1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH 6 GIỐNG (DÒNG) đậu NÀNH glycine max (l )merrill tại TRƯỜNG đại học cần THƠ vụ ĐÔNG XUÂN 2010 2011

51 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “So sánh 6 giống đậu nành Glycine max L Merrill tại trường Đại học Cần Thơ vụ Đông xuân 2010 - 2011” được thực hiện nhằm mục tiêu chọn ra những giống đậu nành cho năng suất cao và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

ĐẶNG TRẦN AI

SO SÁNH 6 GIỐNG/DÒNG ĐẬU NÀNH [Glycine max

(L.) Merrill] TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

VỤ ĐÔNG XUÂN 2010-2011

Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC

Cần Thơ, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC

Tên đề tài:

SO SÁNH 6 GIỐNG/DÒNG ĐẬU NÀNH [Glycine max

(L.) Merrill] TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

VỤ ĐÔNG XUÂN 2010-2011

MSSV: 3087669 Lớp: TT0819A1

Cần Thơ, 2012

Trang 3

Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài:

SO SÁNH 6 GIỐNG/DÒNG ĐẬU NÀNH [Glycine max

(L.) Merrill] TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

VỤ ĐÔNG XUÂN 2009-2010

Do sinh viên Đặng Trần Ai thực hiện và đề nạp

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012 Cán bộ hướng dẫn

Ts Nguyễn Phước Đằng

Trang 4

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Đặng Trần Ai

Trang 5

iv

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

- -

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: SO SÁNH 6 GIỐNG/DÒNG ĐẬU NÀNH [Glycine max (L.) Merrill] TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VỤ ĐÔNG XUÂN 2009-2010 Do sinh viện Đặng Trần Ai thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2011 Thành viên hội đồng

DUYỆT KHOA

Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 6

v

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Đặng Trần Ai

Ngày, tháng, năm sinh: 09/07/1990

Nơi sinh: TP Cần Thơ

Họ tên cha: Đặng Văn Phương

Trang 7

Em xin chân thành biết ơn hai thầy cố vấn học tập Nguyễn Trọng Ngữ, Phạm Ngọc Du cùng toàn thể quý Thầy (Cô) khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng đã

Trang 8

1.2 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây đậu nành 2

Trang 9

3.5.2 Phần trăm trái lép và trái một hạt 27

Trang 10

2 Nguồn gốc các giống/dòng đậu nành thí nghiệm 13 3.1 Tình hình khí tượng thủy văn trong thời gian tiến hành thí

nghiệm tại thành phố Cần Thơ từ tháng 11/2010 đến tháng

3.5 Số lóng trên thân chính và số cành hữu hiệu của 6 giống thí

nghiệm, vụ Đông Xuân 2010-2011

25

3.6 Số trái trên cây và phần trăm trái (lép, 1, 2, 3 hạt) của 6 giống

thí nghiệm, vụ Đông Xuân 2010-2011

26

3.7 Số hạt trên mét vuông, trọng lượng 100 hạt, năng suất lý

thuyết và năng suất thực tế 6 giống đậu nành thí nghiệm, vụ

Đông Xuân 2010-2011

28

Trang 12

xi

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AVRDC: Asian Vegetable Research and Development Center ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

FAO: Food and Agriculture Organization

IITA: Iternational Institute of Tropical Argiculture

MOAC: Ministry of Agriculture and Cooperatives

NN & PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NSKG: Ngày sau khi gieo

Trang 13

Đề tài “So sánh 6 giống đậu nành (Glycine max (L) Merrill) tại trường Đại

học Cần Thơ vụ Đông xuân 2010 - 2011” được thực hiện nhằm mục tiêu chọn ra những giống đậu nành cho năng suất cao và ít nhiễm sâu bệnh Sáu giống trong thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với ba lần lặp lại cho mỗi giống Khoảng cách gieo hạt là 35 x 15 cm, 2 cây/hốc

Kết quả cho thấy giống MTĐ 865-1 là giống có nhiều triển vọng với nhiều đặc tính tốt: có năng suất cao (2,42 tấn/ha), số trái trên cây cao (34 trái/cây), trọng lượng hạt lớn (22,91 g/100 hạt), thời gian sinh trưởng ngắn (83 ngày), có khả năng kháng sâu bệnh tốt hơn các giống khác

Nhìn chung các giống trong thí nghiệm đều có thời gian sinh trưởng dưới 90 ngày thích hợp với cơ cấu luân canh hai lúa một màu, khả năng sinh trưởng và phát triển khá tốt cho thấy các giống đều thích nghi khá tốt với điệu kiện môi trường ở ĐBSCL

Trang 14

MỞ ĐẦU

Đậu nành [Glycine max (L.) Merrill] là cây công nghiệp ngắn ngày được

trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi giá trị kinh tế và hàm lượng dinh dưỡng cao Theo Mai Quang Vinh (1996), với biên độ thích ứng nhiệt độ, bức xạ rộng hơn, ít kén đất hơn và có tổng tích ôn thấp hơn nhiều loại cây trồng khác, cây đậu nành đã có vị trí kinh tế không thể thay thế trong cơ cấu cây trồng, cải tạo đất

và góp phần phá vỡ chu kỳ sâu bệnh trong luân canh trên tất cả các vùng sinh thái

từ Bắc vào Nam

Tuy nhiên diện tích và sản lượng đậu nành trong những năm qua luôn biến động và có chiều hướng giảm Nguyên nhân do chí phí sản xuất tăng và năng suất chưa cao, trong đó giống giữ một vai trò đặc biệt quan trọng quyết định năng suất Đồng thời việc chọn sử dụng các giống đậu nành có năng suất cao, thời gian sinh trưởng thích hợp, ít nhiễm sâu bệnh là biện pháp để hạ giá thành sản xuất

Thí nghiệm “So sánh 6 giống đậu nành tại trường Đại học Cần Thơ vụ Đông Xuân 2010-2011” được thực hiện nhằm mục tiêu chọn được giống đậu nành

có một số đặc tính tốt, năng suất cao, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, ít nhiễm sâu bệnh để đáp ứng được yêu cầu về giống đậu nành trong sản xuất ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 15

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÂY ĐẬU NÀNH

Đậu nành tên khoa học Glycine max (L.) Merrill Thuộc bộ Fabales, họ

Fabaceae, chi Glycine L và thuộc chi phụ Soja (Phạm Văn Biên, 1996)

Đậu nành là một trong những cây trồng mà loài người đã biết sử dụng và trồng trọt từ lâu đời, có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc vào thế kỷ XI, dần lan sang các vùng lân cận thuộc châu Á Có mặt ở châu Âu vào thế kỷ thứ XVII và du nhập vào Hoa Kỳ năm 1804 (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) Đậu nành được du nhập vào Việt Nam qua các tỉnh miền núi phía Bắc, xuống đồng bằng và vào Nam bộ từ

xa xưa, cách trồng đậu nành đã được mô tả trong sách “Vân Đài loại ngữ” của tác giả Lê Quí Đôn viết năm 1773 (Mai Quang Vinh, 1996)

1.2 GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY ĐẬU NÀNH

Cây đậu nành là cây công nghiêp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao, sử dụng làm thức ăn cho người và gia súc, làm nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp chế biến, là cây trồng cải tạo đất

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng, trị liệu

Hạt đậu nành chứa 8% nước, 5% chất vô cơ, 15-25% glucose, 15-20% chất béo, 35- 45% chất đạm với đủ các loại amino acid cần thiết và nhiều vitamin, khoáng chất Đậu nành có nhiều chất dinh dưỡng: 100 g đậu nành có 411 calo; 34 g đạm; 18 g béo; 165 mg calcium; 11 mg sắt; trong khi đó thịt bò loại ngon chỉ có 165 calo, 21 g đạm; 9 g béo; 10 m calcium và 2,7 mg sắt

Bảng 1.1 Thành phần hóa học của hạt đậu nành

Thành phần Tỷ lệ Protein (%) Dầu (%) Tro (%) Hydratecarbon (%) Hạt đậu nành

Trang 16

Hạt đậu nành có chứa hàm lượng chất béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng Lipit đậu nành có tỉ lệ axit béo chưa no cao (khoảng 60 – 70%), axit linoleic chiếm 52 – 65%, oleic chiếm 25 –

36%, linolenoic 2 – 3% (Ngô Thế Dân và ctv, 1999) Dùng dầu đậu nành thay mỡ

động vật có thể tránh được nguy cơ xơ vữa động mạch

Trong hạt đậu nành có nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin B1 và B2 ngoài

ra còn các loại vitaminh như PP, A, E, K, D, C v.v… Đậu nành còn có nhiều chất khoáng như Ca, P, Fe v.v…

Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu nành có khả năng cung cấp năng lượng khá cao 4700 cal/kg (Nguyễn Danh Đông, 1982) và trở thành nguồn thực phẩm quan trọng của con người

1.2.2 Giá trị về nông nghiệp

Đậu nành là nguồn thức ăn cho chăn nuôi rất tốt, thức ăn tươi (thân, lá đậu nành) cho đại gia súc, thức ăn khô (nghiền tổng hợp) cho gia cầm Khô dầu đậu nành có hàm lượng dinh dưỡng khá cao (N: 6,2%; P2O5: 0,7%; K2O: 2,4) vì thế làm

thức ăn cho gia súc rất tốt (Ngô Thế Dân và ctv, 1999)

Cây đậu nành là cây trồng luân canh cải tạo đất tốt (trong hệ thống luân canh), chống xói mòn cho đất Một ha đậu tương nếu sinh trưởng và phát triển tốt

để lại trong đất từ 30 – 60 kg N (Phạm Gia Thiều, 2000)

Thân lá đậu nành sử dụng làm phân bón hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thân chiếm khoảng 0,05%, trong lá chiếm khoảng 0,19% (Nguyễn Danh Đông, 1982)

Rễ đậu nành có nốt sần, hoạt động cung cấp đạm cho cây, có 2 loại vi khuẩn

trong nốt sần là Rhizobium japonicum và Brady Rhibinum japonicum

1.2.3 Giá trị về công nghiệp

Đậu nành là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến như: Thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, công nghệ ép dầu, cao su chất dẻo, xà phòng, tơ nhân tạo, dầu

Đậu nành hiện nay trên thế giới chiếm 50% tổng sản lượng sử dụng cho công nghiệp ép dầu Dầu đậu nành có rất nhiều ưu điểm là dung dịch có màu vàng sáng,

Trang 17

có hệ số đồng hoá cao (98%) Ngoài ra, dầu đậu nành có nhiệt độ đông đặc thấp (-15oC đến -18oC) có tác dụng làm bôi trơn máy móc động cơ Với chỉ số xà phòng hoá cao (185-195 mg), dầu đậu nành được sử dụng để thuỷ phân 1 g dầu Chỉ số Iốt cao (122-150 mg) dùng để đo độ bão hoà của axit trong dầu Dầu đậu nành có thể dung làm dung môi cho thuốc bảo vệ thực vật hoặc chất bổ trợ

Ngoài ra đậu nành còn được chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau Nhu cầu tiêu dùng đậu nành hiện nay trên thế giới chủ yếu: dầu, bột và dạng hạt (dạng bột được tiêu thụ mạnh nhất chiếm 60%)

1.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY ĐẬU NÀNH

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: FAO Statistic Database, 2009)

Đậu là cây lấy hạt lấy dầu bậc nhất thế giới nên được trồng ở khắp các châu lục Diện tích và sản lượng đậu nành trên thế giới tăng mạnh nhất trong những năm

1965 – 1980 và tương đối ổn định đến nay Diện tích và sản lượng trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, diện tích từ 21 triệu ha năm 1960 tăng lên 96,87 triệu ha năm 2008 Năng suất đậu nành thế giới chỉ đạt 1,2 tấn/ha đến năm 1990 là 1,9 tấn/ha tăng 59,75% Đến năm 2008, năng suất đậu nành thế giới đạt 2,4 tấn/ha tăng

98,67% so với năm 1960

Trang 18

Hình 1: Tỷ lệ sản lượng đậu nành thế giới năm 2010 (Nguồn: soyats.com)

Trong năm 2010, sản lượng đậu nành thế giới đạt 258,4 triệu tấn, trong đó Hoa Kỳ vẫn là nước có sản lượng đậu nành đứng hàng đầu thế giới với sản lượng 90,6 triệu tấn, chiếm khoảng 35% sản lượng đậu nành thế giới Các nước sản xuất đậu nành lớn khác là Brazil (70 triệu tấn), Argentina (49.5 triệu tấn), Trung Quốc (15.2 triệu tấn) Ấn Độ (9.6 triệu tấn), Paraguay (7.5 triệu tấn), Canada (4.3 triệu tấn)

1.3.2 Trong nước

Mặc dù quy mô sản xuất còn khá nhỏ và nhu cầu tiêu thụ trong nước có xu hướng giảm, nhưng sản lượng đậu nành nước ta năm 2010 vẫn đạt 297.000 tấn, tăng 39% so với năm 2009 Nguyên nhân chính là do sự mở rộng đáng kể về diện tích cây trồng (khoảng 35%) và những nỗ lực nhằm cải thiện năng suất của cây đậu nành

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu nành ở Việt Nam từ 2005 - 2011

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Diện tích canh tác

(1000 ha) 204,1 185,6 190,1 192,1 146,2 197,8 215

*

Sản lượng (tấn/ha) 1,43 1,39 1,45 1,39 1,46 200 1,63*Tổng sản lượng

(1000 tấn) 292,7 258,1 275,5 267,6 213,6 296,9 350

*

(Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam, * số liệu ước tính của FAS)

Theo số liệu thống kê chính thức của chính phủ, đậu nành được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu nành nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ; và

Trang 19

35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Đậu nành được trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác nhau nên

có rất nhiều nốt sần

Bộ rễ của đậu nành phân bố rộng, sâu, số lượng nốt sần hình thành nhiều ít phụ thuộc vào đất đai, khí hậu và kĩ thuật canh tác Trên rễ của đậu nành có 2 loại vi

khuẩn hoạt động là Rhizobium japonicum và Brady Rhizobium japonicum (phát

triển chậm) Rễ đậu nành phát triển được chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Rễ chính phát triển mạnh kéo dài và sinh ra nhiều rễ con (rễ phụ) Thời kì này kéo dài hay không phụ thuộc vào giống và thời vụ

Giai đoạn 2: Lớp rễ đầu tiên phát triển chậm dần, các rễ con (rễ phụ) phát triển theo chiều sâu và chiều rộng Số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào đất đai và điều kiện canh tác

1.4.2 Thân, lá

Thân đậu nành thuộc loại thân thảo (màu sắc thân có liên quan đến màu sắc hoa) Khi còn non thân màu xanh hoặc tím, khi già thân có màu nâu nhạt, màu sắc thân đậu nành có nhiều liên quan đến màu sắc hoa (thân xanh-hoa trắng, thân tím-hoa tím) Thân đậu nành có trung bình 10-15 lóng, các lóng phía gần gốc thường ngắn, lóng phía trên thường dài hơn Chiều dài lóng các giống khác nhau thì có sự khác biệt (biến động từ 3-10 cm) Thân đậu nành trong vụ hè có lóng dài hơn vụ xuân và vụ đông Chiều dài lóng của đậu nành phụ thuộc vào điều kiện canh tác, thời vụ trồng, bình thường cây đậu nành có chiều cao thân 0,3-1 m Trên thân lá cây đậu nành có lớp lông tơ dài, ngắn khác nhau và mật độ tuỳ theo giống Căn cứ vào tập tính sinh trưởng của thân cành người ta chia ra 4 loại thân: thân leo, thân bò, thân mọc thẳng, thân nửa bò

Trang 20

Đậu nành có ba loại lá: lá mầm (tử diệp), lá đơn, lá kép lông chim (lá thật)

Lá thứ ba dài hơn gồm có cuống dài và hai đôi lá chét đối nhau Số lượng và diện tích lá đều ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và phụ thuộc vào giống, thời vụ gieo trồng Ngoài ba loại lá trên đậu nành còn hai loại lá rất nhỏ là: lá gối (gọi là lá gốc)

vị trí nằm sát cuống lá thật và cuống chùm hoa và lá kèm (rất nhỏ) vị trí nằm sát cuống của lá chét (có đôi lá đối nhau)

1.4.3 Hoa, trái và hạt

Hoa đậu nành nhỏ không có hương vị, thuộc loại hoa hình cánh bướm màu sắc hoa có 2 màu (trắng hoặc tím), tuỳ theo giống cây khác nhau mà màu sắc hoa cũng khác nhau (tím nhạt, tím đậm, trắng khác) Hoa phát sinh ở nách lá, đầu cành, đầu thân, hoa mọc thành chùm, mỗi chùm có từ 1-10 hoa/chùm, bình thường có 3-5 hoa/chùm (khác nhau tùy theo giống) Hoa đậu nành ra rất nhiều nhưng tỉ lệ đậu quả rất thấp (18-20% hoặc 30%)

Hoa đậu nành thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tính, trong hoa có nhị và nhuỵ Thời gian bắt đầu nở hoa sớm hay muộn, dài, ngắn tuỳ thuộc vào giống và điều kiện sinh thái Các giống chín sớm 25-30 NSKG (vụ hè, vụ xuân kéo dài hơn 35-38 NSKG) Các giống chín trung bình và chín muộn kéo dài hơn 45-50 NSKG

Thời gian ra hoa kéo dài, ngắn phụ thuộc giống và thời vụ Tỉ lệ đậu quả tập trung vào các đợt hoa rộ

Trái đậu nành được hình thành từ ngoài vào trong (hình thành vỏ trái sau đó hình thành hạt) Số trái biến động từ 2-20 trái/chùm, có thể lên đến vài trăm trên một cây Trái đậu nành có từ 1-5 hạt/trái tuỳ theo giống và điều kiện sinh thái (bình thường quả có 2-3 hạt/trái) Trái đậu nành thuộc loại quả giáp hơi cong tuỳ theo giống, màu sắc của quả phụ thuộc vào sắc tố Caroten và Xanthophyll, màu sắc lông/thân lá phụ thuộc vào sắc tố Antocyanin Trái đậu nành chín có nhiều màu sắc tuỳ theo từng giống khác nhau (vàng, nâu, đen, vàng nâu, màu xám ) Khi mới hình thành trái (trái non) trên thân, trái đậu nành nhiều long, các giống khác nhau có

số lông thưa, dày khác nhau Trên cây, trái thường tập trung nhiều từ đốt thứ 4 trở lên, tập trung nhiều 5-6, đốt 9-10 giảm dần Trái hình thành và lớn nhanh từ 15-18 ngày sau khi hoa nở (quả dài 2-7 cm có khi dài đến 9 cm)

Trang 21

Hạt đậu nành có nhiều hình dạng khác nhau (tròn dài, tròn dẹt, bầu dục ) Màu sắc hạt gồm có màu vàng nâu, vàng xanh, đen, tím Trong đó hạt màu vàng được ưa chuộng nhất

Kích thức hạt phụ thuộc vào giống khác nhau, trọng lượng 1000 hạt thay đổi 20-400 g tùy theo giống Rốn hạt đậu nành có màu sắc khác nhau phụ thuộc vào giống (đây là đặc điểm dễ nhận biết một giống)

1.5 CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG ĐẬU NÀNH

1.5.1 Trên thế giới

Hiện nay nguồn gen đậu nành được lưu trữ chủ yếu ở 15 nước trên thế giới: Đài Loan, Autralia, Trung Quốc, Pháp, Nigeria, Ấn Độ, Indonesia, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ và Liên Xô (cũ) (Trần Đình Long, 2005)

Nhiều Viện và Trung tâm Nông nghiệp quốc tế trên thế giới đã đặt nhiều trương trình nghiên cứu và khảo nghiệm giống đậu nành bao gồm:

 Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean – Evaluation trial – Aset) giai đoạn 1 (Nguyễn Thị Út, 2006)

 IITA: Viện nghiên cứu Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế

 Trung tâm MOAC tại Thái Lan nghiên cứu nhằm cải tiến giống có năng suất cao và có khả năng chống chịu được các bệnh hại chính (gỉ sắt, sương mai…)

 Ấn Độ tiến hành khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại đại học Pathaga

1.5.2 Ở Việt Nam

Nguyễn Thị Út và ctv (2006) đã nghiên cứu tập đoàn quỹ gen đậu tương

gồm 330 giống thu thập ở Việt Nam và nhập nội Tác giả đã xác định được một số giống có đặc tính quý làm vật liệu cho công tác chọn giống

Trong vòng 20 năm (1985 – 2005), Trần Đình Long và ctv đã chọn tạo 28

giống mới, trong đó có 8 giống được công nhận là tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua việc tuyển chọn từ tập đoàn giống nhập nội

Viện Di truyền Nông nghiệp đã chọn tạo thành công 4 giống quốc gia và 4

giống khu vực bằng phương pháp xử lý đột biến (Mai Quang Vinh và ctv, 2005)

Trang 22

Trong giai đoạn 1985 – 2005, bằng phương pháp lai hữu tính các nhà chọn tạo giống đậu nành Việt Nam đã lai tạo được 15 giống đậu nành được công nhận là giống quốc gia (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005)

1.6 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CHỌN GIỐNG ĐẬU NÀNH

Theo Trần Thượng Tuấn (1983), yêu cầu chính đối với giống đậu nành ở miền Nam là có khả năng cho năng suất cao và ổn định; Có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 90 ngày trở lại tùy mùa vụ; Có khả năng thích nghi tương đối rộng, ít quang cảm để có thể trồng ở nhiều vùng và mùa vụ khác nhau nhằm giải quyết những khó khăn trong vấn đề hạt giống; Ở ĐBSCL đòi hỏi giống phải chịu đựng được đất phèn nhẹ và có thành phần cơ giới nặng để trồng được sau vụ lúa; Có khả năng chống chịu với các loại sâu bệnh chính trong vùng; Có khả năng tạo nốt sần

với các dòng vi khuẩn Rhizobium japonicum trong tự nhiên; Hạt có hàm lượng đạm

cao, giống chậm mất sức nảy mầm trong quá trình bảo quản

Theo Nguyễn Hữu Quán (1984), cần chọn giống đậu có khả năng cho năng suất cao và ổn định; Có tốc độ quang hợp cao, chuyển đổi có hiệu quả năng lượng mặt trời thành vật chất khô; Sử dụng hiệu quả chất màu và phân bón; Cho sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường

Theo quan điểm của nông dân trồng đậu nành ở vùng ĐBSCL thì giống đậu nành lý tưởng phải có các tiêu chuẩn sau: thời gian sinh trưởng ngắn, không quá 90 ngày Hoa có màu tím, hạt có màu vàng sáng, kích thước hạt trung bình hoặc lớn (trọng lượng 100 hạt từ 15-19 g) Chín tập trung rụng trụi lá khi chín và không đỗ ngã

1.7 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT

Trang 23

Theo Ngô Thế Dân và ctv (1999), ở đất nghèo kali, đất cát đậu nành phản

ứng rõ rệt với phân Kali, nhưng đối với vùng trồng đậu nành thuộc Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, do đặc điểm đất ở đây tương đối giàu Kali nên hiệu quả bón Kali ở vùng này thấp

Ánh sáng: Đậu nành là cây ngắn ngày mẫn cảm với ánh sáng Những giống

có thời gian sinh trưởng ngắn thì ít mẫn cảm với ánh sáng hơn giống càng dài ngày thì cang mẫn cảm với ánh sáng

Theo nghiên cứu của Sakamoto và Shaw (1967), cường độ ánh sáng bão hòa đối với tán cây đậu nành bằng khoảng 60.000 lux vào đầu thời kỳ trổ hoa, sau đó giảm xuống còn khoảng 40.000 lux ở giai đoạn hạt xanh của cây (được trích dẫn bởi Trần Thượng Tuấn, 1983)

Nhiệt độ: Đậu nành là cây ưa nhiệt, yêu cầu tổng tích ôn là 2.4000C Nhiệt

độ tối thích cho sự sinh trưởng đậu nành đối với không khí là 24 - 340C, đối với đất

là 22 - 270C (Swon, 1969)

Nhiệt độ là một trong những yếu tố chi phối sự phát triển và thường làm thay đổi chu kỳ sinh trưởng cây đậu nành, tác động của nhiệt độ của đậu tương còn mạnh hơn cả quang kỳ Ở ĐBSCL chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa trong năm tương đối nhỏ nên ảnh hưởng của nhiệt độ đối với thời gian sinh trưởng của đậu nành cũng không rõ rệch

Nước: Nhu cầu nước của cây đậu nành dao động từ khoảng 350 – 800mm

trong một vụ (Mayer và ctv, 1992) Nhu cầu nước phụ thuộc vào độ dài thời gian

sinh trưởng, nhu cầu nước của cây không đồng đều ở các giai đoạn

Theo Lawn (1982), hiệu suất quang hợp sẽ giảm ở cây bị thiếu nước do tổng sản phẩm quang hợp sẽ giảm so với tỉ lệ CO2 hấp thụ trên một đơn vị diện tích lá giảm và diện tích quang hợp giảm do sự phát triển của lá kém và chóng tàn

Theo Ngô Thế Dân và ctv (1999), ở cây bị thiếu nước quá trình cố định đạm

bị giảm một phần do lượng sản phẩm quang hợp chuyển về rễ giảm, một phần do thế nước ở nốt sần; Sự cố định đạm giảm khi thế nước giảm và ngừng hoạt động khi trọng lượng nốt sần giảm dưới 80% so với khi đủ nước

Trang 24

Năng suất đậu nành giảm nghiêm trọng nhất là khi đậu nành bị thiếu nước vào tuần cuối cùng của giai đoạn tạo trái và trong thời gian phình to của hạt (Shaw

và Laing, 1966)

1.7.2 Sâu bệnh trên đậu nành

1.7.2.1 Sâu hại chủ yếu trên đậu nành

Sâu hại là yếu tố gây ảnh hưởng cả về năng suất và chất lượng đậu nành nếu không được phòng trừ kịp thời Sự gây hại trên sâu bệnh sẽ làm cho cây trồng suy yếu sức sinh trưởng và khả năng mang trái kém, nếu có trái cũng bị hư hỏng nhiều năng xuất sụt giảm

Theo Nguyễn Phước Đằng và ctv (2009), sâu hại trên đậu nành chủ yếu là ba

loại sâu sau :

- Sâu ăn tạp (Spodoptera litura) tấn công các bộ phận của cây đậu nành từ lá,

chồi non, hoa và trái Sâu xuất hiện từ lúc cây đậu nành còn non mới nẩy mầm đến lúc trước thu hoạch Sâu ăn tạp gây hại nghiêm trọng trong giai đoạn ấu trùng Khả năng sinh sản mạnh cùng với thời gian phá hoại kéo dài vì thế sâu ăn tạp là đối tượng gây hại quan trọng cho cây đậu nành

- Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) có khả năng gây hại rất lớn không

những trên đậu nành mà cả trên nhiều loại cây trồng khác tại ĐBSCL Sự bốc phát gây hại của sâu xanh da láng là do quá trình tích lũy mật độ theo thời gian có sự hiện diện của cây ký chủ trên đồng ruộng Chu kỳ sinh trưởng của sâu tương đối ngắn, có lẽ vì vậy mà sâu phát triển và gia tăng mật số rất nhanh, lây lan rất dễ và kháng thuốc rất mạnh Mật số sâu cao nhất vào vụ Xuân - Hè

- Sâu đục trái (Etiella zinckenella) xuất hiện từ giai đoạn dứt trổ cho đến tạo

trái và hạt làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất hạt Sâu xuất hiện gây hại từ khi nở hoa đến khi thu hoạch Bướm đẻ trứng bên ngoài, trên các sợi lông tơ của vỏ trái, ấu trùng đục vào trái, ăn ở và làm nhộng trong trái

1.7.2.2 Bệnh hại chủ yếu đậu nành

Có nhiều nấm ký sinh và gây bệnh trên đậu nành Mức độ tương quan giữa chúng có tương quan chặt chẽ với điều kiện môi trường và mức độ nhiễm của cây

Trang 25

chủ Vì vậy, một số bệnh chỉ gây thiệt hại với một số vùng nhất định và một số bệnh lại phân bố rất rộng (Ngô Thế Dân,1999)

Các bệnh gây hại phổ biến trên đậu nành là :

- Bệnh héo cây con: do nấm Rhizoctonia solani gây ra Nấm gây hại chủ yếu

ở giai đoạn con khoảng 1-2 tuần tuổi, nhất là trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, độ

ẩm không khí cao Bệnh có thể tồn tại đến khi cây ra hoa đậu trái Phần thân giáp mặt đất của cây bệnh có màu nâu đỏ, sau đó vết bệnh teo lại, cây đổ ngã và khô héo

- Bệnh gỉ sắt: do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow gây ra Bệnh có thể

nhận biết rõ khi dưới phiến lá xuất hiện các túi bào tử như nốt mụn vàng, và khi các túi bào tử vỡ lộ ra bào tử màu nâu đỏ Vết bệnh có thể hình thành ở các bộ phận của cây, bệnh lan dần từ lá tầng thấp rồi lan dần lên những lá tầng trên, lá vàng khô rồi rụng hàng loạt Bệnh hại nặng làm năng suất đậu nành giảm

- Bệnh đốm phấn: do nấm Peronospora manshurica gây ra Điều kiện thích

hợp cho nấm phát triển là ẩm độ cao và nhiệt độ hơi thấp khoảng 20-22oC Đặc trưng của bệnh là vào những ngày ẩm độ cao và sáng sớm, mặt dưới lá nơi vết bệnh phủ lớp nấm màu xám hoặc phớt tím Một số cây bệnh có biểu hiện trên toàn thân Bệnh nặng, lá vàng khô, rụng sớm, hạt lép, năng suất có thể giảm đến 8%

- Bệnh hạt tím: do nấm Cercospora kikuchii gây ra Tạo những vết màu tím

với kích thước khác nhau trên hạt, có thể bao trùm cả hạt Tỉ lệ hạt có vết đốm tím ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hạt giống

Ngày đăng: 12/04/2018, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm