1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

95 285 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 135,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ

HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC

XÃ HỘI

• • • •

BÙI THANH HẢI BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI

DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 62.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót, tôi xinhoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận vănBùi Thanh Hải

Trang 7

pháp hoàn

thiện và

Trang 8

TÀI LIỆU

Trang 9

BLHS : Bộ luật hình sự

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC : Biện pháp ngăn chặn

CQĐT : Cơ quan điều tra

án hình sựtrên địa bànthành phố Hải

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăm lo đến con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàndiện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động nhànước là những quan điểm cơ bản được thực hiện trong các văn bản của Đảng

Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo

về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết

số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02-6-2005 “Về chiến lược cải cách tư

pháp đến năm 2020” khẳng định “Đỏi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chồ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh

có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm ”[3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng tiếp tục đặt ra nhiệm: “Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người

” [12];

Hải Dương là thành phố đang trên đà phát triển về các mặt chính trị vănhóa xã hội, nơi giao thương kinh tế tương đối tấp nập Kéo theo với điều đó làtình hình tội phạm trên địa bàn trong những năm vừa qua đã diễn ra tương đốiphức tạp Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệchế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân Trong công cuộc đấu tranhvới tội phạm, một vấn đề không kém phần quan trọng là bảo vệ có hiệu quảquyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có người bị tạm giữ đểquyền và lợi ích của người bị tạm giữ không bị xâm hại, hạn chế những hành

vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan và người THTT Bên cạnh những kết

Trang 12

quả đạt được, thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết VAHStrên địa bàn thành phố Hải Dương, tình trạng cơ quan, cá nhân có thẩm quyềnTHTT xâm phạm đến các QCN đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ vẫncòn xảy ra Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó cóbất cập, hạn chế của pháp luật, có trường hợp nhận thức người THTT cònkhác nhau Do đó có thể nói nghiên cứu việc bảo đảm QCN của người bị tạmgiữ có vai trò rất quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định trên thực tế,góp phần chung vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước, thực hiệnnhiệm vụ xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm quyền con

người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương” làm luận văn cao học luật

là vấn đề mang tính cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cảthực tiễn đối với địa phương trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế vấn đề QCN vàbảo đảm QCN trong hoạt động tư pháp nói chung và trong hoạt động tố tụngnói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các mức độ và góc độ khácnhau Các công trình đó có thể tổng quan thành các nhóm sau đây:

Ở phạm vi nghiên cứu về QCN và bảo đảm QCN nói chung trongTTHS, cụ thể có nhiều công trình đã công bố như: Sách chuyên khảo:

“Quyền con người ”, năm 2015 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, NXB Khoa học xã hội [52]; sách chuyên khảo: “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, năm 2011 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội [51]; sách: “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình

sự Việt Nam” của tác giả Trần Quang Tiệp (2004) [36]; “Quyền con người,

Trang 13

quyền cong dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của GS.TS

về Quyền con người trong tố tụng hình sự (do VKSND tối cao và Uỷ bannhân quyền Australia tổ chức tháng 3/2010) của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc

[30]; bài báo khoa học “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong

tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ” của PGS.TS Trần Văn Độ

[14];

Các công trình trên các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bảo đảm QCNtrong tư pháp hình sự nói chung và trong TTHS nói riêng Bước đầu đã đặtnền móng cho việc đặt QCN lên hàng đầu Tuy nhiên, đến nay chưa có côngtrình khoa học nào tiếp cận một cách trọn vẹn, toàn diện, hệ thống, đồng bộ vềvấn đề bảo đảm QCN của người bị bắt theo pháp luật TTHS từ thực tiễn mộtđịa bàn nghiên cứu, cụ thể là tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương)” cần tiếp tục được nghiên

cứu, để có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm QCN của

Trang 14

người bị tạm giữ không chỉ trên địa bàn thành phố Hải Dương, mà còn có thểtham khảo áp dụng trên toàn quốc.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luậnchung về bảo đảm QCN nói chung và thực tiễn áp dụng đối với người bị tạmgiữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nói riêng Qua đó,phát hiện những khó khăn, vướng mắc, thiếu sót trong quá trình thực hiện của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để đưa ra những giải pháp góp phần nângcao hiệu quả việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phốHải Dương, tỉnh Hải Dương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếusau:

Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về QCN, quyền của

người bị tạm giữ, bảo đảm QCN đối với người bị tạm giữ

Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật về bảo đảm QCN đối với người

bị tạm giữ để rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện hành vànguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật liên quan

Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm

QCN đối với người bị tạm giữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm phápluật liên quan đến QCN, bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong pháp luật

Trang 15

TTHS Việt Nam, những hạn chế, bất cập, khó khăn trong quy định của phápluật, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Ngoài ra, luận văncòn nghiên cứu, phân tích thực tiễn bảo đảm QCN của người bị tạm giữ theopháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Dương làm cơ sở choviệc đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những

khía cạnh pháp lý của một số quy định của pháp luật về bảo đảm QCN đối vớingười bị tạm giữ

- Về địa bàn khảo sát: Luận văn chỉ khảo sát thực trạng áp dụng việc

bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnhHải Dương

- Về thời gian khảo sát: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc bảo

đảm QCN của người bị tạm giữ trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016

5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luậnchủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quanđiểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương phápnghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp;phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quynạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoahọc các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương diện

lý luận về bảo đảm QCN theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay Đề tài đã

Trang 16

phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn việc bảo đảm QCN của người bị tạmgiữ trên địa bàn thành phố Hải Dương Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạnchế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc khi thực hiện Đồng thời kiến nghị một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS vềviệc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người bịtạm giữ

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ sunglợi ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp luật mà còn cho các nhà nghiêncứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học vàsinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kếtquả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thứcchuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS trong quá trình giải quyết VAHS được khách quan, có căn cứ và đúng phápluật

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm quyền con người của người bịtạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữtheo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hải Dương,tỉnh Hải Dương

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người củangười bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 1

Trang 17

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI

BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ

Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhânloại, song cũng là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoahọc nghiên cứu Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về QCN, songquan điểm phổ biến cho rằng QCN là những đặc quyền bẩm sinh, vốn có của

mọi cá nhân: "Nhân quyền là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"[39] Một định

nghĩa khác của Văn phòng Cao ủy của Liên hợp quốc về quyền con người(OHCHR) cũng thường trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, trong đó cho rằng:

“Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người ”

[27]

Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên nó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm bằng pháp luật Học thuyết Nhân quyền tự nhiên cho rằng: “Con người có những quyền cố hữu do tạo hóa ban tặng như quyền sống, quyền tự do, quyền

tự do, quyền sở hữu; quyền con người là thiêng liêng, cao quý và phải được sắp xếp cao hơn pháp luật nhà nước; nhân quyền trao cho nhà nước vì vậy quyền lực nhà nước là có giới hạn và nhà nước co nghĩa vụ đối với nhân

Trang 18

dân”[30] Theo lý luận chung đã được thừa nhận ở đa số các quốc gia trên thế giới thì QCN có những thuộc tính cơ bản sau đây:

- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ

quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được ápdụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có

sự phân biệt đối xử vì bất kì lý do gì [44, tr.25]

- Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng QCN nhưng

mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân củatừng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đóđang sống Nhận thức được đặc điểm này cũng rất quan trọng đối với việcchúng ta có cái nhìn khách quan về vấn đề nhân quyền ở mỗi quốc gia

- Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng

quốc tế, QCN không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởibất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Tuy nhiên,trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ cónhững chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế QCN

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các QCN

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề đểthực hiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnhhưởng đến các quyền khác

Quyền con người được xác định theo các lĩnh vực chủ yếu sau đây:

- Nhóm các quyền dân sự, chính trị: Đây là các quyền quan trọng của

con người, có liên quan đến sự tồn tại tự nhiên, tất yếu của con người trong xãhội, liên quan đến mối quan hệ tự nhiên giữa con người với một thể chế chínhtrị của xã hội đó, ví dụ như quyền sống, quyền tự do, quyền bảo hộ về tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở,

Trang 19

bí mật thư tín, điện tín Các quyền này theo quan điểm của các học giả tư sảnđược coi là quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của con người.

- Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa: Đây là nhóm quyền

theo quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa được coi là quan trọng nhất vànhóm các quyền này luôn gắn liền với một nhà nước cụ thể, được đảm bảo bởinhà nước Các quyền này bao gồm: quyền lao động, quyền học tập, quyền ansinh xã hội, các quyền về văn hoá, sáng tạo và hưởng thụ các thành tựu củakhoa học kỹ thuật

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm QCN, nhànước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là:

Nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước không được tùy

tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụhưởng các QCN

Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự

vi phạm QCN của các bên thứ ba

Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những

biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các QCN [10]

Để thực hiện các nghĩa vụ về nhân quyền, các Nhà nước phải sử dụngpháp luật Là một phạm trù đa diện, xong QCN có mối liên hệ gần gũi hơn cảvới pháp luật Điều này trước hết là bởi cho dù QCN là bẩm sinh, vốn có songviệc thực hiện các quyền vẫn cần có nhà nước và pháp luật Hầu hết nhữngnhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếukhông được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng vàthực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức màcòn trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhấtcho tất cả các chủ thể trong xã hội

Trang 20

Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tácđộng qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Pháp luật ghi nhận các quyền củacon người được xã hội thừa nhận Thông qua pháp luật, QCN được ghi nhận

và bảo vệ Để bảo vệ QCN, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành

vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm QCN.Quyền con người được pháp luật xác lập sẽ không thể bị tước bỏ, hạn chế mộtcách tuỳ tiện vì được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục vàcưỡng chế của xã hội, Nhà nước Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu củaNhà nước để bảo vệ thực hiện QCN Với những đặc điểm riêng của mình,pháp luật có tính bắt buộc cứng rắn bằng cách xác lập những điều cấm mà bất

cứ ai cũng không được vi phạm Đồng thời, pháp luật được bảo vệ thi hànhbằng bộ máy Nhà nước cùng với sức mạnh xã hội Vì thế, các quy định củapháp luật về QCN còn được bảo vệ bằng sự cưỡng chế của Nhà nước tránhmọi hành vi xâm hại Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm QCN,quyền công dân đều phải được xử lý nghiêm minh

Quyền con người và bảo đảm QCN luôn là vấn đề quan tâm hàng đầucủa mỗi quốc gia Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người làm nềntảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm Và trong lĩnh vựcTTHS cũng vậy, việc giải quyết VAHS không thể tách rời vấn đề bảo đảmQCN, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội Bởi lẽ để buộc tội và truy cứuTNHS đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải donhững người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục

mà pháp luật quy định để nhằm mục đích không để lọt tội phạm đồng thờiđảm bảo không làm oan người vô tội

Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thựchiện những cam kết trong pháp luật quốc tế về các QCN vào trong pháp luậtmỗi quốc gia Không thể bảo đảm QCN nếu chỉ dựa vào quyền tự nhiên của

Trang 21

con người, bởi tự thân những quyền tự nhiên không thể tự mình vận hànhtrong một xã hội rộng lớn ở phạm vi quốc tế và phạm vi quốc gia Phải thôngqua Nhà nước, thì những cam kết quốc tế về QCN mới hình thành nên nhữngđịa vị pháp lý của con người, đồng thời QCN chỉ được bảo đảm khi được quyđịnh bằng pháp luật và có cơ chế bảo đảm, vận hành bởi pháp luật Do đó, bảođảm QCN là sự kết hợp địa vị pháp lý và địa vị thực tế của con người trong xãhội, là một trong những biểu hiện tự do xã hội, trách nhiệm và tính tích cựccông dân Các quyền kinh tế, chính trị, xã hội chưa phải là cơ sở để thực hiệnquyền và tự do của con người Chúng chỉ trở thành những bảo đảm QCN quahình thức pháp lý và những nỗ lực tổ chức bảo đảm thực hiện của Nhà nước.Bảo đảm QCN của người bị buộc tội là đảm bảo cho những người đó có địa vịpháp lý phù hợp để bảo vệ mình trước việc bị nghi thực hiện tội phạm, bịbuộc tội và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họ thực hiện quyền

và nghĩa vụ tố tụng được quy định

Tuy nhiên, bảo đảm QCN trong TTHS không chỉ là sự ghi nhận về mặtpháp lý các QCN trong TTHS, bảo vệ và bảo đảm thực thi các quyền đó trongquá trình giải quyết các VAHS Bảo đảm QCN của người phải là sự bảo đảmcho các chủ thể mang quyền được thực hiện đầy đủ và hợp pháp các quyềnđược đề cập trong các quy định của pháp luật

Quyền con người của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giamtrong TTHS được thể hiện cụ thể trong các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họđược pháp luật TTHS ghi nhận và bảo đảm thực hiện

Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ cũng là bảo đảm QCN trongTTHS và là một lĩnh vực có tính chất đặc thù của bảo đảm QCN nói chung.Bảo đảm QCN của người bị tạm giữ là việc ghi nhận các QCN và thực thitrong hoạt động tạm giữ trong TTHS Thực hiện tốt việc bảo đảm QCN trong

Trang 22

hoạt động tạm giữ là đóng góp có hiệu quả cho việc bảo đảm QCN trongTTHS và bảo đảm QCN nói chung.

Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ là nhiệm vụ của Nhà nước Nhànước trong điều kiện kinh tế - xã hội, pháp lý của mình cần có cơ chế phù hợp

để ghi nhận và bảo đảm thực thi QCN Các quy phạm pháp luật về QCN,quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ chưa phải là cơ sở để cácQCN được thực thi mà cần phải có những bảo đảm ràng buộc pháp lý của Nhànước

Để bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ bên cạnh việc củng cố vàtăng cường các bảo đảm QCN nói chung, còn phải bảo đảm các yếu tố mangtính đặc trưng riêng như:

- Xây dựng được hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động

tạm giữ trên cơ sở các tiêu chí quốc tế về QCN và phù hợp với yêu cầu bảođảm QCN ở Việt Nam;

- Có các giải pháp thực thi có hiệu qủa các QCN được quy định trong

hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tạm giữ;

- Hình thành cơ chế giám sát bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ.

Tóm lại, khái niệm bảo đảm QCN của người bị tạm giữ có thể đượchiểu:

“là việc tạo ra các điều kiện, yếu tố cần và đủ để quyền con người của người

bị tạm giữ được ghi nhận và bảo đảm thực thi có hiệu quả trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong TTHS".

1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ

Trong TTHS Việt Nam, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng cóquyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án BLTTHS năm 2015 đưa ra

Trang 23

khái niệm về người bị tạm giữ như sau: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”[34] Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, đó

là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, trườnghợp phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đốivới họ đã có quyết định tạm giữ Mặc dù, họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưngtrên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan đã tạm giữ họ Họ bịhạn chế một số quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặc trả lời các câu hỏi củacán bộ điều tra

Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự baogồm: bị can, bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành

án bỏ trốn nhưng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầuthú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ Do đó, pháp luật coi người bị tạmgiữ là người tham gia TTHS, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữtheo quy định của pháp luật

Hay nói cách khác, người bị tạm giữ là người bị nghi đã thực hiện tộiphạm và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền Để trởthành người bị tạm giữ cần có đủ hai điều kiện:

+ Điều kiện về nội dung: khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn

bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy

và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngayviệc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặcnơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người

tự thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm

Trang 24

+ Điều kiện về hình thức: đối với người đã có quyết định tạm giữ củangười có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS Theo quy định của Điều

117 và Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐTcác cấp, người chỉ huy Quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương,người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay,tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ huytrưởng vùng Cảnh sát biển là những người có thẩm quyền ra quyết định tạmgiữ [34]

Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đưa ra khái

niệm khoa học về người bị tạm giữ như sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật.

Thứ nhất, là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:

Là khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọnghoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi người đó thực hiện tội phạmrồi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm Người bị tạm giữ trongtrường hợp này là người chưa bị khởi tố về hình sự Việc giữ người trongtrường hợp khẩn cấp nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm và hành vi trốn tránhpháp luật, tiêu hủy chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra của người thực hiệntội phạm và được áp dụng trong những trường hợp cấp bách Từ đó, tạo điềukiện cho CQĐT có thẩm quyền có đủ thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu,bước đầu xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của người bị tạmgiữ Đồng thời để đảm bảo các quyền tự do cá nhân của con người, Điều 110BLTTHS năm 2015 đã quy định một cách rõ ràng, cụ thể các trường hợp giữkhẩn cấp như sau:

Trang 25

+ Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đóđang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theodõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặcnhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ranhững điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặctội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm

được thực hiện Việc bắt người này cần phải đảm bảo hai điều kiện: Một là,

có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện

tội phạm Hai là, tội phạm đang chuẩn bị được thực hiện là tội phạm rất

nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Chuẩn bị thực hiện tộiphạm, còn một khoảng thời gian nhất định với việc thực hiện tội phạm, nênkhông phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần phải truy cứuTNHS Người bị giữ trong trường hợp này, thường phải bị tạm giữ vì khiquyết định giữ khẩn cấp CQĐT đã có căn cứ để xác định rằng người đó đangchuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

+ Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tạinơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thựchiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Đây làtrường hợp tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắtngay Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tộiphạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm.Nếu CQĐT xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn thì ra lệnh bắtkhẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều

kiện: Một là, phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông

thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Việc xác nhậnphải mang tính chất khẳng định, chứ không thể “hình như”, hoặc “nhìn giống

Trang 26

như” người đã thực hiện tội phạm Hai là, xét thấy cần ngăn chặn ngay việc

người đó trốn

+ Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ởngười hoặc tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngănchặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Đây là trường hợp cơquan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người đó thựchiện tội phạm, nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm ở ngườihoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấycần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì người đó bịbắt khẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiệnsau: Một là, khi thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bịnghi thực hiện tội phạm Việc tìm thấy dấu vết của một tội phạm chỉ được coi

là một điều kiện để bắt khẩn cấp Hai là, cần ngăn chặn ngay việc người bị

nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Khi có căn cứ cho rằngngười bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì cơ quan cóthẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp

Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang:

Khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tộiphạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành

vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần thiết phải điều tra, xác minh Điều 111BLTTHS năm 2015 quy định những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:

+ Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.Đây là trường hợp tội phạm đã bắt đầu được thực hiện, đang diễn ra và chưakết thúc trên thực tế, đang gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ Việc người đang thực hiện tội phạm bị phát hiện hay không, tùythuộc vào đặc điểm của cấu thành tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm; khảnăng, kiến thức, vị trí công tác của người phát giác sự kiện phạm tội

Trang 27

+ Trường hợp hợp thứ hai: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì

bị phát hiện Đây là trường hợp người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạmtội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấutang vật, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bịngười khác phát hiện Vì vậy, khi bắt người phạm tội vừa thực hiện hành viphạm tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tộiphải xảy ra không gián đoạn về mặt thời gian

+ Trường hợp thứ ba: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổibắt Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội đang thực hiệntội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạytrốn và bị đuổi bắt Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khichạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầmngười không thực hiện tội phạm Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về mặt thờigian so với hành vi chạy trốn thì không được xem là bắt quả tang mà có thểbắt theo trường hợp khẩn cấp

Thứ ba, là người bị bắt theo quyết định bị truy nã:

Trước đây, Sắc luật số 002-SLt ngày 18/6/1957 quy định, người đang

bị truy nã là một trường hợp phạm pháp quả tang mà người công dân nàocũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền nơi gần nhất vì cóquan niệm không chính xác khi cho rằng: người đang bị truy nã là ngườiphạm tội quả tang Trong BLTTHS năm 2015, người phạm tội quả tang và bắtngười đang bị truy nã được phân biệt rõ ràng Bởi vì, người đang bị truy nã làngười đã thực hiện hành vi phạm tội, đã bị cơ quan Công an ra quyết định(hoặc lệnh) truy nã Theo quy định tại quy chế về công tác truy nã của BộCông an thì những người thuộc diện cơ quan Công an phải ra lệnh truy nãgồm: Bị can bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Bị cáo bỏ trốn hoặc khôngbiết đang ở đâu; Phạm nhân trốn trại

Trang 28

Thứ tư, là người phạm tội tự thú, đầu thú:

Tự thú là việc một người sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội nhưnghành vi đó vẫn chưa bị phát hiện, hoặc người thực hiện hành vi đó vẫn chưa bịphát hiện Nhưng sau một thời gian, có thể do bị lương tâm cắn rứt, do hốihận về hành vi của mình người đó đã tự ra trước cơ quan chức năng trìnhdiện và khai nhận về hành vi phạm tội của mình hoặc hành vi phạm tội củamình và đồng bọn

Thứ năm, là đối với họ phải có quyết định tạm giữ:

Bên cạnh điều kiện cần là một người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,

bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặcngười phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở thành người bị tạmgiữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ Nếu một người bị bắt trong cáctrường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyếtđịnh tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ Do đó điều kiện đủ nàyđiều kiện quan trọng và quyết định một người có phải là người bị tạm giữ haykhông trong quá trình tham gia TTHS Khi họ đã có quyết định tạm giữ vàtham gia vào quá trình TTHS thì người bị tạm giữ có quyền và nghĩa vụ nhấtđịnh theo quy định của pháp luật

Tạm giữ là BPNC của TTHS được các cơ quan THTT áp trong quátrình giải quyết VAHS Biện pháp ngăn chặn là chế định pháp lý quan trọngđược qui định tại chương VII và một số điều, ở các chương khác củaBLTTHS 2015 Những BPNC được áp dụng với mục đích ngăn chặn khôngcho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tộitiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành ántrốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Đồng thời, việc áp dụng các BPNC cònnhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan THTT giải quyết vụ ánnhư không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu huỷ chứng

Trang 29

cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với ngườilàm chứng, bảo đảm sự có mặt của bị can, bị án khi có yêu cầu của cơ quanTHTT Đối tượng bị áp dụng các BPNC là bị can, người phạm tội quả tanghoặc người mà cơ quan THTT có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội Khi

áp dụng BPNC các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi,giới hạn cũng như thủ tục mà Luật TTHS qui định Ngoài các đối tượng kểtrên không ai có thể bị áp dụng các BPNC, mọi hành vi áp dụng BPNC khôngđúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạmpháp luật, người có hành vi vi phạm tuỳ theo tính chất và mức độ có thể bị xử

lý kỷ luật hoặc truy cứu TNHS Thẩm quyền áp dụng BPNC là những ngườiTHTT có thẩm quyền của các CQĐT, VKS hoặc những người có chức vụtrong các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng, côngdân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả tang, bắt người theo lệnh truy

nã Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm

vụ của các cơ quan, Luật TTHS qui định cho cơ quan đó được áp dụng tất cảhay một số các BPNC và trong phạm vi, giới hạn cũng như theo thủ tục củaLuật TTHS

1.2 Nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự

Nội dung đầu tiên là bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHStrước hết thể hiện trong việc phải bảo đảm các quyền công dân chung của họ:Các quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp và các vănbản pháp luật khác như Luật bầu cử, Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ Làcông dân, người bị bắt có quyền được tôn trọng và bảo đảm các quyền đượcpháp luật quy định, trừ các trường hợp BLTTHS quy định khác nhằm đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ TTHS Phải nói rằng, trong khoa học luật TTHS nói chung

và trong giai đoạn điều tra nói riêng, vấn đề bảo đảm quyền công dân của

Trang 30

người tham gia tố tụng chưa được chú ý nhiều Trong nghiên cứu về “Bị can

và bảo đảm quyền của bị can trong BLTTHS 2003, thực trạng và định hướng

hoàn thiện”, vấn đề này đã được TS Nguyễn Duy Hưng phát hiện: “Những quy định của pháp luật TTHS hiện hành chưa đề cập nhiều đến khía cạnh các quyền công dân của một người đang bị truy cứu TNHS với tư cách bị can "

[21, tr.201] Các quyền của bị can được quy định trong pháp luật TTHS phầnlớn được đề cập trên phương diện quyền tố tụng và ít được đề cập trênphương diện quyền công dân Tuy nhiên, với tư cách là đối tượng của khoahọc luật TTHS, việc nghiên cứu bảo đảm quyền công dân của người bị bắt, bịtạm giữ, bị can cần được đặt trong bối cảnh các hoạt động TTHS được thựchiện để giải quyết vụ án

Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của cơquan THTT, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quanNhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án theo quy định củapháp luật TTHS Hay nói cách khác, TTHS là hoạt động khởi tố, điều traVAHS của CQĐT, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước tòa án của VKS,hoạt động xét xử VAHS của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết địnhbản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [53, tr.786] Trong giaiđoạn điều tra, việc áp dụng các BPNC trong đó có biện pháp tạm giữ là rấtcần thiết để phục vụ cho việc chứng minh VAHS Vì vậy, để đạt được mụcđích của tố TTHS, pháp luật TTHS của bất kỳ một quốc gia nào cũng có quyđịnh về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụngđụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hay nói cách khác, cưỡng chếTTHS, khả năng ảnh hưởng của hoạt động TTHS tới các QCN của công dân

là tất yếu

Để bảo đảm QCN trong TTHS nói chung, QCN của người bị tạm giữtrong TTHS nói riêng dưới góc độ quyền công dân, thể hiện chủ yếu thông

Trang 31

qua các nguyên tắc TTHS trong đó có các nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp tớiBPNC bắt người trong giai đoạn điều tra Trong khoa học luật TTHS, cácnguyên tắc TTHS được phân chia thành các nhóm khác nhau để nghiên cứu,bao gồm: 1/ Các nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong hoạt động tố tụng; 2/Các nguyên tắc liên quan đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án; 3/Các nguyên tắc thể hiện tính dân chủ trong hoạt động tố tụng và 4/ Cácnguyên tắc bảo đảm QCN của người tham gia tố tụng.

Trong số các nguyên tắc TTHS cơ bản được quy định trong BLTTHS,các nguyên tắc thuộc nhóm thứ tư thể hiện rõ nhất quan điểm của người làmluật liên quan đến bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt trongTTHS nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn điều tra Mặc dù họ là nhữngđối tượng hoặc có khả năng bị áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất

là TNHS nhưng những quyền cơ bản, thân thiết nhất như: quyền được tôntrọng về nhân phẩm, quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam giữ, bị chấphành án phạt tù và những quyền tư pháp để được xét xử công bằng, để đượcđiều tra khách quan trong quá trình tố tụng vẫn phải được tôn trọng và bảođảm [8, tr.25] Cụ thể đó là: nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bảncủa công dân (điều 4), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi côngdân trước pháp luật (điều 5), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm vềthân thể của công dân (điều 6), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (điều 7), nguyên tắc bảo đảm quyền bấtkhả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín củacông dân (điều 8), nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kếttội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (điều 9), nguyên tắc bảo đảm quyềnbào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điều 11, nguyên tắc bảo đảmquyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bịoan (điều 29) và nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị

Trang 32

thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành TTHS gây ra (điều30) ,.

Ngoài ra, các nguyên tắc tố tụng khác ở mức độ này hay mức độ khác,góc độ này hay góc độ khác đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc bảođảm QCN của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị tạm giữ nóiriêng trong giai đoạn điều tra

Thứ hai, bảo đảm QCN trong TTHS đối với người bị tạm giữ là bảo

đảm cho những người đó có địa vị pháp lý phù hợp để bảo vệ mình trước việc

bị nghi thực hiện tội phạm và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họthực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định [41, tr44] Là người bịnghi thực hiện tội phạm (người bị tạm giữ), bị truy cứu TNHS (trong trườnghợp đã bị khởi tố về hình sự), người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng có vịtrí trung tâm, quyết định trong toàn bộ quá trình TTHS Mọi hoạt động TTHSđều tập trung vào việc xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm để trên

cơ sở đó có quyết định xử lý phù hợp với quy định pháp luật Vì vậy, có thểnói, các quy định của BLTTHS, các hoạt động TTHS của cơ quan, ngườiTHTT, người tham gia tố tụng đều trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều liênquan đến người bị tạm giữ hoặc các chủ thể tham gia tố tụng khác

Bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS từ góc độ này là xâydựng cơ sở pháp lý và tạo điều kiện trên thực tế để: 1/ Những người bị tạmgiữ có khả năng chứng minh bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội từ phía CQĐT, bác

bỏ sự buộc tội của CQĐT và làm giảm nhẹ TNHS đối với tội phạm mà người

đó thực hiện; 2/ CQĐT xác định chính xác, khách quan tội phạm, người phạmtội và áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án Vànhư vậy, theo chúng tôi, bảo đảm quyền tố tụng của người bị tạm giữ trongTTHS tập trung vào những nội dung cơ bản sau đây:

Trang 33

Một là, quy định đúng đắn, hợp lý về nội dung và thực hiện các nguyên

tắc TTHS đặc biệt là các nguyên tắc có liên quan một cách mật thiết đếnquyền của người bị tạm giữ trong VAHS;

Hai là, quy định hợp lý địa vị tố tụng của người bị bắt; quy định cụ thể,

rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của CQĐT trong trường hợp áp dụng BPNCtạm giữ trong TTHS;

Ba là, quy định đúng đắn chứng cứ và quá trình chứng minh trong

TTHS đặc biệt là chứng minh được các căn cứ áp dụng BPNC tạm giữ của các

cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra Điều này nhằm tránh tìnhtrạng tác động tới quyền cá nhân của người bị tạm giữ;

Bốn là, quy định cụ thể, hợp lý điều kiện và thủ tục áp dụng các biện

pháp cưỡng chế tố tụng nói chung, các BPNC nói riêng Đây là điều kiện tiênquyết và vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo QCN của người bị tạm giữtrong TTHS Bởi lẽ nếu các điều kiện và thủ tục tạm giữ người không đượcquy định chính xác và chặt chẽ rất khó có thể đảm bảo được QCN của chủ thể

bị áp dụng BPNC tạm giữ

Năm là, quy định các thủ tục tạm giữ người trong TTHS nói chung và

trong giai đoạn điều tra nói riêng cụ thể, dân chủ, công khai;

Sáu là, quy định đầy đủ và chặt chẽ hậu quả tố tụng, chế độ trách nhiệm

đối với các quyết định oan, sai đối với người bị tạm giữ trong TTHS v.v

* Như vậy, việc phân biệt bảo đảm quyền công dân và bảo đảm quyền

tố tụng của người bị tạm giữ trong TTHS chỉ là tương đối để phân tích về mặt

lý luận Thực ra, hai vấn đề này liên quan rất mật thiết với nhau, bổ sung chonhau và có tác động qua lại rất lớn với nhau Quyền công dân, quyền tố tụngđều là các nội dung của QCN của người bị tạm giữ trong TTHS Người bị tạmgiữ chỉ có thể thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình nếu quyền công

Trang 34

dân của họ được tôn trọng và bảo đảm; và ngược lại, không thể nói đến quyềncông dân nếu các quyền tố tụng quan trọng của người bị tạm giữ không đượcbảo đảm thực hiện Vì vậy, việc nghiên cứu cũng như thực hiện việc bảo đảmquyền công dân chung, quyền tố tụng của người bị tạm giữ cần đồng thờiđược tiến hành Có như vậy, QCN của người bị tạm giữ trong TTHS mớiđược bảo đảm một cách hiệu quả, góp phần không chỉ bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của công dân, mà còn lợi ích Nhà nước, cộng đồng và nhiệm vụ tốtụng đặt ra Vì vậy, theo chúng tôi, khi nghiên cứu vấn đề bảo đảm QCN củangười bị tạm giữ trong TTHS là cần tập trung phân tích các quy định củaBLTTHS và thực hiện các quy định đó trên thực tế các nội dung cơ bản sauđây.

- Nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản TTHS liên quan đến bảo đảm QCN

trong TTHS nhất là trong giai đoạn điều tra như tôn trọng và bảo vệ các quyền

cơ bản của công dân (điều 4), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm

về thân thể của công dân (điều 6), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (điều 7), nguyên tắc bảo đảm quyềnbất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín củacông dân (điều 8), nguyên tắc suy đoán không có tội (điều 9), nguyên tắc xácđịnh sự thật của vụ án (điều 10), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điều 11), nguyên tắc trách nhiệm của cơ quanTHTT, người tiến hành tố tụng (điều 12), nguyên tắc bảo đảm quyền được bồithường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (điều 29),nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quanhoặc người có thẩm quyền tiến hành TTHS gây ra (điều 30) và nguyên tắc bảođảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS (điều 31) Nguyên tắc TTHS là tưtưởng chỉ đạo được quy định trong BLTTHS cần được tuân thủ trong quátrình tố tụng trong đó có giai đoạn điều tra Tuân thủ các tư tưởng chỉ đạo liên

Trang 35

quan đến việc bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, đến quyền tố tụngcủa những người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảođảm QCN của người bị tạm giữ.

- Nghiên cứu địa vị tố tụng của người tiến hành tố tụng và người bị tạm

giữ trong TTHS Đặc biệt, cần tập trung vào việc nghiên cứu trách nhiệm củaCQĐT trong mối quan hệ với người bị tạm giữ và quyền tố tụng của người bịtạm giữ trong trong TTHS Bởi vì tôn trọng quyền công dân, nâng cao tráchnhiệm của Nhà nước, của cơ quan Nhà nước đối với công dân là một trongnhững đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Quan hệ giữa Nhà nước với côngdân, mà cụ thể hơn là quan hệ giữa cơ quan, người tiến THTT với người thamgia tố tụng nói chung, người bị tạm giữ nói riêng là thể hiện rõ nhất tính chấtdân chủ trong xã hội, trong quá trình TTHS Tăng cường trách nhiệm của cơquan, người THTT trong đó có CQĐT, quyền của người tham gia tố tụng làđiều kiện rất quan trọng để đảm bảo QCN của người bị tạm giữ trong trongTTHS;

- Nghiên cứu về chứng cứ và quá trình chứng minh trong điều tra

VAHS để đảm bảo tính chính xác, khách quan của quá trình tố tụng Quy địnhmột cách chặt chẽ về chứng cứ, các đặc điểm của chứng cứ và thủ tục chứngminh (thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ) có ý nghĩa cực kỳ quan trọngtrong việc đảm bảo cho việc xử lý chính xác, khách quan vụ án; từ đó là việcbảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS

- Nghiên cứu các BPNC đặc biệt là trong giai đoạn điều tra Trong đó,

chú trọng đến thẩm quyền (áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp), căn cứ ápdụng, thời hạn áp dụng các BPNC BPNC là biện pháp cưỡng chế tố tụngđược người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị nghi thực hiện tội phạm,

bị can khi có đủ căn cứ luật định nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xãhội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động

Trang 36

gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Là những biệnpháp cưỡng chế, việc áp dụng các BPNC có liên quan rất lớn đến QCN củangười bị tạm giữ; đặc biệt là các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, cácquyền tự do dân chủ khác Bởi vì, trong TTHS, chỉ có người bị tạm giữ lànhững đối tượng duy nhất bị áp dụng BPNC Quy định và áp dụng BPNCđúng thẩm quyền, đúng căn cứ, đúng thủ tục và đúng thời hạn là những đảmbảo quan trọng cho việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS.

- Nghiên cứu các thủ tục trong giai đoạn điều tra từ góc độ để các thủ

tục đó không xâm phạm quyền công dân cũng như bảo đảm cho người bị tạmgiữ thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dânchủ, công khai, khách quan Là cách thức, trình tự thực hiện hoạt động điềutra một mặt bảo đảm cho hoạt động điều tra tiến hành được chính xác, kháchquan; mặt khác để các hoạt động điều tra đó không hạn chế quyền tố tụng củangười tham gia tố tụng nói chung, của người bị tạm giữ nói riêng Bởi vì, ngaytrong các hoạt động tố tụng (như lấy lời khai, khám xét, thu giữ vật chứng, tàiliệu, đồ vật.) đã chứa đựng yếu tố cưỡng chế Quy định thủ tục tố tụng đặcbiệt trong giai đoạn điều tra chặt chẽ tức là đã hạn chế để CQĐT thực hiệnnhững hành vi tố tụng được BLTTHS quy định vi phạm các quyền của người

bị tạm giữ

- Nghiên cứu các quy định về khiếu nại, tố cáo trong điều tra VAHS.

Bảo đảm cho người bị tạm giữ quyền khiếu nại, tố cáo đối với hành vi củaCQĐT vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm QCN nói riêng và trình tự, thủtục giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo đó là một trong những biện phápquan trọng để bảo vệ QCN của họ trong điều tra hình sự Trong giai đoạn điềutra, các vi phạm QCN thường bị khiếu nại như lạm dụng áp dụng BPNC, viphạm thủ tục tố tụng trong khám xét, kê biên, hỏi cung, lấy lời khai v.v Khiếunại, tố cáo là một trong những nguồn thông tin báo về việc xâm phạm quyền,

Trang 37

lợi ích hợp pháp của công dân từ phía CQĐT Xác minh và giải quyết đúngđắn các khiếu nại tư pháp, một mặt nhằm ngăn chặn kịp thời các vi phạm phápluật xảy ra trong quá trình điều tra, kịp thời bảo vệ QCN của người bị tạm giữ;mặt khác đảm bảo cho hoạt động điều tra được thực hiện chính xác, kháchquan.

1.3 Các yếu tố đặc trưng và các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ

- Các yếu tố đặc trưng của bảo đảm quyền con người của người bị

tạm giữ

Yếu tố hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người trong TTHS

Theo nghĩa chung nhất, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS là tổngthể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trongquá trình tổ chức, thực hiện QCN trong quá trình giải quyết VAHS Như vậy,

về mặt hình thức, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS có thể được giới hạntheo phạm vi nghiên cứu rộng và hẹp Theo phạm vi rộng, pháp luật bảo đảmquyền con người trong TTHS liên quan đến quy định của toàn bộ hệ thốngpháp luật Có thể hiểu như trên vì bảo đảm QCN trong TTHS phụ thuộc vàochất lượng của toàn bộ hệ thống pháp luật Theo phạm vi hẹp, pháp luật bảođảm QCN trong TTHS bao gồm những quy định của luật hình sự, luật TTHSnhằm bảo đảm QCN, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

+ Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm QCN trong hoạtđộng tạm giữ

+ Các nguyên tắc cơ bản của TTHS nhằm bảo đảm QCN trong hoạtđộng tạm giữ

+ Trình tự giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo đảm QCN trong hoạtđộng tạm giữ

Trang 38

+ Quyền của người bị tạm giữ.

+ Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người có thẩm quyền tạmgiữ

Có thể hiểu theo phạm vi này, bởi vì luật hình sự, luật TTHS có mốiquan hệ giữa nội dung và hình thức Luật hình sự quy định về tội phạm, hìnhphạt, Luật TTHS quy định về trình tự xác định tội phạm, trình tự áp dụng hìnhphạt, mức hình phạt, thi hành hình phạt Quy định của luật hình sự sẽ khôngthể áp dụng được nếu không có quy định của luật TTHS và ngược lại Nghiêncứu những nội dung cơ bản thể hiện rõ nét nhất việc bảo đảm QCN trongTTHS theo phạm vi hẹp đòi hỏi phải tìm hiểu luật hình sự, luật TTHS Theoquy định tại điều 1 BLHS năm 2015, luật hình sự có hai nhiệm vụ chính làbảo vệ và giáo dục Nhằm thực hiện các nhiệm vụ này, quy định của luật hình

sự về tội phạm phải chính xác cụ thể, hệ thống hình phạt phải đa dạng, phùhợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Mục đích của luật TTHS về bản chất nhằm xác định sự thật khách quancủa VAHS, phòng ngừa ngăn chặn tội phạm và giáo dục ý thức pháp luật Đểthực hiện được mục đích đó, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật vớitính chất là nguồn của luật TTHS phải không được trái với các nguyên tắc cơbản của luật TTHS nhằm bảo đảm quyền con người Bên cạnh đó, các văn bảnpháp luật này quy định cụ thể rõ ràng về trình tự, thủ tục giải quyết VAHS,xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể TTHS Các quy định của luật TTHScũng không được mâu thuẫn với nhau, dễ thực hiện để thông qua đó mọi cánhân đều có thể sử dụng pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.Tóm lại, hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm QCN trong TTHS phải có cácthuộc tính là toàn diện, đồng bộ, khả thi và minh bạch

Pháp luật bảo đảm QCN trong hoạt động áp dụng BPNC nói chung vàBPNC tạm giam nói riêng cũng phải thường xuyên hệ thống hoá, pháp điển

Trang 39

hoá nhằm sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn,loại bỏ những văn bản pháp luật đã lạc hậu Từ đó, kịp thời ban hành các vănbản pháp luật mới điều chỉnh những vấn đề bức xúc liên quan tới QCN tronghoạt động tạm giữ trong TTHS.

Có thể nói, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS là yếu tố đầu tiên rấtquan trọng để các bảo đảm QCN khác được thực hiện bởi vì không có phápluật thì không có quyền

Yếu tố tổ chức hoạt động của các cơ quan, tổ chức liên quan tới hoạt động tạm giữ.

Hoạt động của bộ máy Nhà nước có liên quan trực tiếp tới các quyền,lợi ích hợp pháp của công dân, thực chất đây là hoạt động bảo vệ QCN Chính

vì vậy, để QCN trong hoạt động tạm giữ trong TTHS được thực hiện thì cầnphải đổi mới bộ tạm giữ

Xét về mặt lý luận, mọi cơ quan tổ chức có liên quan tới VAHS đều cótrách nhiệm giải quyết VAHS Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động TTHS, tráchnhiệm giải quyết VAHS chủ yếu thuộc về các cơ quan THTT hình sự gồmCQĐT, VKS, Tòa án và các cơ quan tổ chức khác như tổ chức luật sư, tổ chứcgiám định

Thứ nhất, đối với các cơ quan tiến hành TTHS:

Cơ quan điều tra: Điều tra là khâu đột phá, quyết định sự thành bại củatoàn bộ tiến trình TTHS, CQĐT có nhiệm vụ áp dụng mọi quy định biện pháp

do luật TTHS quy định nhằm xác định sự thật khách quan của VAHS, bảo vệQCN Các biện pháp do CQĐT thực hiện theo quy định pháp luật rất đa dạngnhưng có điểm chung là đều ảnh hưởng trực tiếp tới các QCN Trên thực tế,CQĐT còn được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của riêng ngành mìnhnhằm giải quyết VAHS nên khả năng vi phạm QCN dễ xảy ra Vì vậy, tổ chức

Trang 40

hoạt động của CQĐT phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ được quy định,bảo đảm tính cơ động linh hoạt, đội ngũ ĐTV phải có phẩm chất chính trịvững vàng, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu được giao.

Viện kiểm sát: VKS có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thựchành quyền công tố trong TTHS Trong TTHS, VKS có trách nhiệm áp dụngmọi biện pháp do luật định để loại trừ sự vi phạm pháp luật của bất cứ cánhân, tổ chức nào VKS cũng đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền buộc tộingười bị tình nghi theo quy định của luật TTHS Hoạt động của VKS chính làviệc thực hiện QCN

Đổi mới tổ chức, hoạt động của VKS được thực hiện theo nguyên tắctập trung thống nhất trong ngành, thực hiện tốt chế độ giám sát, báo cáo giữaVKS cấp dưới với VKS cấp trên Yêu cầu cụ thể là tổ chức, hoạt động củaVKS phải sát hợp với nhiệm vụ, chức năng của cơ quan này, các KSV cũngphải đạt những tiêu chuẩn về chính trị, chuyên môn Ở Việt Nam hiện nay, đổimới tổ chức, hoạt động của VKS được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho VKSthực hiện tốt việc kiểm sát hoạt động tư pháp, tập trung vào chức năng thựchành quyền công tố

Thứ hai, đối với các cơ quan, tổ chức khác tham gia vào TTHS:

Tổ chức luật sư, tổ chức giám định trong TTHS: TTHS mang tính chất

xã hội sâu sắc, nó không chỉ thể hiện chức năng bảo vệ mà còn bộc lộ chứcnăng xã hội của Nhà nước Chính vì vậy, đấu tranh chống tội phạm, bảo vệQCN là trách nhiệm chung của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức, côngdân, trong đó có tổ chức luật sư, tổ chức giám định Điều này đặc biệt nổi bật

rõ ở các Nhà nước xác định con người là động lực, mục tiêu cho hoạt độngcủa mình

Trong TTHS, hoạt động của các tổ chức này có vai trò quan trọng.TTHS là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp gắn liền với đời sống vật chất, tinh

Ngày đăng: 12/04/2018, 11:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụngHình sự 2015
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2016
4. C.Mác - Ph.Ăng ghen (1998), Về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền con người
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1998
8. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sựViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
10. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1985), "Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về hoạt động tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh)", Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểucủa LHQ về hoạt động tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh)
Tác giả: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
Nhà XB: NXB Lao động - Xãhội
Năm: 1985
11. Nguyễn Đăng Dung- Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên) (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung- Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
13. Nguyễn Tiến Đạt (2006), Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, Tạp chí khoa học pháp lý số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạmgiữ, tạm giam
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2006
14. Trần Văn Độ “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, bài báo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Độ “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tốtụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
18. Phạm Hồng Hải (2012), “Bàn về sự tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra ”, Tạp chí luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Hồng Hải (2012), “Bàn về sự tham gia của người bào chữa tronggiai đoạn điều tra
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2012
21. Nguyễn Duy Hưng (2006), “Bị can và bảo đảm quyền của bị can trong BLTTHS 2003, thực trạng và định hướng hoàn thiện’", Tài liệu hội thảo đề tài khoa học cấp bộ Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bị can và bảo đảm quyền của bị can trongBLTTHS 2003, thực trạng và định hướng hoàn thiện’
Tác giả: Nguyễn Duy Hưng
Năm: 2006
24. Đinh Văn Mậu, “Quyền lực Nhà nước và quyền con người”, sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền lực Nhà nước và quyền con người
25. Đắc Minh (2014), Công dân có quyền im lặng khi bị bắt, TANDTC- Công lý số 86, thứ 6 ngày 24/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công dân có quyền im lặng khi bị bắt
Tác giả: Đắc Minh
Năm: 2014
28. Phạm Hồng Phong (2014), Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, Tạp chí Lý luận chính trị số 10- 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình
Tác giả: Phạm Hồng Phong
Năm: 2014
31. Đào Thị Mai Phương (2015), Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự đối với người bị tạm giữ, tạm giam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong tố tụnghình sự đối với người bị tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Đào Thị Mai Phương
Năm: 2015
36. Trần Quang Tiệp (2004) Bảo vệ quyền con người trong Luật hìnhsự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quang Tiệp (2004) Bảo vệ quyền con người trong Luật hìnhsự,Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
38. Từ điển tiếng Việt (1997), Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện ngôn ngữ học
Tác giả: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
43. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2011) Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luậtvề quyền con người
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
44. Trường Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Hỏi đáp về quyền con người,Khoa Luật - Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về quyền con
Tác giả: Trường Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2012
51. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2011), Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền conngười
Tác giả: Võ Khánh Vinh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách đến năm 2020, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w