1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ SINH TRƯỞNG, đặc TÍNH HÌNH THÁI THỰC vật và sự ổn ĐỊNH đặc TÍNH KHÔNG hột của QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG hột ở GIAI đoạn cây BA năm TUỔI tại HUYỆN LONG hồ, TỈNH VĨNH LONG

118 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Các nhà khoa học trường Đại học Cần Thơ đã chọn lọc được 2 cây quýt Đường không hột, qua khảo sát sơ bộ, đặc tính không hột là do tiểu noãn phát triển muộn lúc hoa nở Nguyễn Bả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC

Cần Thơ - 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

MSSV: 3093274

Lớp: Nông học K35

Cần Thơ - 2012

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

- oOo -

Luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Nông học với đề tài:

Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không

hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn ba năm tuổi

tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

Do sinh viên Lê Minh Tiến thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2012

Cán bộ hướng dẫn

ThS Nguyễn Bá Phú

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

- oOo -

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành

Nông học với đề tài:

Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không

hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn ba năm tuổi

tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long” Do sinh viên: Lê Minh Tiến thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày .tháng .năm 2012 Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………

Ý kiến hội đồng: ………

………

………

Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -

DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình luận văn nào trước đây

Trang 6

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Nơi sinh: Châu Thành A, Hậu Giang

Địa chỉ liên lạc: Trường Long A, Châu Thành A, Hậu Giang

Điện thoại: 01224044352

E-mail: lmtien274@student.ctu.edu.vn

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1997 – 2002: Học cấp I tại trường Tiểu học Trườn Long A

Địa điểm: Trường Long A - Châu Thành A - Hậu Giang

2002 – 2006: Học cấp II tại trường Trung học Cơ sở Trườn Long Tây

Địa điểm: Trường Long Tây - Châu Thành A - Hậu Giang

2006 – 2009: Học cấp III tại trường Trung học Phổ thông Tầm Vu 3

Địa điểm: Thị trấn Một Ngàn - Châu Thành A - Hậu Giang

2009 – 2012: Học đại học chuyên ngành Nông học, trường Đại học Cần Thơ

Địa điểm: Xuân Khánh - Ninh Kiều - Cần Thơ

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng cha mẹ một đời yêu thương, chăm lo cho tương lai của chúng con Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Bá Phú, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cho em những lời khuyên bổ ích trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn cô cố vấn học tập Trần Thị Thanh Thủy, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng Những kiến thức mà quý thầy cô đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời

Chân thành biết ơn chú Thiện và chú Năm và gia đình đã hết lòng hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn anh La Hoàng Châu và các bạn sinh viên khác thuộc lớp Nông học K36, Trồng trọt K36, Công nghệ giống cây trồng K36 các bạn khác đã giúp tôi trong thời gian thí nghiệm và hoàn thành luận văn này

Gởi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên lớp Nông học K35 lời chúc sức khỏe, đoàn kết, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai

Trang 8

LÊ MINH TIẾN, 2012 “Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn ba năm tuổi tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long”, Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại Học Cần Thơ 52 trang

Cán bộ hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Bá Phú

TÓM LƯỢC

Các nhà khoa học trường Đại học Cần Thơ đã chọn lọc được 2 cây quýt Đường không hột, qua khảo sát sơ bộ, đặc tính không hột là do tiểu noãn phát triển

muộn lúc hoa nở (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007) Tuy nhiên, cần phải tiếp khảo sát

sự ổn định của đặc tính không hột ở các thế hệ nhân giống vô tính để có thể đưa vào sản xuất Vì vậy, đề tài này được tiến hành nhằm mục tiêu: (1) so sánh sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột với nhau và với quýt Đường có hột; (2) so sánh đặc tính hình thái thực vật của 2 dòng quýt Đường không hột với nhau và với quýt Đường có hột, (3) sự ổn định đặc tính không hột của hai dòng quýt Đường không hột ở giai đoạn cây ba năm tuổi

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố, với ba nghiệm thức và 16 lần lặp lại Được thực hiện tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long trong khoảng thời gian từ tháng 9/2011 đến tháng 10/2012 Các nghiệm thức

là dòng quýt Đường không hột số 1, dòng quýt Đường không hột số 2, dòng quýt Đường có hột (đ/c) được tháp trên gốc cam Mật Các chỉ tiêu sinh trưởng được ghi nhận 3 tháng/lần Các đặc tính hình thái thực vật khảo sát dựa theo mô tả của IPGRI (1999)

Kết quả thí nghiệm cho thấy, sự sinh trưởng của 2 dòng quýt Đường không hột

là giống nhau và không khác với quýt Đường có hột Ở giai đoạn ba năm tuổi, các đặc tính hình thái thực vật về cây và thân cành, lá, hoa và trái của 2 dòng quýt Đường không hột là giống nhau và không khác với quýt Đường có hột Đặc tính tiểu noãn phát triển muộn lúc hoa nở và đặc tính không hột của 2 cá thể quýt Đường không hột vẫn duy trì ổn định ở giai đoạn cây ba năm tuổi

Trang 9

MỤC LỤC

Lý lịch cá nhân iv

Lời cảm tạ v

Tóm lược vi

Mục lục vii

Danh sách bảng x

Danh sách hình xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Khái quát chung về cây cam quýt 2

1.1.1 Nguồn gốc 2

1.1.2 Phân loại 3

1.2 Đặc tính hình thái của cam quýt 3

1.2.1 Đặc thân cành 3

1.2.2 Đặc tính lá 4

1.2.3 Đặc tính hoa 5

1.2.4 Đặc tính trái 6

1.2.5 Đặc tính hột 7

1.3 Sự sinh trưởng của quýt Đường không hột 8

1.3.1 Tăng trưởng của cây 8

1.3.2 Tỷ số thân tháp/gốc tháp 9

1.4 Các nguyên nhân không hột trên cam quýt 11

1.4.1 Hiện tượng tự trinh quả sinh trên cam quýt 11

1.4.2 Hiện tượng tự bất dung hợp 12

1.4.3 Hiện tượng bất dục giao tử 13

1.4.4 Hiện tượng đột biến và tam bội trên cam quýt 13

1.5 Tháp trên cây cam quýt 14

1.5.1 Cơ sở khoa học của tháp 14

1.5.2 Nguyên lý của tháp 15

Trang 10

1.6 Cấu tạo bầu noãn, tiểu noãn, sự sản sinh túi phôi 16

1.6.1 Cấu tạo bầu noãn và tiểu noãn 16

1.6.2 Sự sản sinh túi phôi 17

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 20

2.1 Phương tiện thí nghiệm 20

2.1.1 Địa điểm thí nghiệm 20

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 20

2.2 Phương pháp thí nghiệm 20

2.2.1 Bố trí thí nghiệm 20

2.2.2 Kỹ thuật canh tác 20

2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 21

2 2.3.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng 21

2.2.3.2 Đặc tính hình thái thực vật 22

2.2.3.3 Sự ổn định đặc tính không hột 24

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu, thống kê 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26

3.1 Sự sinh trưởng quýt Đường không hột 26

3.1.1 Đường kính gốc tháp 26

3.1.2 Đường kính thân tháp 27

3.1.3 Tỉ số thân tháp/gốc tháp 28

3.1.4 Chiều cao cây 30

3.1.5 Đường kính tán 31

3.2 Các đặc tính thực vật của quýt Đường không hột 32

3.2.1 Đặc tính cây và thân cành 32

3.2.2 Các đặc tính lá 33

3.2.3 Các đặc tính hoa 39

3.2.4 Đặc tính trái 43

3.2.4.1 Các đặc tính hình thái trái 43

3.2.4.2 Chất lượng trái 48

3.3 Sự ổn định của tính trạng không hột quýt Đường không hột 49

3.3.1 Sự hiện diện của tiểu noãn 49

Trang 11

3.3.2 Sự ổn định của tính trạng không hột của các dòng quýt

Đường không hột 51

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 53

4.1 Kết luận 53

4.2 Đề nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ CHƯƠNG 60

Trang 12

3.4 Kích thước lá (mm) và tỷ số dài/rộng phiến lá, dày phiến lá (mm)

của quýt Đường không hột (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

3.7 Số cánh hoa, dài cuống hoa (mm), đường kính đài (mm), dài cánh

hoa (mm), rộng cánh hoa (mm), tỷ số dài/rộng cánh hoa của quýt

Đường không hột (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

39

3.8 Số nhị hoa, dài chỉ nhị (mm),dài bao phấn (mm) của quýt Đường

không hột (Long Hồ - Vĩnh long, 2012)

40

3.9 Đường kính bầu noãn (mm), dài vòi nhụy (mm), đường kính

nướm (mm), dày nướm (mm) của quýt Đường không hột (Long

Hồ - Vĩnh Long, 2012)

41

3.10 Các đặc tính định tính hình thái về trái của quýt Đường không hột

tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (2012)

43

3.11 Chiều cao trái (mm), đường kính trái (mm), tỷ số chiều

cao/đường kính trái, đường kính lỏi (mm) và dày vỏ (mm) của

quýt Đường không hột (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

44

3.12 Số múi, số mài và số túi dầu/cm2 của quýt Đường không hột

(Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

45

Trang 13

Bảng Tựa bảng Trang

3.13 Trọng lượng trái (g), trọng lượng hột (g), trọng lượng vỏ (g),

trọng lượng ăn được (g), trọng lượng vỏ/trái, tỷ lệ hột/trái và tỷ lệ

ăn được của quýt Đường không hột (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

Trang 14

DANH SÁCH HÌNH

1.2 Sơ đồ về sự biểu hiện các mức độ ái lực khác nhau giữa gốc tháp và

mắt tháp, biểu hiện tại điểm tháp (Aubert và Vullin, 2001)

10

2.1 Hột chắc và hột lép trong trái quýt Đường (Long Hồ - Vĩnh Long,

2012)

24

3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của quýt Đường không hột theo thời

gian (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

25

3.2 Đường kính thân tháp (mm) của quýt Đường không hôt theo thời

gian (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

3.11 Phẩu diện bầu noãn cắt ngang dưới kính hiển vi phóng đại 100 lần

của quýt Đường không hột (Long Hồ - Vĩnh Long, 2012)

49

Trang 15

Một tín hiệu vui và đầy triển vọng khi các nhà khoa học thuộc trường Đại học Cần Thơ đã phát hiện hai cá thể quýt Đường không hột trong quần thể quýt Đường có hột ở Đồng bằng sông Cửu Long Qua khảo sát sơ bộ chúng có đặc tính hình thái như dạng cây,

lá, hoa và trái giống với cây quýt Đường bình thường (có hột) (Nguyễn Bảo Vệ và ctv.,

2007) Đặc tính không hột là do tiểu noãn phát triển muộn (Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ, 2012a) Tuy nhiên, để phát triển giống quýt Đường không hột đưa vào sản xuất cần phải khảo sát sâu hơn về sự ổn định của đặc tính không hột của cây quýt Đường không hột ở các thế hệ tiếp theo

Chính vì thế, đề tài “Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn ba năm tuổi tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá: (1) sự sinh trưởng; (2) đặc tính hình thái thực vật và (3) sự ổn định đặc tính không hột của hai dòng quýt Đường không hột ở giai đoạn ba năm tuổi

Trang 16

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÂY QUÝT ĐƯỜNG

1.1.1 Nguồn gốc

Có nhiều giả thuyết khác nhau nói về nguồn gốc lịch sử và địa lý của cam quýt Theo Webber (1967) và Chapot (1975) cho rằng cam quýt có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Đông Nam Á, Đông Bắc Ấn Độ, Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương và quần đảo Mã Lai và sau đó lan rộng đến các châu lục khác Tolkowsky (1938) cho rằng các vùng núi của miền núi Nam Trung Quốc và Đông Bắc Ấn Độ là trung tâm xuất xứ cam quýt Cam quýt được đề cập đầu tiên trong văn học Trung Quốc năm 2200 trước công nguyên (Janick và

Jules, 2005) Các giống quýt (Citrus rericulata Blanco) được mô tả lần đầu tiên

vào năm 1837 và được trồng khắp các vùng trên thế giới (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), một số cây cam quýt có nguồn gốc ở Đông Nam Á, trong đó sự phát sinh của một vài loài cây cam quýt cũng như những loại cùng họ được phân bố từ biên giới Đông Bắc của Ấn Độ qua Miến Điện và một vùng phía Nam của đảo Hải Nam

Theo Đường Hồng Dật (2003), cây cam quýt hiện đang trồng ở nhiều nước trên thế giới đều có nguồn gốc từ các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới

đông nam Châu Á Còn Hirai và ctv (1986) và Li và ctv (1992) cho rằng cây quýt (Citrus reticulata Blanco) có ba nguồn gốc chính: Ấn Độ, Trung Quốc và

Nhật Bản Quýt có thể có nguồn gốc từ Trung Quốc và vào Ấn Độ nhờ con đường mậu dịch, sau đó quýt được đưa đến trồng ở Nhật, quýt Satsuma đã được trồng ở đây khoảng 300 năm trước (Fake, 2004)

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv, (1999), cây quýt Đường không biết được

trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long từ bao giờ và có phải nhập từ Thái Lan hay không, vì quýt Đường trước đây được gọi là quýt Xiêm do trái lúc còn non ít chua nên người dân Chợ Lách chở cây giống đem bán gọi là quýt Đường Theo

Trần Thượng Tuấn và ctv., (1994) có nhiều giống cam quýt được trồng nhiều ở

Trang 17

ĐBSCL như: cam Sành, cam Mật, cam Dây, cam Soàn, quýt Tiều, quýt Đường, bưởi Năm Roi, chanh Ta, chanh Núm, Sảnh, Hạnh, ….Trong đó, cây quýt Đường được trồng phổ biến niều nơi và có giá trị kinh tế cao Vũ Công Hậu (1996) cho rằng thời gian cây quýt Đường được trồng đầu tiên ở Việt Nam không thể xác định được Nhưng chúng là một trong những loại cây trồng trong vườn lâu và phổ biến nhất (Nguyễn Danh Vàn, 2006)

1.1.2 Phân loại

Quýt Đường có tên khoa học là Citrus reticulata Blanco var Duong thuộc giới Plante, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, phân lớp Rosidae, bộ

Sapindales, họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, chi Citrus (Nguyễn Bảo Vệ và

Lê Thanh Phong, 2004) Theo Mukhopadhyay (2004), trích bởi Trần Thị Bích Vân (2008), cây có múi tự nhiên bình thường có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n=

18

Theo hệ thống phân loại hiện đại, Citrus được chia làm 3 loại: Citron

(Citrus medica), quýt (Citrus reticulata), và bưởi (Citrus grandis hay Citrus

maxima) ( Nicolosi, 2007)

Theo Đặng Hải Đăng (2010), có hai cá thể quýt Đường không hột được tìm thấy ở Đồng bằng Sông Cửu Long nhờ nhóm nhà khoa học thuộc trường Đại Học Cần Thơ Trần Thị Bích Vân (2008) cho biết: chúng được đánh dấu thứ tự với mã số 1 và mã số 80 Qua khảo sát sơ bộ, chúng có đặc tính hình thái như dạng cây, lá, hoa và trái giống với cây quýt Đường bình thường (có hột) và tính

trạng không hột là do tiểu noãn chưa phát triển lúc hoa nở (Nguyễn Bảo Vệ và

Trang 18

có rất nhiều gai trên thân cành Càng ở cấp cành cao thì gai ngắn và số lượng ít

đi Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

Thân cam quýt có tiết diện tròn, những cây mọc từ hột có sức sinh trưởng

khỏe nên trên thân nổi những đường sống (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003)

Thân cây Quýt Đường không hột có cấu trúc láng, góc càn vừa phải, màu đọt non

xanh nhạt, bề mặt đọt non không có lông (Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009) Chồi

ngọn hay chồi bên của thân sau một thời gian bị chết đi hoặc không sinh trưởng nữa, các chồi bên phát triển sẽ thay thế các chồi ngọn, trục chính nghiêng sang một bên Chồi bên phát triển thẳng đứng như là tiếp tục sự sinh trưởng của thân chính Cành bên này phát triển giống thân chính và lặp lại (Hà Thị Lệ Ánh, 2005)

Theo Trần Thị Bích Vân (2008); Nguyễn Bá Phú và ctv (2009), giữa quýt

Đường có hột và quýt Đường không hột không có sự khác biệt về đặc tính hình thái thân cành Nghiên cứu của Đặng Hải Đăng (2010) cũng cho rằng quýt Đường không hột tháp gốc cam Mật cũng không khác biệt với quýt Đường không hột tháp trên gốc chanh Tàu, Hạnh và nhánh chiết

Cách phân cành cũng rất đa dạng: phân cành hướng ngọn, phân cành ngang, phân cành hỗn hợp,… Quýt Đường có thể ra đọt rãi rác quanh năm tuỳ tình trạng

dinh dưỡng của cây và độ ẩm của đất (Trần Thượng Tuấn và ctv, 1999) Cây

trưởng thành có thể có 4 – 6 cành chính (Đường Hồng Dật, 2003) Cành non thường có gai, hình dáng và kích cở thay đổi (Ortiz, 2002)

Hình thái tán cây cam quýt rất đa dạng: có loại tán rộng, có loại tán thưa, phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang, tán hình tròn, hình cầu, hình tháp, hình chồi sể (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)

1.2.2 Đặc tính lá

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) là cam quýt thuộc dạng lá đơn, mọc

xen, thắt ở giữa chia lá thành cánh lá và phiến lá Lá có cuống lá, gân lá hình lông chim, lá bóng, dày có chứa tinh dầu Khi già lá co lại Lá quýt nhỏ, hẹp, hình

Trang 19

xoan, dài 4 – 8 cm, rộng 1,5 – 4 cm màu xanh đậm ở mặt trên màu xanh và vàng nhạt ở mặt dưới Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) trên cùng một loài kích thước lá cũng thay đổi theo mùa Một cây cam quýt khỏe mạnh có thể

có 150.000 – 200.000 lá với tổng diện tích lá khoảng 200m2 Nguyễn Văn Luật (2006) cho rằng lá cam quýt có khía răng cưa, mặt dưới có màu xanh, cuống

lá có cánh nhỏ

Lá quýt Đường không hột thuộc kiểu lá đơn, phiến lá có màu xanh, không

có tai lá Lá có nhiều hình dạng khác nhau nhưng hình mác là phổ biến, lá có màu xanh đậm ở mặt trên và màu xanh sáng ở mặt dưới, rìa lá có dạng răng cưa,

đỉnh đầu lá có khía (Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009) Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn

(2001), lá quýt tà hai đầu, bìa lá có răng cưa, không lông, gân phụ 5 – 8 cặp, cuống tròn dài dài 6 – 7 mm, có 1 – 3 hoa mọc ở nách lá

Hình 1.1 Các dạng lá phổ biển của họ cam quýt (IPGRI, 1999)

(1: hình elip, 2:hình trứng, 3: hình trứng ngược, 4:hình mũi mác, 5:hình cầu, 6: hình quả tim)

Theo IPGRI (1999), lá cam quýt có các hình dạng phổ biến gồm elip, hình trứng, hình trứng ngược, hình mũi mác, hình cầu, hình quả tim (Hình 1.1)

1.2.3 Đặc tính hoa

Theo Trần Thị Bích Vân (2008), hoa quýt Đường không hột có màu trắng, mọc ở nách lá của đọt non, đều là hoa lưỡng tính Bao phấn có màu vàng và thấp hơn so với nướm Hoa quýt Đường có thể là hoa đơn hoặc chùm Thông thường,

hoa Quýt Đường theo kiểu chùm ngắn nhiều hơn Đài hoa không có lông

Thứ tự cấu tạo hoa cam quýt từ ngoài vào trong: đầu tiên là lá đài, sau đó

là cánh hoa, bao phấn và cuối cùng là lá noãn (múi) (Jackson và Gmiter, 1997)

Trang 20

Hoa cam quýt có dạng hình thuẩn tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới, đường kính rộng từ 2,5 – 4 cm, rất thơm, (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Theo Đặng Hải Đăng (2010), hoa của hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc tháp cam Mật thuộc loại hoa lưỡng tính, mọc đơn độc hay thành phát hoa với 1 – 8 hoa/phát Các hoa mọc ở nách lá hoặc tận ngọn Các hoa đều

có màu trắng lúc hoa búp và hoa nở Các bao phấn có màu vàng và thấp hơn so với nướm nhụy

Bầu noãn cam quýt có 8 – 15 ngăn dính liền nhau tại một trục ở giữa trái, mỗi tâm bì có 0 – 6 tiểu noãn Tiểu noãn là một khối tế bào hình trứng có cuống noãn là nơi đính noãn vào giá Thân tiểu noãn là khối phôi tâm được bao bọc bởi

vỏ noãn chừa hở lỗ nhỏ gọi là lỗ tiểu noãn (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)

Trái sẽ lớn và nhiều hột hơn nếu sử dụng nhiều phấn hoa hơn (Hodgson,

1968 được trích dẫn bởi Đỗ Năng Vịnh, 2008) Hạt phấn của hai dòng quýt Đường không hột hữu dục bình thường (Hồ Phương Linh, 2008) Triệu Văn Quý (2009) cho rằng đặc tính không hột liên quan đến sự phát triển không bình thường của tiểu noãn Nghiên cứu của Trần Thị Bích Vân (2008), không thấy tiểu noãn trưởng thành xuất hiện ở các giai đoạn hai ngày và một ngày trước khi hoa

nở, ngày hoa nở, giai đoạn một và hai ngày sau khi hoa nở

Theo Đỗ Năng Vịnh (2008) cây cam quýt thường ra hoa nhiều hơn so với

sự đậu trái Hoa rụng nhiều nhất vào thời điểm ra hoa, sau đó là rụng quả non Đây là sự rụng tự nhiên, điều này có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố nước và dinh dưỡng

1.2.4 Đặc tính trái

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), trái quýt có dạng hình cầu hơi

dẹp, đường kính 5 – 8 cm, vỏ mỏng, dễ tách vỏ,…Trái cam quýt gồm có ba phần: ngoại, trung và nội quả bì (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Trái các loài cam quýt có 8 – 14 múi (Đường Hồng Dật, 2003)

Trái cam quýt gồm có ba phần: ngoại quả bì chứa lớp cutin và một lớp tế bào nhu mô dày, phía trong có chứa nhiều túi tinh dầu, trung quả bì là phần phía

Trang 21

bên trong kế ngoại quả bì thường có màu trắng Nội quả bì bao gồm các múi có những sợi đa bào, cung cấp phần ăn của trái với dịch nước có chứa đường và acid (chủ yếu là acid citric) Tùy giai đoạn mà lượng acid giảm dần, lượng đường tăng lên cùng với chất thơm Tỉ lệ đường và acid thay đổi tùy theo giống và điều kiện canh tác khác nhau (Nguyễn Thanh Triều, 2009)

Sự thay đổi các đặc tính vật lý ở quýt Đường như: trọng lượng trái, chiều cao trái, đường kính trái, trọng lượng vỏ trái và hàm lượng dịch trái tăng đến 32 –

36 tuần sau khi thụ phấn, sau đó thì ngừng tăng trưởng đến thời điểm thu hoạch

Bề dày vỏ trái giảm đến giai đoạn 22 tuần sau khi thụ phấn, sau đó tăng nhẹ đến

thời điểm thu hoạch (Võ Văn Vang, 2010) Theo Lê Văn Thuyết và ctv (2003)

thì cây quýt Đường 5 năm tuổi có thể cho 600 – 1.000 trái, khối lượng trung bình trái đạt 100 – 120g

Trái quýt đường khi chín vỏ trái có màu vàng tươi, láng, vỏ mỏng, (1,5 mm)

và dai, vỏ trái có trọng lượng khoảng 15 g và chiếm khoảng 13,2% trọng lượng trái, tinh dầu ở vỏ trái ít the và đắng Mỗi trái trung bình có khoảng 10,7 múi, dễ

tách rời nhau, có thể tách vỏ và tách múi bắng tay dễ dàng (Trần Thượng Tuấn và

ctv, 1999)

Khi khảo sát đặc tính trái quýt Đường không hột đột biến tự nhiên ở đồng

bằng sông Cửu Long Nguyễn Bá Phú và ctv (2009) cho rằng cả ba nghiệm thức

hình dạng trái đều giống nhau Trái tròn, to hơi dẹp Đáy có núm, đỉnh trái hơi lõm Trọng lượng trái trung bình của cây quýt Đường không hột mã số 1 và mã

số 80 lần lược là 127 g và 124 g, chiều cao trung bình lần lược là 6,61 và 6,49 Màu sắc thịt trái quýt Đường không hột và có hột đều có màu cam, màu thịt trái

có độ đồng đều nhau Tim trái hơi bọng, nước trái rất ngọt và thơm (Trần Thị Bích Vân, 2008) Dịch trái có độ Brix khoảng 10,5%, pH khoảng 3,6 và hàm

lượng vitamin C khoảng 1,8 mg/100g, … (Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009)

1.2.5 Đặc tính hột

Hột là cơ quan sinh sản được hình thành do kết quả thụ tinh của tế bào hạt phấn với tế bào noãn (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), số lượng hột của cây cam quýt trong mỗi múi có từ 0 – 6

Trang 22

hột Manner và ctv (2006) cho rằng hột Cam Quýt đa phôi, màu trắng đến xanh

Phôi có hai dạng: phôi hữu tính và phôi vô tính Phôi hữu tính hình thành từ giao

tử do sự thụ tinh của tế bào trứng Phôi vô tính phát triển từ tế bào sinh dưỡng của phôi tâm và vì vậy cây sẽ mang đặc điểm của cây mẹ

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), số lượng hột của cây cam quýt trong mỗi múi có từ 0 – 6 hột Theo Nguyễn Bá Phú (2006), thời vụ có

liên quan đến số hột trên trái cam Sành (Citrus nobilis var typical Hassk) tại

huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, vào mùa thuận (tháng 10 và tháng 1) có số hột cao nhất (22,2 và 21,1 hột), ở mùa nghịch (tháng 4 và tháng 7) có số hột thấp hơn (13,9 và 17,5 hột) Các đặc tính hình thái trái như độ sần vỏ trái, đường kính cuống trái, chiều cao trái, đường kính trái, trọng lượng trái, bề dày vỏ trái đều có liên quan đến số hột trên trái cam Sành, với xu thế các đặc tính càng tăng mức

độ, số hột trên trái càng tăng, nhưng có biểu hiện khác nhau tùy theo đặc tính (Nguyễn Bá Phú, 2006) IPGRI (1999) mô tả hột cam quýt có 7 dạng chủ yếu: hình thoi, hình chùy, hình nêm, hình trứng, hình phỏng cầu, hình bán phỏng cầu,

và hình bán tam giác

Theo Manner và ctv (2006) hột cam quýt thường đa phôi, nghĩa là có

nhiều có nhiều phôi có thể mọc mầm Thường là 0 – 13 phôi (Đường Hồng Dật, 2003) Nguyên nhân của hiện tượng đa phôi có liên quan đến hoạt động của các hormon kích thích tăng trưởng hay những chất nội tiết của túi phôi (Phạm Văn Côn, 2003)

Ở Mỹ, cam có từ 0 – 6 hột được xem là cam không hột Một số giống cam không hột như „Hamlin‟, „Valencia‟ (chất lượng tốt) và „Navels‟ (Trần Văn Hâu, 2009) Tất cả các trái được khảo sát ở cây quýt Đường không hột mã số 1 và mã

số 80 hoàn toàn không hột Trong khi đó ở nghiệm thức quýt Đường có hột số

hột chắc trung bình là 8,37 hột, số hột lép là 2,31 hột (Nguyễn Bá Phú và ctv.,

2009)

1.3 SỰ SINH TRƯỞNG CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT

1.3.1 Tăng trưởng của cây

Trang 23

Nguyễn Minh Sang (2010) đã khẳng định sự sinh trưởng của hai dòng/giống quýt Đường không hột trên gốc cam mật khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê Gần đây hơn Phạm Ngọc Nhã (2011) đã tái khẳng định sự gia tăng về đường kính gốc tháp, thân tháp, tán cây cũng như chiều cao cây của hai dòng/giống quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc cam mật khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống kê

1.3.2 Tỷ số thân tháp/gốc tháp

IPGRI (1999) đánh giá mức độ tiếp hợp giữa thân tháp và gốc tháp dựa vào tỉ số thân tháp/gốc tháp Vị trí đo trên thân tháp và trên gốc tháp được xác định cách vết tháp 20 cm Thân tháp nhỏ hơn gốc tháp (<1), thân tháp bằng gốc tháp (1) và thân tháp lớn hơn gốc tháp (>1)

Phạm Văn Côn (2007), được trích bởi Đặng Hải Đăng (2010), đánh giá sức tiếp hợp giữa cành tháp và gốc tháp bằng tỉ số tiếp hợp:

T =

Đường kính gốc tháp Đường kính cành tháp T=1: Cây tháp sinh trưởng và phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của cành tháp tương đương thế sinh trưởng của gốc tháp, vị trí tháp cân đối, màu sắc và độ nứt của vỏ cành tháp và gốc tháp tương đương nhau, đôi khi không nhận rõ vị trí giáp ranh giữa cành tháp và gốc tháp

T<1: Cây tháp có hiện tượng chân hương Thế sinh trưởng của cành tháp mạnh hơn gốc tháp Phần cành tháp bị nứt vỏ nhiều và phình to phần gốc tháp Cây tháp sinh trưởng và phát triển kém dần

T>1: Cây tháp có hiện tượng chân voi, cây tháp vẫn sinh trưởng phát triển bình thường Thế sinh trưởng của cành tháp yếu hơn gốc tháp, biểu hiện cây tháp hơi cằn cõi, chậm lớn

Lâm Như Thùy (2008) cho biết tỷ lệ đường kính ngọn tháp/ đường kính gốc tháp càng tiến gần tới 1 có thể giúp cây tháp có khả năng vận chuyển vật chất

Trang 24

từ trên xuống cũng như từ dưới lên và phát triển bình thuờng như cây không tháp Theo Đặng Hải Đăng (2010), tỉ số thân tháp/gốc tháp bằng 1 là rất khó; ngay cả ở quýt Đường không hột chiết cũng không đạt được chỉ số này

Thang đánh giá của IPGRI (1999) và Phạm Văn Côn (2007) nhìn chung có

sự giống nhau về phương pháp đánh giá Sự tương hợp giữa thân tháp và mắt tháp được qui thành các chỉ số cụ thể Tuy nhiên, phạm vi đánh giá ở cả hai phương pháp đều rộng và có phần không chính xác như phương pháp đánh giá định tính của Aubert và Vullin (2001)

Theo Aubert và Vullin (2001), khả năng tương hợp giữa thân tháp và gốc tháp được chia thành 7 mức độ (Hình 1.2) Sự hiện diện của ngăn tháp biểu hiện

sự lưu thông kém của đường nhựa và bất lợi cho việc hấp thu chất hữu cơ của rễ Trong trường hợp có chỗ tiếp hợp dạng chai thắt lại thì sinh lực của gốc tháp bị hãm lại tại chỗ tháp Một trong các hệ quả là giảm thiểu tăng trưởng của bộ tán, tạo ra các cây rậm và chắc nịch hoặc cây lùn

Hình 1.2 Sơ đồ về sự biểu hiện các mức độ ái lực khác nhau giữa gốc tháp

và mắt tháp, biểu hiện tại điểm tháp (Aubert và Vullin, 2001)

1, 2, 6, 7: Mức độ tiếp hợp xấu

3, 5: Mức độ tiếp hợp trung bình 4: Mức độ tiếp hợp tốt

Kết quả nghiên cứu của Đặng Hải Đăng (2010) cho thấy tỉ số thân tháp/gốc tháp không khác biệt ở quýt Đường không hột trên các gốc tháp khác nhau, nhưng thấp hơn so với nhánh chiết Mức độ tiếp hợp của các tổ hợp tháp của quýt Đường không hột trên gốc tháp cam Mật, chanh Tàu và Hạnh ở mức trung bình Theo Nguyễn Minh Sang (2010) cho rằng sự tương hợp giữa thân

Trang 25

tháp và gốc tháp cam Mật của dòng hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất không khác biệt nhau.

1.4 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY KHÔNG HỘT TRÊN CÂY CAM QUÝT

Có nhiều nguyên nhân gây không hột, theo Ollitrault và Dambier (2008) cho rằng có ba phương pháp để sản xuất cây trồng không hột: tạo cây trồng tự bất tương hợp, gây đột biến ở cây trồng có hột, và sản xuất cây tam bội Cam quýt thương mại thường có rất ít hột, trung bình ít hơn 2 hoặc 1,5 hột/trái được xem

như không hột (Ortiz, 2002) Theo Zhu và ctv (2008) trung bình 2,3 hột/trái

được coi là không hột Theo Trần Văn Hâu (2009), ở Mỹ cam có từ 0 – 6 hột

xem như là cam không hột Theo Varoquaux và ctv (2000), trái cây cam quýt

được xem là không hột khi số hột nhỏ hơn 5 hột

1.4.1 HIỆN TƯỢNG TRINH QUẢ SINH TRÊN CAM QUÝT

Hiện tượng trinh quả sinh là hiện tượng tạo trái không hột như chuối, khóm, vài loài cam quýt không cần có sự thụ phấn, thụ tinh xảy ra nhưng vẫn có hiện tượng đậu trái mà không cần sự kích thích nào bên ngoài (Spiegel – Roy và Goldschmidt, 1996) Smith (2000) cho rằng sự hình thành trái trinh quả sinh có thể xảy ra ít nhất 4 cách sau:

- Sự thay đổi nồng độ hormon tăng trưởng trong mô bầu noãn có thể kích thích tạo trái trinh quả sinh

- Gen liên quan đến sự trinh quả sinh có thể biến đổi liên tiếp trong sự phân cắt carbon và cường độ sink mà ảnh hưởng lên sự phát triển và giãn dài của trái trinh quả sinh mà không cần thụ tinh

- Sự tổn thương làm tăng tính trinh quả sinh có thể liên quan đến sự thụ phấn đặc biệt

Trang 26

- Sự đột biến gây tổn thương trong quá trình phát triển trên những mô đặc biệt

có thể cho phép sự phát triển trái mà không cần thụ tinh

Sự bất dục mạnh và khả năng trinh quả sinh là điều kiện cần để tạo trái không

hột (Ollitrault và ctv., 2007) Sự trinh quả sinh có thể xảy ra theo hai cách: hoặc

không có thụ tinh (trinh quả sinh thật), hoặc có thụ tinh song hợp tử lại đi rất sớm (Phạm Hoàng Hộ, 1972)

Theo Trần Văn Hâu (2009), trinh quả sinh là khả năng sản xuất trái mà không cần thụ phấn Có thể chia làm ba kiểu trinh quả sinh:

- Trinh quả sinh yếu: chỉ một ít trái được sản xuất mà không cần thụ phấn: cam Navel

- Trinh quả sinh trung bình: đạt năng suất trung bình nếu không thụ phấn nhưng đạt năng suất cao nếu được thụ phấn như quýt Orlando

- Trinh quả sinh mạnh: đạt năng suất cao nhưng không cần thụ phấn như

chanh Tahiti

Quá trình thụ tinh không xảy ra nhưng trái vẫn được tạo thành và hoàn toàn không hột chứng tỏ trên bưởi Năm Roi có hiện tượng trinh quả sinh (Nguyễn Văn Kha, 2008) Cây cam Sành có khả năng trinh quả sinh tạo và phát triển trái không cần thụ phấn (Nguyễn Bá Phú, 2006)

Trang 27

Chỉ sau khi ống phấn đạt đến mô vòi nhụy tính bất tương hợp mới được biểu hiện: sự sinh trưởng của ống phấn bị giảm sút và cuối cùng bị ngừng lại Sự trở ngại trong trao đổi chất và sự biến tính của ống phấn xuất hiện (Lê Văn Hòa

và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Theo Lê Văn Bé và ctv (2008) bưởi Năm Roi tạo

trái không hột là do có thụ phấn nhưng không thụ tinh: hạt phấn nảy mầm được trên nướm, kéo dài ống phấn đến đoạn trên của vòi nhụy, nhưng không thấy sự hiện diện của ống phấn tại đoạn dưới của vòi nhụy và bầu noãn Sự tự bất dung hợp thường bao gồm các cơ chế: đồng hình, thể giao tử, thể bào tử, tự bất dung hợp dị hình (Gibbs, 1988)

Tự bất dung hợp với tính tạo trái không hột là nguyên nhân trái không hột ở

cam quýt (Gosmez – Alvarado và ctv., 2004) Theo Futch và Jackson (2009) sự

tự bất tương hợp có thể khắc phục bởi sự giao phấn với cây trồng tương hợp khác Quýt Clementine không hột do tự bất dung hợp, nhưng sẽ có hột nếu thụ phấn với cây cam quýt khác (Jackson và Gmiter, 1997)

1.4.3 Hiện tượng bất dục giao tử

Theo Trần Thượng Tuấn (1992), nguyên nhân của hiện tượng đực bất dục

là do giao tử đực không có sức sống, hiện tượng này có cả ở cây tự thụ phấn cũng như cây giao phấn do các đột biến làm ngừng trệ sự phát triển của các giao tử đực vào các giai đoạn khác nhau

Bất dục đực có thể do sự phát triển không hoàn chỉnh của hạt phấn nhưng thường do sự thiếu soát trong quá trình phát triển của hạt phấn Bất dục hạt phấn

đã được tìm thấy trong nhiều giống cây trồng của chi cam quýt Ví dụ: cam Washington, quýt Satuma (Jackson và Gmiter, 1997) Bất dục cái có thể do hoa

bị thui hoặc sự thiếu sót trong quá trình phát triển túi phôi Những giống sản sinh

ra ít hoặc không tạo ra hạt phấn và bầu noãn bất dục hoặc chỉ tạo ra một lượng nhỏ tiểu noãn sẽ ít hột hoặc không hột (Kahn và Chao, 2004)

1.4.4 Hiện tượng đột biến và tam bội trên cây cam quýt

Ở cây Cam Quýt, các cải thiện giống thường bắt nguồn từ những đột biến của các chồi hay mầm chồi, những cải thiện này đã liên tục được tận dụng sau

Trang 28

khi đã chọn lọc để bảo tồn cho loại cây giống (Aubert và Vullin, 2001) Theo Spiegel – Roy và Goldschmidt (1996) đột biến liên quan đến một thay đổi trong DNA thì khá phổ biến trong cam quýt, tỷ lệ đột biến sẽ thay đổi tùy theo giống, các tần số đột biến bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường hay thói quen sản

xuất như cắt tỉa,… Theo Sutarto và ctv (2009) chiếu bức xạ lên cây trồng đang

sinh trưởng nhằm thay đổi các đặc tính trái như: số lượng hột trên trái, màu sắc của thịt trái và vỏ trái Sự đột biến bằng tia Gamma thực sự có hiệu quả đối với các loài cam quýt Cam quýt có số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 2x = 18

(Oiyama và Okudai, 1988) Theo Zhu và ctv (2008), tam bội là tiêu chuẩn quan trọng để chọn lọc cây trồng không hột Moore và ctv (2005) cũng cho rằng kỹ

thuật cứu phôi có thể tạo ra cây tam bội Cây tam bội phát triển kém ngay sau khi nẩy mầm, nhưng một năm sau đó chúng sinh trưởng mạnh mẽ và tốt hơn thể lưỡng bội trồng từ những hột lớn thông thường (Komatsu và Iwamasa, 1996)

Theo Raza và ctv (2003) giống tam bội trên cam quýt có thể được tạo ra bằng

nhiều phương pháp chẳng hạn: thụ phấn chéo giữa cây lưỡng bội và cây tứ bội,

kỹ thuật cứu phôi, sự xuất hiện ngẫu nhiên quần thể tam bội, sự chiếu xạ, nuôi cấy phôi nhũ và công nghệ sinh học hiện đại Trong các cây cam quýt tam bội không hột, có thể kể đến điển hình là chanh Tahiti đột biến tam bội tự nhiên

1.5 THÁP TRÊN CÂY CAM QUÝT

1.5.1 Cơ sở khoa học của tháp

Có nhiều phương pháp nhân giống vô tính cam quýt: có thể nhân giống

bằng phương pháp chiết cành, giâm cành, tháp, nuôi cấy mô (Lê Văn Thuyết và

ctv., 2003) Hoàng Ngọc Thuận (1995) cho rằng các giống cam, chanh, quýt nên

nhân giống bằng phương pháp tháp Có hai phương pháp tháp được sử dụng phổ biến: tháp mắt hoặc tháp ngọn Nguyễn Thị Quyên (2010) khi thực hiện điều tra

kỹ thuật canh tác cây cam Soàn (Citrus senensis L cv Soan) tại Trà Ôn – Vĩnh

Long với 45 hộ được điều tra cho biết: 100% số hộ nhân giống bằng phương pháp tháp

Theo Trần Thế Tục và ctv (2000), tháp là sự kết hợp một bộ phận của cây

này với một bộ phận của cây khác, tạo thành một tổ hợp tháp, cùng sinh trưởng

Trang 29

và phát triển như là một cây thống nhất Theo Phan Ngưỡng Tinh và ctv (2007),

cây gốc tháp và thân tháp đều có những khả năng sinh tồn khác nhau, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một tổ hợp cộng sinh hữu cơ, dựa vào nhau cùng tồn tại, tạo thành một thể thống nhất

Ortiz (2002) cho rằng có 3 trường hợp xảy ra khi kết hợp gốc và chồi tháp:

sự tăng trưởng quá mức của gốc tháp, sự tăng trưởng quá mức của chồi tháp, gốc

và chồi tháp phát triển đồng đều

Các cây mọc từ phôi vô tính được sử dụng làm gốc tháp và phục tráng giống có kết quả rất tốt (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Theo Aubert và Vullin (2001), việc nhân giống các cây ăn trái bằng phương pháp tháp đã trở thành một phương tiện tối ưu dẫn đến việc tận dụng được các ưu điểm về di truyền trong một thời gian tương đối ngắn

Theo Đường Hồng Dật (2003) cho rằng phương pháp tháp giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh, cho năng suất cao và phẩm chất trái tốt Mục đích của tháp là tận dụng ưu thế của gốc tháp để làm cho giống được nhân có được những tính chất đặc biệt, tăng khả năng chống chịu (Hoàng Ngọc Thuận, 2000; Khan và

Kender, 2007) Theo Phan Ngưỡng Tinh và ctv (2007) tác động của gốc tháp có

thể làm thay đổi màu sắc kích cở của trái, tăng giá trị thương phẩm, cây tháp có khả năng khống chế số lượng hoa đực hay mầm tháp biến dị với đặc điểm tốt để tạo ra giống mới

Tháp mắt là phương pháp chuẩn dùng để nhân giống cam quýt Mặc khác,

nó là phương pháp dễ nhất, nó cho phép nhân nhanh một lượng lớn cây giống từ một lượng nhỏ cành cho mắt tháp được chọn lọc, gốc hoặc cành tháp có đường kính 0,6 – 2,5 cm ( Elam, 1997) Các cây mọc từ phôi vô tính được sử dụng làm gốc tháp và phục tráng giống có kết quả rất tốt (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Theo

Đỗ Năng Vịnh (2008) gốc dùng trong nhân giống vô tính nói chung quyết định nhiều đến kích thước cây, tăng khả năng chống chiệu các điều kiện bất lợi, nhất

là môi trường đất và khả năng chống chiệu sâu bệnh

1.5.2 Nguyên lý của tháp

Trang 30

Theo Mai Văn Quyền và ctv., (2005) nguyên lý của tháp là vết thương được

gắn lại khi dòng nhựa giữa hai phần cành tháp và gốc tháp có thể tương hợp với nhau Wright (2000) cho rằng giữa lớp vỏ và lớp gỗ của cây có một lớp tế bào gọi là tượng tầng libe gỗ, từ tầng này sẽ phát sinh ra gỗ hoặc hóa gỗ ở bên trong

và libe ở bên ngoài, những tế bào phát sinh từ tượng tầng libe gỗ này có thể kết hợp khi ép sát hai tầng tượng tầng vào nhau Khi tháp đòi hỏi mô phân sinh trên mặt của phần tháp tiếp hợp chặt chẽ với tầng sinh gỗ trên mặt cắt của cây gốc tháp và như vậy vết tháp mới mau liền lại để tạo thành một cây mới (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 2000) Khi tượng tầng và mô phân sinh có đủ nhựa thì khả năng tiếp hợp của cành tháp và gốc tháp được thực hiện thuận lợi (Mai Văn

Quyền và ctv., 2005)

Khi tháp ở hai mặt của vết cắt hình thành một lớp màng mỏng, sau đó tầng sinh gỗ tăng trưởng rất nhanh, lấp đầy khoảng trống giữa hai mặt vết cắt (của thân tháp và gốc tháp) Từ đó màng mỏng bị hủy hoại, các tổ chức mô tế bào của thân tháp và gốc tháp dần hòa hợp, gắn bó với nhau, hệ thống vận chuyển dinh dưỡng liên kết với nhau do mô phân sinh tạo ra vỏ phía bên ngoài và gỗ phía bên trong và nối các mạch ống dẫn của lỗi gỗ với ống lọc thấm của của lớp vỏ lại với nhau và hệ thống mạch dẫn thật sự được liên kết thông suốt Lúc này chồi tháp được cung cấp dinh dưỡng, nước và bắt đầu sinh trưởng (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 2000)

1.6 CẤU TẠO BẦU NOÃN, TIỂU NOÃN, SỰ SẢN SINH TÚI PHÔI

1.6.1 Cấu tạo bầu noãn và tiểu noãn

Theo Hà Thị Lệ Ánh, 2005 bầu noãn có cấu tạo gồm hai phần: Bên ngoài là thành của bầu noãn gồm hai lớp biểu bì: biểu bì ngoài và biểu bì trong, giữa hai lớp biểu bì là nhu mô của bầu noãn chứa từ một đến ba bó libe gỗ Bên trong cùng là xoang rỗng hay buồng của bầu noãn là nơi chứa tiểu noãn Bầu noãn có thể có một buồng hay nhiều buồng: một buồng có thể do một tâm bì hay do nhiều tâm bì hở dính nhau tạo thành, nhiều buồng do các tâm bì kín dính nhau tạo thành và lúc nầy số buồng tương ứng với số tâm bì Bầu noãn cam quýt có 8 – 15

Trang 31

ngăn dính liền nhau tại một trục ở giữa trái, mỗi tâm bì có 0 – 6 tiểu noãn (Trần

Thượng Tuấn và ctv., 1994)

Tiểu noãn là một khối tế bào hình trứng có cuống noãn là nơi đính noãn vào giá Thân tiểu noãn là khối tâm được bao bọc bởi vỏ noãn chừa hở lỗ nhỏ gọi là

lỗ tiểu noãn (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Kahn và Chao (2004) cho biết

những giống tạo ra ít tiểu noãn hoặc tiểu noãn không có chức năng sẽ không hột Sau khi tiến hành thí nghiệm thụ phấn bổ sung phấn hoa cam Sành và phấn hoa quýt Đường có hột bình thường lên cây quýt Đường không hột, Triệu Văn Quý (2009) cho rằng đặc tính không hột của quýt Đường không hột liên quan đến

sự phát triển không bình thường của tiểu noãn

1.6.2 Sự sản sinh túi phôi

Chỗ các lớp vỏ noãn tiếp hợp với phôi tâm gọi là hợp điểm, trong phôi tâm chỉ có một tế bào có khả năng phân chia đó là tế bào mẹ bào tử lớn (2n) qua hai lần giảm phân để tạo thành bốn bào tử lớn (n) Chỉ có một bào tử lớn phân chia nguyên nhiễm ba lần, để hình thành túi phôi gồm tám tế bào (noãn bào, nhân thứ

cấp, hai trợ cầu) ( Nguyễn Khoa Lân và Ngô Đắc Chứng, 2005)

Theo Jackson và Gmitter (1997), thông tin ban đầu về sự hình thành hột là

sự sản sinh đại bào tử và sự phát triển túi phôi Trong noãn tế bào nguyên bào tử hình thành xung quanh phôi tâm trước khi vỏ phát triển hoàn chỉnh Những tế bào bên ngoài có kích thước lớn và nhân to Nguyên bào tử phân chia từ 1 tế bào cánh hoa và túi phôi của tế bào mẹ Tế bào cánh hoa phân chia nhanh và đại bào

tử sớm bị bao quanh bởi một tế bào gần trung tâm của phôi tâm Đại bào tử phải trãi qua sự phân chia giảm nhiễm cho ra 4 tế bào đơn bội với chỉ 1 nhiễm sắc thể trên 1 tế bào Những tế bào đại bào tử sắp xếp thành một hàng theo chiều dọc trong phôi tâm Ba trong bốn đại bào tử thoái hóa và còn lại một đại bào tử phát triển và sau đó hình thành túi phôi (Hình 1.3)

Trang 32

Hình 1.3 Sự phát sinh đại bào tử (Jackson và Gmitter, 1997)

Đại bào tử chức năng phân chia tạo ra 2 nhân con, di chuyển về hai cực của túi phôi và ở lại đó cho đến khi phân chia tiếp theo Trong lúc đó, tế bào chất giảm bớt để tạo thành một lớp mỏng ở ngoại vi của túi phôi, trừ xung quanh nhân Hai nhân con tiếp tục phân chia tạo ra bốn nhân hình thành hai cặp ở hai cực của túi phôi Nhân phân chia tiếp tục tạo ra 8 nhân Bốn nhân ở cuối lỗ noãn của túi phôi phát triển thành trứng Bốn nhân ở cuối dây noãn hình thành ba đối cực và nhân cực thấp hơn để hoàn thành quá trình phát triển túi phôi (Hình 1.4) (Jackson và Gmiter, 1997)

Hình 1.3a Noãn đang phát triển với bào

nguyên bào tử

tế bào nguyên bào tử

Hình 1.3b Noãn đang phát triển với

tế bào đại bào tử

Hình 1.3d Noãn đang phát triển với

tế bào đại bào tử mẹ Hình 1.3c Noãn đang phát triển với

bốn đại bào tử

Trang 33

Hình 1.4 Sự phát triển túi phôi (Jackson và Gmitter, 1997)

Lỗ noãn Vỏ ngoài

Vỏ trong Phôi tâm Đại bào tử

Lỗ noãn

Vỏ ngoài Phôi tâm Túi phôi đang phát triển

Vỏ trong

Hình 1.4a Giai đoạn đầu của sự

phát triển túi phôi

Hình 1.4b Giai đoạn hai tế bào trong sự phát triển túi phôi

Vỏ trong Phôi tâm Túi phôi đang phát triển

Lỗ noãn

Vỏ ngoài

Vỏ trong Phôi tâm Túi phôi đang phát triển

Lỗ noãn

Vỏ ngoài

Hình 1.4c Sự phát triển túi phôi giai

đoạn 4 nhân trong tiểu noãn Hình 1.4d Sự phát triển túi phôi giai đoạn 8

nhân trong tiểu noãn

Đối cầu

Hình 1.4e Túi phôi tám nhân Hình 1.4f Túi phôi tám nhân thành thục

Trang 34

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM

2.1.1 Địa điểm thí nghiệm

Địa điểm: Thí nghiệm được thực hiện tại xã Hòa Ninh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm bộ môn Khoa học cây trồng, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ

Thời gian: từ tháng 9/2011 đến tháng 10/2012

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm

Cây giống được tháp trên gốc cam Mật và mắt tháp được lấy từ cây quýt Đường không hột mã số 1 (dòng quýt Đường không hột số 1), cây quýt Đường không hột mã số 80 (dòng quýt Đường không hột số 2) và cây quýt Đường có hột

mã số 63 (giống quýt Đường có hột ) làm đối chứng (Nguyễn Bảo Vệ và ctv.,

Nghiệm thức 1: Dòng quýt Đường không hột số 1

Nghiệm thức 2: Dòng quýt Đường không hột số 2

Nghiệm thức 3: Giống quýt Đường có hột

2.2.2 Kỹ thuật canh tác

Kỹ thuật canh tác chính theo quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây cam quýt ở các tỉnh phía Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2001) được nêu cụ thể trong tài liệu tiêu chuẩn ngành “quy trình trồng, chăm sóc

và thu hoạch cây có múi ở các tỉnh phía Nam” (10 TCN 481-2001)

Trang 35

* Chuẩn bị đất và trồng cây:

Mô để trồng cây có bề rộng 1 m, chiều cao 0,4 m Mô được đấp từ đất mặt

có bón phân chuồng (10 kg/mô), phân lân vi sinh (Sông Gianh) (3 kg/mô) và vôi (CaO) (1 kg/mô)

Khoảng cách trồng: cây cách cây 1,7 m; hàng cách hàng 2,5 m

Mổi hố trồng được bón lót 25 g DAP (18-46-100) ở đáy hố, có lấp đất mặt

10 cm, để tránh rễ tiếp xúc trực tiếp với phân

Cây được trồng vào tháng 1/2010

* Chăm sóc:

Cây được tưới đủ ẩm để bảo đảm sinh trưởng tốt nhất

Cây được để phát triển tự nhiên, chỉ cắt bớt đọt ở những cành phát triển quá mức

Sử dụng phân bón NPK (30-20-10), bón khoảng 50 g/gốc vào thời điểm lá già (khoảng 2 tháng/lần) Có bổ sung dinh dưỡng bằng các loại phân bón lá trong thời kỳ cây tơ (lúc chưa ra hoa, kết trái)

Sử dụng luân phiên các loại thuốc trừ sâu như Nokap, Lannate 40SP, Dragon, … và các loại thuốc trừ bệnh như Topsin, Zineb, … vào thời điểm cây ra đọt non để phòng trừ sâu bệnh Có áp dụng Trichoderma bằng cách tưới vào gốc (6 tháng/lần)

2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi

2.2.3.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng

Các chỉ tiêu sinh trưởng được lấy 3 tháng/ lần vào ngày cuối tháng

- Đường kính gốc tháp (mm): Đo ở vị trí cố định phía dưới mắt tháp 10 cm

- Đường kính thân tháp (mm): Đo ở vị trí cố định phía trên mắt tháp 10 cm

- Tỷ số đường kính thân tháp/gốc tháp

- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh chồi cao nhất của cây

- Chiều rộng tán cây (cm): Đo từ hai chóp lá rộng nhất của cây

Trang 36

- Độ pH: Dịch trái sau khi ép được đo bằng pH kế hiệu ORION (USA)

- Độ Brix (%): Dịch trái sau khi ép được đo bằng khúc xạ kế hiệu ATAGO (Nhật sản xuất)

- Vitamin C (acid ascorbic) dịch trái: Định lượng vitamin C theo phương

pháp chuẩn độ với 2,6 dichlorophenol indophenol (Nguyễn Minh Chơn và ctv.,

2005), cụ thể như sau:

Trang 37

1 2

Chuẩn bị mẫu thật: Cho 10 ml HCl 1% và 35 ml acid oxalic 1% vào

5 ml dịch trái Lọc lấy dịch trong

Chuẩn bị mẫu blank: Thực hiện tương tự mẫu thật nhưng thay thế 5

ml dịch trái bằng 5 ml nước cất

+ Bước 3:

Mẫu thật: Dùng Pipet lấy 10 ml dịch lọc cho vào beaker 50 ml Cho 2,6 dichlorophenol indophenol sodium satl dehydrate 0,001 N vào Buret để chuẩn độ dịch lọc Ngưng chuẩn độ khi thấy dịch lọc chuyển sang màu hồng nhạt bền trong 30 giây Ghi nhận thể tích 2,6 dichlorophenol indophenol sodium satl dehydrate 0,001 N đã sử dụng ở Buret

Số mg vitamin C trong 100 g mẫu vật được tính như sau:

Trong đó:

a: Số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu thật

b: Số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu blank

V1: Thể tích dung dịch chiết ban đầu (50 ml)

V2: Thể tích dung dịch chiết lấy để chuẩn độ (10 ml)

m: Trọng lượng 5 ml dịch trái (g)

0,088: Số mg acid ascorbic tương đương với 1 ml dung dịch chuẩn 2,6 dichlorophenol indophenol sodium satl dehydrate 0,001 N

Trang 38

2.2.3.3 Sự ổn định đặc tính không hột

 Sự hiện diện của tiểu noãn trưởng thành

Chọn ngẫu nhiên 5 hoa tương ứng với từng nghiệm thức ở các giai đoạn: Hoa nở và 3 ngày sau khi hoa nở Hoa nở là hoa vừa mới nở, cánh vừa mới tung Hoa 3 ngày sau nở là hoa đã tàn, rụng hết cánh, hết nhị, nướm nhụy đã khô,

chuyển màu

Bầu noãn của hoa nở và hoa ba ngày sau nở được cắt ngang thành những lát mỏng (khoảng 0,2 mm) và rửa bằng nước cất 2 – 3 lần Để tất cả các lát cắt của một bầu noãn lên lam, nhỏ thêm một giọt nước cất và đậy lamelle lại Quan sát tất cả các lát cắt của một bầu noãn dưới kính hiển vi quang học, chọn lát cắt có tiểu noãn nhiều nhất, có kích thước tiểu noãn to nhất và lát cắt có đường kính lớn nhất để quan sát Nhận diện tiểu noãn trưởng thành theo Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2012a), tiểu noãn trưởng thành có hình quả lê và có kích thước khoảng 404 ± 21µm x 258 ± 23 µm

Trang 39

2.2.4 Xử lý số liệu, thống kê

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý số liệu Phân tích phương sai bằng phần mềm SPSS So sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức bằng phương pháp kiểm định LSD ở mức ý nghĩa 5%

Trang 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 SỰ SINH TRƯỞNG CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở THẾ HỆ THÁP THỨ NHẤT

Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây và kết quả là dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích và sinh khối của chúng (Nguyễn Kim Thanh và Châu Ngọc Thuận, 2005) Sự sinh trưởng của dòng/giống quýt Đường không hột tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long được đánh giá qua các chỉ tiêu đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp, tỷ số thân tháp/gốc tháp, chiều cao cây và đường kính tán khảo sát tại các thời điểm 18, 21, 24, 27, 30 tháng sau khi trồng

Thời gian sau khi trồng (tháng)

Hình 3.1 Đường kính gốc tháp (mm) của quýt Đường không hột theo thời gian (Long

Hồ – Vĩnh Long, 2012)

Ngày đăng: 12/04/2018, 07:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm