Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: SO SÁNH HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BÓN PHÂN DƯỚI TÁC DỤNG CỦA MÀNG PHỦ NÔNG NGHIỆP TRÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA HẤU Citrul
Trang 2Cần Thơ 4 - 2004 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài:
SO SÁNH HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BÓN PHÂN DƯỚI TÁC DỤNG CỦA MÀNG PHỦ NÔNG NGHIỆP TRÊN TĂNG
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA HẤU (Citrullus lanatus)
TẠI XÃ AN BÌNH - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
VỤ XUÂN HÈ 2003
Do sinh viên Nguyễn Thành Phước và Võ Thị Kim Phương thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2004 Cán bộ hướng dẫn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học với đề tài: SO SÁNH HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT BÓN PHÂN DƯỚI TÁC DỤNG CỦA MÀNG PHỦ NÔNG NGHIỆP TRÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DƯA HẤU (Citrullus lanatus) TẠI XÃ AN BÌNH - THÀNH PHỐ CẦN THƠ VỤ XUÂN HÈ 2003 Do sinh viên Nguyễn Thành Phước và Võ Thị Kim Phương thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA
Trưởng Khoa Nông Nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2004 Chủ tịch Hội đồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5Họ và tên cha : Nguyễn Văn Khái
Họ và tên mẹ : Mai Thị Tuyết Lan
Quê quán : xã Vĩnh Thạnh - huyện Lấp Vò - tỉnh Đồng Tháp
Quá trình học tập:
1987 - 1992 : vào Trường Tiểu Học Vĩnh Thạnh 2
1992 - 1996 : vào Trường Trung Học Cơ Sở Vĩnh Thạnh 3
1996 - 1999 : vào Trường Trung Học Chuyên Ban Lấp Vò 2
1999 – 2004 : vào Trường Đại Học Cần Thơ, học chuyên ngành Nông học, khóa
25, Khoa Nông Nghiệp
Họ và tên : Võ Thị Kim Phương
Sinh ngày : 21- 08 - 1979
Nơi sinh : xã Tân Thành - huyện Bình Minh - tỉnh Vĩnh Long
E-mail : vtkphuongnh25@yahoo.com
Họ và tên cha : Võ Văn Ngàn
Họ và tên mẹ : Nguyễn Thị Liễu
Quê quán : xã Tân Thành - huyện Bình Minh - tỉnh Vĩnh Long
Quá trình học tập:
1985 - 1990 : vào Trường Tiểu Học Tân Quới
1990 – 1997 : vào Trường Phổ Thông Trung Học cấp II-III Tân Quới
1997 - 1999 : ôn thi đại học
1999 – 2004 : vào Trường Đại Học Cần Thơ, học chuyên ngành Nông Học, khóa
25, Khoa Nông Nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6và hoàn thành bài luận văn này
Chân thành biết ơn!
Thầy Nguyễn Thành Hối, cố vấn học tập, đã quan tâm, dìu dắt, chia sẽ vui buồn, động viên và giúp đỡ chúng em suốt khóa học
Gia đình chú Khổng Minh Trung, xã An Bình - TP Cần Thơ đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt cho chúng tôi hoàn thành thí nghiệm ngoài đồng
Quí Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp - Trường Đại Học Cần Thơ đã dìu dắt và truyền đạt kiến thức bổ ích cho chúng em
Chân thành cảm tạ!
Bạn Nguyễn Ngọc Hùng, Lê Thị Vân Tú đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi ghi nhận các chỉ tiêu suốt thời gian thí nghiệm Các bạn lớp Nông Học 25 đã động viên, chia sẽ nỗi buồn vui, giúp đỡ chúng tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài Các bạn nhà trọ đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bài viết này
Thân ái gởi về!
Các bạn sinh viên Lớp Nông Học 25 và ngành Nông Học lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai
Nguyễn Thành Phước và Võ Thị Kim Phương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7NGUYỄN THÀNH PHƯỚC VÀ VÕ THỊ KIM PHƯƠNG 2004 “So sánh hiệu quả các biện pháp kỹ thuật bón phân dưới tác động của màng phủ nông nghiệp trên
tăng trưởng và năng suất dưa hấu (Citrullus lanatus) Tại xã An Bình - Thành Phố
Cần Thơ - vụ Xuân Hè 2003” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học Cán bộ hướng dẫn ThS Trần Thị Ba và KS Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Phân bón là nguồn dinh dưỡng giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển Bón phân đúng liều lượng, đúng cách và đúng lúc không những góp phần làm tăng năng suất mà còn góp phần tăng phẩm chất nông sản Tuy nhiên, hiện nay kỹ thuật bón phân trên dưa hấu dưới điều kiện phủ liếp bằng màng phủ nông nghiệp rất đa dạng
và tỉ lệ phân sử dụng chưa cân đối Do đó, đề tài thí nghiệm: “So sánh hiệu quả các biện pháp kỹ thuật bón phân dưới tác dụng của màng phủ trên tăng trưởng và năng
suất dưa hấu (Citrullus lanatus), tại xã An Bình - Thành Phố Cần Thơ - vụ Xuân Hè
2003” nhằm tìm ra số lần rãi phân thúc và tỉ lệ phân bón lót mang lại hiệu quả cao
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 3-5 năm 2003 tại xã An Bình - Thành Phố Cần Thơ Diện tích thí nghiệm 750m2, được bố trí theo thể thức lô phụ Lô phụ gồm 3 nghiệm thức bón lót (mức 1/2, 1/3 và bón 1/4 tổng lượng NPK16-16-8 của cả vụ), lô chính gồm 2 nghiệm thức: Rãi phân thúc 1 lần (rãi cả 2 bên hàng dưa) và rãi phân thúc 2 lần (lần 1 phía trong nơi dây dưa bò và lần 2 phía ngược lại)
Kết quả thí nghiệm cho thấy cách rãi phân thúc không khác biệt về các chỉ tiêu tăng trưởng, thành phần năng suất và năng suất qua phân tích thống kê Tuy nhiên, rãi phân thúc 1 lần cho lợi nhuận 37,82 triệu đồng/ha, cao hơn rãi thúc 2 lần
là 1,76 triệu đồng/ha Tỉ lệ bón phân lót 1/2 tổng lượng NPK cho kết quả cao nhất
về chiều dài thân ở giai đoạn 30 ngày sau khi trồng (NSKT) và lúc thu hoạch, chu vi trái, trọng lượng trái, năng suất trái, và lợi nhuận (39,3 triệu đồng/ha), trong khi lợi nhuận thấp nhất 34,9 triệu đồng/ha ở mức phân bón lót 1/4
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
1.1 Nguồn gốc và đặc điểm chung cây dưa hấu 2
1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố dưa hấu 2
1.1.3 Tình hình trồng dưa hấu ở Việt Nam và trên Thế giới 2
1.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh cho dưa hấu 4 1.2 Vai trò của phân bón đối với cây trồng và dưa hấu 6
1.2.2 Một số nguyên tố trung - vi lượng 10 1.3 Một số nghiên cứu về phân bón cho dưa hấu ở Việt Nam và
trên Thế giới 11
1.3.1 Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam và trên Thế giới 11
1.3.2 Một số nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho dưa hấu ở
Việt Nam 12 1.3.3 Một số nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho dưa hấu trên
1.3.4 Kỹ thuật bón phân cho cây trồng và dưa hấu
dưới điều kiện phủ liếp bằng màng phủ nông nghiệp 17
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 93.3 Thành phần năng suất và năng suất 36
3.3.1 Trọng lượng trung bình trái dưa hấu 36
3.3.3 Năng suất trái dưa hấu thương phẩm 38
3.3.5 Tỉ lệ năng suất trái/năng suất toàn cây 40 3.3.6 Tỉ lệ năng suất trái thương phẩm/tổng năng suất trái 41
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình Tựa hình Trang
2 Tình hình khí tượng thủy văn tại TP.Cần Thơ (3-5/2003) 28
3 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
trên đường kính gốc dưa hấu tại thời điểm thu hoạch 29
4 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
trên tăng trưởng chiều dài thân dưa hấu 20, 30 NSKT và
5 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
6 Ảnh hưởng của mức độ bón lót và số lần rãi phân thúc trên
7 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
trên trọng lượng trung bình trái dưa hấu 37
8 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
9 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
10 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
trên tỉ lệ năng suất trái/năng suất toàn cây 41
11 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
trên tỉ lệ năng suất trái thương phẩm/năng suất trái 42
12 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
trên độ Brix dưa hấu 1 ngày sau khi thu hoạch 43
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa bảng Trang
1 Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam và trên Thế giới 3
2 Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam và trên Thế giới 12
4 Ảnh hưởng của tỉ lệ bón phân lót và số lần rãi phân thúc
6 Ảnh hưởng của số lần tỉ lệ phân bón lót và số lần rãi phân thúc
trên năng suất trái thương phẩm 39
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12MỞ ĐẦU
Phân bón góp phần làm tăng năng suất cây trồng khoảng 30 - 35%, đôi khi đạt tới 50% (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000) Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Qúi Mùi (1995) thì bón phân không cân đối làm giảm hiệu lực phân bón 20 - 25% và bón phân không đúng cách làm giảm hiệu lực 5 - 10%
Hiện nay, vùng đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có thể trồng dưa hấu quanh năm khi kết hợp với phủ liếp bằng plastic (Trần Thị Ba và ctv, 1999; Trần Văn Hòa và ctv, 2002) Trồng dưa hấu sử dụng màng phủ có kỹ thuật bón phân rất
đa dạng, bón rãi theo hàng cả 2 bên màng phủ (Phạm Chí Tùng, 2001 và Trần Thị
Ba và ctv, 1999), hòa phân tưới vào giữa 2 gốc dưa (Nguyễn Văn Hoàng, 2002) Bên cạnh đó, bón phân không cân đối, nhất là tỉ lệ bón phân lót và số lần bón phân thúc chưa hợp lí (Nguyễn Hữu Toàn, 2003 và Tô Thị Thanh Bình, 2003), điều này ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và phẩm chất trái dưa hấu
Từ những cơ sở trên, Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng đã triển khai đề tài: “So sánh hiệu quả các biện pháp kỹ thuật bón phân dưới tác dụng của màng phủ nông
nghiệp trên tăng trưởng và năng suất dưa hấu (Citrullus lanatus) tại xã An Bình -
Thành Phố Cần Thơ - Xuân Hè 2003” nhằm tìm ra tỉ lệ phân bón lót và số lần rãi phân thúc thích hợp, giúp cho việc phát triển cây dưa hấu ổn định và mang lại thu nhập cao, góp phần cải thiện cuộc sống cho người trồng dưa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG
CỦA CÂY DƯA HẤU
1.1.1 Nguồn gốc
và sự phân bố dưa hấu
Dưa hấu có tên khoa học Citrullus lanatus Thumberg, thuộc họ bầu bí
Cucurbitaceace, tên tiếng anh Watermelon Dưa hấu có nguồn gốc từ Châu Phi Ngày nay, dưa hấu được trồng khắp vùng nhiệt đới và á nhiệt đới (Splittocsser, R.W., 1990)
Ở nước ta, dưa hấu được trồng từ thời vua Hùng Vương thứ 18 (Trần Thị Ba
và ctv, 1999) Các vùng trồng dưa hấu truyền thống như Hải Hưng, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngải, Tiền Giang, Long An,… thường cung cấp lượng hàng lớn nhất định để tiêu dùng nội địa (Mai Thị Phương Anh, 1996)
1.1.2 Giá trị dinh
dưỡng của dưa hấu
Theo USDA (2004) thì trong 100 g trái ăn được có 91,51 g nước, 32 Kcal, 5,62 g protein, 0,43 g lipit, 7,18 g glucid, 8 g Ca, 116 mg K, 9 mg P, chứa 14 loại vitamin, 18 loại acid amin và nhiều loại acid béo Ngoài ra, trái dưa hấu còn chứa β-caroten 4200 UI (Viện Dinh Dưỡng Việt Nam, 2003), chất Colocynthine (C50H84O23) có tính tẩy mạnh và trị bệnh tiêu chảy (Đỗ Tất Lợi, 2003) Bên cạnh, dưa hấu còn trị huyết áp cao, nóng bàng quang, cảm sốt,… vỏ trái trị phù thủng, hạt
trái trị đau lưng,… (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 2002)
1.1.3 Tình hình trồng dưa
hấu ở Việt Nam và trên thế giới
Ở Việt Nam diện tích trồng dưa hấu từ 1995 đến năm 2003 tăng 3%, năng suất tăng 3,2% nên sản lượng tăng 3,3% (Bảng 1.1)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Trên Thế giới thì diện tích trồng dưa hấu từ 1995 đến 2003 tăng 4,2%, năng suất tăng 4,1%, vì thế, sản lượng dưa hấu thế giới tăng 9,9% Nhìn chung, tốc độ tăng về diện tích, năng suất và sản lượng dưa hấu của Thế giới cao hơn Việt Nam
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam và trên Thế giới FAOSTAT
thực vật của cây dưa hấu
Rễ gồm rễ chính và rễ phụ, rễ phụ ăn lan rộng trên mặt đất, phân bố ở
chiều sâu 20 - 30 cm, bán kính trung bình 50 - 60 cm (Mai Thị Phương Anh, 1996
và Trần Thị Ba, 2000) Rễ dưa hấu không có khả năng phục hồi khi bị đứt, do đó không nên đi lại trên mặt liếp (Phạm Hồng Cúc, 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Thân thảo hằng niên, dài 1,5 - 5 m, thân mềm, có góc cạnh và mang nhiều
lông trắng, thân có nhiều mắt, mỗi mắt có một lá, chồi nách và 1 vòi bám (Phạm
Hòang Hộ, 1999 và Phạm Hồng Cúc, 2002)
Lá xẻ thùy sâu, có 3 - 7 thùy, có màu xanh mốc, lá đơn, mọc xen, xẻ thùy
nhiều hay ít, sâu cạn tùy giống, lá đầu tiên không sẻ thùy sâu (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000) Lá dưa hấu có diện tích càng lớn quang hợp càng cao, lá có gốc độ nghiêng quang hợp tốt hơn các lá to nhưng nằm ngang (Mai Thị Phương Anh, 1996)
Hoa hình chuông, đơn tính, đồng chu (Wien, H.C., 1997) Hoa nhỏ có kích
thước khoảng 2,5 - 3 cm, nằm đơn độc ở nách lá (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Số lượng hoa đực và hoa cái không cân đối, thường hoa đực xuất hiện sớm (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000) Khác với dưa leo, dưa hấu không thụ phấn chéo (Purseglove, J.W., 1968 và Splittstocsser, W.E., 1979) Hoa thụ phấn nhờ côn trùng, ngoài ra người ta còn chấm nụ để cho trái đồng loạt (Trần Thị Ba, 2000)
Trái phì quả, to và chứa nhiều nước Trái có hình dạng thay đổi từ hình
cầu, hình trứng đến bầu dục tùy theo giống, nặng từ 1 - 2 kg hoặc có khi tới hàng chục kg (Agrwal, R.L., 1984 và Mai Văn Quyền, 1995) Vỏ trái cứng, láng có nhiều gân, màu sắc thay đổi từ đen, xanh đậm đến vàng, có sọc, khi trái chín gân nổi rõ trên mặt vỏ Thịt trái có màu từ đỏ đậm đến vàng, chứa nhiều hạt, hạt nằm lẫn trong thịt trái có trung bình từ 200 - 700 hạt/trái (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000 và Phạm Hồng Cúc, 2002)
Hạt có màu nâu nhạt đến đen, kích thước hạt thay đổi tùy giống, trọng
lượng trung bình 25 - 30 hạt/gam Hạt chứa 40% chất béo (Tạ Thụ Cúc và ctv, 2000) Vì vậy, hạt dễ mất sức nảy mầm (Trần Thị Ba và ctv, 1999)
1.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh cho dưa hấu
* Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp cho hạt dưa hấu nảy mầm 35 - 40oC và cho sự sinh trưởng 25 - 30oC (Phạm Hồng Cúc, 2002) Vì vậy, dưa hấu phát triển tốt trong vùng ĐBSCL Nhiệt độ thấp cây dưa hấu sinh trưởng kém, số lượng hoa cái hình thành ít, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16hạt phấn ở hoa đực phát triển không đầy đủ nên thụ phấn dưa khó khăn, trái chậm phát triển, vỏ dầy, màu thịt trái nhạt (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Ở nhiệt độ cao cây dưa hấu mau thành thục (Wien, H.C., 1997)
* Ánh sáng
Nắng nhiều và nhiệt độ cao là hai yếu tố làm tăng sự thành lập đường trong trái Do vậy, dưa hấu trồng trong vụ Xuân Hè cho phẩm chất ngon hơn dưa hấu Tết (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Độ dài ngày ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của cây, số giờ chiếu sáng trong ngày 8 - 10 giờ làm cho cây ra hoa sớm và số lượng hoa cái nhiều (Mai Thị Phương Anh, 1996) Mưa nhiều, trời âm u thiếu sáng cây sinh trưởng kém, ít đậu trái và dễ nhiễm bệnh (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000)
* Nước
Dưa hấu thuộc cây C3 (Wien, H.C., 1997), có hệ số thóat hơi nước cao 600 (để tạo 1 kg vật chất khô cần 600 kg nước) (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996) Do đó, cây dưa hấu cần cung cấp nhiều nước, nhất là thời kì phát triển trái và nên giữ đất ẩm thường xuyên Tuy nhiên, dưa hấu chịu úng kém, nhất là giai đoạn cây con, vì vậy trồng dưa hấu chú ý thóat nước tốt từ khi mới trồng Giai đoạn phát triển trái gặp điều kiện nước tưới nhiều hoặc mưa dễ gây nứt trái (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Dưa hấu cần ẩm độ không khí thấp, cao hơn 65% dễ bị bệnh trên lá và thân (Phạm Hồng Cúc, 2002)
* Đất và dinh dưỡng
Dưa hấu sinh trưởng tốt trên đất thịt nhẹ hoặc đất cát pha, pH thích hợp 6 - 7 (Phạm Hồng Cúc, 2002) Ẩm độ đất phù hợp cho dưa hấu sinh trưởng tốt khoảng 70
- 80% (Mai Văn Quyền và ctv, 1995)
Trần Thị Ba và ctv (1999) cho rằng để tạo 1 tấn sinh khối dưa hấu cần 1,26 - 2,59 - 1,31 kg NPK/ha Sự cân bằng ba yếu tố NPK là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và chất lượng trái dưa hấu (Trần Khắc Thi, 1996)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 171.2 VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG VÀ DƯA HẤU
Phân bón ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến khả năng quang hợp trên diện tích lá thông qua ảnh hưởng diện tích lá (Vũ Hữu Yêm và ctv, 1999) Theo Nguyễn Đình Sâm (1995) đã cho rằng phân bón có thể đóng góp đến 50% năng suất cây trồng Cây trồng có chứa tất cả 92 nguyên tố tự nhiên nhưng chỉ cần 16 nguyên
tố để tăng trưởng tốt Ngoài C, H, O còn có 13 nguyên tố cần thiết và có lợi cho cây
đó là N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, Cl, Và B (Halliday, D.J., et al, 1992
và Tôn Thất Trình, 1971) Các nguyên tố này có thể là thành phần cấu trúc hữu cơ, tác nhân kích hoạt trong các phản ứng enzyme và cũng có thể là chất mang điện tích
và điều hòa sự thẩm thấu (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2003)
1.2.1 Nguyên tố đa lượng
* Đạm (Nitrogen - N)
Đạm là nguyên tố quan trọng hàng đầu đối với sự sống của cây vì là thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng như diệp lục tố, phytohoocmon, amino acid, enzyme, acid nucleic,… đạm đồng hóa hydrocacbon trong cây, kích thích sự phát triển của bộ rễ và hấp thu các nguyên tố khác (Epstein, E., 1972 và Mengel, R.R., và Kirkby, E.A., 1982)
Cây trồng bón đủ đạm thúc đẩy sự đâm chồi, đẻ nhánh, ra lá nhiều và lá có kích thước to, giúp cây quang hợp mạnh cho năng suất cao (Đường Hồng Dật, 2002a) Đạm có khả năng làm tăng quang hợp đến 10% (Vũ Hữu Yêm và Nguyễn Công Hoan, 1999) Cây con cần nhiều đạm amon, lúc cây ra hoa kết trái cần nhiều đạm nitrate (Bùi Huy Đáp, 1957) Phan Nguyên Hồng (1971) cho rằng cây lá rộng nhiệt đới và thân thảo ưa đạm dạng nitrate Phân urea có tác dụng làm chậm sự phát
triển nấm Fusarium sp hơn dùng phân amoni sulphate (SA) (Philip Chung, 2003)
Cây trồng thiếu đạm thường biểu hiện trên lá già, lá ngã màu vàng, tán lá nhỏ, rễ kém phát triển, mau già cỏi, sinh trưởng và quang hợp kém (Nguyễn Ngọc Tân và Nguyễn Đình Huyên, 1981 và Rechigel, J.E., 1995) Thiếu đạm trầm trọng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18thì cây giảm số lượng hoa và hàm lượng protein (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000)
Đối với dưa hấu, phân đạm giúp cây con tăng trưởng nhanh, giúp trái mau lớn, do đó cần bón đủ đạm khi cây bắt đầu vươn ngọn và sau khi đậu trái Thừa đạm, thân lá phát triển xum xê, chống chịu sâu bệnh kém, khó đậu trái, trái chín chậm, trái nhiều nước, vị lạt và không giữ được lâu sau thu hoạch (Phạm Hồng Cúc, 2002) Thừa đạm làm tăng hàm lượng hoa đực trên cây (Wien, H.C., 1997), tích luỹ
NO3- trong lá, thân và trái (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 1995) Dưa hấu bón nhiều đạm làm tăng bệnh cháy lá, đốm nhựa lá, giảm phẩm chất dưa hấu tháp bầu (Dương Văn Hưởng, 1990) và gây nứt trái (TAMU, 2003) Trên rau thừa đạm dẫn đến chậm sinh thực, chất lượng nông sản kém và làm giảm lượng vitamin C (Mengel, K., và Kirkby, E.A., 1982) Họ bầu bí sử dụng đạm nitrat (NO3-) giúp cây sinh trưởng tốt và tăng khả năng chịu đựng độc tố Mn hơn dùng đạm amon (NH4,) (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Bón thừa NH4, làm giảm khả năng hấp thu Ca (Weir, R.G., và Cresswell, G.C., 1993) Muqiang (1995) đã cho biết dưa hấu đáp ứng với việc tăng đạm hơn tăng kali
Vì thế, bón đủ lân giúp cây phân chia tế bào, kích thích sự sinh trưởng của hệ thống
rễ bên và lông hút, giúp cây đâm chồi, đẻ nhánh, thúc đẩy cây ra hoa, kết trái sớm
và tăng chất lượng hạt giống (Nguyễn Thị Quí Mùi, 1992)
Lân cung cấp năng lượng cho các hoạt động của cây, cây con do đã sử dụng hết nguồn năng lượng trong hạt chuyển sang giai đoạn sống nhờ rễ Do vậy, cây cần lân rất sớm (Lê Văn Căn, 1977) Ngoài ra, lân còn giúp cây tăng tính chống chịu lạnh và rét (Nguyễn Thanh Hùng, 1984 và Nguyễn Huy Phiêu, 2000) Lân có khả Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19năng cố định bức xạ mặt trời thành năng lượng hóa học và phosphoril hóa quang tổng hợp và chuyển hóa glucid (Vũ Hữu Yêm và Nguyễn Văn Hoan, 1999) Lân tích lũy nhiều ở bộ phận sinh sản (hạt) (Nguyễn Ngọc Tân và Nguyễn Đình Huyên,
1981 và Biederman - Thorson, M.A., 1973) Bởi vậy, lân thường ít trả lại cho đất và cây trồng thường thiếu lân (Meyer, B.S., và Anderson, D.B., 1998) Theo Nguyễn Văn Dụ và ctv (1974) (trích dẫn bởi Đỗ Ánh, 2001) đã cho biết lân tổng số và năng suất cây trồng có tương quan thuận
Cây thiếu lân thường thấy trên lá già, sự dãn nỡ của tế bào lá chậm hơn so với sự hình thành diệp lục tố, do đó hàm lượng diệp lục tố trên đơn vị diện tích lá sẽ cao hơn, vì vậy, lá có màu xanh sậm hơn (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2003) Cây thiếu lân rễ chậm phát triển, thân lá mảnh, có vết tím, trái và hạt kém phát triển, chín chậm và có hàm lượng acid cao (Vũ Văn Vụ và ctv, 1998) Bên cạnh đó, cây trồng thiếu lân giảm tốc độ hấp thu oxi, giảm hoạt tính của enzyme tham gia vào hoạt động hô hấp, tăng quá trình phân giải hợp chất hữu cơ chứa phosphate và polysacarit, các quá trình tổng hợp protein và nucleotit bị hạn chế (Vũ Hữu Yêm và Nguyễn Công Hoan, 1999) Thừa lân dễ gây thiếu Zn (Đỗ Ánh và ctv, 1996)
Rau và dưa hấu cần nhiều lân (Hanson, R.G., 1992 và Reilly, A., 1993) Trên dưa hấu, cùng với kali, lân có tác dụng tốt đến phẩm chất trái và tăng lượng đường trong trái (Trần Khắc Thi, 1996) Phạm Hồng Cúc (2002) đã cho rằng bón đủ lân giúp cho thịt trái dưa hấu chắc
* Kali (Potassium - K)
Kali tuy không tham gia vào cấu tạo tế bào nhưng tham gia các phản ứng trao đổi chất thông qua tác động hoạt hóa nhiều enzyme xúc tiến các phản ứng quan trọng trong cây (Vũ Hữu Yêm và Nguyễn Công Hoan, 1999)
Kali đóng vai trò chuyển hóa năng lượng trong quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của cây (Tisdale, S., và Nelson, W., 1975) Cây vững chắc ít đổ ngã, tăng tính chống chịu, hạn, úng và chịu rét khi bón đủ kali (Bùi Việt Trang, 2002) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Trời âm u, ít nắng giảm bón đạm tăng lượng kali để cây cứng cáp hơn (Lê Xuân Đính, 2003) Bên cạnh đó, kali giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh pH, đóng mở khí khẩu và điều hòa lượng nước qua khí khẩu (Wilkinson, R.E., 1994, Fageria, N.K., et al, 1997 và Lê Văn Tri, 2000) Do đó, bón đủ kali giúp cây trồng tiết kiệm nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
Ngoài ra, kali còn giúp chuyển hóa dạng đường đa thành đường đơn (Hòang Đức Phương, 2002) Do vậy, Kali có tác dụng đến chất lượng và tăng lượng đường trong trái (Trần Khắc Thi, 1996) Bón đủ kali giúp làm giảm lượng nitrate trong cây (Meyer, B.S., và Anderson, D.B., 1938) Trên lúa bón kali bổ sung sẽ cho năng suất cao hơn so với nghiệm thức không bón kali (Nguyễn Mỹ Hoa, 2003) Đối với mía thì kali không làm tăng năng suất mía nhưng làm tăng trữ đường và độ Brix (Lâm Quang Thảo, 2003) Giống đạm và lân, kali di động từ lá già sang lá non do đó triệu trứng thiếu kali thường xảy ra trên lá già (Đường Hồng Dật, 2002b), lá vàng nâu và
mô chết (Splittstoesser, W.E., 1990 và Fageria, N.K., 1992) Thiếu kali hàm lượng nước trong cây giảm, tế bào rễ cây già nhanh, áp suất thẩm thấu, tính thấm nước và
độ dính của chất nguyên sinh giảm, đường khử tăng nhiều, quá trình tổng hợp tinh bột bị trở ngại và trao đổi đạm bị rối loạn (Vũ Hữu Yêm và Nguyễn văn Hoan, 1999) Cây thiếu kali đốt ngắn, hoa ít, phát triển còi cọc, thân yếu dễ bị đỗ ngã, trái
và hạt bị teo thắt lại (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000 và Reilly, A., 1993 )
Cây rau hấp thu nhiều kali và đạm (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002), khi lá nhiều kali làm tăng hàm lượng vitamin C (Mengel, K., 1982) Đinh Văn Lữ (1971)
đã cho rằng dưa hấu cần nhiều đạm và kali hơn lân Bón bổ sung kali ngăn ngừa hiện tượng nứt trái dưa hấu (Halliday, D.J và ctv, 1992) và làm tăng khả năng chín sớm của cây (Trần Khắc Thi, 1996) Theo Phạm Hồng Cúc (2002) thì dưa hấu bón kali giúp trái ngọt, thịt chắc, có nhiều cát, vỏ cứng nên dễ vận chuyển và màu sắc trái đẹp Tuy nhiên, bón thừa kali gây hiện tượng xót rễ, rễ quăn, teo lại và cây bị chết, thừa nhiều năm dẫn đến thiếu Mg và Na (Đỗ Ánh và ctv, 1996) Dưa hấu bón thừa kali làm lá non héo và đỉnh lá bị hoại tử (Bennet, W.F., 1993)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21* Canxi (Calcium - Ca)
Canxi có vai trò quan trọng đối với đời sống cây trồng, Ca chiếm 1% vật chất khô trong cây (Basra, A.S., 1994), chiếm 30% tổng chất khoáng trong cây (Nguyễn Thị Quí Mùi, 1995), Ca là thành phần quan trọng của màng và vách tế bào Ca cần thiết cho sự phân chia tế bào bình thường, giúp cho tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể, hoạt hóa nhiều enzyme (Tisdale, S., and Nelson, W., 1975; Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2003) Ngoài ra, Ca còn đóng vai trò như một chất giải độc bằng cách trung hòa acid hữu cơ trong cây (Nguyễn Ngọc Tân và Nguyễn Đình Huyên, 1981)
Cây thiếu Ca, lá non bị ảnh hưởng trước, lá non biến dạng, có hình đài hoa
và quăn, các chồi tận cùng suy thóai, cổ rễ thường bị gãy, chồi và hoa thường rụng sớm, cấu trúc thân bị yếu (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000 ), thiếu Ca rễ non chậm phát triển dẫn đến hấp thu dinh dưỡng chậm (Bennet, W.F., 1993 và Knuti, L.L., et al, 1962) Theo công ty Nork Hyđro (1999) cây trồng thiếu Ca vỏ trái cây mềm hoặc bị nứt, ruột lỏng, và nhảo hoặc sượng Trên đất chua, dưa hấu dễ bị “thối đít trái”do thiếu Ca (Epstein, E., 1972 , 2002, Miller, G., 2002 và Phạm Hồng Cúc)
và thiếu Ca dưa hấu bị thối nâu bên trong trái (Trần Thị Ba và ctv, 1999) Khi bón thừa vôi làm giảm sự hấp thụ Bo (Weir, R.G., et al, 1993) và Mn (Lê Văn Hòa và ctv, 2001) Nghiên cứu từ Lê Trúc Linh (2001) và Trần Thị Phụng Kiều (2003) đã cho thấy việc bón phân Ca(NO3)2 cho năng suất và phẩm chất dưa hấu cao hơn so với nghiệm thức đối chứng
1.2.2 Một số nguyên tố trung - vi lượng
Mg là thành phần cấu tạo của diệp lục tố (Taiz, L., và Zeiger, E., 1991), là hoạt chất gắn liền với sự chuyển hóa hydrocacbon (Vũ Hữu Yêm, 1995) và đồng hóa lân (Hoàng Đức Phương, 2002) Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv (2000) thì cây thiếu Mg nhánh yếu và dễ bị nấm bệnh tấn công và thường rụng lá (Bùi Việt Trang, 2002) Dưa hấu rất dễ mẫm cảm với thiếu Mg, dưa hấu thiếu Mg giảm khả
năng đậu trái (Phạm Hồng Cúc, 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Nguyên tố vi lượng là thành phần của nhiều men và kích hoạt các hoạt động của hệ thống men trong cây; các quá trình quang hợp, hút khoáng, chuyển hóa và vận chuyển hợp chất hữu cơ trong cây đều có sự đóng góp của các nguyên tố vi lượng (Vũ Hữu Yêm và ctv, 1998)
Dưa hấu dễ mẫn cảm với thiếu Cu, Zn, Fe và B (Hòang Minh Châu, 1998) Ở cây ăn trái thiếu Cu sự ra hoa và tạo trái bị ức chế (Hoàng Thị Hà, 1996), thiếu trầm trọng Cu hạt nảy mầm chẳng bao lâu sẽ chết, hạt lép hoặc không kết hạt (Nguyễn Xuân Hiển và ctv, 1977 và Nguyễn Ngọc Tân và Nguyễn Đình Huyên, 1981)
Zn ảnh hưởng đến sự hình thành protein và auxin (Katyal, J.C., và Randhawa, N.S., 1993 và Nguyễn Văn Uyển, 1995) nên thiếu Zn dưa hấu lóng ngắn lại (Bennet, W.F., 1993) Theo Nguyễn Xuân Hiển và ctv (1977) thì thiếu Zn cây ít hình thành chồi trái
Dưa hấu thiếu sắt thường xuất hiện trên lá non, lá non bạc màu, đỉnh chồi vàng úa (Bùi Việt Trang, 2002 và Halliday, D.J., et al, 1992)
Theo Hoàng Minh Châu (2003) thiếu B dưa hấu lóng ngắn, lá nhỏ, trở nên vàng úa, hoại tử, đỉnh chồi non thường chết, ngọn dưa thẳng đứng lên trên, thân tiết nhựa màu sắc nâu, có vết nứt theo chiều ngang, lá nhỏ và chuyển thành đốm đậm nhạt không đều (Ching, 2001 Trích bởi Lê Trúc Linh, 2002)
1.3 NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN CHO DƯA HẤU Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Tình hình sử dụng
phân bón ở Việt Nam và trên Thế giới
Ở Việt Nam (Bảng 3.2), đạm sử dụng năm 2000 đã tăng 209% so với năm
1999 Còn lân năm 1990 - 2001 đã sử dụng 56 nghìn tấn tăng 409% Năm 1990 -
2001 đã sử dụng 43 nghìn tấn kali tăng 1333% Tỉ lệ sử dụng NPK (năm 1990) 14:3,9:1 và năm 2001 thì tỉ lệ NPK đạt 2,5:1,3:1
Trên thế giới, đạm năm 1990 - 2001 đã sử dụng tăng 6% Đối với lân năm
1990 - 1995 đã giảm 17% sau đó tỉ lệ này rút ngắn đến năm 2001 còn 9% so với Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23năm 1990 Giống với lân thì tình hình sử dụng kali cũng có chiều hướng giảm đến
2001 tỉ lệ giảm 8% so với năng 1990 Tỉ lệ sử dụng NPK biến động từ 1990 - 2001
là 3,4: 1,5:1 - 3,7:1,5:1 Nhìn chung, đạm có tỉ lệ sử dụng cao hơn lân và kali
Bảng 1.2 Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam và trên Thế giới FAOSTAT
(2003)
(Đơn vị tính: 100.000 tấn) Năm Đạm (N) Lân (P2O5) Kali (K2O) Tổng NPK
Việt Nam Thế giới Việt Nam Thế giới Việt Nam Thế giới Việt Nam Thế giới
Công thức phân sử dụng cho 1 hecta tại Quãng Ngãi 315 N - 362 P2O5 - 234
K2O kg/ha Toàn vụ chia 5 lần bón Bón lót: 31% N , 55% P , 41% K Lần 2 (20 -
22 NSKT): 41% N - 34% P - 37% K, bón vào rãnh sâu 30 cm, cách mép bạt 10 cm, sau đó lấp đất kiểu mái nhà Lần 3 (vừa chọn trái xong ): hòa nước tưới 7% N - 2%
P - 6% K Lần 4 (cách lần 3 từ 4 - 5 ngày): cách bón giống lần 2, bón 10% N, 9% P, 6% K Lần 5 (cách lần 4 từ 5 - 6 ngày): cách bón giống lần 2, bón 11% N , 10% K (Nguyễn Văn Hoàng, 2002 Trích từ Ngô Quang Vinh và ctv, 2002)
Đào Mạnh Khuyến (1986), đã đề nghị công thức phân cho 1 hecta 220N 150P2O5 - 190K2O (kg/ha), chia 4 lần bón Bón lót: 40 - 50 tấn phân chuồng, 1,5 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24-tấn vôi (vôi bón trước vài ngày), bón 36% N, 53% P và 58% K Bón thúc lần 1 (30 NSKT) 18% N và 20% P Bón thúc lần 2 (50 NSKT), 23% N và 27% P Bón thúc lần 3 (70 NSKT) 23% N và 42% K
Mai Thị Phương Anh và ctv (1996), đã đề nghị công thức phân 115 N - 68
P2O5 - 173 K2O kg/ha, chia làm 4 lần bón Bón lón 200 kg phân chuồng và 1/2 tổng lượng NPK, bón rãi Bón thúc lần 1 (30 - 40 NSKT) bón 1/3 tổng lượng NPK, bón rãi Bón thúc lần 2 (45 - 60 NSKT) bón 1/6 tổng lượng NPK, bón rãi Bón thúc lần
3 tưới hết lượng NPK còn lại
Công thức phân đã được ghi nhận cho 1 hecta 95 N - 67 K2O, chia 4 lần bón: Bón lót: 8 - 10 tấn phân chuồng Bón thúc lần 1 (15 - 20 NSKT) 33% N và 25% K Bón thúc lần 2 (35 - 40 NSKT) 33% N và 50% K Bón thúc lần 3 (50 - 55 NSKT) 34% N và 25% K (Ngô Trực Nhã, 1999)
Bón phân cho giống dưa An Tiêm 98 và An Tiêm 100, 51 N - 128 P2O5 - 92
K2O kg/ha Bón lót 50% tổng lượng NPK và 50% NPK còn lại bón thúc Đối với giống Hồng Lương và Xuân Lan, bón 10 - 20 tấn phân hữu cơ, 500 - 1000 kg vôi và
1 - 2 tấn NPK(16-16-8) Chia làm 3 lần bón Bón lót: 100% vôi và 20% tổng NPK Bón thúc lần 1 (20 NSKT): 40% tổng NPK Bón thúc lần 2 (35 - 40 NSKT): 20% tổng NPK (Trương Đích, 2000)
* Một số vùng phía Nam
Công thức phân đã được áp dụng tại Trà Vinh 150 N - 153 P2O5 - 84,5 K2O (kg/ha), 2 xe bò phân chuồng (1,5 tấn), chia làm 4 lần bón Bón lót toàn bộ phân chồng và 43% N, 54% P2O5 và 38% K, cách bón rãi trước sau đó mới lên liếp Bón lần 2 (19 NSKT) 27% N - 26% P - 27% K, cách bón cách gốc dưa hấu 120 cm, bón phía trong dây bò Bón lần 3 (28 NSKT) bón 21% N - 20% P - 19% K, bón rãi và bón phía ngoài dây bò Bón lần 4 (50 NSKT) bón 9% N , 16% K, hòa nước tưới vào giữa hai gốc dưa (Trung Tâm Khuyến Nông Trà Vinh, 2002 Trích từ Ngô Quang Vinh và ctv, 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25Bùi Văn Thông (2002) khuyến cáo sử dụng tại Kiên Giang: 50 N - 60 P2O5 - 331K2O (kg/ha) Bón lần 1 (5 - 7 NSKT) 13% N , 7% P, hòa chung với nước tưới Bón lần 2 (10 - 12 NSKT) 14% N - 27% P - 33% K, bón rãi, sau đó lấp đất lại Bón lần 3 (18 - 20 NSKT) 18% N - 18% P - 33% K, bón giống lần 2 Bón lần 4 (38 - 42 NSKT) 55%N, 38%P và 34%K (Trích bởi Ngô Quang Vinh và ctv, 2002)
Trung Tâm Khuyến Nông Vĩnh Long (2002) đã khuyến cáo công thức phân (151- 206) N - (128 - 160) P2O5 - và (92 - 135) K2O (kg/ha), 1 - 2 tấn phân chuồng, hoặc phân tôm, cá hoặc phân dơi: 0 - 30 tấn/ha, Chia 4 lần bón: Bón lần 1,32% N- 36% P và 26% K và toàn bộ lượng phân chuồng Bón lần 2 (20 NSKT), (19 - 21)%
N - (25 - 31) % P và (15 - 17)% K Bón lần 3 (35 - 40 NSKT), (27 - 31)% N, 25%
P, 23 - 29)% K Bón lần 4: (16 - 22%) N - (16 - 22)% P2O5 và (28 - 36)% K (Hồng Lĩnh, 2002)
Trần Thị Ba và ctv (1999) và Trần Văn Hòa và ctv (2002) đã khuyến cáo công thức phân cho 1 hecta: (120 - 160) N - (120 - 160) P2O5 -(60 - 80) K2O (kg/ha), 10 - 20 tấn phân chuồng (hoai) hoặc 200 - 300 kg phân tôm cá hoặc phân dơi và 500 - 1000 kg vôi, chia ra nhiều thời kì bón Bón lót: 100% phân chuồng, 1/10 tổng lượng NPK (lưu ý vôi bón trước vài ngày), tưới dặm lần 1 (5 – 7 NSKT): Urea hoặc DAP pha loãng 0,1 - 0,2%, tưới 2 - 3 lần Bón thúc lần 1 (12 – 15 NSKT): 2/10 tổng lượng NPK và (1/3 tổng lượng phân cá tôm) Cách bón rãi Tưới dặm lần 2 (giữa bón thúc lần 1 và 2) Urea hoặc DAP 0,3 - 0,5%, pha loãng tưới 2 -
3 lần Bón thúc lần 2 (25 - 27 NSKT): 3/10 tổng lượng NPK và (1/3 tổng lượng phân tôm cá) Tưới nuôi trái: tổng lượng NPK còn lại, chia 4 - 5 lần tưới, mỗi lần cách nhau 4 - 5 ngày
Thí nghiệm đã được thực hiện tại TP.Cần Thơ của Phạm Chí Tùng (2001) gồm các biện pháp kỹ thuật bón phân: tưới 1 lỗ giữa các gốc dưa, rãi 2 lỗ ở giữa bên mặt liếp, rãi đều 1 mặt liếp và rãi 1 lỗ ở giữa 2 gốc dưa Kết quả thí nhiệm cho thấy biện pháp tưới phân cho hiệu quả cao nhất, với năng suất trái 25,62 tấn/ha và đường kính gốc (7 mm) Biện pháp rãi phân 2 bên liếp cho hiệu quả kém nhất với năng suất 27,57 tấn/ha và đường kính gốc thân (6,3 mm)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 261.3.3 Một số nghiên cứu về
kỹ thuật bón phân cho dưa hấu trên Thế giới
Công thức phân đã được khuyến cáo tại Camberence (Senegal) 10 tấn phân chuồng và 60 N - 60 P2O5 - 120 K2O (kg/ha), chia làm 3 lần bón Bón lót: 100% phân chuồng và 1/3 tổng NPK Bón thúc lần 1(dưa bắt đầu bò): 1/3 tổng NPK Bón thúc lần 2 (Bón nuôi trái): 1/3 tổng NPK (Trenkel, M.S., et al, 1992 và Halliday, D.J., et al, 1992)
Công thức phân đã được áp dụng tại Minas Gerais (Brazil) 5 tấn phân hữu
cơ, 220 N - 120 P2O5 - 120 K2O (kg/ha), chia làm 3 lần bón Bón lót: 100% phân hữu cơ, 54,5% N, 100% P2O5 và 100% K2O Bón thúc lần 1: 2,73% N Bón thúc lần 2: 22,73% N (Trenkel, M.S., et al, 1992 và Halliday, D.J., et al, 1992)
Công thức phân đã được ghi nhận tại Hawai 224 N - 600 P2O5 - 220 K2O kg/ha, chia làm 2 lần bón Bón lót: 1/2 tổng NPK Bón thúc (4 tuần sau khi trồng): 1/2 tổng NPK ( Bennet, W.F., 1993 và Halliday, D.J., et al, 1992)
Nhiều công thức phân đã được áp dụng tại Mỹ Bang Florida: 134 N -179
P2O5 - 134 K2O kg/ha (Bennet, W.F., 1993) và 134 N - 35 P2O5 - 169 K2O kg/ha, trong đó bón lót: 75% N, 100% P2O5 và 80% K2O, phần còn lại dùng bón thúc (Jan
G De Gues, 1967 Được trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Hiển và ctv, 1984) Bang Texa đã sử dụng 67 N - 90 P2O5 - 0 K2O (kg/ha) Bang New YorK: (90 - 115) N - (56 - 168) P2O5 - (56 - 168) K2O (kg/ha)
Công thức phân đã được đề nghị trong mùa nắng tại Philippnes 102 N - 120
P2O5 - 120 K2O (kg/ha), chia 3 lần bón: Bón lót: 1/3 tổng NPK, Bón thúc lần 1(dây
bò 1 m) 1/3 tổng NPK, Bón thúc lần 2 (trái to bằng quả trứng gà) 1/3 lượng NPK còn lại (Halliday, D.J., et al, 1992)
Theo Bergyurd (2002) đã đề nghị công thức phân cho 1 hecta: (100 - 150) N
- (50 - 100) P2O5 - (50 - 100) K2O Bón lót: 50 - 75% tổng lượng NPK, phần còn lại bón thúc Cách bón vùi sâu xuống đất
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27Theo Buchnan (1999), đã đề nghị công thức phân cho 1 hecta 120N - 120
P2O5 - 120 K2O (kg/ha) Chia làm 2 lần bón Bón lót: 1/2N, 100% P2O5 và 100%
K2O, Bón thúc 1lần (4 - 6 tuần sau khi trồng): 1/2N còn lại
Nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy dưa hấu đạt năng suất 16,47 tấn/ha, cần cung cấp cho dưa hấu 120 N - 120 P2O5 - 120 K2O (kg /ha) Chia làm 3 lần bón Bón lót 1/3 tổng lượng phân, bón thúc lần 1 (giai đoạn cây ra hoa) 1/3 tổng lượng phân và 1/3 phần còn lại bón thúc lần 2 giai đoạn cây kết trái (Gao Muqiang, 1995)
Công thức phân đã ghi nhận tại Mehicô 89,6 N - 89,6 P2O5 - 89,6 K2O (kg/ha) Bón lót 100% P và K và 50% N Bón thúc 50% N còn lại, bón phân theo hàng (Glover, C.R., và Baker, R.D., 1996)
Glover, C.R., và Baker, R.D.,(1998) đã đề nghị công thức phân 100 N - 100
P2O5 - 75 K2O (kg/ha) Chia làm 2 lần bón, bón lần 1 (bón lót) 1/2 N và 100% P và
K Lượng N còn lại bón thúc giai đoạn dưa hấu bắt đầu bò
Theo Peet, M.,(2003) đã khuyến cáo công thức phân cho 1 hecta là (90 - 106) N - (26 - 159) P2O5 - (53 - 212) K2O (kg / ha) Chia làm 2 lần bón, bón lót 1/2 tổng lượng N, 2/3 P và K Bón thúc 1 lần, bón những lượng còn lại
Dưa hấu đạt 15 tấn/ha, tùy trạng đất cần cung cấp (90 - 110) N - (25 - 100) P
- (50 - 250) K2O kg/ha Bón lót 1/2 tổng lượng phân Còn lại bón thúc 1 lần (Mote, J.E., et al, 2003)
Kết quả nghiên cứu thí nghiệm của Zhu-HongXun và ctv (1996) tại Trung Quốc đã cho thấy dưa hấu bón kali sulphate (K2SO4) (180 kg/ha) cho năng suất và hàm lượng đường cao hơn bón kali clorua (KCl) Ngoài ra, ông còn cho biết năng suất dưa hấu được đóng góp 41,9% nguồn dinh dưỡng từ đất, 11,5% phân chuồng, 28,0% phân đạm, 13,3% phân lân và 5,3% từ phân kali
Bracy-RP và Parish-RL (1997) nghiên cứu tại Franklinton, Louisiana (USA)
đã cho thấy việc cung cấp đạm 56 - 112 kg/ha không ảnh hưởng tăng trọng lượng trái và tăng số trái dưa hấu trên cây
Nghiên cứu của Hochmuth, G., và Cordasco, K., (2003) tại Florida đã cho thấy bón đạm bổ sung 30 - 60 kg/ha sẽ làm tăng năng suất cây trồng 8%, trọng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28lượng trái tăng 5% Ngoài ra, kết quả thí nghiệm còn cho thấy để năng suất dưa hấu đạt 13 - 24 tấn/ha cần cung cấp (180 - 240) N - (200 - 300) P2O5 - (120 - 180) K2O (kg/ha) Bón phân bằng hệ thống nhỏ giọt
1.3.4 Kỹ thuật bón phân
cho cây trồng và dưa hấu dưới điều
kiện phủ liếp bằng màng phủ nông nghiệp
Việc bón phân cho cây trồng có kết hợp phủ liếp bằng màng phủ nông nghiệp sẽ hạn chế được ánh sáng chiếu trực tiếp lên mặt liếp nên tránh bay hơi đạm, giảm rữa trôi phân bón khi tưới hoặc khi trời mưa, giảm sự thẩm lậu, tăng sự hấp thu N, P và K cao hơn 1,4 - 1,5 lần so với không phủ, tăng giá trị sản phẩm, tiểu khí hậu dưới tán cây, tạo điều kiện thuận lợi cho cây phát triển tốt (Stewart, B.A., và Nielson, D.R., 1990 và Trần Thị Ba, 2002)
Cơ sở của bón phân hợp lí là căn cứ vào tình trạng lí hóa đất, nhu cầu của cây, giai đoạn sinh trưởng của cây, thời tiết, (Brady, N.C., và Well, R.R., 1996; Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Phương thức bón phân có nhiều cách bón phân như rãi đều phân trên đất trồng, bón theo hàng, hốc, vùi và tiêm phân vào đất, tưới nhỏ giọt, phun qua lá,… (Foth, H.D., 1984 và Brady, N.C., và Well, R.R., 1996) Vị trí đặt phân không thích hợp sẽ làm giảm hiệu lực của phân bón 5 - 10%, bón phân không cân đối giảm hiệu lực phân bón 25 - 50% (Nguyễn Văn Bộ, 2002)
Từ xưa con người đã biết cách bón phân theo phương pháp rãi đều trên bề mặt nơi cần bón và là phương pháp thông dụng nhất Rãi phân theo hàng và luống
là phương pháp thường áp dụng cho cây hằng niên (Nick, M.A., và Bradley, F.M., 1994) Emmert E.M., (1956) đã cho thấy cây rau dưới điều kiện phủ líp bằng màng phủ có bộ rễ phát triển lan trên bề mặt nên bón phân không cần phải vùi vào đất
Dưa hấu được bón phân theo hàng, phân được rãi đều trên mặt liếp (giai đoạn bón lót) và bón thúc lần 1 phía trong dây bò và bón thúc lần 2 phía ngoài dây
bò (nửa liếp còn lại), kết hợp xen kẻ với pha loãng nước để tưới dặm (Trần Thị Ba
và ctv, 1999) Thompson, H.C., và Kelly, W.C., (1957) và Khasawneh, F.E et al, (1980) đã cho rằng bón phân theo hàng có hiệu quả cao, đặc biệt đối với phân lân Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29do giảm được sự cố định bởi các thành phần trong đất (Fried, M., và Broeshart, H.,
1967 và Sanchez, P.A., 1976) Lân ở các tỉnh phía Nam (Việt Nam) là yếu tố giới hạn (đất phèn) năng suất nên việc bổ sung lân rất quan trọng (Đường Hồng Dật, 2002) Đạm thường bị mất mát lớn do vậy đạm được chia làm nhiều lần bón (Nguyễn Thị Quí Mùi, 1995 và Đường Hồng Dật, 2002a và 2002b) Đạm bón sâu vào trong đất 15 cm đạm chỉ thất thoát 3,2% trong khi bón trên bề mặt thì mất đến 41,9%.(Trình Công Tư, 2003) Tùy vào điều kiện đất đai mà chọn vị trí đặt phân, đất cằn cỏi, kém màu mở bón phân gần khu vực rễ (Tisdale, S.L và Nelson, W.L.,
1975 và Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Cây có rễ chùm nên bón phân quanh gốc, cây có
rễ cọc thì bón trực tiếp ngay dưới hạt (Vũ Hữu Yêm, 1995) Cây trồng cạn bón theo hàng và theo hốc (Đỗ Ánh và ctv, 1996) Lân và kali ít di động trong đất nên bón phân gần rễ cám (Trần Quang Vinh và Nguyễn Văn Thủ, 2002) Tuy nhiên, cây trồng nhất là giai đoạn cây non rễ dễ bị tổn thương với nồng độ muối cao, đặt biệt đối với kali, do vậy, đặt phân không nên gần vị trí rễ (Đường Hồng Dật, 2002a)
Các nguyên tố vi lượng được bổ sung khi cây ra hoa kết trái và khi cây bắt đầu đậu trái non (Mai Văn Quyền, 2003) Các nguyên tố vi lượng thường được bổ sung bằng cách phun qua lá (Katyal, J.C., và Randhawa, N.S., 1993 và Nick, M.A and Bradley, F.M., 1994)
Theo nhiều tác giả trên thế giới (Đại Học Penn State, 2003; Shuler, K.D., và Hochmuth, G.J., 1990; Prabhaker, M., và Hebbar, S.S., 2003 và Lê Sâm, 2002) hiện nay ở các nước tiên tiến có nhiều cách bón phân khi phủ liếp bằng plastic nhưng biện pháp phân được hòa vào nước tưới qua hệ thống nhỏ giọt phổ biến (drip irrigation), hệ thống cung cấp phân này nâng cao hiệu lực phân bón đến 60%, trong khi đó rãi đều phân hạt trên bề mặt chỉ đạt đến 40% (Stewart, B.A., và Nielsen, D.R., 1990)
Cây trồng được chia nhiều giai đoạn bón phân khác nhau Bón lót thường bón trước lúc gieo trồng nhằm cải tạo đất và giúp cây có thể có thể hút thức ăn ngay
từ khi chiếc rễ đầu tiên đi vào đất Loại phân chậm tan (lân, kali, phân hữu cơ, ) thường được dùng cho bón lót Bón thúc bón vào lúc cây trồng phát triển mạnh, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30thường những loại phân hóa học dễ tan (đạm) (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002 và
Vũ Hữu Yêm và ctv, 1998) Đối với rau, hấp thu lượng phân rất lớn vào giai đoạn gần thu hoạch, do đó để thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của cây nên kết hợp bón phân lót và bón phân thúc (Knuti, L.L., et al, 1962)
Thời tiết rất ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng phân, nhiệt độ thấp cây hấp thu
và sử dụng đạm amon (NH4,) hơn đạm nitrate NO3- (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2003)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: thí nghiệm được thực hiện tại xã An Bình, Thành Phố Cần Thơ
- Thời gian: từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2003
- Khí hậu: theo Trạm dự báo khí tượng thủy văn Trà Nóc (3 - 5/2003) nhiệt
độ không khí dao động 26 - 30oC, ẩm độ không khí biến động 63 - 95%, số giờ nắng 8 - 10 giờ/ngày Cuối tháng tư có xuất hiện mưa, lượng mưa 0,2 mm/ngày Tháng năm lượng mưa tăng cao 27,9 mm/tháng
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
* Giống
Dưa hấu F1 Hắc Mỹ Nhân TN308 (HMN 308) của công ty giống cây trồng Trang Nông, thời gian sinh trưởng 65 ngày Trái dài, da xanh đen có sọc mờ, vỏ dầy, ruột trái đỏ đậm, chắt thịt, độ Brix (11o), trọng lượng trung bình trái 2 - 3 kg/trái
Trang 32- Ngoài các lần rãi phân thúc theo 2 nghiệm thức trên, còn có các lần tưới phân dặm, số lượng và loại phân giống nhau cho tất cả các nghiệm thức
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 332.2.2 Kỹ thuật canh tác
* Chuẩn bị đất
Đất được làm sạch cỏ, lên liếp đôi, khoảng cách giữa hai tim mương 5 m, mặt liếp rộng 1,2 m và cao 0,3 m Bón vôi 500 kg/ha, sau 5 ngày bót lót phân NPK (16-16-8), sau đó dẫn nước vào rãnh, đậy màng phủ trên mặt liếp, dùng lon sữa bò chứa than nóng để đục lỗ màng phủ
* Cách gieo hạt
Hạt giống được ủ 24 giờ cho nẩy mầm, sau đó gieo trong bầu cây con 5 ngày, chọn những cây khỏe mạnh và đồng đều đem ra trồng ngoài đồng, khoảng cách trồng 0,35 m, mỗi hốc trồng 1 cây, với mật độ 12.000 cây/ha
* Bón phân
Tổng lượng phân bón cho 1 hecta, 110 kg Urea, 90 kg Ca(NO3)2, 1280 kg NPK (16-16-8), 500 kg vôi và 530 kg phân hữu cơ vi sinh (Komix) Lịch bón phân được trình bày trong Bảng 2.1
* Tưới nước
Khi cây còn nhỏ tưới nước bằng thùng vòi sen 2 - 3 lần/ngày, cây lớn bơm vào rãnh tưới thấm, lượng nước tăng dần khi cây lớn, nhất là thời kì ra hoa và phát triển trái
* Tỉa nhánh
Nhằm để dưa hấu tập trung dinh dưỡng nuôi trái, khi cây dưa hấu lớn 3 - 4 lá thật (5 - 7 ngày sau khi trồng) (NSKT) ngắt đọt, để cây ra chèo mới và tỉa chừa 2 dây chèo tốt nhất, thường xuyên tỉa nhánh bơi cho đến khi để trái, tỉa bằng kéo và Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34nhúng dung dịch thuốc gốc đồng để ngừa bệnh lây lan Tỉa lúc trời nắng để vết cắt mau khô
* Thụ phấn
Thụ phấn bổ sung là biện pháp kỹ thuật rất cần thiết trong canh tác dưa hấu nhằm giúp cho trái có độ đồng đều cao, thụ phấn vào lúc trời nắng nhẹ 6 - 8 giờ sáng khi dưa hấu ra hoa rộ 25 - 30 NSKT Ngắt hoa đực nở to nhiều phấn, chấm lên nướm hoa cái vừa nở, quá trình thụ phấn kéo dài 5 ngày
Trang 35Bảng 2.1 Lịch bón phân thí nghiệm dưa hấu 3-5/2003 Tại Xã An Bình - TP.Cần
Thơ Đơn vị tính: kg
Ghi chú: * Bón theo nghiệm thức, NSKT- ngày sau khi trồng, 1 Phân hữu cơ vi sinh
Komix Công thức phân 271N - 205 P2O5 - 102 K2O kg/ha
NPK(16-16-8) Phân Tỉ lệ bón Komix1 Vôi Urea Ca(NO3)2 Cách bón NSKT 1/2 1/3 1/4
Trang 362.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
* Chỉ tiêu tăng trưởng
Mỗi lô chọn 8 cây ngẫu nhiên để ghi nhận
- Số lá trên thân chính, đếm tổng số lá trên thân chính (dây mang trái) tính
từ lá thật đầu tiên đến lá ngọn (những lá có chiều dài hơn 2 cm) lúc 30 NSKT
- Chiều dài thân mang trái (vì ngắt ngọn thân chính) tại các thời điểm 20,
30 và lúc thu hoạch (60 NSKT), được đo bằng thước dây tính từ gốc thân (cách dưới 2 lá mầm 2 cm) cho đến chóp ngọn của dây
- Đường kính gốc thân lúc thu hoạch, đo bằng thước kẹp tại phần gốc thân cách 2 cm bên dưới tử diệp đo 2 cạnh thẳng gốc rồi tính trung bình
- Chu vi trái lúc thu hoạch, dùng thước dây đo bề hoành lớn nhất của trái
- Chiều dài trái dưa hấu vào thời điểm thu hoạch, trái được đặt lên cây thước thẳng trên mặt phẳng dọc theo chiều dài của trái, được chiếu vuông gốc với thước, chiều dài trái là 2 điểm mút của trái
* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất
- Trọng lượng trái tại thời điểm thu hoạch, cân trọng lượng 8 trái ngẫu nhiên trên mỗi lô rồi tính trọng lượng trung bình của từng trái (kg/trái)
- Năng suất trái cân toàn bộ trái trên từng lô lúc thu hoạch rồi qui ra năng suất (t/ha)
- Năng suất trái thương phẩm là những trái dưa bán được trọng lượng từ 0.5
kg trở lên, trái không bị sâu bệnh hại và không bị thối trái
- Năng suất toàn cây cân 8 cây ngẫu nhiên (rễ, thân, lá và trái) trên từng lô, tính năng suất (tấn/ha)
Trang 37* Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
- Tổng thu nhập (tổng doanh thu) = năng suất x giá bán (đồng /kg)
- Tổng chi phí bao gồm tiền giống, màng phủ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tiền làm đất, lên liếp, làm cỏ,… (chi phí bằng nhau ở các nghiệm thức)
Chú ý: Chi phí khác nhau là công bón phân của các nghiệm thức cách bón phân thúc
- Lợi nhuận = tổng thu nhập - tổng chi phí
- Hiệu quả đồng vốn = Lợi nhuận/tổng chi phí
* Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê IRRSTAT
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38phát triển, bệnh đốm vòng (Alternia cucumerina) gây hại trên lá và nấm
Phytophthora sp gây thối trái, nhưng với tỉ lệ không đáng kể do phòng trị kịp thời
20,030,040,050,060,070,080,090,0
01/3/03-
10/03/03
11/03/03-20/
03/03
21/03/03-30/
03/03
31/03/03-10/
04/03
11/03/03-20/
04/03
21/04/03-30/
04/03
01/05/03-10/
05/03
Hình 3.1 Tình hình khí tượng thủy văn từ tháng 3 - 5/2003, tại xã An Bình TP.Cần
Thơ Trạm khí tượng thủy văn Cần Thơ (5/2003) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39Nhìn chung trong suốt vụ, cây dưa hấu không bị cỏ dại cạnh tranh do có sử dụng màng phủ nông nghiệp và nghiệm thức bón lót với 1/2 tổng lượng phân của cả
vụ cây dưa hấu sinh trưởng tốt hơn so với nghiệm thức bón lót 1/3 và 1/4
3.2 TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG
3.2.1 Đường kính
gốc dưa hấu lúc thu hoạch
Kết quả trình bày ở Hình 3.2 và Phụ chương 2 cho thấy đường kính gốc thân dưa hấu lúc thu hoạch (60 NSKT) không có sự khác biệt qua phân tích thống kê giữa các tỉ lệ phân bón lót (biến thiên từ 8,4 - 8,9 mm) và số lần rãi phân thúc (biến thiên 8,7 - 8,8 mm)
8,7
8,4
8,7
8,8 8,9
8,2 8,4 8,6 8,8 9,0
Lót1/2 Lót 1/3 Lót 1/4 Thúc 1 lần Thúc 2 lần
Nghiệm thức
Hình 3.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phân bón lót (A) và số lần rãi phân thúc (B) trên
đường kính gốc thân dưa hấu tại thời điểm thu hoạch Tại xã An Bình, TP.Cần Thơ, 3-5/2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 40Như vậy, khi trồng dưa hấu có sử dụng màng phủ nông nghiệp với cùng mức phân bón nhưng số lần rãi phân thúc và tỉ lệ bón lót khác nhau không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng đường kính gốc Có lẽ đường kính gốc thân do đặc tính di truyền của giống qui định hoặc bị ảnh hưởng bởi biện pháp canh tác như sử dụng màng phủ so với không phủ liếp (Võ Nhựt Minh, 2003) và (Nguyễn Đức Độ và Nguyễn Văn Được, 2002)
3.2.2 Chiều dài dây dưa hấu
Chiều dài dây là một trong những yếu tố để đánh giá sự sinh trưởng tốt xấu của cây, cây còi cọc thân ngắn hoặc quá sung túc vượt hơn bình thường đều ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Sự gia tăng chiều dài dây dưa hấu được trình bày trong Hình 3.3 và Phụ chương 2 Kết quả cho thấy thời điểm dưa hấu 20 NSKT không có sự khác biệt qua phân tích thống kê giữa các tỉ lệ phân bón lót và số lần rãi phân thúc Sự khác nhau về 3 mức phân bón lót có chiều dài dây dưa hấu xấp xỉ nhau (biến thiên từ 1,60 - 1,65 m), tốc độ sinh trưởng 0,08 m/ngày, còn 2 cách bón phân thúc khác nhau có chiều dài biến thiên 1,59 - 1,66 m Có lẽ do giai đoạn đầu
bộ rễ còn nhỏ, cây sinh trưởng chậm, chưa sử dụng hết lượng phân bón lót
Giai đoạn 30 NSKT và lúc thu hoạch chiều dài dây dưa hấu giữa các nghiệm thức có sự khác biệt qua phân tích thống kê về tỉ lệ phân bón lót Chiều dài dây 30NSKT cao nhất ở tỉ lệ bón lót 1/2 (3,06 m) và thấp nhất ở tỉ lệ bón lót 1/4 (2,94 m) Tốc độ tăng trưởng rất nhanh, trung bình 0,1 m/ngày Giai đoạn này, bộ rễ dưa hấu phát triển mạnh lan rộng khắp mặt liếp nên đã phát huy tác dụng của phân bón, thúc đẩy cây phát triển tích cực Đây cũng là giai đoạn dưa hấu ngã ngọn bò, phát triển rất nhanh chuẩn bị tốt cho giai đoạn ra hoa kết trái
Mặc dù đã ngắt ngọn dây dưa sau khi tuyển trái (40 NSKT) nhưng chiều dài dây dưa hấu tại thời điểm thu hoạch vẫn cao nhất ở tỉ lệ bón lót 1/2 (2,56 m) khác biệt so với tỉ lệ bón lót 1/3 (2,37 m) và bón lót 1/4 (2,41 m) Điều này có thể giải thích do mức phân bón lót cao (1/2) chứa hàm lượng đạm cao, giúp tế bào lóng thân tăng trưởng nhanh, phát huy đúng tiềm lực sinh trưởng của cây nên chiều dài dây Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu