Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT BÙI MINH PHONG
Trang 1Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
BÙI MINH PHONG
KHẢO SÁT VÒNG ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH
HỌC CỦA RẦY NÂU, Nilaparvata lugens Stal (Delphacidae,
Homoptera) TRÊN GIỐNG LÚA JASMINE 85 và IR 50404
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ, Tháng 02/2008
Trang 2Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
BÙI MINH PHONG
KHẢO SÁT VÒNG ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH
HỌC CỦA RẦY NÂU, Nilaparvata lugen Stal (Delphacidae,
Homoptera) TRÊN GIỐNG LÚA JASMINE VÀ IR 50404
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC (2003 – 2008)
Trang 3Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ BỘ MÔN
SINH HỌC ỨNG DỤNG BẢO VỆ THỰC VẬT
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học với đề tài:
KHẢO SÁT VÒNG ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH
HỌC CỦA RẦY NÂU, Nilaparvata lugens Stal
(Delphacidae,Homoptera) TRÊN GIỐNG LÚA JASMINE 85 VÀ IR
50404
Do sinh viên Bùi Minh Phong thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2008 Cán bộ hướng dẫn
PGs.Ts Nguyễn Văn Huỳnh
Trang 4Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, hình
ảnh, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ luận văn nào trước đây
Trang 5Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ BỘ MÔN
SINH HỌC ỨNG DỤNG BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông
Học với đề tài:
KHẢO SÁT VÒNG ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH
HỌC CỦA RẦY NÂU, Nilaparvata lugens Stal
(Delphacidae,Homoptera) TRÊN GIỐNG LÚA JASMINE VÀ IR
50404
Do sinh viên Bùi Minh Phong thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội
đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức: ………
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp và Cần Thơ, ngày tháng năm
2008 Sinh Học Ứng Dụng Chủ tịch Hồi đồng
Trang 6Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ tên sinh viên: BÙI MINH PHONG
Sinh ngày 25/01/1985
Con Ông: BÙI HÀ THANH và Bà PHAN THỊ BÉ EM
Quê quán: Ấp Phú Sơn, Xã Ngãi Đăng, Huyện Mỏ Cày, Tỉnh Bến Tre
Tóm tắt quá trình học tập:
- Tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2003, tại trường trung học phổ thông An Thới, Huyện Mỏ Cày, Tỉnh Bến Tre
- Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2003, học ngành Nông Học Khóa 29
thuộc Khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng Tốt nghiệp kỹ sư Nông Học
2008
Trang 7Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thầy Lăng Cảnh Phú, Cô Phan Thị Thanh Thủy đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình làm thí nghiệm và xử lý số liệu
Thầy cố vấn học tập Ngô Thành Trí, thầy Trần Văn Trưa, thầy Phạm Kim Sơn cùng toàn thể quý Thầy Cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, quý Thầy Cô thuộc các khoa khác, trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tại trường
Chân thành cảm ơn:
Quý Thầy Cô và các Anh Chị thuộc Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này
Các bạn lớp Nông Học K29 đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm thí nghiệm
để hoàn thành đề tài
Thân gởi đến các bạn lớp Nông Học K29 cùng các bạn sinh viên khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng lời chúc sức khoẻ và thành công trong tương lai
Trang 8Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT ix
DANH SÁCH BẢNG x
DANH SÁCH HÌNH xii
TÓM LƯỢC xiv
GIỚI THIỆU 1
Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1 Sự phân bố và ký chủ của rầy nâu Nilaparvata lugens 2
2 Tác hại của rầy nâu Nilapavata lugens 3
3 Đặc tính sinh học của rầy nâu Nilaparvata lugens 4
3.1 Trứng 4
3.2 Ấu trùng 5
3.3 Thành trùng 5
4 Tập quán sinh sống và cách gây hại của rầy nâu Nilaparvata lugens 9
5 Biotype của rầy nâu 11
6 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số rầy nâu 12
6.1 Thức ăn 12
6.2 Giống lúa 12
6.3 Thời tiết 12
6.4 Thiên địch của rầy nâu 14
Trang 9Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
7 Biện pháp phòng trừ 15
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
1 Địa điểm và thời gian 16
2 Phương tiện 16
3 Phương pháp 16
3.1 Khảo sát đặc tính sinh học và vòng đời của rầy nâu trong điều kiện nhà lưới 16
3.2 Khảo sát ảnh hưởng của tuổi cây lúa đến sự phát triển dạng cánh của rầy nâu 18
3.3 Khảo sát khả năng bắt cặp và đẻ trứng của rầy nâu vào đèn 19
3.4 Khả năng sống sót của rầy nâu trên một số cây ký chủ phụ 20
3.5 Khảo sát khả năng cạnh tranh sinh sống của rầy nâu đối với rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên cùng một cây lúa 21
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
1 Đặc tính sinh học và vòng đời của rầy nâu Nilapavata lugens trong điều kiện nhà lưới 22
1.1 Giai đoạn trứng 22
1.2 Giai đoạn ấu trùng 24
1.3 Giai đoạn trưởng thành 28
2 Ảnh hưởng tuổi cây lúa đến dạng cánh của rầy nâu Niapavarta lugens 33
3 Khảo sát khả năng bắt cặp và đẻ trứng của rầy nâu vào đèn 36
4 Khảo sát khả năng sống sót của ấu trùng rầy nâu trên các cây ký chủ phụ 39
5 Khảo sát khả năng cạnh tranh sinh sống của rầy nâu đối với rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên cùng một cây lúa 43
Trang 10Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5.1 Khảo sát vị trí sinh sống của rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen
trên cùng một cây lúa 43
5.2 Số lượng và vị trí của ấu sinh sống của 3 loại rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen sau 1 thế hệ trong điều kiện nhà lưới 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ CHƯƠNG 56
Trang 11Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
N lugens Nilapavarta lugens
O sativa Oryza sativa
O rufypogon Oryza rufypogon
O minuta Oryza minuta
Trang 12Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH BẢNG Bảng Tựa bảng Trang
Bảng 1 Vị trí đẻ và số lượng trứng trong một ổ của rầy nâu trên cây
lúa Jasmine 85 trong điều kiện nhà lưới ĐHCT 22
Bảng 2 Các giai đoạn phát triển của rầy nâu Nilaparvata lugens
giống lúa Jasmine 85 trong điều kiện nhà lưới 23
Bảng 3 Các giai đoạn sinh trưởng của rầy nâu Nilaparvata lugens
trên giống lúa IR 50404 trong điều kiện nhà lưới ĐHCT (24-30 OC, 54-80%) 25
Bảng 4: Kích thước của các giai đoạn sinh trưởng của rầy nâu
Nilaparvata lugens trên giống lúa Jasmine 85 trong điều kiện
nhà lưới ĐHCT (24-30OC, 54-80%) 27
Bảng 5 : Thời gian (ngày) vũ hóa của thành trùng đực và cái
trên 2 giống lúa Jasmine 85 và IR 50404 trong điều kiện nhà lưới,
ĐHCT (24-30 0C, 54-84%) 28
Bảng 6 So sánh đặc điểm về hình thái của thành trùng đực 30
Bảng 7 Thời gian trước đẻ và số trứng của thành trùng cái trên
giống lúa Jasmine 85 trong điều kiện nhà lưới ĐHCT 30
Bảng 8: Ảnh hưởng của tuổi cây lúa đến dạng cánh của N lugens
trên giống Jasmine 85 trong điều kiện nhà lưới, ĐHCT (24-30 0 C, 54-84%) 34
Bảng 9: Tuổi thọ và số ấu trùng sinh ra của con cái N lugens
vào đèn trong điều kiện nhà lưới ĐHCT (24-30 OC, 54-84%) 36
Bảng 10: Tỷ lệ chết của ấu trùng tuổi 1 rầy nâu trên các loại cây
ký chủ trong điều kiện nhà lưới, ĐHCT, 2007 (24-30 OC, 54-84%) 39
Bảng 11: Tỷ lệ sống sót của ấu trùng và tỷ lệ đục cái của rầy nâu
Trang 13Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nilaparvata lugens trên 3 loại cây ký chủ trong điều kiện nhà lưới,
ĐHCT, 2007 (24-30 0 C, 54-84%) 40
Bảng 12 : Thời gian vũ hóa của N lugens trên 3 loại cây ký chủ trong
điều kiện nhà lưới, ĐHCT, 2007 41
Bảng 13: Tỷ lệ dạng cánh của rầy nâu trên 3 loại cây ký chủ trong
điều kiện nhà lưới, ĐHCT,2007(24-30 0C, 54-84%) 42
Bảng 14 Sự phân bố về vị trí định cư của ba loài rầy khi thả
chung trên buội lúa Jasmine 85 vào lúc 36, 48 và 72 giờ sau khi thả,
trong điều kiện nhà lưới 43
Bảng 15: Diễn biến mật số thành trùng cái rầy nâu rầy lưng trắng
và rầy xanh đuôi đen ở những vị trí khác nhau trên cây lúa Jasmine 85
trong các khoảng thời gian sau khi thả 45
Bảng 16 Mật số ấu trùng mà ba loài rầy nở ra trên ba vị trí của buội lúa
Jasmine 85 khi trứng vừa nở hết, trong điều kiện nhà lưới 48
Trang 14Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH HÌNH
Hình Tựa hình Trang
Hình 1: Lồng nuôi ấu trùng, thành trùng 17 Hình 2: Lúa Jasmine đươc trồng làm thức ăn 17 Hình 3 Khảo sát vòng đời rầy nâu trong điều kiện nhà lưới
A: thí nghiệm với ấu trùng; B: với thành trùng 17 Hình 4: Lồng nuôi A: khảo sát sự ảnh hưởng tuổi cây lúa đến dạng cánh
rầy nâu và B: thành trùng khảo sát khả năng cạnh tranh sinh sống
của rầy xanh đuôi đen với rầy nâu và rầy lưng trắng 21 Hình 5 Trứng sắp nở (A) và ấu trùng tuổi 1 mới nở (B) của rầy nâu 26 Hình 6 Các giai đoạn phát triển của rầy nâu: A: trứng; B:ấu trùng tuổi 1;
C: tuổi 2; D: tuổi 3; E: tuổi 4; F: tuổi 5; G: thành trùng cánh ngắn 26 Hình 7 Số trứng đẻ trung bình của thành trùng cái rầy nâu trên giống lúa
Jasmine 85 trong điều kiện nhà lưới 32 Hình 8 Quá trình vũ hóa của rầy nâu trong điều kiện nhà lưới, ĐHCT 32 Hình 9 Thành trùng rầy nâu bị nấm ký sinh, A: Nấm bột; B: Nấm tua 32 Hình 10 Các dạng thành trùng của rầy nâu: A) Đực cánh ngắn,
B) Cái cánh ngắn , C) Cái cánh dài 38 Hình 11 Hình dạng và sự phát triển buồng trứng của rầy nâu vào đèn
A: Hình dạng rầy nâu trước khi mổ; B: ngay sau khi bắt; B: 12 giờ;
C: 48 giờ sau khi nuôi trên cây lúa Jasmine 85 38 Hình 12 Mật số trung bình của ba loài rầy phân bố trên A: thân;
B: cổ lá; C: phiến lá của cây lúa vào lúc 1, 6, 12, 24, 36, 48 và
72 giờ sau khi thả 46 Hình 13 Số lượng trung bình của ba loài ấu trùng rầy nâu,
rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen nở ra trên cây lúa Jasmine 85
trong khoảng thời gian 16 - 18 ngày sau khi thả thành trùng cái,
Trang 15Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khi tất cả trứng vừa nở hết 47 Hình 14 So sánh tỷ lệ (%) trung bình của ba loài ấu trùng rầy nâu, rầy lưng trắng
và N virescens ở ba vị trí trên cây lúa Jasmine 85 khi tất cả trứng vừa nở hết 49
Trang 16Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bùi Minh Phong, 2008 Khảo sát vòng đời và đặc điểm hình thái, sinh học
của rầy nâu, Nilaparvata lugens Stal (Delphacidae, Homoptera) trên giống lúa
Jasmine 85 và IR 50404 Luận văn tốt nghiệp Đại Học Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
TÓM LƯỢC
Đề tài nghiên cứu về rầy nâu, Nilaparvata lugens (Stal), được thực hiện tại Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng (Đại Học Cần Thơ) từ tháng 7/2007 đến 02/2008 với 3 nội dung gồm khảo sát : 1) khảo sát đặc tính sinh thái và sinh học, 2) khả năng sống sót trên một số cây ký chủ phụ phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long, và 3) khả năng sống chung của rầy nâu với rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên một cây lúa Jasmine 85
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học và vòng đời của rầy nâu trong điều kiện nhà lưới cho thấy thời gian sinh trưởng không khác nhau nhiều trên hai giống lúa Jasmine (không có gen kháng) và IR 50404 (có gen kháng
Bph3) Vòng đời trung bình là 21,38 ngày, với giai đoạn trứng 6,48 ngày, ấu trùng
có 5 tuổi với thời gian là 12,38 ngày, và thành trùng sống lâu 12,17 ngày (trên giống Jasmine 85) Con cái cánh ngắn đẻ sớm hơn con cái cánh dài với số trứng đẻ trung bình là 611,3 trứng, so với 573,04 trứng của con cái cánh dài
Trên các loại cây ký chủ khác ngoài cây lúa trồng, ấu trùng có khả năng sống sót cao và vũ hoá được trên các loài lúa ma, trong khi một số cỏ dại như cỏ bắc, cỏ đuôi phụng, cỏ gạo, cỏ lồng vực cạn thì ấu trùng chết ngay ở tuổi 1 trong vòng 5 ngày
Rầy vào đèn vẫn có khả năng đẻ trứng và trứng nở bình thường, trung bình 360,68 ấu trùng của mỗi con cái Khi mổ ra thì lứa mới vào đèn buồng trứng của chúng chưa phát triển, nhưng đến 48 giờ sau thì trứng đã sẵn sàng trước khi đẻ
Sự cạnh tranh giữa 3 loài rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên cùng một buội lúa chỉ đơn thuần là giữa 2 loại rầy nâu và rầy lưng trắng vì chúng
Trang 17Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
có cùng vị trí sinh sống và đẻ trứng trên thân cây ở dưới gốc lúa, còn rầy xanh đuôi đen ở từ cổ lá trở lên phiến lá
Trang 18Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GIỚI THIỆU
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong những năm gần đây đã làm thay đổi toàn diện xã hội, ngày càng nâng cao đời sống của người dân Song có một thực tế không bao giờ thay đổi, đó là vấn đề lương thực vẫn là mối quan tâm nghiên cứu
để cải thiện năng suất lúa gạo trên các cánh đồng ở nhiều quốc gia trên thế giới Một tác nhân làm giảm phần lớn sản lượng và năng suất phải kể đến là các loài côn trùng mà rầy nâu được xếp vào tác nhân nhóm 1 gây hại nhiều nhất Theo Mochida và Heinrichs (1982) thì Dyck và Thomas (1979) ước tính mỗi năm năng suất lúa ở Đông Nam Á giảm do rầy nâu và lúa cỏ khoảng 30 triệu USD
Riêng tại ĐBSCL trong vụ Hè Thu năm 2006 diện tích xuống giống là 1.725.000 ha, rầy nâu bộc phát vào cuối vụ với 96.708 ha bị nhiễm rầy, 43.887,4
ha nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá Vụ Thu Đông và Mùa 2006 thì diện tích gieo sạ là 453.378 ha, diện tích nhiễm rầy nâu gần 40.000 ha, trong đó thì diện tích nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá gần 80.000 ha (Phạm Văn Dư, 2006)
Rầy nâu là một trong những côn trùng gây hại phổ biến trên các ruộng lúa bằng cách chích hút nhựa làm cây lúa cháy khô, truyền bệnh vàng lùn và lùn xoắn
lá Gần đây trên những cánh đồng lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long xuất hiện
những đợt rầy nâu lớn gây hại trên nhiều cánh đồng
Để có những biện pháp phòng trừ thích hợp đối với rầy nâu, nông dân cần có những hiểu biết chính xác hơn về vòng đời và đặc điểm sinh học của chúng so với các loại rầy khác trong ruộng lúa như rầy xanh đuôi đen và rầy lưng trắng Tài
liệu nghiên cứu về các đặc điểm này đã có nhưng rất cũ và hiện còn rất hiếm cho nên cần cập nhật
Nhằm mục đích giúp ích nông dân trong công tác nói trên, đề tài nghiên cứu này được tiến hành với các nội dung như sau:
1 Khảo sát vòng đời và đặc điểm sinh học của rầy nâu
2 Khảo sát khả năng bắt cặp và đẻ trứng của rầy nâu vào đèn
3 Khả năng sống sót của rầy nâu trên các cây ký chủ phụ
4 Khảo sát khả năng cạnh tranh với rầy xanh và rầy lưng trắng trên cây lúa
Trang 19Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1 Sự phân bố và ký chủ của rầy nâu Nilaparvata lugens
Rầy nâu Nilaparvata lugens Stal thuộc giống Nilaparvata, họ Rầy
Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrbyncha, bộ cánh đều
Homoptera (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979) Nilaparvata lugens được Stal đặt tên vào năm 1854 Giống Nilaparvata có 8 loài trong đó chỉ có Nilaparvata lugens
là gây hại trên lúa
Rầy nâu Nilaparvata lugens xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa như Ấn Độ,
Sri Lanka, Bangladesh, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Nhật Bản, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam (Pathak and Khan,1994)
Ký chủ chính của rầy nâu là cây lúa, ngoài ra rầy nâu có thể sống trên các cây
ký chủ khác như cỏ Tuy nhiên, với thí nghiệm của Viện Kỹ Thuật Miền Đông
(1979), thì lúa ma Oryza minuta cũng có thể xem là cây ký chủ chính của rầy nâu
cần lưu ý ở ĐBSCL
Theo Nguyễn Xuân Hiển và ctv (1979), thì thực tế trong điều kiện thí nghiệm
đã nuôi được rầy nâu từ tuổi 1 đến trưởng thành trên các cây sau: Oryza minuta,
Oryza alta , Oryza sativa, Leersia japonica, Stellaria alsine, Trong điều kiện
đồng ruộng đã thấy trứng rầy nâu đẻ trên những cây như Aneilema keisak, Oryza
sativa, Triticum aestivum , Cyper difformis, và cũng bắt được rầy trưởng thành trên những cây như Aneilema keisak, Alopecurus aequalis var amurensis,
Digitaria adscendens,
Theo Phạm Văn Lầm (2006) thì Mochida và Okada (1971), đã lập danh sách
hơn 90 loài thực vật (không kể loài lúa Oryza sativa) thuộc nhiều họ khác nhau có
thể là ký chủ và nơi đẻ trứng của rầy nâu Họ cho rằng một ký chủ phụ thực sự phải là loài thực vật mà trên cây đó rầy nâu phải phát triển ít nhất được một thế
hệ trong điều kiện đồng ruộng Okada đã thí nghiệm với 34 loài cỏ dại, trên mỗi loài cỏ dại đã nhốt 200 trưởng thành rầy nâu, kết quả cho thấy tỷ lệ sống của rầy
Trang 20Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nâu trên cỏ dại rất thấp Mặc dù thí nghiệm đều có rầy cám nở ra, tuy nhiên sau 15 ngày từ khi lây nhiễm trưởng thành rầy nâu thì tất cả chúng đều chết hết
Theo Phạm Văn Lầm (2006) thì trưởng thành cái rầy nâu nuôi trên cỏ lồng vực bị teo buồng trứng, trứng không phát triển được, giai đoạn ấu trùng không hoàn toàn phát dục và không vũ hóa thành trưởng thành
2 Tác hại của rầy nâu Nilaparvata lugens
Rầy nâu trở thành loài sâu hại nguy hiểm tại các nước trồng lúa từ nửa sau thế
kỷ XX Những trận dịch rầy nâu đã ghi nhận xuất hiện tại nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Ấn Độ, Inđônexia, Philippines, Malaixia, Thái Lan đã gây nhiều thiệt hại (Phạm Văn Lầm, 2006)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004) thì tại Việt Nam, rầy nâu được ghi nhận xuất hiện trên lúa từ rất lâu nhưng không gây thành những trận dịch lớn do chỉ trồng lúa mùa Năm 1965 Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế đã đưa vào Việt Nam được trồng đầu tiên ở miền Trung Các giống lúa ngắn ngày được trồng nhiều vụ trong một năm là điều kiện để rầy nâu nhanh chóng nhân mật
số Năm 1969 rầy nâu bắt đầu gây hại mạnh ở Phan Rang và một số tỉnh miền Trung
- Từ năm 1971-1974, rầy nâu đã gây hại cây lúa tại nhiều vùng thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, diện tích bị hại năm 1974 lên đến 94.800 ha
- Từ năm 1977-1979, rầy nâu đã gây thành dịch tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với diện tích lúa bị phá hại khoảng một triệu hecta, nhiều nơi bị mất trắng, thiệt hại đến hàng triệu tấn lúa
- Từ vụ Hè-Thu năm 1988 đến Đông-Xuân 1989-1990, rầy nâu đã phát sinh
và thành dịch gây thiệt hại nặng ở một số nơi như thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Tiền Giang, Minh Hải
- Riêng Năm 1990, ở đồng bằng sông Cửu Long, tính cả 3 vụ sản xuất có khoảng 237.820 ha lúa bị nhiễm rầy nâu, chiếm 8,3 % diện tích lúa cả năm
Trang 21Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Năm 2007, sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL đã đạt được thắng lợi lớn Nếu như năm 2006, ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ bị rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn
lá làm thất thu hơn 600 ngàn tấn ( http://saigon.vnn.vn/read.php?id=18328)
- Ngoài ra rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus dẫn đến bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
3 Đặc tính sinh học của rầy nâu Nilaparvata lugens
Rầy nâu có 3 giai đoạn: trứng, ấu trùng và thành trùng Sự phát triển của từng giai đoạn phụ thuộc vào nhiệt độ và thức ăn ( Mochida and Heinrichs, 1982)
3.1 Trứng
Trứng rầy nâu hình hạt gạo (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004; Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993), hay hình trụ dài, cong, một đầu thon, dài 0,89 mm (Phạm Văn Lầm, 2006) Trứng mới đẻ có màu trắng trong (Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen, 2004) hay nâu vàng (Phạm Văn Lầm, 2006) Khi trứng nở có màu vàng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) sau chuyển màu nâu đen (Phạm Văn Lầm, 2006) Phía trên có bộ phận che lại gọi là nấp trứng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) tựa hình thang (Nguyễn Đức Khiêm, 2006; Lê Lương Tề, 2005) Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng, kiểu úp thìa (Phạm Văn Lầm, 2006; Nguyễn Văn Luật, 2002) vào bên trong bẹ cây lúa (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) hay bên trong bẹ lá lúa, hơi nhô ra ngoài (Phạm Văn Lầm, 2006) Phía trên đầu trứng có bộ phận che lại gọi là nấp trứng, vết đẻ trên bẹ
lá thường là những đốm hoặc bầu dục, trứng được ghim thẳng vào bên trong bẹ lúa (Ngô Thị Hồng Liên, 1989) Trứng xếp thành từng ổ, ít nhất là một trứng đôi khi 43 trứng thường gặp là 2-5 trứng, là những hàng đơn hay hàng đôi (Phạm Văn Lầm, 2006) Khi soi dưới kính lúp (X5) có thể thấy rõ 2 điểm mắt màu thẫm ở phía trên đầu (Nguyễn Công Thuật, 2002) Trứng gần nở xuất hiện 2 điểm mắt màu đen gọi là điểm mắt hay mắt kép (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993; Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979; Mochida and Heinrichs, 1982) Thời gian ủ trứng từ 5-14 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Trang 22Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.2 Ấu trùng
Ấu trùng rầy nâu (rầy cám) có 5 tuổi (Phạm Văn Lầm, 2006; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004), khi mới nở rất nhỏ màu trắng sữa, càng lớn rầy chuyển màu vàng nhạt (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Theo Phạm Văn Lầm (2006) thì đặc điểm, hình dạng các tuổi của ấu trùng như sau:
- Rầy nâu tuổi 1: Lưng có màu đen xám, có đường thẳng trên lề ngực sau, thân dài 1.1 mm
- Rầy nâu tuổi 2: Lưng màu nâu vàng lẫn lộn, lề ngực sau lõm ra phía trước, thân dài 1,5 mm
- Rầy nâu tuổi 3: Lưng màu nâu vàng lẫn lộn, mầm cánh xuất hiện rõ, thân dài
Theo Viện Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Đông (1979) thì thời gian tổng cộng của 5 tuổi ấu trùng rầy nâu khoảng 11-14 ngày, trong đó thời gian tuổi 1 và tuổi 5 thường trên dưới 3 ngày, rầy nâu tuổi 2, 3, 4 trung bình trên 2 ngày Tuy nhiên theo Mochida và Heinrichs (1982), thì giai đoạn ấu trùng là 12 ngày ở 27-28 OC, 14,3 ngày ở 25 OC
3.3 Thành trùng
Thành trùng rầy nâu có 2 dạng cánh: cánh ngắn và cánh dài Dạng cánh dài có cánh che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay đi tìm thức ăn Dạng cánh ngắn có
Trang 23Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cánh phủ đến đốt thứ 6 của thân mình, dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp và có khả năng đẻ trứng cao (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Trưởng thành dạng cánh dài có kích thước cơ thể lớn hơn trưởng thành dạng cánh ngắn, chân và máng đẻ cũng dài hơn (Phạm Văn Lầm, 2006)
Trưởng thành dạng cánh dài có thân dài 4,5-5,0 ( kể cả cánh ) Mặt lưng cơ thể màu nâu vàng hoặc nâu tối (Phạm Văn Lầm, 2006; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004), óng ánh dạng dầu (Phạm Văn Lầm, 2006) Đỉnh đầu nhô ra phía trước, phần gốc râu có 2 đốt nở to, đốt roi râu dài và nhỏ (Phạm Văn Lầm, 2006; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Trên mảnh lưng ngực trước và phiến thuần đều có 3 đường gờ nổi rõ nét, màu vàng xám ( Phạm Văn Lầm, 2006), cánh trong suốt giữa cạnh sau mỗi cánh trước có một đốm đen Khi hai cánh xếp lại, hai đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Phần bụng nở rộng, cuối bụng có rãnh (Phạm Văn Lầm, 2006), có bộ phận đẻ trứng bén nhọn màu đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
- Trưởng thành dạng cánh dài có thân dài 3,6-4,0 mm (Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen, 2004) Đa số thành trùng đực có cơ thể màu nâu tối, phần cuối bụng
có dạng loa kèn (Phạm Văn Lầm, 2006)
- Trưởng thành dạng cánh ngắn có thân dài 3,5-4,0 mm Phiến thuẫn màu nâu vàng, cánh trước dài bằng nửa chiều dài cánh trước của dạng cánh dài, kéo dài đến đốt bụng thứ 6 Trưởng thành đực dạng cánh ngắn có thân dài 2-2,5 mm, đa
số có cơ thể màu nâu đen Phiến thuẫn màu nâu đậm, cánh trước kéo dài tới 2/3 chiều dài phần bụng (Phạm Văn Lầm, 2006)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004) thì tuổi thọ rầy nâu từ 10-20 ngày Rầy trưởng thành cánh ngắn và cánh dài sống 7-14 ngày (Bộ NN & PTNN) Trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp ở các tỉnh phía Bắc (15-17OC) chúng có thể sống kéo dài tới 40-50 ngày hoặc lâu hơn nữa (Nguyễn Văn Luật, 2002)
Vòng đời của rầy nâu từ 25-28 ngày trong điều kiện nhiệt độ 25-30OC (Bộ
NN & PTNN) Trong đó thời gian ủ trứng từ 5-14 ngày, giai đoạn ấu trùng từ
14-20 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 14-2004)
Trang 24Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Khả năng đẻ trứng
Rầy nâu Nilaparvata lugens thường vũ hóa vào buổi sáng, thời gian vũ hóa và
giao phối ngay sau khi vũ hóa (Phạm Văn Lầm, 2006) Tuy nhiên, thành trùng đực rầy nâu không thể giao phối trong vòng 24 giờ sau khi vũ hóa (Lưu Ngọc Hải, 1981; Nguyễn Xuân Hiển và ctv, 1979; Mochida và Okada, 1979) Rầy cái dẫn dụ rầy đực bằng cách rung bụng, ngay cả khi xa nhau khoảng 80 cm Khả năng giao phối của rầy đực tăng đến ngày thứ 5, sau đó giảm Một rầy đực có thể giao phối nhiều nhất với 9 rầy nâu cái trong 24 giờ Trong suốt đời một rầy cái giao phối trên 2 lần (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979; Mochida and Okada, 1979) Thành trùng cái rầy nâu thường đẻ trứng vào ban đêm (Phạm Văn Lầm, 2006), hay buổi chiều (Nguyễn Xuân Hiển và ctv, 1979) Tổng số trứng do một rầy cái đẻ biến động từ 0-1474 trứng Số trứng do rầy cái đẻ thay đổi theo cá thể, tuổi thọ, thời kỳ
đẻ trứng (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979; Mochida and Okada,1979) và tình trạng phát triển của cây lúa (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979) Theo Nguyễn Xuân Hiển và ctv (1979) thì ở Quãng Đông, Trung Quốc đã bắt rầy trưởng thành mới vũ hóa trên mạ trân Châu Lùn thuộc 3 loại tốt xấu khác nhau, đem về nuôi trên lúa từ những loại mạ đó trong thời gian từ làm đòng đến trổ Kết quả cho thấy trung bình 1 rầy cái của mạ loại 1 đẻ 298,6 trứng, mạ loại 2-142,2 trứng, mạ loại 3- 42,6 trứng Tuổi thọ trung bình của rầy cái tương ứng là 17,5 ; 14,9 ; 10,3 ngày Theo Nguyễn Xuân Hiển và ctv (1979) chưa thể khẳng định rầy cái thuộc dạng cánh nào đẻ nhiều hơn, nhưng theo Pathak and Khan (1994), thì rầy nâu dạng cánh ngắn đẻ sớm và nhiều hơn Theo Nguyễn Văn Luật (2002), mỗi con cái đẻ
từ 50-600 trứng, trung bình 150-300 trứng Khi nuôi cá thể trong phòng thí nghiệm thì mỗi con cái đẻ khoảng 805-908 trứng (Kuno, 1968) và ngoài đồng khoảng 429 trứng do tuổi tho ngắn (Kuno và Hokyo, 1970)
Thời kỳ trước đẻ trứng của rầy cái cánh dài sẽ ngắn khi nhiệt độ tăng trong phạm vi 20-33 OC, tuy nhiên thời kỳ trên không thay đổi đối với rầy cái cánh ngắn (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979; Mochida và Okada, 1979) Rầy cái thường đẻ trứng sau khi vũ hóa 1-2 ngày (Nguyễn Văn Luật, 2002)
Trang 25Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Khả năng bắt cặp và đẻ trứng của rầy vào đèn
Việc sử dụng bẫy đèn trong phương pháp dự tính dự báo nói chung được nhiều người thống nhất, tuy nhiên việc sử dụng bẫy đèn trong phòng trừ còn nhiều
ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất vì chưa rõ rầy trước khi vào đèn đã đẻ trứng chưa, nếu rầy đã đẻ trứng hoặc đẻ phần lớn số trứng hữu hiệu thì biện pháp này coi như không kết quả
Theo Suenaga (1963) đã tìm thấy có 200 noãn bào trong 1 con cái Số trứng của rầy vào đèn đẻ giảm 50% so với rầy bình thường, có thể trứng đẻ ít do việc di chuyển xa, năng lượng tiêu hao nhiều, thức ăn trong phòng không đầy đủ nhất là trong thời gian này lúa ngoài đồng ở giai đoạn chín
Hình dạng của rầy vào đèn trong rất bé nhưng nuôi 2 đến 3 ngày bụng bắt đầu phình to, đến 4 ngày sau khi bắt thì rầy bắt đầu đẻ trứng, bụng rầy cái bắt đầu to hơn, cử động chậm chạp hình dạng sẽ được giữ nguyên như vậy đến lúc ngừng đẻ
và chết đi Thời gian trước lúc đẻ trứng 4-5 ngày có dài hơn so với rầy nuôi trong phòng Các trứng đẻ từ các rầy cái vẫn có khả năng nở bình thường Rầy cái mới vào đèn bụng nhỏ, sau 24-48 giờ thả trên lúa bụng to dần và sau 5-6 ngày bắt đầu
đẻ và trạng thái bụng to này vẫn giữ cho đến lúc chết Thời gian sống của rầy vào đèn từ 4-20 ngày, thời gian đẻ từ 1-15 ngày và thời gian ủ trứng từ 5-6 ngày (Viện KTNN, 1979)
Theo Xiaoping Yu và ctv., (2000) thì rầy nâu di cư được thu thập từ bẫy đèn ở tỉnh Zhejing có khả năng phát triển buồng trứng và đẻ giống như những trứng được đẻ trên cây lúa Khi được ghép cặp và không ghép cặp từ những rầy nâu này Kết quả không có trứng nào nở bởi rầy di cư giống như những con rầy không ghép cặp Điều đó có nghĩa là rầy nâu di cư ở tỉnh Zhejing chưa bắt cặp trước khi đáp xuống
Theo Dyck và ctv (1979) thì rầy nâu vào đèn trước khi đẻ trứng, có tỷ lệ đực / cái nhỏ hơn 1 (0,92), (Phạm Văn Lầm, 2006) Theo trích dẫn của Nguyễn Tuyết Khanh (1981) thì hiện tượng rầy vào đèn nhiều thường diễn ra sau khi rầy
đã phá hại nặng, báo hiệu rầy sắp di chuyển
Trang 26Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Rầy di trú thường vào buổi chiều tối, từ các trà lúa sắp thu hoạch, khi thân lúa sắp hết nguồn dinh dưỡng, rầy cần phát tán, phát triển quần thể trên những nguồn thức ăn dồi dào hơn, xanh tươi hơn ( Phạm Văn Dư, 2007)
4 Tập quán sinh sống và cách gây hại của rầy nâu Nilaparvata lugens
Theo Reissig và ctv., (1993) thì rầy nâu thường sống ở nơi ruộng ẩm và đất trũng trong giai đoạn sinh sản của cây lúa Ấu trùng và thành trùng thường thấy ở tán cây lúa nơi có bóng râm và ẩm độ cao Rầy nâu thích môi trường ẩm hơn và môi trường ẩm có lợi cho sự phát triển cũng như sự gia tăng quần thể của rầy nâu
Ẩm độ tương đối của không khí ở khoảng 70-85 % là thích hợp cho sự phát triển của rầy nâu (Dyck và ctv., 1979; Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979), độ ẩm ổn định 50-60 % lại thích hợp nhất với sự gia tăng số lượng rầy nâu Chúng phát triển thích hợp trên ruộng lúa có nước hoặc mặt đất ẩm (Nguyễn Văn Luật, 2002) Rầy nâu loại chịu mật độ, thích sống quần tụ và khả năng năng sống quần tụ cao Cả rầy non và trưởng thành đều không thích ánh sáng trực xạ nên rầy nâu sống gần gốc lúa, chích hút ngay thân lúa, chỉ khi râm mát rầy trưởng thành mới có ở trên mặt tán lá (www.mard.gov.vn/ /Tailieukt/lua-raynau.htm) Rầy nâu bắt đầu di chuyển đến ruộng lúa bằng dạng cánh dài, rồi sinh ra dạng cánh ngắn (Dyck và ctv., 1979; Whipp, 1993) Dạng cánh ngắn ăn và sinh sản, dạng cánh dài bay đi khắp nơi (Reissig và ctv., 1993) Đầu vụ rầy cánh dài di cư từ lúa chét, cỏ dại vào ruộng lúa Gặp lúa nhánh, chúng sinh ra rầy non mà đa số sau sẽ hình thành dạng cánh ngắn (Lê Lương Tề, 2005; Nguyễn Đức Khiêm, 2006) Thành trùng và ấu trùng có tập quán bò quanh thân cây lúa hoặc nhảy xuống nước hay lên tán lúa để lẫn tránh Rầy non thích tấn công cây lúa còn nhỏ nhưng nếu mật số cao có thể gây hại mọi giai đoạn của cây lúa:
- Lúa đẻ nhánh: Rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm theo thân do nấm và vi khuẩn tấn công tiếp theo
- Lúa từ làm đồng đến trổ: Rầy thường tập trung chích hút ở cuống đồng non
- Lúa chín: Rầy tập trung lên thân ở phần non mềm
Trang 27Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào bó libe của mô hút nhựa (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004) Rầy có đôi hàm trên ở ngoài và một đôi trâm hàm ở trong gắn với nhau tạo thành một cơ quan châm hút dài 650-700µm (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979) Trong quá trình chích hút, rầy tiết ra nước bọt phân hủy mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên cây lúa làm cây lúa bị khô héo gây nên hiện tượng cháy rầy (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
Theo Lê Lương Tề (2005) và Nguyễn Đức Khiêm (2006) thì rầy trưởng thành sau khi vũ hóa 3-5 ngày thì bắt đầu đẻ trứng Thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách rạch bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá gần cổ lá khi mật số cao,
đẻ vào bên trong mô thành từng hàng Các vết mới đẻ tạo nên những đốm nhỏ màu trắng đục, sau 3 ngày có màu nâu do nấm bệnh xâm nhập vào Các vết này dài từ 8-10 mm chạy dọc theo bẹ lá Rầy cái tập trung đẻ trứng ở gốc cây lúa cách mặt nước từ 10-15 cm Rầy trưởng thành cánh dài bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn, bay vào đèn nhiều từ 8-11 giờ đêm
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), thì rầy nâu phát sinh gây hại đầu tiên xuất hiện thành từng vạt giữa ruộng sau đó lan dần ra quanh ruộng Khi mật độ cao, trong ruộng thường xuất hiện “ váng rầy” là váng mỏng lan tỏa khắp ruộng Ngoài ảnh hưởng trực tiếp như trên, rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như:
- Các vết chích hút và nơi đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của nấm bệnh và vi khuẩn
- Phân rầy tiết ra các chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lúa, cản trở sự quang hợp ảnh hưởng đến sự phát triển cây lúa
- Rầy nâu thường truyền bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá cho cây lúa (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004 )
Trang 28Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5 Biotype của rầy nâu
Theo Phạm Văn Lầm (2006), vào đầu thập niên 70 thế kỷ 20 rầy nâu chỉ sống
và gây hại được trên các giống lúa không mang gen kháng rầy nâu Những quần thể rầy nâu này gọi là rầy nâu biotype 1 Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế đã lai tạo nhiều giống lúa kháng rầy nâu vào những năm 1973-1974 Các giống lúa
IR26, IR28, IR30 mang gen Bph1 kháng rầy nâu biotype 1 được đưa vào sản xuất
Các quần thể rầy nâu tự nhiên bao giờ cũng cóa một tỷ lệ nhỏ những cá thể có thể sống trên các giống kháng rầy Do đó, khi mở rộng diện tích thâm canh trồng rộng rãi các giống chống rầy, càng có nhiều khả năng hình thành 1 quần thể rộng có thể sống trên những giống đó Rầy có thể biến dị để có thể phất triển thành biotype mới sẽ lớn hơn khi tính chống rầy cao của một giống chỉ do một gen chi phối khả năng đó sẽ ít hơn khi chúng sống trên những giống chống rầy vừa phải nếu giống này do nhiều gen chi phối (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979) Sau vài năm quần
thể rầy nâu đã thích ứng được trên các giống mang gen Bph1 Chúng gây hại nặng cho giống lúa mang gen Bph1 hoặc không mang gen kháng rầy nâu, đó là biotype
2 Để phòng chống rầy nâu biotype 2, các giống lúa kháng rầy nâu biotype như IR36, IR42 đã được IRRI cung cấp cho vùng Đông Nam Á Ở đồng bằng Sông Cửu Long các giống lúa kháng rầy nâu biotype 2 bị nhiễm rầy nâu nặng vào năm
1988 Rầy nâu ở các tỉnh miền Bắc chuyển biotype chậm hơn Vào khoảng 1987-
1988 rầy nâu ở miền Bắc mới chuyển từ biotype 1 sang biotype 2 Hiện nay, rầy nâu ở miền Bắc vẫn là rầy nâu biotype 2, tuy nhiên đã có dấu hiệu chuyển sang biotype mới
Theo Nguyễn Văn Luật thì Nguyễn Công Thuật và Nguyễn Mạnh Chinh (1991) cho rằng quần thể rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu Long có độc tính cao và mang đặc trưng riêng, không giống với rầy nâu biotype 3 ở IRRI vì sự khác biệt
về phản ứng trên các giống mang gen Bph1 như Mudgo và IR26
Khush (1979) cho rằng gen kháng rầy được nghiên cứu từ năm 1968 ở IRRI, đối tượng nghiên cứu chính là 4 giống kháng Mudgo, CO22 , MTU15, ASD 7 Ba giống đầu dược xác định có gen đơn trội kháng rầy nâu biotype 1, ASD 7 có gen
Trang 29Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đơn lặn kháng rầy nâu biotype 2 Những nghiên cứu sau này cho biết không có mối liên hệ giữa biotype 1 và biotype 2
Nguyên nhân chủ yếu gây bùng phát dịch rầy nâu trong những năm gần đây là
do sự trồng nhiều các giống lúa thơm, lúa lai năng suất cao và sạ dày, với lượng giống quá cao (150kg/ha-200kg/ha) (Phạm Văn Lầm, 2006), canh tác gối vụ không đồng loạt, canh tác lúa vụ 3 (Nguyễn Văn Luật, 2002)
6 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số 6.1 Thức ăn
Thức ăn cần thiết cho rầy nâu để tăng kích thước cơ thể, phát triển cơ quan sinh dục, để bù lại năng lượng bị mất trong hoạt động sống của chúng (Phạm Văn Lầm, 2006) Trong các giai đoạn phát triển thì rầy tuổi 5 hút nhiều nhựa hơn rầy trưởng thành và rầy cái hút nhiều hơn rầy đực (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979) Thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến độ mắn đẻ, tốc độ phát triển,
tuổi thọ và số lượng của chúng (Phạm Văn Lầm, 2006)
6.2 Giống lúa
Theo Phạm Văn Lầm (2006), thì trong những năm gần đây ở các vùng trồng lúa nước ta diện tích trồng các giống lúa nhiễm rầy nâu đã gia tăng đáng kể Tại miền Bắc có 81,8% giống lúa lai trồng tại Đồng bằng Sông Hồng bị nhiễm rầy nâu nặng Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long gia tăng trồng các giống lúa thơm chất lượng cao, không kháng rầy nâu ( Jasmine 85, Nàng Thơm Chợ Đào ) Các giống lúa ngắn ngày, đáp ứng phân đạm cao, lá xanh, thân mềm, năng suất cao nhưng không kháng rầy được trồng nhiều là nguồn thức ăn ưa thích của rầy nâu (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)
6.3 Thời tiết
- Nhiệt độ: Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004) thì nhiệt độ thích hợp để rầy nâu phát triển từ 25-30OC Thành trùng cái có thời gian đẻ trứng dài 21 ngày ở 20OC, thời gian sẽ giảm 3 ngày nếu nuôi những thành trùng cái rầy nâu ở
30O C (Pathak and Khan, 1994)
Trang 30Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Điều kiện nhiệt độ trong giai đoạn ấu trùng có ảnh hưởng đến rầy cái trưởng thành, tuổi thọ và sự đẻ trứng của chúng Ấu trùng tuổi 4, tuổi 5 hoạt động bình thường ở nhiệt độ từ 12-31 OC Phạm vi hoạt động của rầy đực cánh dài là 9-
30OC, rầy cái cánh dài là 10-32OC Tuổi thọ của rầy trưởng thành sẽ giảm nếu nhiệt độ tăng trong phạm vi từ 20-33OC ( Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979; Mochida and Okada, 1979) Thành trùng rầy nâu thường sống từ 10-20 ngày trong mùa hè và 30-50 ngày trong mùa đông (Pathak and Khan, 1994) Tuổi thọ và nhiệt độ có ảnh hưởng chặt chẻ với số lượng trứng đẻ ra Nhiệt độ càng cao mức
đẻ trứng càng nhiều (Nguyễn Xuân Hiển và ctv., 1979) Trong điều kiện nhiệt độ cao suốt cả năm ở đồng bằng sông Cửu Long, rầy nâu phá hoại quanh năm, lưa này tiếp theo lưa khác với khoảng cách 25-30 ngày và mật độ chỉ giảm sút sau mỗi vụ thu hoạch (Nguyễn Văn Luật, 2002)
- Ẩm độ, gió và lượng mưa: Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004) thì ẩm độ thích hợp để rầy nâu phát triển là từ 80-86% Mưa lơn liên tục trong nhiều ngày sẽ làm rầy trưởng thành bị suy yếu, rầy cám bị rửa trôi, đồng thời rầy cũng dễ bị nấm bệnh tấn công; trong khi mưa nhỏ hoặc mưa nắng xen kẻ, trời âm
u rất thích hợp để rầy phát triển mật số Rầy nâu có khả năng di chuyển xa và nếu
có gió rầy bốc lên theo gió và bị cuốn đi có thể đến những nơi rất xa
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), yếu tố thức ăn và thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành số lượng rầy cái hoặc đực cũng như dạng cánh ngắn hay cánh dài:
Trang 31Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Rầy nâu sống trên lúa từ cuối giai đoạn đâm chồi đến ngậm sữa nếu có thức ăn đầy đủ đúng vào thời kỳ có điều kiện thời tiết thích hợp, loại hình cánh ngắn xuất hiện nhiều có thể đến 100%
6.4 Thiên địch của rầy nâu
Trong đồng ruộng có nhiều loài côn trùng ăn thịt, ký sinh và nấm bệnh gây hại của rầy nâu (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004; Phạm Văn Lầm, 2006)
Ở các tỉnh trồng lúa trong cả nước đã thu thập và xác định được 82 loài thiên địch của rầy nâu, gồm 11 bộ của lớp côn trùng, lớp hình nhện, nấm bất toàn và tuyến trùng Các loài thiên địch của rầy nâu tập trung nhiều nhất ở bộ cánh cứng (Coleoptera) với 28 loài chiếm 34,1% tổng số loài Thứ hai về bộ bắt mồi với 18 loài chiếm 23,1% tổng số loài (Phạm Văn Lầm, 2002)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thì các loại thiên địch bao gồm:
- Bọ rùa : Có nhiều loài tấn công rầy nâu, mỗi ngày cả thành trùng và ấu trùng của bọ rùa có thể ăn từ 5-10 con rầy nâu
- Kiến ba khoang: có 2 loại kiến 3 khoang thường gặp trên ruộng lúa là
Paederus fuscipes (Curtis) thuộc họ Staphylinnidae và Ophionea indica (Schmidt
Goebel) thuộc họ Carabidae Mỗi ngày thành trùng và ấu trùng kiến ba khoang ăn 3-5 rầy nâu
- Bọ xít nước: Có 2 loài bọ xít nước thường xuất hiện trên ruộng lúa là
(Hemiptera) Ấu trùng và thành trùng đều chích hút chất dịch bên trong cơ thể ấu trùng và thành trùng rầy nâu, mỗi ngày một con bọ xít nước có thể gây hại từ 4-7
ấu trùng và thành trùng rầy nâu
- Bọ xít mù xanh: Tên khoa học Cyrtorhinus lividipennis Reuter, họ
Miridae, Bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) Ấu trùng và thành trùng bọ xít mù xanh tấn công trứng của rầy nâu, cả ấu trùng và thành trùng rầy nâu Mỗi ngày một con
bọ xít mù xanh có thể ăn từ 7-10 trứng rầy hoặc 1-5 con rầy
- Các loài nhện: Phổ biến là loài Pardosa (Lycosa) pseudoannulata
(Boessenberg - Strand), mỗi một con nhện ăn từ 5-15 con rầy mỗi ngày
Trang 32Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo Phạm Văn Lầm (2002) thì rầy nâu ở giai đoạn ấu trùng và thành trùng
bị ký sinh ở tỷ lệ rất thấp Tỷ lệ kí sinh chung của loài ong kiến (Dryinidae) thường chỉ đạt không quá 10% Do đó nhóm kí sinh này ít có ý nghĩa trong hạn chế số lượng rầy nâu ở điều kiện nước ta Các vật gây bệnh cho rầy nâu cũng phát hiện với mật độ thấp Do đó vai trò của các thiên địch bắt mồi rất lớn trong việc hạn chế số lượng rầy nâu trên đồng ruộng
7 Biện pháp phòng trừ:
Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ( 2006) thì:
- Không trồng lúa liên tục trong năm, bảo đảm tời gian cách ly giữa hai vụ lúa
ít nhất 20-30 ngày, không để vụ lúa chét Giữa các vụ trong cùng một vùng ,
không được gieo sạ kéo dài
- Vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày, trục kỹ trước khi gieo sạ, dọn sạch cỏ bờ ruộng, mương dẫn nước
- Sử dụng giống kháng rầy, lúa có chất lượng tốt, nếu có điều kiện có thể sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để xử lý hạt giống
- Không gieo sạ quá dày trên 120 kg giống /ha
- Không bón quá thừa phân đạm, thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm
sự xuất hiện của rầy nâu trên cây lúa
- Nếu phát hiện rầy nâu xuất hiện từ lúc gieo sạ đến 20 ngày, 20 ngày đến trổ -chín thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thích hợp để diệt rầy
Trang 33Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Địa điểm và thời gian
Tất cả các thí nghiệm được thực hiện tại khu nhà lưới và phòng thí nghiệm của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ trong thời gian từ tháng 7/2007-02/2008
- Chậu trồng lúa: kích thước 14 cm x 11 cm x 11 cm
- Ống nghiệm đường kính 2 cm, cao 25 cm để nuôi khảo sát ấu trùng
- Kính lúp cầm tay, thước kẹp, kính nhìn nổi (SZ40) để quan sát và đo kích thước thành trùng, ấu trùng và trứng rầy
3.1 Khảo sát đặc tính sinh học và vòng đời của rầy nâu trong điều kiện nhà lưới
a Nguồn rầy làm thí nghiệm: Sử dụng nguồn rầy nâu vào đèn được nuôi nhân
lên qua nhiều thế hệ trong thời gian từ tháng 7/2007 - 02/2008
b Cách bố trí: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 2
nghiệm thức là 2 giống lúa Jasmine 85 và IR 50404 và 50 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại khởi đầu là một ấu trùng tuổi 1 mới nở
Trang 34Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
c Thực hiện
- Nuôi rầy tạo nguồn làm thí nghiệm:
Bắt thành trùng rầy nâu vào đèn về nuôi trong lồng có kích thước 0,8 m x 0,6 m x 0,6
m và thức ăn là giống lúa Jasmine 85 Khi thành trùng rầy nâu bụng to sắp đẻ, cần
chuyến sang lồng khác đẻ sinh sản Mục đích là tạo được thế hệ sau đồng đều về tuổi
cũng như kích thước và khả năng sống sót Mỗi lồng nuôi đặt từ 4-6 chậu lúa Jasmine 85
ở giai đoạn 25-35 NSKG (mỗi chậu 4 cây lúa) là thích hợp Các chậu được đặt trong lồng
có mức nước từ 2-4 cm để tạo ẩm độ cho rầy nâu phát triển tốt, nước được giữ lại nhờ
tấm nhựa mỏng Trong quá trình nuôi chú ý giữ mực nước ổn định tránh bị thủng plastic, các côn trùng và động vật gây hại như kiến, nhện, thằn lằn,…
Hình 1: Lồng nuôi ấu trùng, thành trùng Hình 2: Lúa Jasmine 85 đươc trồng làm thức ăn
Hình 3 Khảo sát vòng đời rầy nâu trong điều kiện nhà lưới A: thí nghiệm với ấu trùng; B: với thành trùng
Trang 35Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Khảo sát vòng đời:
+ Trứng : Chọn 30 thành trùng cái bụng to, tròn thả lên cây lúa Jasmine 85 và IR
50404 ở 20-30 NSKG trong lồng nhựa nhỏ (cở cao 30 cm x 6 cm đường kính, có bao lưới mịn ở đỉnh lồng) để khảo sát thời gian trứng nở Quan sát hằng ngày vị trí đẻ của rầy nâu trên cây lúa, đánh dấu và theo dõi ngày nở của trứng ngay vị trí đánh dấu
+ Ấu trùng: Năm mươi (50) ấu trùng vừa nở ra được nuôi riêng từng con trên cây lúa Jasmine 85 và IR 50404 ở 10-15 ngày tuổi (sau khi gieo) trong ống nghiệm cá nhân (đường kính 2 cm, cao 25 cm) để theo dõi từng ngày về thời gian lột xác và lớn lên cho đến khi trưởng thành Khi vừa vũ hoá bắt từng cặp của chúng thả vào lồng nuôi (cở cao
30 cm x 6 cm đường kính, có bao lưới mịn ở đỉnh lồng) để khảo sát tuổi thọ và số ấu
trùng nở ra Chăm sóc hàng ngày để thay nước và cây lúa mới khi có triệu chứng cây lúa
bị suy dinh dưỡng
d Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi và quan sát hằng ngày để ghi nhận các chỉ tiêu như
3.2 Khảo sát ảnh hưởng của tuổi cây lúa đến sự phát triển dạng cánh của rầy nâu
a Nguồn rầy: Các ấu trùng rầy nâu tuổi 1 nở ra trong lồng nuôi nguồn
b Cách bố trí: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngầu nhiên với 2
nghiệm thức mỗi nghiệm thức gồm10 lần lặp lại
c Thực hiện
Trang 36Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Có hai tuổi của cây lúa Jasmine được chọn là: (1) 35-45 ngày sau khi gieo và (2)
đã trổ Thả 100 ấu trùng (tuổi 1- 2) lên mỗi buội lúa ở tuổi nói trên trồng trong chậu nhựa
và được bao trong lồng plastic cá nhân cao 90 cm x đường kính 12 cm Chăm sóc cây lúa cho sống khoẻ và theo dõi hàng ngày về sự phát triển của ấu trùng cho đến khi tất cả đã trưởng thành Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 lần lập lại là 10 lồng như trên
d.Chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỉ lệ sống sót đến thành trùng
+ Tỉ lệ cánh dài : cánh ngắn của con đực và con cái
3.3 Khảo sát khả năng bắt cặp và đẻ trứng của rầy nâu vào đèn
a Giải phẩu buồng trứng của con cái Bắt rầy vào đèn để giải phẩu (mổ) con cái
nhằm khảo sát sự phát triển của buồng trứng ở các thời điểm: ngay khi vào đèn (0 giờ),
12 giờ và 48 giờ sau khi vào đèn Do đó, rầy nâu vào đèn được bắt và xử lý như sau:
- Bắt con cái và cho ngay vào chai đựng dung dịch cồn 70% để giữ mẫu dùng cho việc mổ ngay sau khi vào đèn (0 giờ) (30 cá thể)
- Bắt con cái và con đực để nuôi chung trên cây lúa Jasmine 25-30 ngày tuổi nhằm mục đích: 1) mổ rầy cái sau khi nuôi 12 giờ và 2) mổ rầy cái sau khi nuôi 48 giờ Mấy mẫu rầy ở hai thời điểm trên và giữ mẫu như trên
b Khảo sát khả năng sinh con của rầy vào đèn Bắt khoảng 200 thành trùng rầy
đực và cái vào đèn nhốt riêng qua đêm Sau đó tiến hành thí nghiệm với hai nghiệm thức như sau:
1.Nuôi rầy cái chung với rầy đực thành từng cặp
2 Nuôi rầy cái một mình với không có con đực
Mỗi nghiệm thức được thực hiện trong lồng cá nhân với một cây lúa Jasmine
25-30 ngày tuổi trồng trong chậu với 25-30 lần lặp lại Các chỉ tiêu theo dõi là:
+ Quan sát để biết rầy vào đèn có bắt cặp nữa hay không
+ Thời gian trước đẻ trứng của con cái
+ Số ấu trùng nở ra của mỗi con cái
+ Tuổi thọ rầy vào đèn
Trang 37Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.4 Khả năng sống sót của rầy nâu trên một số cây ký chủ phụ
a Nguồn rầy: Sử dụng nguồn rầy nâu từ lồng nuôi được nhân lên qua nhiều thế hệ
b Cách bố trí: Thí nghiêm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 7
nghiệm thức là 7 loại cây ký chủ:
+ Nghiệm thức 1 : Cỏ bắc (Leersia hexandra)
+ Nghiệm thức 2: Cỏ gạo (Echinochloa crus-galli)
+ Nghiệm thức 3: Cỏ lồng vực cạn (Echinochloa colona)
+ Nghiệm thức 4: Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis)
+ Nghiệm thức 5: Lúa rung (Oryza sativa)
+ Nghiệm thức 6: Lúa ma (Oryza minuta)
+ Nghiệm thức 7: Lúa ma (Oryza rufipogon)
Mỗi nghiêm thức được bố trí trong ống nghiệm cá nhân (đường kính 2 cm, cao 25
cm ) với 30 lần lặp lại Mỗi lặp lại là một cây ký chủ non trồng trong ống nghiệm, thả vào
10 ấu trùng tuổi 1 rồi bịt kín lại bằng lưới mịn Quan sát hàng ngày để thay nước và cây
ký chủ mới khi cần và ghi nhận các chỉ tiêu như sau:
Thả 10 ấu trùng tuổi 1 lên từng loại cây ký chủ, sau đó đặt vào ống nghệm cá nhân (đường kính 2cm, cao 25cm) có từ 1- 2 cm nước để tạo ẩm độ, cột ống nghiệm lại bằng
lưới mịn Tuy nhiên với nghiệm thức Lúa ma Oryza rufipogon, Lúa ma Oryza minuta thì
để lượng nước khoảng 1 cm tránh ký chủ mau thối Thay cây ký chủ khác cùng loại khi cây có triệu chứng suy dinh dưỡng Quan sát và theo dõi thí nghiệm đến khi vũ hóa hoàn toàn
d Chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỷ lệ sống sót của ấu trùng
+ Tuổi chết của ấu trùng
+ Thời gian vũ hóa
+ Dạng cánh thành trùng
+ Tỷ lệ đực : cái
Số liệu được ghi nhận xử lý thống kê và lập bảng biểu để thảo luận
Trang 38Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.5 Khảo sát khả năng cạnh tranh sinh sống của rầy nâu đối với rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên cùng một cây lúa
a Nguồn rầy: Các ấu trùng rầy nâu tuổi 1 nở ra trong lồng nuôi nguồn
b Cách bố trí: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẩu nhiên của ba
loại rầy nâu và rầy xanh đuôi, đen rầy lưng trắng với 10 lần lập lại, mỗi lần lập lại khởi đầu là 10 thành trùng cái đã bắt cặp (với mỗi loài là 10 thành trùng cái)
c Thực hiện:
Thả 10 thành trùng cái đã bắt cặp của rầy nâu cùng với rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen (với cùng số lượng như trên) lên một cây lúa Jasmine 85, ở 35-40 ngày sau khi gieo trồng trong chậu đất và được bao lại bằng lồng lưới cở 100 cm cao x 30 cm đường kính để cho chúng đẻ trứng và gia tăng mật số qua một thế hệ
d Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi và quan sát hằng ngày để ghi nhận các chỉ tiêu thí
nghiệm như sau:
- Nơi cư trú của ba loại rầy (thành trùng cái) trong thời gian 1 giờ, 6 giờ, 12 giờ,
24 giờ, 36 giờ, 48 giờ, 72 giờ sau khi thả và vị trí đẻ trứng của mỗi loại rầy
- Vị trí chổ ở của mỗi loại ấu trùng và số ấu trùng nở ra trong mỗi lồng khi tất cả trứng vừa nở hết
Hình 4: Lồng nuôi, A: khảo sát sự ảnh hưởng tuổi cây lúa đến dạng cánh rầy nâu và B: thành trùng khảo sát khả năng cạnh tranh sinh sống của rầy xanh đuôi đen với rầy nâu và rầy lưng trắng
Trang 39Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Số liệu ghi nhận được xử lý thống kê và lập bảng biểu để thảo luận về khả năng cạnh tranh sinh sống của rầy nâu với rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen trên cùng một cây lúa không có khả năng kháng rầy
Trang 40Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Đặc tính sinh học và vòng đời của rầy nâu Nilaparvata lugens trong điều
kiện nhà lưới
Qua thí nghiệm trong điều kiện nhà lưới có nhiệt độ khoảng (24-30 OC) và
ẩm độ trong khoảng (54-84%) trong thời gian từ tháng 7/2007- 02/2008, các kết quả về đặc tính sinh học và vòng đời của rầy nâu được ghi nhận như sau:
từ 1-31 trứng/ổ (trung bình 3,63 trứng) cao hơn trên phiến lá với số trứng dao
động từ 1-12 trứng, trung bình 3,73 trứng Tổng cộng số trứng được đẻ ở phiến lá gần cổ lá chiếm 1,99% trong khi số trứng ở bẹ lá chiếm đến 98,01 %
Bảng 1 Vị trí đẻ và số lượng trứng trong một ổ của rầy nâu trên cây lúa Jasmine
85 trong điều kiện nhà lưới ĐHCT (24-30 OC, 54-80%)*
Số lượng trứng/ổ Số lượng trứng đã đẻ
Vị trí
đẻ trứng
Số lượng ổ trứng đã đẻ Trung bình Biến thiên Tổng số Phần trăm
Cổ lá
Bẹ lá Tổng cộng
150 7.612 7.762
3,73 3,63
1-12 1-31
560 27.630 28.190
1,99 98,01
100
* Số liệu là kết quả của 50 rầy cái được khảo sát
Kết quả trình bày trong Bảng 2 cho thấy giai đoạn trứng kéo dài từ 5-7 ngày, trung bình 6,48 ngày trên giống lúa Jasmine 85, trong khi đó ở giống lúa IR50404 thì thời gian ủ trứng từ 9-11 ngày, trung bình 10,48 ngày