KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG NGÔ THỊ BÌNH SỰ SINH TRƯỞNG, ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT VÀ SỰ ỔN ĐỊNH ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY 3 NĂM TUỔ
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ THỊ BÌNH
SỰ SINH TRƯỞNG, ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT VÀ
SỰ ỔN ĐỊNH ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY 3 NĂM TUỔI Ở KHU 2, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẤN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
SỰ SINH TRƯỞNG, ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT VÀ
SỰ ỔN ĐỊNH ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở GIAI ĐOẠN CÂY 3 NĂM TUỔI Ở KHU 2, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cần Thơ, 2012
Trang 3i
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Nông Học với đề tài:
“Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại khu 2,
trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ”
Do sinh viên Ngô Thị Bình thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2012 Cán bộ hướng dẫn
Ths Nguyễn Bá Phú
Trang 4ii
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài: “Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ” Do sinh viên: Ngô Thị Bình thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày .tháng .năm 2012 Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Cần thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -
DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 5iii
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: NGÔ THỊ BÌNH Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 20/12/1991 Nơi sinh: Hậu Giang
Họ tên cha: Ngô Văn Thanh
Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Lanh
Họ tên em: Ngô Long Hồ
Chổ ở hoặc địa chỉ liên lạc: ấp Mùa Xuân, xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Điện thoại: 01665744359
Email: bemeo0102@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 Tiểu học
Thời gian đào tạo từ năm: 1997 đến năm 2002
Trường: Tiểu học Mùa Xuân
Địa chỉ: Xã Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Thời gian đào tạo từ năm: 2006 đến năm 2009
Trường THPT: Lê Quí Đôn
Địa chỉ: Phường Lái Hiếu, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang
Trang 6iv
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Tác giả luận văn
Ngô Thị Bình
Trang 7v
Kính dâng cha mẹ một đời vất vả chăm lo cho tương lai của chúng con, xin cảm ơn những người thân đã giúp đỡ, động viên con trong suốt thời gian qua
Suốt đời ghi ơn, thầy Nguyễn Bá Phú, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
có những lời khuyên bổ ích trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp Chân thành cảm ơn cô cố vấn học tập Trần Thị Thanh Thủy, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức mà quý thầy
cô đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời
Gởi lời cảm ơn đến anh La Hoàng Châu, các bạn sinh viên làm đề tài ở Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng và các bạn Nông Học khoá 35 đã đóng góp, động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài Đặc biệt, gởi lời cảm
ơn đến một người, người đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều, luôn ở bên tôi những lúc tôi khó khăn nhất
Trang 8vi
TÓM LƯỢC
Đề tài “Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm mục đích so sánh giữa hai dòng quýt Đường không hột với nhau và với quýt Đường có hột về: (1) sự sinh trưởng, (2) đặc tính hình thái thực vật, (3) sự ổn định của đặc tính không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây, ba nghiệm thức bao gồm: quýt Đường không hột số
1, quýt Đường không hột số 2, quýt Đường có hột (đối chứng) Sự sinh trưởng được đánh giá bằng sự tăng trưởng kích thước của đường kính gốc tháp, đường kính thân tháp, chiều cao cây và chiều rộng tán Các chỉ tiêu về hình thái thực vật của thân cành, lá, hoa và trái theo mô tả của IPGRI (1999) Khảo sát sự hiện diện của tiểu noãn ở giai đoạn hoa nở, 3 ngày sau khi hoa nở và số hột/trái
Kết quả thu được: (1) Sự sinh trưởng giữa quýt Đường không hột số 1 và quýt Đường không hột số 2 là giống nhau và không khác biệt với quýt Đường có hột; (2) Đặc tính hình thái thực vật (thân cành, lá, hoa và trái) giống nhau giữa hai dòng quýt Đường không hột và không khác biệt với quýt Đường không hột; (3) Đặc điểm tiểu noãn phát triển muộn và đặc tính hoàn toàn không hột vẫn được duy trì ổn định
ở giai đoạn cây 3 năm tuổi của quýt Đường không hột số 1 và quýt Đường không hột số 2
tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ Luận văn tốt nghiệp Đại Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn khoa học: Ths Nguyễn Bá Phú 49 trang
Trang 9vii
Chương Nội Dung Trang
Lời cảm tạ iv
Lời cam đoan v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh sách bảng ix
Danh sách hình x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Nguồn gốc và phân loại 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Phân loại 2
1.2 Đặc tính hình thái thực vật 3
1.2.1 Đặc tính rễ 3
1.2.2 Đặc tính thân cành 3
1.2.3 Đặc tính lá 4
1.2.4 Đặc tính hoa 5
1.2.5 Đặc tính trái 6
1.3 Sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt 8
1.3.1 Sự sinh trưởng và phát triển 8
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển 8
1.3.2.1 Đất 8
1.3.2.2 Nước 9
1.3.2.3 Dinh dưỡng khoáng 9
1.3.2.4 Nhiệt độ 10
1.3.2.5 Gió 10
1.3.2.6 Ánh sáng 11
1.4 Tổng quan về sự không hột 11
1.4.1 Khái niệm không hột 11
1.4.2 Hiện tượng trinh quả sinh 12
1.5 Các nguyên nhân không hột trên cam quýt 13
1.5.1 Hiện tượng tự bất dung hợp 13
Trang 10viii
1.5.3 Hiện tượng đột biến tam bội trên cam quýt 14
1.6 Cấu tạo bầu noãn, tiểu noãn, sự sinh sản túi phôi 15
1.6.1 Cấu tạo bầu noãn và tiểu noãn 15
1.6.2 Sự phát triển của túi phôi 15
1.6.3 Sự xuất hiện tiểu noãn ở hoa quýt Đường có hột và quýt Đường không hột 18
1.7 Tháp trên cam quýt 18
1.7.1 Cơ sở khoa học của tháp 18
1.7.2 Nguyên lý tháp 19
1.7.3 Tổng quan gốc tháp 20
1.7.4 Sự tương quan giữa gốc tháp và thân tháp 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 22
2.1 Phương tiện thí nghiệm 22
2.1.1 Địa điểm thí nghiệm 22
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 22
2.2 Phương pháp thí nghiệm 22
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 22
2.2.2 Kỹ Thuật canh tác 22
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 23
2.2.3.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng 23
2.2.3.2 Đặc tính hình thái thực vật 23
2.2.3.3 Sự hiện diện của tiểu noãn trưởng thành 25
2.2.3.4 Số hột/trái 25
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu, thống kê 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27
3.1 Sự sinh trưởng của quýt Đường không hột 27
3.1.1 Đường kính gốc tháp 27
3.1.2 Đường kính thân tháp 28
3.1.3 Tỷ số thân tháp/gốc tháp 29
3.1.4 Chiều cao cây 30
3.1.5 Chiều rộng tán 31
3.2 Đặc tính hình thái thực vật của quýt Đường không hột 32
Trang 11ix
3.2.2 Đặc tính lá 33
3.2.3 Đặc tính hoa 38
3.2.4 Đặc tính trái 41
3.3 Sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột 45
3.3.1 Sự hiện diện của tiểu noãn 45
3.3.2 Số hột/trái 46
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 49
4.1 Kết luận 49
4.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ CHƯƠNG 55
Trang 123.6 Kích thước của một số bộ phận của hoa quýt Đường không hột
(Khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 2012) 38 3.7 Đặc tính về bộ phận đực của hoa quýt Đường không hột (khu 2,
3.8 Đặc tính về bộ phận cái của hoa quýt Đường không hột (Khu 2,
3.9 Đặc tính định tính trái của quýt Đường không hột ở giai đoạn
cây 3 năm tuổi (Khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 2012) 40
3.10 Kích thước một số bộ phận (mm) của trái, số túi dầu và tổng số
múi/trái của quýt Đường không hột (Khu 2, trường Đại Học Cần
Thơ, 2012)
41
3.11 Trọng lượng trái và số hột mài/trái của quýt Đường không hột
(Khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, 2012) 42 3.12 Chỉ tiêu chất lượng trái quýt Đường không hột (Khu 2, trường
3.13 Số hột/trái của quýt Đường không hột (Khu 2, trường Đại Học
Trang 13xi
1.1 Sự phát sinh đại bào tử (Jackson và Gmitter, 1997) 17 1.2 Sự phát triển túi phôi (Jackson và Gmitter, 1997) 18 1.3 Sơ đồ về sự biểu hiện các mức độ ái lực khác nhau giữa gốc tháp và
mắt tháp, biểu hiện tại điểm tháp (Aubert và Vullin, 2001; được dịch
bởi Nguyễn Công Thiện và Phan Anh Hiền)
21
3.1 Đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột theo thời gian 26 3.2 Đường kính thân tháp của quýt Đường không hột theo thời gian 27 3.3 Tỷ số thân/gốc tháp của quýt Đường không hột theo thời gian 28 3.4 Sự tiếp hợp thân tháp và gốc tháp của quýt Đường không hột 29 3.5 Chiều cao cây của quýt Đường không hột theo thời gian 30 3.6 Chiều rộng tán của quýt Đường không hột theo thời gian 31
3.9 Các mặt của trái quýt Đường không hột 41 3.10 Phẫu diện cắt ngang bầu noãn quýt Đường không hột ở 2 thời điểm,
3.11 Phẫu diện cắt ngang của trái quýt Đường không hột 46
Trang 14MỞ ĐẦU
Có nhiều giống cam quýt được trồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long như: Cam Sành, cam Mật, cam Dây, cam Soàn, quýt Tiều, bưởi Năm Roi, chanh Ta, chanh
Núm, Sảnh, Hạnh, (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Đặc biệt, quýt Đường thích
nghi tốt với điều kiện ở vùng này, cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, nhưng trái có nhiều hột đã hạn chế phần nào việc tiêu thụ trái tươi và sản phẩm được chế biến từ quýt
Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Cần Thơ đã chọn lọc được 2 cây quýt Đường không hột trong quần thể quýt Đường có hột tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007) Qua khảo sát sơ bộ hai dòng quýt Đường
không hột có đặc tính hình thái như dạng cây, lá, hoa và trái giống với quýt Đường bình thường (có hột) và đặc tính không hột do tiểu noãn phát triển muộn (Nguyễn
Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ, 2012) Kết quả này cũng được mô tả bởi Nguyễn Trí Thanh (2011) khi thực hiện khảo sát thí nhiệm ở giai đoạn cây 2 năm tuổi của hai dòng quýt Đường không hột Tuy nhiên, để phát triển giống quýt mới này cần phải tìm hiểu khả năng sinh trưởng và sự ổn định các đặc tính của nó ở những giai đoạn tiếp theo
Vì vậy, đề tài: “Sự sinh trưởng, đặc tính hình thái thực vật và sự ổn định đặc tính không hột của quýt Đường không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi tại khu 2, trường Đại Học Cần Thơ, thành phố Cần Thơ” được tiến hành nhằm mục tiêu so sánh giữa hai dòng quýt Đường không hột với nhau và với quýt Đường có hột về: (1) sự sinh trưởng, (2) đặc tính hình thái thực vật, (3) sự ổn định của đặc tính không hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI
1.1.1 Nguồn gốc
Theo Vũ Công Hậu (1999) khó xác định được nguồn gốc của cam quýt vì có nhiều chủng loại và đó là những cây được trồng lâu năm có diện tích phân bố rộng Với một số nghiên cứu lại cho rằng, cam quýt có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới
và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á (Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Cindy (2004) cho rằng cam quýt có nguồn gốc từ Trung Quốc và vào Ấn Độ nhờ con đường mậu dịch, sau đó được đưa đến trồng ở Nhật Bản Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) và quất là ở miền Nam Việt Nam (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Theo Trần Thượng Tuấn (1999) cây quýt Đường đã có mặt ở đồng bằng sông Cửu Long từ lâu và không biết nó xuất hiện khi nào Với cây quýt Đường không hột mới được phát hiện tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp với hai
các thể quýt Đường không hột (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007)
1.1.2 Phân loại
Theo Hvarleva và ctv (2008) phân loại cam quýt thì phức tạp do sự tương
quan về sinh lý giữa họ cam quýt và chi liên quan, cũng như các loài có trong chi cam quýt, tỷ lệ đột biến chồi cao trong sự sinh sản vô tính thông qua các mầm phôi tâm, cũng như nét đặc trưng của một vài loài cam quýt Chi cam quýt gồm các giống dùng làm thực phẩm dưới dạng trái tươi hoặc chế biến (Vũ Công Hậu, 1999)
Cam quýt nói chung có nhiều chủng loại, nằm trong bộ cam quýt (Rutales), thuộc họ cam quýt (Rutaceae), họ phụ Aurantibidae Họ phụ này có đến 250 loài,
chia ra làm nhiều chi và chi phụ, trong đó có ba chi được trồng lâu đời để lấy trái
Gồm có chi cam quýt (Citrus), chi cam Ba lá (Poncirus) và chi Quất (Fortunella
còn gọi là Tắc) (Trần Thế Tục, 2006) Thiều Thị Tạo (1996) qua khảo sát so sánh số lượng nhiễm sắc thể của các loài cam, chanh của Việt Nam cũng cho kết luận nhóm cam quýt có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18 Theo hệ thống phân loại hiện đại, Citrus
Trang 16được chia làm 3 loại : Citron (Citrus medica), quýt (Citrus reticulata) và bưởi (Citrus grandis hay Citrus maxima Burm) (Nicolosi, 2007)
1.2 ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI THỰC VẬT
1.2.1 Đặc tính rễ
Rễ cam quýt thuộc loại rễ nấm (Micorhiza) Nấm Micorhiza kí sinh trên lớp
biểu bì của rễ hút và cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) Sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Rễ cam quýt chịu ảnh hưởng nhiều của mực nước ngầm ở tầng nông Độ sâu của rễ cọc phụ thuộc cây trồng hột hoặc cây tháp (Phạm Văn Duệ, 2005)
Nhìn chung, rễ cam quýt phân bố ở tầng sâu 10 - 30 cm Rễ hút tập trung ở tầng sâu 10 - 25 cm (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) Rễ hoạt động mạnh thời kì 1 - 8 năm tuổi sau khi trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém (Trần Thế Tục và
ctv., 1998 ; được trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Theo
Nguyễn Hữu Đống và ctv (2003) rễ cam quýt triển tốt ở nhiệt độ 10 - 370C, nếu nhiệt độ cao hay thấp hơn sự phát triển của rễ sẽ ngừng lại và độ ẩm đất dưới 1%
Tỷ lệ oxi trong đất dưới 1,2 - 1,5% rễ sẽ ngừng phát triển
1.2.2 Đặc tính thân cành
Cây cam quýt thuộc loại thân gỗ, dạng bụi hay bán bụi (Trần Thượng Tuấn và
ctv., 1994) Theo Nguyễn Danh Vàn (2008) cam quýt thường cao khoảng 3 - 5 m
Cam quýt thường ra rất nhiều cành, cành am quýt thường ra theo lối hợp trục (Vũ Công Hậu, 1999) Thân cam quýt có tiết diện hình tròn, những cây mọc từ hột có sức sinh trưởng khỏe nên trên thân nổi những đường sống (Nguyễn Hữu Đống và
ctv., 2003) Cành cam quýt có thể có gai hoặc không có gai Tuy vậy cành ở cấp
càng cao càng ít gai và gai ngắn (Đường Hồng Dật, 2003) Cách phân cành cũng rất
đa dạng: phân cành hướng ngọn, phân cành ngang, phân cành hỗn hợp,… Quýt Đường có thể ra đọt non rãi rác quanh năm tùy tình trạng dinh dưỡng của cây và độ
ẩm của đất (Trần Thượng Tuấn, 1999) Chồi ngọn và chồi bên của thân sau một thời gian bị chết đi hoặc không sinh trưởng nữa, các chồi bên phát triển thay cho chồi
Trang 17ngọn, trục chính nghiêng sang một bên Chồi phát triển thẳng đứng như là tiếp tục
sự phát triển của thân chính Cành bên này phát triển giống thân chính và lặp lại (Hà Thị Lệ Ánh, 2005) Hằng năm trên các cây cam quýt sinh thêm những mầm mới trên cành, tạo lộc, từ các lộc này trong điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng đầy đủ sẽ tạo ra cành mới, từ các cành này sẽ tạo ra hoa và quả (Nguyễn Hữu
Đống và ctv., 2003) Cây trưởng thành có thể có 4 - 6 cành chính (Đường Hồng Dật,
2003)
Theo Trần Thị Bích Vân (2008); Nguyễn Bá Phú và ctv (2009), giữa quýt
Đường có hột và quýt Đường không hột không có sự khác biệt về đặc tính hình thái thân cành Nguyễn Minh Sang (2010) cũng cho rằng không có sự khác biệt về đặc tính thân cành giữa hai dòng quýt Đường không hột ở thế hệ tháp thứ nhất trên gốc tháp cam Mật Qua kết quả ghi nhận được của Trần Thị Bích Vân (2008) khi khảo sát đặc tính cây của hai dòng quýt Đường không hột và cây quýt Đường có hột đều
có dạng tán cây hình elip, cây có dáng thẳng đứng, mật độ cành thưa, hướng ngọn
và phân cành nhiều Cây có trúc thân láng, gốc độ cành vừa phải và đọt non có màu xanh nhạt Đường Hồng Dật (2003) cho rằng tán quýt Đường thưa, hương ngọn, phân cành nhiều
1.2.3 Đặc tính lá
Lá cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá Lá quýt nhỏ, hẹp, hình xoan, dài 4 - 8 cm, rộng 1,5 - 4 cm màu xanh đậm ở mặt trên, màu
xanh và vàng ngạt ở mặt dưới, cuống có cánh nhỏ (Trần Thượng Tuấn và ctv.,
1994) Hình dạng lá cam quýt rất khác nhau, có thể nhọn đuôi lá hoặc chẽ lõm (Phạm Văn Duệ, 2005) Theo Đường Hồng Dật (2003) lá cam quýt thường có hình ovan, hình trứng lộn ngược Nguyễn Văn Luật (2006) cho rằng lá cam quýt có khía răng cưa, mặt dưới có màu xanh lợt, cuống lá có cánh nhỏ
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) trên cùng một loài kích thước lá cũng thay đổi theo mùa Một cây cam quýt khỏe mạnh có thể có 150.000 - 200.000 lá với tổng diện tích lá khoảng 200 m2
Lá quýt đường không hột thuộc kiểu lá đơn, phiến lá có màu xanh, không có tai lá và lá có nhiều hình dạng khác nhau nhưng hình mác là phổ biến, lá có màu
Trang 18xanh đậm mặt trên và màu xanh sáng mặt dưới, rìa lá có dạng răng cưa, đỉnh đầu lá
có khía (Trần Thị Bích Vân, 2008; Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009) Theo Nguyễn Thị
Ngọc Ẩn (2001) lá quýt tà hai đầu , bìa lá có răng cưa, không lông, gân phụ 5 - 8 cặp, cuống tròn dài 6 - 7 mm, có 1 - 3 hoa mọc ở nách lá Ở cam quýt mép lá có răng cưa trừ Fortunelle, các giống quýt thường có đuôi lá chẻ lõm xuống ở phía mút (Hoàng Ngọc Thuận, 1995)
Qua kết quả ghi nhận khảo sát của Nguyễn Trí Thanh (2011) tuy tỷ lệ hình thái phiến lá có khác nhau nhưng dạng phiến lá phổ biến là dạng mác, kế đến là dạng elip và cuối cùng là dạng hình trứng Theo Trần Thượng Tuấn (1999), được trích bởi Đặng Hải Đăng (2010) cuống lá quýt Đường ngắn trung bình 3,3 cm, cánh
lá hẹp, hình tam giác dài 8,8 mm và rộng 1,7 mm Lá quýt Đường có phiến bầu dục, bìa nguyên, có nhiều túi tinh dầu dễ thấy (Phạm Hoàng Hộ, 2003)
Nguyễn Bá Phú và ctv (2009) chi rằng chiều dài cuống lá biến động từ
1,23 - 1,30 cm và không có sự khác biệt về hình thái lá giữa 2 cây quýt Đường không hột và quýt Đường có hột
1.2.4 Đặc tính hoa
Hoa cam quýt thuộc loại hoa đơn hay chùm, mọc từ nách lá, là hoa lưỡng tính
(Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994; Trần Văn Hâu, 2009) Một phát hoa có từ 2 - 3
hoa, cánh hoa dài 1,5 cm hoặc nhỏ hơn, có 20 - 25 nhị hoa (Dianxiang và Mabberlry, 2008), đài hoa màu xanh với 3 - 5 thùy, có từ 4 - 8 cánh hoa (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa, xếp thành
2 vòng (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Thứ tự cấu tạo hoa cam quýt từ ngoài vào trong: đầu tiên là lá đài, sau đó là cánh hoa, bao phấn và cuối cùng là lá noãn (múi) (Jackson và Gmiter, 1997) Hoa cam quýt thường có dạng hình thuẩn tròn, đỉnh hơi to hơn phần dưới, đường kính rộng từ 2,5 - 4 cm, rất thơm (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Hoa quýt Đường không hột màu trắng, mọc ở nách lá của đọt non, đều là hoa lưỡng tính, bao phấn có màu vàng và thấp hơn so với nướm (Trần Thị Bích Vân, 2008)
Trang 19Theo Trần Thượng Tuấn (1999) hoa quýt Đường thường mọc ở nách lá của đọt non mới ra Búp hoa có màu trắng dài trung bình 7,1 mm với cuống hoa dài 5,6
mm Hoa nở cũng có màu trắng, cánh hoa dài trung bình 14,1 mm và rộng 5,1 mm Trung bình có 24 nhị đực, có bao phấn dài 1,5 mm Phạm Hoàng Hộ (2003) cho rằng quýt Đường có khoảng 20 nhị, dính thành bó
Kết quả khảo sát đặc điểm sinh học của hai cây quýt Đường đột biến tự nhiên
ở đồng bằng sông Cửu Long và cây quýt Đường có hột cả ba nghiệm thức đều có dạng phát hoa gồm nhiều hoa hoặc chỉ một hoa (biến thiên từ 1 - 10 hoa), màu trắng, mọc ở nác lá hay tận ngọn, đều là hoa lưỡng tính, bao phấn màu vàng thấp hơn nướm, có từ 18,9 - 19,4 nhị/hoa, số cánh hoa biến thiên từ 4 - 6 cánh Tuy nhiên
dạng 5 cánh là phổ biến (Nguyễn Bá Phú và ctv., 2009) Thời gian từ khi xuất hiện
nụ đến khi hoa nở ở quýt Đường không hột và quýt Đường có hột biến thiên rất ít từ 11,5 ngày đến 11,73 ngày, và thời gian từ khi nở hoa đến khi hoa tàn biến động từ 2,3 ngày đến 2,4 ngày (Nguyễn Văn Lực, 2009) Hạt phấn quýt Đường không hột
có sức sống tương đương với quýt Đường có hột (Hồ Phương Linh, 2008)
1.2.5 Đặc tính trái
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), trái quýt có dạng hình cầu hơi dẹp,
đường kính 5 - 8 cm, vỏ mỏng, dễ lột, Trái cam quýt gồm có ba phần: ngoại, trung
và nội quả bì (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Trái dẹt màu da cam, nhiều múi (9 - 13 múi), vỏ dễ bóc, múi dễ chia, chua hay ngọt tùy giống (Trần Thế Tục, 2006) Vỏ quả có túi dầu và lớp tế bào sừng bên ngoài để bảo vệ cho trái, kế đến là lớp vỏ trắng xốp bao quanh các vách múi (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) Thịt trái có nhiều múi, mỗi múi là một tâm bì trong đó có nhiều con tép được tế bào dự trữ chất dinh dưỡng ở đó (Phạm Văn Duệ, 2005) Trong mỗi trái có 8 - 14 múi và trong múi có thể có từ 0 - 20 hột hoặc nhiều hơn (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) Theo Đường Hồng Dật (2003) hột cam quýt phần là đa lớn phôi (0 - 13 phôi) và có khoảng 6 hay nhiều hơn phôi vô tính, riêng bưởi có hột là đơn phôi (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Theo Trần Văn Hâu (2009) sự phát triển của trái cam quýt theo đường cong đơn giản, gồm ba giai đoạn như các loài trái cây khác:
Trang 20(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 - 6 tuần sau khi ra hoa
(2) Sự phát triển kích thước trái:
- Chanh: 2 - 3 tháng
- Quýt: hơn 6 tháng
(3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng
Sự thay đổi vật lý ở quýt Đường như: trọng lượng trái, chiều cao trái, đường kính trái, trọng lượng vỏ và hàm lượng dịch trái tăng đến 32 - 36 tuần sau khi thụ phấn, sau đó thì ngừng tăng trưởng đến thời điểm thu hoạch Bề dày vỏ trái giảm đến giai đoạn 22 tuần sau khi thụ phấn, sau đó tăng nhẹ đến khi thu hoạch (Võ Văn Vang, 2010)
Khi khảo sát đặc tính trái quýt Đường không hột đột biến tự nhiên ở đồng
bằng sông Cửu Long Nguyễn Bá Phú và ctv (2009) cho rằng cả ba nghiệm thức
hình dạng trái đều giống nhau Trái tròn, to hơi dẹp, đỉnh trái hơi lõm và đáy trái có núm Trái quýt Đường có chiều cao trung bình 5,5 cm và đường kính trái trung bình 6,2 cm (Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Theo Trần Thị Bích Vân (2008) cho rằng thịt trái có màu cam đồng đều nhau ở cả hai cây quýt Đường không hột và cây quýt Đường có hột Điểm khác biệt ở cây quýt Đường có hột là có số hột chắc trung bình 8,37 hột, 2,31 hột lép và số hột mài là 1,23 hột và ở cả hai cây quýt Đường không hột hoàn toàn không có hột chắc và hột lép Cây quýt Đường 5 năm tuổi sẽ cho năng suất từ 600-1.000 trái và khối lượng trung bình mỗi trái từ
100 - 120 g (Lê Văn Thuyết và ctv., 2003) Trong khi đó, theo kết quả khảo sát của Nguyễn Bá Phú và ctv (2009) thì trọng lượng trung bình của mỗi trái từ
124 - 127 g, chiều cao trung bình 5,59 - 5,73 cm và rộng từ 6,49 - 6,61 cm, dịch trái
có độ Brix khoảng 10,5%, pH khoảng 3,6 và hàm lượng vitamin C khoảng 1,8 mg/100g,
Cam quýt thương mại thường có rất ít hột, trung bình ít hơn 2 hoặc 1,5 hột/trái được xem như không hột (Ortiz, 2002) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) hình dạng, kích thước, trọng lượng, số lượng hột trong trái và mỗi múi thay đổi tùy giống, số lượng hột cam quýt trong mỗi múi có từ 0-6 hột Các đặc tính hình
Trang 21thái như độ sần vỏ trái, đường kính cuống trái, chiều cao trái, đường kính trái, trọng lượng trái, bề dày vỏ trái đều có liên quan đến số hột trên trái cam Sành, với xu thế các đặc tính càng tăng mực độ, số hột trên trái càng tăng, nhưng có biểu hiện khác nhau tùy theo đặc tính (Nguyễn Bá Phú, 2006) IPGRI (1999) mô tả hột cam quýt
có 7 dạng chủ yếu: hình thoi, hình chùy, hình nêm, hình trứng, hình phỏng cầu, hình bán phỏng cầu và hình bán tam giác
Theo Zhu và ctv (2008) trung bình 2,3 hột/trái được coi là không hột Ở Mỹ,
cam có từ 0 - 6 hột được xem là cam không hột Một số giống cam không hột như
‘Hamlin’, ‘Valencia’( chất lượng tốt) và ‘Navels’ (Trần Văn Hâu, 2009)
1.3 SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CAM QUÝT
1.3.1 Sự sinh trưởng và phát triển
Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây và kết quả là dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích và sinh khối của chúng (Nguyễn Kim Thanh và Châu Ngọc Thuận, 2005) Phát triển là quá trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây để dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng (Nguyễn Kim Thanh và Châu Ngọc Thuận, 2005)
Sinh trưởng, phát triển là kết quả của hoạt động tổng hợp những chức năng sinh lý riêng biệt như: trao đổi nước, quang hợp, hô hấp, vận chuyển và phân bố chất hữu cơ trong cây, dinh dưỡng khoáng và đạm của cây Các chức năng sinh lý này xảy ra đồng thời và luôn có quan hệ khăng khít ràng buộc với nhau (Phạm Văn Côn, 2003) Quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật thì rất đa dạng và phức tạp, được biểu hiện ra bên ngoài do các tác động của các yếu tố môi trường: ánh sáng, nhiệt độ, nước, dinh dưỡng, Sự biến đổi các yếu tố bên trong về mặt sinh hóa, giải phẩu, tế bào, mô, cơ quan, để sau cùng ta nhận biết được (Lê Văn Hòa
và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)
Trang 221.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
1.3.2.1 Đất
Cam quýt có thể được trồng trên nhiều loại đất, tuy nhiên nếu trồng trên đất xấu chi phí về chăm sóc đặc biệt là phân bón sẽ cao, hiệu quả kinh tế thấp (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2001) ba yếu tố chính trong sự chọn đất đai để trồng cây thuộc họ cam quýt là: độ pH, bề sâu tầng đất hữu dụng, tình trạng thoát thủy Điều kiện tiên quyết khi chọn đất canh tác cây cam quýt đòi hỏi có tầng canh tác dầy, pH phù hợp, thoát thủy tốt vì cam quýt có bộ rễ gần mặt đất và yếu Tốt nhất là đất thịt pha, mầu mỡ, thoát thủy tốt (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Cam quýt là cây trồng lâu năm nên phải chú ý lớp đất bên dưới, lớp đất dưới càng sâu càng tốt, độ pH là 5 - 8,5, nhưng tốt nhất là 6 - 7 (Nguyễn Hữu
Đống và ctv., 2003) Cây mẫn cảm đối với đất mặn có hàm lượng muối cao
(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.3.2.2 Nước
Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2001) cho biết đối với tất cả các yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây, nước là yếu tố quan trọng hơn hết vì trung bình nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cây, có khi trọng lượng còn lên tới 90% Nước là dung môi tốt nhất, làm môi trường vận chuyển các chất hòa tan bên trong tế bào, nó ảnh hưởng đến cấu trúc phân tử và các đặc tính protein, các đường phân tử, acid nhân, màng và các thành phần khác của tế bào, (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Cây cam quýt ưa ẩm, sợ úng và chịu hạn (Phạm Văn Duệ, 2005) Cam quýt rất mẫn cảm với điều kiện ngập nước, cam Mật chết toàn bộ sau 18 ngày ngập nước (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Tuy nhiên, người ta nhận thấy quýt cần nhiều nước hơn cam, trung bình phải tưới cho cây quýt một năm 1.500 - 2.000 mm nước, trong khi đó cam chỉ cần
1.000 - 1.500 mm nước (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003) Ngoài ra cần phải dựa
vào nhu cầu sinh lý của cây và cung cấp nước cho thích hợp (Nguyễn Kim Thanh
và Nguyễn Thuận Châu, 2005) Có 3 giai đoạn cây cần cung cấp đủ nước: Giai đoạn phát lộc xuân đến giai đoạn nhỏ; giai đoạn trái đang lớn đến trước khi thu hoạch 1
tháng và sau các đợt bón phân (Lê Văn Thuyết và ctv., 2003)
Trang 231.3.2.3 Dinh dưỡng khoáng
Cam quýt cần cung cấp chất dinh dưỡng nhiều nhất vào thời kì nở hoa và ra đọt non (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Tình trạng dinh dưỡng của cây có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự ra hoa của cây (Trần Văn Hâu, 2009) Việc cung cấp đầy đủ N, P, K và khoáng chất sẽ giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn Trong đó đạm là thành phần cấu tạo nên protein, diệp lục tố, pyrimidine, và chiếm khoảng 40 - 50% chất khô của nguyên sinh chất (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004) Đạm (N) giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây cũng như quá trình hình thành hoa và trái Lân (P) có tác dụng giữ sản lượng và phẩm chất hằng năm Lân giúp điều hòa dinh dưỡng đạm của cây Kali (K) có ảnh hưởng lớn đến phẩm chất trái (trái to, ngọt hơn), làm chắc mô, giúp
cây chịu được rét (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003) Hàm lượng đạm cao trong cây
còn tơ có thể kích thích quá trình sinh trưởng quá mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản Ngược lại mức độ đạm thấp thúc đẩy sự ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất thấp Theo Hoàng Ngọc Thuận (1995) Calcium có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sinh trưởng của rễ cây Cho nên triệu chứng rễ bị
hư cũng một phần do thiếu Ca Calcium có tác dụng như một chất giải độc trong hoạt động trao đổi chất của cây
1.3.2.4 Nhiệt độ
Cam quýt có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, nên có thể trồng ở vùng có nhiệt độ từ 12 - 390C nhưng thích hợp nhất từ 23 - 290C Nhiệt độ tốt nhất cho các đợt sinh trưởng của lọc trong mùa xuân là từ 12 - 200C, trong mùa hè từ 25 - 300C, còn cho hoạt động của bộ rễ từ 17 - 300C (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), nhiệt độ còn ảnh hưởng quan trọng đến phẩm chất và sự phát triển trái Thường ở nhiệt độ cao, trái chín sớm, ít xơ và ngọt, nhưng khả năng cất giữ kém và màu sắc trái chín không đẹp (ở nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn) Biên độ ngày đêm làm ảnh hưởng đến khả năng tích lũy vật chất, đường bột, acid nhân, và ảnh hưởng đến màu sắc vỏ và tốc độ chín của nó Nhìn chung nhiệt độ không khí cũng như nhiệt độ đất có ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sinh trưởng phát triển của cây (Hoàng Ngọc Thuận, 1995)
Trang 241.3.2.5 Gió
Gió là một trong những yếu tố của khí hậu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cam quýt Gió nhẹ làm hơi nước, cacbon dioxit trộn đều có lợi cho bộ lá ít phát sinh bệnh Trong thời kì ra trái, nếu bị gió nhiều, gió mạnh làm trái
dễ bị xây xát, dễ rụng (Nguyễn Ngọc Tuyết, 2003)
Phần lớn các loại cam quýt có thể chịu được bão nhỏ trong một thời gian ngắn, mức độ chống chịu theo thứ tự sau: chanh Yên, chanh Ta, chanh Tây, bưởi, cam Ngọt, cam Chua, quýt, quất (Fortunella) và cam Ba Lá (Poncitrus trifoliata) Gió nhẹ với tốc độ khoảng 5 - 10 km/giờ, có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn cây trong mùa hè, cây được thoáng mát, giảm sâu bệnh (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.3.2.6 Ánh sáng
Nhìn chung, các loại cam quýt không thích ánh sáng mạnh, ưa ánh sáng tán xạ
có cường độ 10.000 - 15.000 Lux tương ứng với 0,6 calo/cm2 – điều vào lúc 8 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều vào những ngày quanh mây mùa hè (Phạm Văn Côn, 2003) Trong điều kiện bình thường, nếu thiếu ánh sáng sự quang hợp sẽ kém, lượng cacbonhydrate tích lũy ít, sản lượng giảm, chất lượng kém Trong điều kiện thiếu ánh sáng, cây bị rộp bóng, cây cam quýt thường ra lá to hơn, cành bị mềm, lâu hóa
gỗ, các cành khó phát sinh, mầm hoa khó phân hóa Trái chỉ ra xung quanh tán cây
và các cành cây bên ngoài, các cành ở giữa tán vòm cây nhỏ, phát dục không đầy
đủ, sinh trưởng chậm, ít ra hoa kết trái, khô và chết dần (Nguyễn Hữu Đống và ctv.,
2003)
Nhưng nếu ánh sáng quá nhiều, nhiệt độ cao trái cũng phát dục kém, vỏ dễ bị nám, múi ít nước, khô, xốp Người ta nhận thấy cam quýt trồng ở chỗ râm, có bóng cây thường sống lâu hơn trồng ở chỗ nắng Nhu cầu ánh sáng để quang hợp cũng thay đổi tùy theo giống, cam quýt ánh nắng đầy đủ mới cho trái nhiều (Nguyễn Hữu
Đống và ctv., 2003)
Trang 251.4 TỔNG QUAN VỀ SỰ KHÔNG HỘT
1.4.1 Khái niệm không hột
Ở cam quýt sau khi thụ tinh, bầu noãn phát triển thành trái và phần tiểu noãn
phát triển thành hột Theo Varoquax và cvt (2000) được trích dẫn bởi Nguyễn Bá
Phú (2006), trái cam quýt được xem là không hột khi số hột nhỏ hơn 5 hột Ở cam
từ 0 - 6 hột được xem là cam không hột (Trần Văn Hâu, 2009)
1.4.2 Hiện tượng trinh quả sinh
Hiện tượng này thường gặp trên các loại trái cây như chuối, khóm và vài loại cam quýt Hiện tượng này không cần có sự thụ phấn hoặc thụ tinh xảy ra nhưng vẫn đậu trái mà không cần kích thích nào bên ngoài (Spiegel-Roy and Goldschmidt, 1996) Theo Phạm Hoàng Hộ (1972) hột là điều kiện có của trái, nhưng có vài trường hợp trái phát triển mà không hột Hiện tượng đó là trinh quả sinh, sự trinh quả sinh có thể xảy ra theo 2 cách: hoặc không có thụ tinh (trinh quả sinh thật), hoặc
có thụ tinh song hợp tử lại hoại đi rất sớm và noãn cũng vậy (Trinh quả sinh thật) Theo Trần Văn Hâu (2009) trinh quả sinh là khả năng sản xuất trái mà không cần thụ phấn, có thể chia ra làm 3 kiểu trinh quả sinh:
- Trinh quả sinh yếu: chỉ một ít trái được sản xuất mà không cần thụ phấn như cam Nevel
- Trinh quả sinh trung bình: đạt năng suất trung bình nếu không thụ phấn nhưng sẽ đạt năng suất cao nếu được thụ phấn như quýt Orlando
- Trinh quả sinh mạnh: đạt năng suất cao nhưng không cần thụ phấn như chanh Tahiti
Smith (2000) cho rằng sự hình thành trái trinh quả sinh có thể xảy ra ít nhất 4 cách sau đây:
- Sự thay đổi nồng độ hormone tăng trưởng trong mô bầu noãn có thể kích thích tạo trinh quả sinh
Trang 26- Gen liên quan đến quá trình trinh quả sinh có thể biến đổi trực tiếp trong vùng auxin response factor8, sự thay đổi này ảnh hưởng lên sự phát triển và giãn dài của trái trinh quả sinh mà không cần thụ tinh
- Sự tổn thưởng làm tăng trinh quả sinh có thể liên quan đến sự thụ phấn đặc biệt
- Sự đột biến gây ra sự tổn thương trong quá trình phát triển trên những mô đặc biệt có thể cho phép sự phát triển trái mà không cần thụ tinh
1.5 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY KHÔNG HỘT TRÊN CAM QUÝT
Theo Chao (2004) trên cam quýt, trái không hột hoặc ít hột do giống trồng có nhiễm sắc thể là tam bội Ngoài ra, trái không hột có thể là do sự đực bất dục hoặc noãn bất dục hoặc do sự bất dung hợp trong đó có sự tự bất tương hợp do tự thụ phấn (Jackson và Fuctch, 1997)
1.5.1 Hiện tượng tự bất dung hợp
Thuật ngữ tính không dung hợp được dùng để chỉ hiện tượng hạt phấn không nảy mầm trên nướm nhụy hay các ống phấn không có khả năng mọc xuyên suốt toàn bộ chiều dài của vòi nhụy hay ống phấn có thể đạt tới túi phôi nhưng việc thụ
tinh không thể xảy ra được (Trần Thượng Tuấn, 1992) Theo Lê Văn Bé và ctv
(2008) bưởi Năm Roi tạo trái không hột là do có thụ phấn nhưng không thụ tinh: hạt phấn nảy mầm được trên nướm, kéo dài ống phấn đến đoạn trên của vòi nhụy, nhưng không thấy sự hiện diện của ống phấn tại đoạn dưới của vòi nhụy và bầu noãn Hạt phấn và tiểu noãn bất tương hợp thì thiếu khả năng tạo trái có hột do sự ngăn cản quá trình thụ tinh, bởi vì sự phát triển chậm của ống phấn trong vòi nhụy (Jackson và Gmitter, 1997)
1.5.2 Hiện tượng bất dục giao tử
Sự bất dục là cần thiết để sản xuất cây trồng không hột và có thể phân thành 3 loại: bất dục cái, bất dục đực và tự bất tương hợp (Ollitrault, 2007) Nguyên nhân của hiện tượng đực bất dục là do giao tử không có sức sống, hiện tượng này có ở cây tự thụ phấn cũng như cây giao phấn do các đột biến làm ngưng trệ sự phát triển của các giao tử đực vào các giai đoạn khác nhau (Trần Thượng Tuấn, 1992) Sự bất
Trang 27dục phần lớn phụ thuộc vào hạt phấn và thay đổi theo loài và cây trồng (Alavaro và
ctv., 2004)
Bất dục đực có thể do sự phát triển không hoàn chỉnh của hạt phấn, nhưng thường do sự thiếu sót trong quá trình phát triển của hạt phấn, loại bất dục này tìm thấy trong nhiều giống cây trồng thuộc chi cam quýt Ví dụ: cam Washington, quýt Satamu (Jackson và Gmitter, 1997) Mức độ đực bất dục có thể thay đổi được ở cam quýt và thường những cá thể đực bất dục sẽ không hột hoặc có một ít hột khi được trồng riêng lẻ (Ollitrault và Dambier, 2008)
Jackson và Gimitter (1997) cho rằng bất dục cái có thể là kết quả từ hoa cái bị thối hoặc phát triển túi phôi không đầy đủ Tế bào cái thường bị thối trong giai đoạn giảm phân hoặc nhiều túi phôi bị ức chế phát triển chậm làm trứng không chín và không có sức sống cho sự thụ tinh Hư phôi xảy ra khi sự thụ tinh bình thường Những giống tiểu noãn bất dục hoặc chỉ sản sinh ra một lượng nhỏ tiểu noãn sẽ ít hột hoặc không hột, không có vấn đề gì khi những giống cam quýt khác trồng xung quanh những giống này Ví dụ: cam Navel, Midnight, Delta Valencia
1.5.3 Hiện tượng đột biến tam bội trên cam quýt
Theo Zhu và ctv (2008) tam bội là tiêu chuẩn quan trọng để chọn lọc cây
trồng không hột Cam quýt có số lượng nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 2x = 18
(Jackson và Gmitter, 1997) Chen và ctv (2007) cho rằng việc không giảm bớt hay
phân chia trong các giai đoạn khác nhau của phân bào giảm nhiễm là cơ chế chủ yếu tạo giao tử 2n Cơ chế của sự phát sinh giao tử trứng 2n cao là một tiềm năng to lớn để sản xuất cây trồng tam bội không hột
Nghiên cứu di truyền học tế bào trong cam quýt bị hạn chế bởi kích thước nhiễm sắc thể rất nhỏ và mức độ bội thể, ngoại trừ liên quan đến nhân giống tam bội
không hột (Khan và Kender, 2007) Theo Raza và ctv (2003) giống tam bội trên
cam quýt có thể tạo ra bằng nhiều phương pháp chẳng hạn: thụ phấn chéo giữa cây lưỡng bội và cây tứ bội, kỹ thuật cứu phôi, sự xuất hiện ngẫu nhiên quần thể tam bội, sự chiếu xạ, nuôi cấy phôi nhũ và công nghệ sinh học hiện đại
Trang 28Những hột giống tam bội thường nhỏ và phát triển kém hơn hột giống lưỡng bội sau khi nẩy mầm, nhưng sẽ bắt kịp tốc độ phát triển sau một năm (Toolapong và
ctv., 1996) Nguyên nhân của sự phát triển kém của hột có thể do cản trở khả năng
hình thành tiểu noãn do đa bội, sự khác biệt trong số lượng hạt phấn và do đó hạn chế sự thụ phấn do ít hoặc không có phôi nhũ cho sự sinh trưởng và phát triển của lá
mầm (Usman và ctv., 2006)
1.6 CẤU TẠO BẦU NOÃN, TIỂU NOÃN, SỰ SẢN SINH TÚI PHÔI
1.6.1 Cấu tạo bầu noãn và tiểu noãn
Nguyễn Khoa Luân và Ngô Đắc Chứng (2005) cho rằng bầu noãn chứa noãn ở bên trong và có hình dạng khác nhau Vách bầu noãn có hai lớp tế bào biểu bì ngoài
và trong, có lỗ khí và lục lạp, giữa là tế bào mô mềm, rãi rác có các bó mạch Như vậy cấu tạo của bầu noãn gần với cấu tạo của lá Theo Hà Thị Lệ Ánh (2005) bầu noãn cắt ngang có cấu tạo như sau:
- Bên ngoài là thành của bầu noãn gồm hai lớp biểu bì: biểu bì ngoài và biểu
bì trong, giữa hai lớp biểu bì là nhu mô của bầu noãn chứa từ một đến ba bó libe gỗ
- Trong cùng là xoang rỗng hay buồng của bầu noãn là nơi chứa tiểu noãn Bầu noãn có thể có một buồng hay nhiều buồng: một buồng có thể do một tâm bì hay do nhiều tâm bì hở dính nhau tạo thành, nhiều buồng do các tâm bì kín dính nhau tạo thành và lúc này số buồng tương ứng với số tâm bì
Bầu noãn cam quýt có 8 - 15 ngăn dính liền nhau tại một trục ở giữa trái, mỗi
tâm bì có 0 - 6 tiểu noãn (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Nhụy hoa được cấu tạo
bởi khoảng 10 lá noãn Noãn là một khối tế bào hình trứng có cuống noãn là nơi đính noãn vòa giá Thân noãn là khối phôi tâm được bao bọc bởi vỏ noãn chừa hở
lỗ nhỏ gọi là lỗ noãn Chỗ noãn đính vào cuống gọi là rốn (Nguyễn Khoa Luân và Ngô Đắc Chứng, 2005)
1.6.2 Sự phát triển túi phôi
Nguyễn Khoa Luân và Ngô Đắc Chứng (2005) cho rằng chỗ các lớp vỏ noãn tiếp hợp với phôi tâm gọi là hợp điểm, trong phôi tâm chỉ có một tế bào có khả năng phân chia đó là tế bào mẹ bào tử lớn (2n) qua hai lần giảm phân để tạo thành bốn
Trang 29bào tử lớn (n) Chỉ có một bào tử lớn phân chia nguyên nhiễm ba lần, để hình thành túi phôi gồm tám tế bào (noãn bào, nhân thứ cấp, hai trợ cầu) Jackson và Gmitter (1997) cho rằng trong tiểu noãn, tế bào nguyên bào tử hình thành xung quanh phôi tâm trước khi vỏ phát triển hoàn chỉnh Những tế bào bên ngoài có kích thước lớn
và nhân to Nguyên bào tử phân chia từ 1 tế bào cánh hoa và túi phôi của tế bào mẹ
Tế bào cánh hoa phân chia nhanh và đại bào tử sớm bị bao quanh bởi một tế bào gần trung tâm của phôi tâm Đại bào tử phải trải qua sự phân chia giảm nhiễm cho
ra 4 tế bào đơn bội với chỉ một nhiễm sắc thể trên 1 tế bào Những tế bào đại bào tử sắp xếp thành một hàng theo chiều dọc trong phôi tâm Ba trong bốn đại bào tử thoái hóa và còn lại một đại bào tử phát triển và sau đó hình thành túi phôi (hình 1.1)
Hình 1.1 Sự phát sinh đại bào tử (Jackson and Gmiter 1997)
vỏ trong phôi tâm
Hình 1.1a Sự phát triển tiểu noãn giai đoạn
hình thành nguyên bào tử
Hình 1.1b Sự phát triển tiểu noãn giai
đoạn hình thành đại bào tử
vỏ ngoài
vỏ trong phôi tâm bốn đại bào
tử
vỏ ngoài
vỏ trong phôi tâm
ba đại bào tử thoái hóa đại bào tử chức năng Hình 1.1c Sự phát triển tiểu noãn giai
đoạn hình thành 4 đại bào tử
Hình 1.1d Sự phát triển tiểu noãn giai đoạn
hình thành đại bào tử chức năng
Tế bào tầng nuôi
vỏ ngoài
vỏ trong phôi tâm bốn đại bào tử
vỏ ngoài
vỏ trong phôi tâm
ba đại bào tử thoái hóa
đại bào tử chức năng Hình 1.1c Sự phát triển tiểu noãn giai
đoạn hình thành 4 đại bào tử
Hình 1.1d Sự phát triển tiểu noãn giai đoạn
hình thành đại bào tử chức năng
Trang 30Hình 1.2 Sự phát triển túi phôi (Jackson and Gmiter 1997)
sự phát triển túi phôi phôi tâm
vỏ trong
vỏ ngoài
vỏ ngoài
vỏ trong phôi tâm đại bào tử
Hình 1.2c Giai đoạn 4 tế bào của sự
phát triển túi phôi
Hình 1.2d Sự phát triển túi phôi
giai đoạn 8 nhân
Hình 1.2c Sự phát triển túi phôi
giai đoạn 4 nhân
Hình 1.2a Sự phát triển túi phôi
giai đoạn đầu
Hình 1.2b Sự phát triển túi phôi
giai đoạn 2 nhân
tế bào trứng
2 trợ cầu
2 nhân cực
3 đối cực Hình 1.2e: Hình vẽ chi tiết cấu tạo 8
nhân trong túi phôi
tế bào trứng
Hình 1.2e: Hình vẽ chi tiết cấu tạo 8
nhân trong túi phôi
tế bào trứng
2 trợ cầu
hợp nhất 2 nhân cực
3 đối cực
Hình 1.2e: Cấu tạo 8 nhân trong túi phôi
giai đoạn trưởng thành
Trang 31Đại bào tử chức năng phân chia tạo ra 2 nhân con, di chuyển về hai cực của túi phôi và ở lại đó cho đến khi phân chia tiếp theo Trong lúc đó, tế bào chất giảm bớt
để tạo thành một lớp mỏng ở ngoại vi của túi phôi, trừ xung quanh nhân Hai nhân con tiếp tục phân chia tạo ra bốn nhân hình thành hai cặp ở hai cực của túi phôi Nhân phân chia tiếp tục tạo ra 8 nhân Bốn nhân ở cuối lỗ noãn của túi phôi phát triển thành trứng Bốn nhân ở cuối dây noãn hình thành ba đối cực và nhân cực thấp hơn để hoàn thành quá trình phát triển túi phôi (Hình 1.2)
1.6.3 Sự xuất hiện tiểu noãn ở hoa quýt Đường có hột và quýt Đường không
hột
Theo kết quả khảo sát của Trần Thị Bích Vân (2008) cho biết trong giai đoạn hai ngày và một ngày trước khi hoa nở, giai đoạn hoa nở, một ngày và hai ngày sau khi hoa nở đã có sự xuất hiện của tiểu noãn ở cây quýt Đường có hột Đối với cây quýt Đường không hột không thấy có xuất hiện của tiểu noãn trong các giai đoạn trên Và cả giai đoạn ba ngày sau nở cũng không thấy tiểu noãn trưởng thành ở hai dòng quýt Đường không hột 1 và 2 (Nguyễn Minh Sang, 2010) Mặc dù hoa của hai cây quýt Đường không hột vẫn có khả năng thụ phấn nhưng sự thụ tinh không xảy
ra do không có sự có mặt của tiểu noãn trong giai đoạn hoa nở, đây cũng là nguyên nhân không hình thành hột ở hai cây quýt Đường không hột (Trần Thị Bích Vân, 2008) Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2012) khẳng định tiểu noãn của quýt Đường không hột phát triển muộn hơn quýt Đường có hột Thời điểm hoa nở và 3 ngày sau nở tiểu noãn của hai cây quýt Đường chưa trưởng thành Chính đặc điểm phát triển muộn của tiểu noãn là nguyên nhân đã tạo trái không hột trên quýt Đường không hột được phát hiện ở đồng bằng song Cửu Long
1.7 THÁP TRÊN CAM QUÝT
1.7.1 Cơ sở khoa học của tháp
Theo Nguyễn Thanh Triều (2009), một thân cây cắt ngang có ba phần chính: lớp vỏ ngoài cùng có nhiệm vụ dẫn nhựa luyện từ lá xuống rễ, phần gỗ phía trong dẫn nhựa nguyên từ rễ lên cành lá Phần giữa gỗ và vỏ là tượng tầng mô phân sinh, rất mỏng, chứa đầy chất dịch có khả năng phân chia nhanh tạo nên gỗ bên trong và bên ngoài
Trang 32Theo Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận (2000) tháp là sự kết hợp một bộ phận của cây này với một bộ phận của cây khác, tạo thành một tổ hợp tháp, cùng
sinh trưởng và phát triển như một cây thống nhất Phan Ngưỡng Tinh và ctv (2007)
cho rằng gốc tháp và thân tháp đều có khả năng sinh tồn khác nhau, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một tổ hợp cộng sinh hữu cơ, dựa vào nhau cùng tồn tại, tạo thành một thể thống nhất Có 3 trường hợp xảy ra khi kết hợp gốc tháp và chồi tháp:
sự tăng trưởng quá mức của gốc tháp, sự tăng trưởng quá mức của chồi tháp, gốc và chồi phát triển đồng đều (Ortiz, 2002)
Các cây mọc từ phôi vô tính được sử dụng làm gốc tháp và phục tráng giống
có kết quả rất tốt (Hoàng Ngọc Thuận, 2000) Tỷ lệ giữa các giống gốc tháp sản xuất trong từng năm thường thay đổi thao nhu cầu thị trường, ở miền Nam Việt Nam thường dùng gốc cam Mật (Trần Thế Tục, 2006)
Mục đích của tháp là tận dụng ưu thế của gốc tháp để làm cho giống được nhân có được những tính chất đặc biệt, tăng khả năng chống chịu (Hoàng Ngọc
Thuận, 2000) Theo Phan Ngưỡng Tinh và ctv (2007) tác động của gốc tháp có thể
làm thay đổi màu sắc, kích cỡ của trái, tăng giá trị thương phẩm Việc nhân giống các cây ăn trái bằng phương pháp tháp đã trở thành một phương tiện tối ưu dẫn đến việc tận dụng được các ưu điểm về di truyền trong một thời hạn tương đối ngắn (Aubert và Vullin, 2001; được dịch bởi Nguyễn Công Thiện và Phan Thanh Hiền)
1.7.2 Nguyên lý tháp
Tháp cây ứng dụng nguyên lý là vết thương được gắn lại khi dòng nhựa giữa
hai phần cành tháp và gốc tháp có thể tương hợp với nhau (Mai Văn Quyền và ctv.,
2005) Wright (2000) cho rằng giữa lớp vỏ (chu bì) và lớp gỗ của cây có một lớp tế bào gọi là tượng tầng libe gỗ Từ tầng sẽ phát sinh ra gỗ hoặc hóa gỗ ở bên trong và libe ở bên ngoài
Khi tháp ở hai mặt của vết cắt hình thành một lớp màng mỏng, sau đó tầng sinh gỗ sinh trưởng rất nhanh, lấp đầy khoảng trống giữa hai mặt vết cắt (của phần tháp và gốc tháp) Từ đó màng mỏng bị hủy hoại, các tổ chức mô tế bào của phần tháp và gốc tháp đần hòa hợp, gắn bó với nhau, hệ thống vận chuyển dinh dưỡng liên kết với nhau do tầng sinh gỗ tạo ra vỏ phía bên ngoài và gỗ phía bên trong và
Trang 33nối các mạch ống dẫn của lỗi gỗ với ống lọc thấm của lớp vỏ lại với nhau và hệ thống mạch dẫn thật sự được liên kết thông suốt Lúc này chồi tháp được cung cấp dinh dưỡng, nước và bắt đầu sinh trưởng (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 2000)
1.7.3 Tổng quan gốc tháp
Gốc tháp là cây mọc từ hột lên nên khỏe, bộ rễ phát triển tốt, có khả năng ăn
sâu (Nguyễn Hữu Đống và ctv., 2003) Hột đa phôi là một tiêu chuẩn quan trọng
nhất để đảm bảo cho cây gốc tháp có nguồn gốc phôi tâm, sinh trưởng đồng đều và tính kháng bệnh tốt (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Gốc tháp có ảnh hưởng lớn đến những đặc điểm quan trọng của chồi tháp, chẳng hạn: kích thước cây, năng suất và chất lượng trái (Spiegel-Roy và Goldschmidt, 1996) Do đó, gốc tháp có thể làm suy thoái những đặc tính tốt của cây mẹ ở thế hệ con cháu như làm giảm năng suất hoặc chất lượng trái Sự lựa chọn gốc tháp sẽ ảnh hưởng đến sinh lực của cây, năng suất và đặc tính cho trái sớm, cùng với đặc tính chịu lạnh của cây (Aubert và Vullin, 2001; được trích bởi Nguyễn Công Thiện và Phan Anh Hiền)
1.7.4 Sự tương quan giữa gốc tháp và thân tháp
Theo IPGRI (1999) sự tương hợp được đánh giá được đánh giá bằng tỷ lệ đường kính thân tháp/gốc tháp đo tại vị trí trên và dưới vết tháp 20 cm Theo Phạm Văn Côn (2007) thông thường sức tiếp hợp giữa cành tháp và gốc tháp được đánh giá bằng tỷ số tiếp hợp:
T =
Đường kính gốc tháp Đường kính cành tháp T=1: Cây tháp sinh trưởng và phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của cành tháp tương đương thế sinh trưởng của gốc tháp, vị trí tháp cân đối, màu sắc và
độ nứt của vỏ cành tháp và gốc tháp tương đương nhau, đôi khi không nhận rõ vị trí giáp ranh giữa cành tháp và gốc tháp
T<1: Cây tháp có hiện tượng chân lương Thế sinh trưởng của cành tháp mạnh hơn gốc tháp Phần cành tháp bị nứt vỏ nhiều và phình to phần gốc tháp Cây tháp sinh trưởng và phát triển kém dần
Trang 34T>1: Cây tháp có hiện tượng chân voi Thế sinh trưởng của cành tháp yếu hơn gốc tháp, biểu hiện cây tháp hơi cằn cõi, chậm lớn
Hình 1.3 Sơ đồ về sự biểu hiện các mức độ ái lực khác nhau giữa gốc tháp và mắt tháp,
biểu hiện tại điểm tháp (Aubert và Vullin, 2001; được dịch bởi Nguyễn Công Thiện và Phan Anh Hiền)
1, 2, 6, 7: Mức độ tiếp hợp xấu; 3, 5: Mức độ tiếp hợp trung bình;4: Mức độ tiếp hợp tốt
Trang 35CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Địa điểm thí nghiệm
Địa điểm: Trại thực nghiệm khu 2 và bộ môn Khoa học Cây trồng, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
Thời gian từ: 06/2011 đến tháng 10/2012
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
Cây giống được tháp trên gốc cam mật và mắt tháp được lấy từ cây quýt đường không hột mã số 1 (dòng quýt đường không hột số 1), cây quýt đường mã số
80 (dòng quýt đường không hột số 2) và cây quýt đường có hột mã số 63 (giống
quýt đường có hột) làm đối chứng (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007)
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm có 3 nghiệm thức với 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 cây
Nghiệm thức 1: Dòng quýt Đường không hột số 1
Nghiệm thức 2: Dòng quýt Đường không hột số 2
Nghiệm thức 3: Dòng quýt Đường có hột đối chứng
2.2.2 Kỹ thuật canh tác
Kỹ thuật canh tác chính theo quy trình trồng chăm sóc và thu hoạc cây cam quýt ở các tỉnh phía Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2001), được nêu cụ thể trong tài liệu tiêu chuẩn ngành “ Quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cây có múi ở các tỉnh phía Nam” (10TCVN 481-2001)
Trang 36Áp dụng thêm một số kỹ thuật canh tác mới:
- Được che sáng bằng lưới che sáng 50% ở độ cao 3 m, từ đầu tháng 2 đến hết tháng 7 (các tháng có cường độ ánh sáng cao trong năm)
- Cắt cành tạo tán, mỗi lần ra đọt chỉ chừa lại 3 - 4 cành và chiều dài cành được cắt ngắn còn khoảng 20 - 25 cm
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
2.2.3.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng
Các chỉ tiêu sinh trưởng được lấy 3 tháng/1 lần vào những ngày cuối tháng:
- Đường kính gốc tháp (mm): đường kính gốc tháp được đo ở vị trí phía dưới mắt tháp 10 cm
- Đường kính thân tháp (mm): đường kính thân tháp được đo ở vị trí phía trên mắt tháp 10 cm
Trang 37 Các chỉ tiêu chất lượng trái:
- Trọng lượng ăn được/trái (g) = trọng lượng trái tươi – (trọng lượng vỏ + trọng lượng hột chắc + trọng lượng hột lép)
- Tỷ lệ (%) trọng lượng vỏ/trái = (trọng lượng vỏ/trọng lượng trái tươi) x 100
- Tỷ lệ (%) ăn được/trái = (trọng lượng ăn được/trọng lượng trái tươi) x 100
- Độ Brix: được đo bằng cách ép lấy dịch trái và đo ngay bằng khúc xạ kế hiệu
ATAGO do Nhật sản xuất
- pH dịch trái: ép lấy dịch trái và đo ngay bằng pH kế hiệu ORION (USA)
- Vitamin C: định lượng vitamin C (acid ascorbic) bằng 2,6 dichlorophenol
indophenol (Nguyễn Minh Chơn và ctv., 2005) cụ thể như sau:
Bước 1: Cân 5ml dịch trái
Bước 2:
Chuẩn bị mẫu thật: cho 10 ml HCl 1% và 35 ml acid oxalic 1% vào 5
ml dịch trái Lọc lấy dịch trong
Chuẩn bị mẫu blank: thực hiện tương tự mẫu thật nhưng thay thế 5 ml dịch trái bằng 5 ml nước cất
Bước 3:
Mẫu thật: dùng pipet lấy 10 ml dịch lọc cho vào beaker 50 ml Cho 2,6 dichlorophenol indophenol 0,001 N vào trong buret để chuẩn độ dịch lọc cho đến lúc xuất hiện màu hồng nhạt bền sau 1 phút Ghi nhận thể tích 2,6 dichlorophenol indophenol sodium salt dehydrate 0,001 N đã được sử dụng ở buret
Mẫu blank: tiến hành tương tự mẫu thật đối với 10 ml dịch blank Ghi nhận thể tích 2,6 dichlorophenol indophenol sodium salt dehydrate 0,001 N đã được sử dụng ở buret
Trang 38Số mg vitamin C được tính theo công thức:
(a - b) x V1 x 0,088 x 100
X (mg/100g) =
V2 x m
Trong đó: a: số ml trung bình khi chuẩn mẫu vật
b: số ml trung bình khi chuẩn mẫu đối chứng
V1: thể tích dung dịch chiết ban đầu (50 ml)
V2: thể tích dung dịch chiết để lấy chuẩn độ (10 ml) m: trọng lượng 5 ml dịch trái (g)
0,088: số mg acid ascorbic tương đương với 1 ml dung dịch chuẩn 2,6 dichlorophenol indophenol sodium salt dehydrate 0,001 N
2.2.3.3 Sự hiện diện của tiểu noãn trưởng thành
Chọn 5 hoa ở các giai đoạn: hoa nở và 3 ngày sau khi hoa nở Bầu noãn được cắt thành những lát mỏng (khoảng 0,2 mm) và rửa bằng nước cất 2 - 3 lần Để tất cả các lát cắt của một bầu noãn lên lam, nhỏ thêm một giọt nước cất và đậy lamell lại Quan sát bằng kính hiển vi tất cả các lát cắt của một bầu noãn trên lam, chọn lát cắt
có tiểu noãn nhiều nhất, có kích thước tiểu noãn to nhất (lát cắt có đường kính to nhất) Ghi nhận tiểu noãn trưởng thành theo Nguyễn Bá Phú và Nguyễn Bảo Vệ (2012), tiểu noãn trưởng thành có hình quả lê và có kích thước khoảng 404 ± 21µm
Trang 39Hình 2.1 Hột chắc (1), hột lép (2) và mài (3) trong trong trái quýt Đường 2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU, THỐNG KÊ
Sử dụng chương trình Microsoft Excel để thống kê số liệu, phân tích phương sai bằng phần mềm SPSS So sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức bằng phương pháp kiểm định LSD ở mức ý nghĩa 5%
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 SỰ SINH TRƯỞNG QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT
Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây và kết quả là dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích và sinh khối của chúng (Nguyễn Kim Thanh và Châu Ngọc Thuận, 2005)
Sự sinh trưởng của quýt Đường được đánh giá qua sự phát triển về đường kính gốc tháp, thân tháp, chiều cao và rộng tán của cây
3.1.1 Đường kính gốc tháp
Sự sinh trưởng về đường kính gốc tháp cam Mật của quýt Đường không hột số
1, 2 và quýt Đường có hột ở giai đoạn cây 3 năm tuổi được đánh giá bằng sự phát triển đường kính gốc tháp qua thời gian (Hình 3.1)
Quýt Đường không hột số 1 Quýt Đường không hột số 2 Quýt Đường có hột (đ/c)
Hình 3.1 Đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột theo thời gian
Nhìn chung, đường kính gốc tháp của hai dòng quýt Đường không hột và quýt Đường có hột đều tăng qua các thời điểm khảo sát Trong đó, đường kính gốc tháp của quýt Đường không hột số 1 và quýt Đường không hột số 2 có xu hướng sinh trưởng trội hơn quýt Đương có hột Tuy nhiên, tại những thời điểm khảo sát đường kính gốc tháp giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê Kết quả