorder) hoặc một tình trạng loạn tâm khác
Các triệu chứng giảm chú ý, tăng động, xung động có thể liên quan đến việc sử dụng một số dược chất (thuốc giãn phế quản, isoniazide, akathisia lấy
từ các neuroleptics) ở những trẻ dưới 7 tuổi không được chẩn đoán là ADHD, thay vào đó nên chẩn đoán là các rối loạn liên quan hóa chất không đặc hiệu (Other Substance-Related Disorders Not Otherwise Specified) [1]
1.2.3 Nguyên nhân và những giải thích về cơ chế gây ADHD
Các nhà khoa học vẫn chưa biết chắc chắn nguyên nhân nào dẫn đến bệnh tăng động giảm chú ý (ADHD), mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấy gen đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề này Như rất nhiều loại bệnh khác, bệnh tăng động giảm chú ý có thể do nhiều nguyên nhân gây nên
Yếu tố di truyền
Trang 2720
Yếu tố di truyền (gen) được đề cập đến trong một nghiên cứu trên 238 cặp song sinh (Goodman và Stevenson, 1989) đã tìm ra sự phù hợp cho chẩn đoán lâm sàng tăng động ở 51% các cặp sinh đôi cùng trứng và 33% các cặp sinh đôi khác trứng
Di truyền là nguyên nhân gây ra 50-92% các hành vi qua hiếu động và giảm tập trung Khi khoa học phát triển, người ta có khả năng sẽ tìm ra gen gây ADHD Trong nhiều nghiên cứu di truyền, các nhà khoa học đã gợi ý rằng ADHD không phải là một tình trạng bệnh lí mà là một đặc điểm của con người Các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra cách thức di truyền ADHD, một số cho rằng có một nhóm gen gây nên ADHD, một số khác lại cho rằng chỉ một loại gen duy nhất nào đó gây ra ADHD Nhìn chung các nhà khoa học nghiêng nhiều về giả thuyết cho rằng ADHD là do một nhóm gen gây nên Nghiên cứu khẳng định rằng ADHD xuất hiện từ khi kết hợp một số loại gen, trong đó có gen ảnh hưởng lên quá trình luân chuyển dopamine Những loại gen được đề cập đến bao gồm gen DATI, gen DRD4, và gen DBH TaqI Sử dụng máy scan SPECT (Single-Photon Emission Computed Tomography), các nhà khoa học nhận thấy những người mắc ADHD có lượng máu lưu thông thấp hơn so với người bình thường và có mức lưu thông dopamine ở thể vân vùng trước trán nhiều hơn
Các nghiên cứu gia đình chỉ ra rằng có khoảng 40% cha mẹ có con bị ADHD thì chính họ cũng mang triệu chứng ADHD và khoảng 30% những cặp anh chị em trong tổng số gia đình có trẻ mang ADHD cùng bị ADHD Các nghiên cứu trên trẻ sơ sinh khẳng định, so với các dạng rối nhiễu khác, ADHD có tính di truyền cao hơn Các nghiên cứu đó cũng xác nhận các triệu chứng ADHD mang tính cộng hưởng và tích lũy, giống như chiều cao, cân nặng hay huyết áp Khi các triệu chứng ADHD xuất hiện với mức độ và tuần suất cao hơn bình thường, hội chứng ADHD sẽ hình thành ở trẻ
Trang 2821
Những vấn đề về gen nảy sinh có thể do di truyền từ các thế hệ hoặc do khi mang thai, người mẹ hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy hoặc bị nhiễm độc hóa chất [6, tr.48, 49]
Yếu tố sinh học (liên quan đến chức năng & hoạt động của não bộ)
Theo Volkow và cộng sự (2003), tăng giải phóng Dopamine trong não
bộ có thể là nguyên nhân chính trong rối loạn ADHD Các chất Dopamine, Norepinephrine và Serotonin có liên quan đến quá trình cảm giác và tri giác, gây ra mất tập trung, làm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động, gây ra tăng động và khó điều phối kích thích hành vi, gây ra sự thôi thúc hành động [1] Doparmine là chất dẫn truyền thần kinh được có nhiều chức năng trong não,
có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi và nhận thức Các nghiên cứu phát hiện thấy sự thay đổi của nồng độ Doparmine cũng có ảnh hưởng đến các triệu chứng ADHD Các cứ liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát từ những nghiên cứu phát hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệu chứng của ADHD giảm
Các nhà khoa học cũng tập trung nghiên cứu vai trò, ảnh hưởng của thùy trước đối với các hội chứng Thuỳ trán trước cũng được cho rằng có liên quan đến ADHD bởi vì vùng não này liên quan chủ yếu đến chức năng thực hành như hoạch định, tổ chức, tự điều chỉnh, và kiểm soát xung động Điều này có thể giải thích cho các yếu tố ảnh hưởng đến việc cải thiện những triệu chứng của hội chứng vỏ não trước có liên quan đến các hành vi xung động và hung tính Trẻ em bị tổn thương não đôi khi cũng có những biểu hiện giống với trẻ ADHD Nhưng tỉ lệ những trẻ ADHD có nguyên nhân từ tổn thương não rất thấp Các nghiên cứu gần đây đã nêu lên sự khác biệt trong chức năng của não, trao đổi chất ở não thấp hơn mức bình thường của nữ mắc ADHD (F.Rief Sandra, 2008) Một nghiên cứu khác trong suốt 10 năm của Viện sức
Trang 2922
khỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kì đã so sánh những lớp chụp cộng hưởng từ MRI (Magnetic Resonnace Imaging) ở nam giới bình thường và mắc ADHD, cho thấy thùy trán ở những trẻ mắc ADHD nhỏ hơn trẻ bình thường
Hàng loạt nghiên cứu trắc nghiệm tâm lí - thần kinh về chức năng của thùy chán (việc kiềm chế đáp ứng hành vi) cho rằng, có sự suy yếu đáng kể ở phần này của não bộ trẻ [1]
Yếu tố môi trường
Một số nhà khoa học cho rằng mối tương tác giữa cha mẹ và trẻ từ tuổi
ấu thơ có thể là nguyên nhân gây nên ADHD Trẻ em có nguy cơ bị ADHD cao hơn nếu sống trong môi trường thiếu kích thích, bị ngược đãi và có các căng thẳng trong gia đình Tuy nhiên, tỉ lệ ADHD do nguyên nhân này không đáng kể, đôi khi sự căng thẳng của gia đình là hệ quả của việc trong gia đình
có trẻ ADHD chứ không phải là nguyên nhân gây nên ADHD [7, tr.49]
Chế độ dinh dưỡng
Những nghiên cứu khác nhau đã tìm ra sự khác nhau về quá trình trao đổi chất giữa trẻ ADHD và trẻ bình thường Nếu một trẻ không có khả năng hấp thu hay chuyển đổi một số loại chất nào đó từ thức ăn, có thể sẽ dẫn tới ADHD Vào năm 1990, nhà hóa học Neil Ward đã chứng minh rằng trẻ ADHD bị thiếu chất kẽm khi sử dụng thức ăn được nhuộm tartrazine Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng, việc thiếu hụt một số acid béo, đặc biệt là acid béo omega-3 có thể gây nên ADHD Các giả thuyết này được đưa ra khi nhiều nghiên cứu nhận thấy những trẻ được ăn dặm từ 6 tháng tuổi (hoặc hơn một chút) có ít nguy cơ bị ADHD hơn so với những trẻ ăn dặm muộn, vì những loại thức ăn sẵn dành cho trẻ nhỏ thường không có đủ acid béo omega-3 [7]
Trang 3023
1.2.4 Can thiệp và trị liệu ADHD ở trẻ em
Mặc dù hiện nay chưa có phương pháp chữa khỏi bệnh ADHD, nhưng
có rất nhiều sự lựa chọn điều trị có hiệu quả ở một số trẻ Những chiến lược hiệu quả bao gồm liệu pháp hành vi, y dược và kết hợp nhiều phương pháp
Trị liệu bằng thuốc
Hầu hết những loại thuốc được chỉ định cho trẻ ADHD là các chất kích thích Những chất này có tác dụng kích thích đối với những vùng não có chức năng kiểm soát sự tập trung chú ý và tính bốc đồng Việc sử dụng các chất kích thích để điều trị hội chứng (thường là tăng động) đôi khi lại dẫn tới các tác dụng ngược lại và không giúp cho cá nhân có thể tự kiểm soát hành vi của mình
Dược phẩm được biết đến nhiều nhất là Methylphenidate (thường được biết đến bởi hai dòng sản phẩm là Ritalin và Concerta) Hiệu quả của các loại thuốc này là giúp cho trẻ ADHD tăng cường khả năng tập trung tuy nhiên nó cũng có tác dụng phụ gây ảnh hưởng tới cơ thể của trẻ
Ở các nước Châu Âu, nhất là nước Pháp, việc dùng thuốc để điều trị cho trẻ ADHD vẫn là vấn đề còn rất nhiều tranh cãi Vì vậy, điểu trị bằng thuốc cho trẻ ADHD vẫn còn rất nhiều hạn chế
Trị liệu bằng chế độ dinh dưỡng
Trị liệu bằng chế độ dinh dưỡng là một trị liệu được đưa vào nhằm hỗ trợ cho trẻ ADHD, nhưng trên thực tế vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể đáng tin cậy xác nhận tính đúng đắn của các trị liệu này Có một số nghiên cứu đã chứng minh rằng quá trình trao đổi chất ở trẻ ADHD có một sự khác biệt so với trẻ bình thường, và từ đó giả thuyết cho rằng việc thay đổi chế độ
ăn cho trẻ ADHD có thể kiểm soát được phần nào biểu hiện ADHD ở trẻ Vào những năm 1980, vitamin B được coi là một phương thuốc dành cho trẻ có khó khăn về học bao gồm cả nhóm trẻ có khả năng tập trung thấp
Trang 3124
Sau đó, kẽm và vitamin tổng hợp được đề cập tới Gần đây nhất, acid béo Omega-3 được đánh giá là rất có ưu điểm Một số chất kích thích nhẹ như cà phê và theobromine cũng có thể tăng cường chức năng ở một số trẻ có triệu chứng ADHD
Trị liệu hành vi
Nhìn chung, sự tăng động hay giảm tập trung quá mức của trẻ ADHD chính là nguyên nhân gây nên các hành vi bất thường ở trẻ (hay gây ra tai nạn, quên đồ đạc…) và thực sự điều đó tạo ra sự phiền nhiễu cho chính trẻ, giáo viên và cha mẹ Nhà trị liệu hành vi sẽ sử dụng các kĩ thuật quản lý hành vi để tăng dần các hành vi mong muốn ở trẻ và giảm dần các hành vi không mong muốn
Trị liệu cảm giác
Trẻ ADHD cũng có thể được trị liệu cảm giác nhằm cải thiện và nâng cao trạng thái cân bằng về cảm giác, tuy nhiên trị liệu này không phải luôn cần cho mọi trẻ