Hầu hết tuyến trùng gây bệnh cho cây trồng thuộc bộ Tylenchida, với 5 họ chủ yếu là Heteroderidae, Tylenchidae, Aphelenchidae, Tylenchulidae và Neotylenchidae Ou, 1985; Lê Lương Tề, 1977
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Nguyễn Thị Kiều Bích Nga
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN TUYẾN TRÙNG TRONG ĐẤT VÀ RỄ TIÊU
TẠI XÃ SƠN BÌNH, HUYỆN CHÂU ĐỨC,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-OOO-
Nguyễn Thị Kiều Bích Nga
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN TUYẾN TRÙNG TRONG ĐẤT VÀ RỄ
TIÊU TẠI XÃ SƠN BÌNH, HUYỆN CHÂU ĐỨC,
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc
Cần Thơ, 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
……….o0o………
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp với tên đề tài:
“Khảo sát thành phần tuyến trùng trong đất và rễ tiêu tại xã Sơn Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”
Do sinh viên Nguyễn Thị Kiều Bích Nga thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
TP Cần thơ, ngày… tháng… năm 2008 Cán bộ hướng dẫn
PGs.Ts Nguyễn Thị Thu Cúc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5LÝ LỊCH CÁ NHÂN
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: NGUYỄN THỊ KIỀU BÍCH NGA
Con ông: NGUYỄN HỮU TRỌNG và bà ĐẶNG THỊ PHÉP
Ngày sinh: 29/08/1984
Nơi sinh: Ninh Kiều – Cần Thơ
Quê quán: Tuy Hoà – Phú Yên
Giới tính: nữ
Dân tộc: Kinh
2 QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Năm 1991 –1996: Học lớp 1 – 5 tại trường tiểu học Lê Quí Đôn
Năm 1996 – 2000: Học lớp 6 –12 tại trường THCS Châu Văn Liêm
Năm 2000 – 2003: Học tại trường THPT Châu Văn Liêm
Tốt nghiệp THPT vào năm 2003 và thi đậu vào ngành Nông học – Khoa Nông Nghiệp và SHƯD vào năm học 2004 – 2005
Năm 2004 –2008: Là sinh viên lớp Nông Học K30 – Khoa Nông Nghiệp và SHƯD - Đại Học Cần Thơ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Để có được những kết quả ngày hôm nay con xin gởi lòng thành kính biết ơn và thiêng liêng nhất đến công lao sinh thành và nuôi dưỡng của ông bà, cha và mẹ
Em xin gởi đến cô PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc, giáo viên hướng dẫn lòng thành kính biết ơn sâu sắc Cô đã tận tình dìu dắt và chỉ bảo, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin gởi đến tất cả thầy cô thuộc Khoa Nông Nghiệp & SHƯD - Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báo trong suốt quá trình học tập lòng biết ơn sâu sắc
Thành thật cảm tạ: Anh Nguyễn Trọng Nhâm, anh Nguyễn Thanh Sơn, anh Đặng Tiến Dũng, anh Ngô Thành Đua, anh Trương Minh Lý, anh Trương Quốc Đạt và toàn thể các anh chị trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật - Khoa Nông Nghiệp & SHƯD - Đại học Cần Thơ cùng các bạn lớp Nông Học K30 và Bảo
Vệ Thực Vật K31 đã tận tình động viên và giúp đỡ trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thị Kiều Bích Nga
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7Nguyễn Thị Kiều Bích Nga (2008): Khảo sát thành phần tuyến trùng trong đất
và rễ tiêu tại xã Sơn Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Luận Văn
tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Cần Thơ
-
TÓM LƯỢC
Nhằm tìm hiểu về tình hình bệnh tuyến trùng trên cây tiêu tại xã Sơn
Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian từ tháng
1/2008 đến tháng 4/2008 Chúng tôi tiến hành điều tra nông dân, điều tra thực
tế ngoài đồng, sau đó thu mẫu đất và rễ về phân tích Công tác điều tra và thu
mẫu được thực hiện ngẫu nhiên tại 10 vườn có diện tích trên 1000m2 Tại mỗi
vườn, chúng tôi lấy đất và rễ tại 6 gốc tiêu ngẫu nhiên có trong vườn Và tại
mỗi gốc tiêu thì tiến hành lấy 1 kg đất và 1- 10g rễ
Kết quả điều tra nông dân cho thấy có 3 giống tiêu được sử dụng ở đây và
Vĩnh Linh là giống được ưa chuộng nhất Chủ yếu bà con sử dụng cây sống để
làm trụ (cây gòn được sử dụng phổ biến) và có cung cấp phân hữu cơ cho đất
với số lượng khác nhau Khoảng 30% nông dân điều tra biết về tuyến trùng
bướu rễ và 100% nông dân không biết về các giống tuyến trùng khác Để
phòng trừ tuyến trùng một số hộ sử dụng Mocap hoặc Tricho ĐHCT
Qua điều tra thực tế ngoài đồng ghi nhận sự hiện diện của rệp sáp, bọ cánh
lưới, rầy hút bông… Ngoài ra đa phần các cây trong giai đoạn này có biểu hiện
của bệnh chết chậm, rất ít cây có triệu chứng của bệnh chết nhanh 100% các
hộ điều tra trồng tiêu với hình thức chuyên canh nhưng đa phần các hộ này có
trồng lẫn tạp một số loại cây trồng khác
Kết quả phân tích đã phát hiện 12 loài tuyến trùng hiện diện trong đất và
rễ cây tiêu thuộc 8 giống gồm Meloidogyne, Tylenchulus, Rotylenchulus,
Helicotylenchus, Tylenchus, Criconemella, Discocriconemella và Aphelenchus
thuộc 6 họ là Heteroderidae, Tylenchulidae, Hoplolaimidae, Criconematidae,
Tylenchidae, Aphelenchidae Trong đó, nhóm tuyến trùng phổ biến gồm giống
Rotylenchulus, Meloidogyne, Tylenchulus và Aphelenchus còn các giống khác
xuất hiện rãi rác Bên cạnh đó còn xác định được tỷ lệ của hai loài
Meloidogyne
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ iv
Tóm lược v
Mục lục vi
Danh sách bảng viii
Danh sách hình ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1 Tuyến trùng 2
1.1 Sơ lược về tuyến trùng 2
1.2 Phân loại tuyến trùng 2
1.3 Đặc điểm cấu tạo tuyến trùng 4
1.4 Đặc điểm sinh sản và phát triển của tuyến trùng 5
1.5 Triệu chứng và sự gây hại của tuyến trùng 6
1.6 Sự lưu tồn và lây lan của tuyến trùng 7
1.7 Quan hệ tương hổ giữa tuyến trùng với các vi sinh vật khác 8
1.7.1 Tuyến trùng và bệnh nấm 8
1.7.2 Tuyến trùng và bệnh vi khuẩn 8
1.7.3 Tuyến trùng và bệnh vi rút 8
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng lên tuyến trùng thực vật 9
1.9 Tuyến trùng gây hại tiêu 10
1.9.1 Tuyến trùng Tylenchulus 11
1.9.2 Tuyến trùng Rotylenchulus 11
1.9.3 Tuyến trùng Meloidogyne 12
2 Cây tiêu 12
2.1 Giới thiệu chung về cây tiêu 12
2.2 Đặc tính thực vật 13
2.3 Các yêu cầu ngoại cảnh 13
2.4 Giống và trụ tiêu 14
2.4.1 Giống tiêu 14
2.4.2 Trụ tiêu 14
2.5 Sâu bệnh hại tiêu 14
2.5.1 Sâu hại tiêu 14
2.5.2 Bệnh trên tiêu 15
3 Đặc điểm tự nhiên và tình hình trồng tiêu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 15
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 17
2.1 Phương tiện 17
2.2 Phương pháp 17
2.2.1 Điều tra nông dân 17
2.2.2 Điều tra ngoài đồng và thu thập mẫu 18
2.2.3 Khảo sát tại phòng thí nghiệm 18
2.2.3.1 Phương pháp trích tuyến trùng 18
2.2.3.2 Phương pháp xác định thành phần loài 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 23
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 93.1 Kết quả điều tra nông dân 23
3.1.1 Đặc điểm canh tác 23
3.1.2 Sự hiểu biết của nông dân về dịch hại 26
3.2 Tình hình dịch hại trên các vườn khảo sát 29
3.2.1 Thành phần côn trùng và bệnh gây hại trên các vườn khảo sát 29
3.2.2 Thành phần và sự phong phú của tuyến trùng trên các vườn khảo sát 32
3.2.3 Một số đặc điểm hình thái và sự hiện diện của các nhóm tuyến trùng phổ biến trong mẫu phân tích 35
3.2.3.1 Tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne (Tylenchida – Heteroderidae) 35
3.2.3.2 Tylenchulus sp.(Tylenchidae – Tylenchulidae) 41
3.2.3.3 Rotylenchulus sp (Tylenchida – Hoplolaimidae) 46
3.3.3.4 Aphelenchus sp 52
3.2.4 Một số đặc điểm hình thái và sự phân bố của các giống tuyến trùng không phổ biến hiện diện trong các mẫu phân tích 54
3.2.4.1 Criconemella sp 54
3.2.4.2 Discocriconemella sp 55
3.2.4.3 Helicotylenchus sp.(Tylenchida – Hoplolaimidae) 57
3.2.4.4 Tylenchus sp 57
3.3 Thảo luận chung 58
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
4.1 Kết luận 59
4.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10DANH SÁCH BẢNG Trang
Bảng 3.1 Một số đặc điểm canh tác tiêu tại xã Sơn Bình - huyện Châu Đức
- tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 24
Bảng 3.2 Các giống tiêu và hộ trồng tiêu tại xã Sơn Bình – huyện Châu Đức – tỉnh Bà Riạ - Vũng Tàu 25
Bảng 3.3 Các loaị thuốc nông dân xã Sơn Bình đã sử dụng để phòng trừ dịch hại trên tiêu 27
Bảng 3.4 Sự nhận biết về dịch hại trên tiêu và biện pháp phòng trừ của nông dân xã Sơn Bình – huyện Châu Đức - tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 28
Bảng 3.5 Tình hình bệnh chết chậm và mật số tuyến trùng Meloidogyne/cây ở các vườn điều tra 31
Bảng 3.6 Thành phần dịch hại hiện diện trên cây tiêu trong quá trình điều tra (không kể phần dưới đất) 32
Bảng 3.7 Thành phần tuyến trùng hiện diện trong đất và rễ tiêu tại xã Sơn Bình - huyện Châu Đức – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 33
Bảng 3.8 Sự hiện diện của các giống tuyến trùng trên các vườn điều tra 34
Bảng 3.9 Mức độ phong phú và phổ biến của các giống tuyến trùng trên các vườn điều tra 35
Bảng 3.10 Tỉ lệ hiện diện của Meloidogyne arenaria và Meloidogyne incognita 37
Bảng 3.11 Tình hình nhiễm Meloidogyne trên các vườn điều tra tại xã Sơn Bình – huyện Châu Đức – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 38
Bảng 3.12 Mật số tuyến trùng Meloidogyne trên cây tiêu tại xã Sơn Bình – huyện Châu Đức - tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 40
Bảng 3.13 Mật số tuyến trùng và số bướu hiện diện trên từng cây trong các vườn khảo sát 41
Bảng 3.14 Các chỉ tiêu đo đạc về hình thái của con cái Tylenchulus trưởng thành 43
Bảng 3.15 Sự hiện diện của sp trên các vườn điều tra (1/2008 – 4/2008) 44
Bảng 3.16 Mật số trung bình (*) của Tylenchulus sp trên cây của các vườn khảo sát 46
Bảng 3.17 Các chỉ tiêu hình thái của con đực Rotylenchulus sp 48
Bảng 3.18 Các chỉ tiêu hình thái của con đực Rotylenchulus sp 48
Bảng 3.19 Các chỉ tiêu hình thái của con cái Rotylenchulus sp 49
Bảng 3.20 Các chỉ tiêu hình thái của con cái Rotylenchulus sp 49
Bảng 3.21 Sự hiện diện của Rotylenchulus sp trong các vườn điều tra tại xã Sơn Bình - huyện Châu Đức – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 51
Bảng 3.22 Mật số trung bình (*) của Rotylenchulus sp.trên cây trên các vườn khảo sát 51
Bảng 3.23 Mật số trung bình của Aphelenchus sp 52
Bảng 3.24 Các chỉ tiêu về hình thái của con cái Criconemella sp 55
Bảng 3.25 Các chỉ tiêu về hình thái của con cái Discocriconemella sp 56
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Sơ đồ ly trích tuyến trùng từ đất qua các hệ thống rây 20
Hình 3.1 Tiêu Ấn Độ (A)- tiêu Sẻ (B) – tiêu Vĩnh Linh (C) 26
Hình 3.2 Trụ gạch (A) và trụ cây gòn (B) 30
Hình 3.3 Triệu chứng vàng lá trên cây tiêu 30
Hình 3.4 Các giai đoạn của Meloidogyne theo thứ tự A, B, C, D, E, F, G, H và I 36
Hình 3.5 Vân hậu môn của Meloidogyne arenaria (A), Meloidogyne incognita (B) 38
Hình 3.6 Meloidogyne cái ký sinh trong rễ tiêu 38
Hình 3.7 Triệu chứng bướu rễ do Meloidogyne gây ra 40
Hình 3.8 Các giai đoạn phát triển của con cái Tylenchulus sp 42
Hình 3.9 Con đực Tylenchulus sp 43
Hình 3.10 Phần đuôi (A) và phần đầu (B) của con đực Tylenchulus sp 43
Hình 3.11Tylenchulus sp bám trên rễ 44
Hình 3.12 Con đực Rotylenchulus sp 47
Hình 3.13 Phần đầu của con đực Rotylenchulus sp 47
Hình 3.14 Phần đuôi của con đực Rotylenchulus sp 47
Hình 3.15 Con cái Rotylenchulus sp (A) và phần đuôi (B) 49
Hình 3.16 Phần đuôi (A) và phần đầu (B) của Aphelenchus sp1 53
Hình 3.17 Phần đầu (A) và phần đuôi của Aphelenchus sp2 53
Hình 3.18 Phần đầu (A) và phần đuôi của Aphelenchus sp3 53
Hình 3.19 Con cái Criconemella sp 54
Hình 3.20 Phần đầu (A) và phần đuôi (B) của con cái Criconemella sp 54
Hình 3.21 Con cái (A), phần đầu (B) và phần đuôi (C) của Discocriconemella sp 56
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12MỞ BÀI
Khoảng 5 năm gần đây, ngành hồ tiêu Việt Nam phát triển nhanh và chiếm lĩnh thị trường thế giới, khẳng định vị trí “số 1” trong xuất khẩu hố tiêu
Tổ chức Hạt tiêu thế giới (IPC) đánh giá cao vai trò của Việt Nan về sản lượng
ổn định và chất lượng hạt tiêu ngày càng nâng lên, trong khi đó sản lượng của các nước trồng tiêu khác như Ấn Độ, Indonexia giảm mạnh
Trong thời điểm hiện tại, Đông Nam Bộ đang trở thành vùng trồng hồ tiêu chính lớn nhất trong cả nước với diện tích trồng trên 25000 ha, chiếm 54% tổng diện tích hồ tiêu của cả nước Một số huyện có dịên tích trồng hồ tiêu khá lớn (3000 – 8000 ha) là Xuân Lộc, Phước Long, Long Đất và Châu Đức (5820 ha) Sản lượng hồ tiêu Việt Nam đạt mức tăng trưởng mỗi năm khoảng 10%,
51000 tấn vào năm 2000, tăng lên đến 95000 tấn vào năm 2004 Mức tăng sản lượng chủ yếu là do tăng diện tích trồng, trong khi đó năng suất hầu như không tăng Một trong những lý do đưa đến việc không tăng năng suất là tình hình dịch hại
Các bệnh gây hại chính trên tiêu bao gồm: bệnh chết nhanh do nấm
Phytopthora và bệnh chết chậm do nấm Fusarium và tuyến trùng (Kularatne,
2002, trích dẫn Ngô Thành Đua, 2007) Theo Eng (2002) có sự liên hệ gây hại
giữa tuyến trùng Meloidogyne với hai loài nấm Pythium và Fusarium Tuyến
trùng chích hút tạo vết thương trên rễ tạo cơ hôi cho nấm bệnh tấn công Bên cạnh đó, một số tuyến trùng chui vào rễ chích hút nhựa làm rễ suy yếu, tạo nên các bướu làm nghẽn mạch rễ, làm giảm khả năng hút nước và dinh dưỡng nên cây còi cọc Năng suất giảm rõ rệt và cây bị chết (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005)
Nhằm góp phần nghiên cứu xây dựng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trên cây tiêu, đặc biệt là tại xã Sơn Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: ”Khảo sát thành phần tuyến trùng trong đất và rễ tiêu thuộc xã Sơn Bình, huyện Châu Đức, tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu” từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 04 năm 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về tuyến trùng
Tuyến trùng còn gọi là giun tròn (nematodes) là những động vật không xương sống thuộc ngành giun tròn (Nematoda hay Nemata) Đây là một trong các nhóm động vật đa dạng và phong phú nhất trên hành tinh của chúng ta Sự phong phú và đa dạng của tuyến trùng thể hiện cả về số lượng loài, số lượng cá thể cũng như kiểu sống, phân bố và hệ sinh thái của chúng (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Cũng theo Nguyễn Ngọc Châu, hầu hết các nhóm tuyến trùng sống tự
do, phần lớn chúng sống ở trong đất, trong các thuỷ vực nước ngọt, bãi biển, thềm lục địa và ngay cả đáy các đại dương Nhóm tuyến trùng trong đất bao gồm cả tuyến trùng hoại sinh (không có kim ở hai đầu, ăn xác bả thực vật) và
cả tuyến trùng ký sinh gây hại cho cây trồng (có kim ở đầu) (Phạm Văn Kim, 2000) Hiện nay có trên 15000 loài đã được khảo sát, trong đó có khoảng 2000 loài sống trong đất Hầu hết tuyến trùng gây bệnh cho cây trồng thuộc bộ Tylenchida, với 5 họ chủ yếu là Heteroderidae, Tylenchidae, Aphelenchidae, Tylenchulidae và Neotylenchidae (Ou, 1985; Lê Lương Tề, 1977)
Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì hằng năm loài người mất đi 18% sản phẩm nông nghiệp do tuyến trùng và hằng năm tuyến trùng đã cướp đi của nhân loại hàng tỷ đô la (Allen, 1960)
1.2Phân loại tuyến trùng
Theo Agrios (2003), hầu hết tuyến trùng sống tự do trong nước và trong đất Nhiều loài tấn công và ký sinh trên người và động vật gây ra nhiều bệnh khác nhau và nhiều loài ký sinh trên thực vật gây ra nhiều bệnh quan trọng trên cây trồng, làm giảm năng suất trầm trọng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Tuyến trùng ký sinh thực vật được phân loại trên cơ sở bộ phận bị hại (Nguyễn Trần Oánh, 1997):
Nhóm tuyến trùng cố định rễ như: Tuyến trùng tạo nang
(Heteroderidae), tuyến trùng tạo nốt sưng (Meloidogyne spp.) Nhóm tuyến trùng nội ký sinh trong rễ như tuyến trùng tổn thương rễ (Pratylenchus spp., Radopholus spp.) Tuyến trùng xoắn ốc (Helicotylenchus spp.) Tuyến trùng truyền bệnh siêu vi (Xiphinema spp.), tuyến trùng thân (Ditylenchus spp., Rhadinaphelenchus sp.) và tuyến trùng búp và lá (Aphelenchoides spp., Anguina spp.)
Dựa vào mối quan hệ của nhóm tuyến trùng này đối với cây trồng, Paramonop (1962) (trích dẫn của Đường Hồng Dật, 1979), chia thành 5 nhóm sinh thái:
1.Nhóm tuyến trùng vùng rễ cây sống tự do trong đất, có khả năng chọc thấu vào rễ cây và hút nhựa
2.Nhóm tuyến trùng hoại sinh thực sự sống trong các môi trường vật chất hữu cơ đang thối rữa
3 Nhóm tuyến trùng hoại sinh không điển hình vừa sống trong các mô
tế bào thực vật đang thối rữa cũng như trong các mô chưa có triệu chứng thối rữa
4.Tuyến trùng ký sinh thực vật không chuyên hoá, thường gặp trong các
mô tế bào đã bị các ký sinh khác gây bệnh Nhóm tuyến trùng này chủ yếu ăn sợi nấm
5.Tuyến trùng ký sinh thực vật chuyên tính gây ra những triệu chứng điển hình và chỉ sống trên tế bào sống của cây
Cũng theo Paramonop (1962) (trích dẫn của Đường Hồng Dật, 1979), dựa vào chu kỳ sinh sống tuyến trùng thực vật được chia thành 3 nhóm sinh thái:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Nhóm 1: nhóm tuyến trùng này có giai đoạn còn non sống trong đất Con cái bám phía đầu vào rễ cây, còn thân thì vẫn trong đất và đẻ trứng vào
đất Con đực sống hoàn toàn trong đất Ví dụ: tuyến trùng Tylenchulus
Nhóm 2: ở nhóm này, tuyến trùng trưởng thành thành thục và sinh sản trong hạt giống Khi gieo vào đất dưới tác động của độ ẩm, tuyến trùng non ra khỏi hạt tìm đến nách lá cây và gây hại Khi hạt phát triển, tuyến trùng chui vào
phôi hạt và chuẩn bị cho chu kỳ phát triển mới Ví dụ: tuyến trùng Anguina tritici, Heterodera schachtii
Nhóm 3: con cái sống trong rễ cây và đẻ trứng trong đó, trứng có thể phát triển ở trong đất hoặc trong rễ cây Nhóm tuyến trùng này chỉ sống trong
mô cây bị hại Ví dụ cho nhóm này là tuyến trùng Meloidogyne goeldi, Ditylenchus fillip
1.3 Đặc điểm cấu tạo tuyến trùng
Tuyến trùng ký sinh thực vật có cấu tạo hình giun và kích thước cơ thể nhỏ bé, thường dài 0,2-1mm, một số trường hợp dài hơn 3mm hoặc dài đến 10mm, chiều rộng thân không đồng đều theo chiều dài cơ thể Đặc biệt các loài
Meloidogyne, Heterodera, Tylenchulus và một số loài có con cái phát triển
mạnh về chiều ngang, vỏ thân dày và ít hoặc không di động Hình dáng của chúng liên quan chặc chẽ với đặc tính sinh sống và cây ký chủ nên chúng có hình dạng đặc trưng như quả lê, quả chanh, hình tròn, hình cầu, hình giọt nước nhỏ giọt và phần dưới con cái phát triển rộng hơn nhiều so với phần đầu Loại phá huỷ mô tế bào thì có hình dạng là hình trụ, hình thoi sống trong đất
Về cấu tạo cơ thể, tuyến trùng được Đường Hồng Dật (1979) mô tả như sau:
- Vách thân tuyến trùng gồm 3 lớp: lớp cutin, lớp vỏ với các tuyến da và các bắp thịt Lớp cutin là nơi để gắn các bắp thịt đảm bảo cho tuyến trùng có độ căng cần thiết, lớp cutin được tạo ra từ da, các bắp thịt giúp tuyến trùng chuyển động
- Phần đầu gồm có đầu và yết hầu, giữa đầu có miệng với 2 môi chuyển động được với các cơ quan xúc giác Thực quản đi qua yết hầu và đó là một phần của ruột trước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16- Hệ thống thần kinh gồm các bó thần kinh chạy dọc theo thân và được các vòng thần kinh nối liền với nhau
- Bộ máy tiêu hóa gồm ống ruột, bắt đầu từ miệng và kết thúc ở hậu môn nằm về phía bụng và được chia làm 3 phần: ruột trên, ruột giữa và ruột dưới Thức ăn đi vào từ miệng đến thực quản và được tiêu hóa ở ruột giữa, cuối cùng thức ăn không tiêu hóa được ruột dưới đưa ra ngoài
- Bộ máy sinh dục của con cái và con đực rất khác nhau Bộ phận sinh dục của tuyến trùng nói chung gồm hai ống cùng có một chỗ dẫn chung ra ngoài Con cái có lỗ sinh dục ở giữa thân, con đực ở ruột dưới
- Phần đuôi bắt đầu từ hậu môn Có bộ phận tên là phasmids là những nhú đuôi bên được nối với tuyến trước đuôi bên có chức năng cảm thụ hoá học Đây là một đặc điểm đặc biệt để phân biệt tuyến trùng (Thorne, 1961)
1.4 Đặc điểm sinh sản và phát triển của tuyến trùng
Tuyến trùng phần lớn là sinh sản hữu tính với số lượng trứng sinh ra tương đối lớn (300+) đối với các loài mà trứng của chúng bị giới hạn như trong
mô thực vật (Ditylenchus dipsaci) , trong một túi trứng (Meloidogyne spp), hoặc trong cơ thể con cái (Heterodera spp) (Nguyễn Ngọc Châu,2003)
Theo Đường Hồng Dật (1979) tuyến trùng sống trong nước ngọt, trong đất, hoại sinh, ký sinh thực vật thường con cái nhiều hơn con đực và thỉnh thoảng có trường hợp không có con đực hoặc lưỡng tính Trong số tuyến trùng
ký sinh thực vật có loài sinh sản không cần con đực như Heterodera Schimidt
và Meloidigyne Goeldi Tuyến trùng gây sần rễ chỉ sản sinh ra con đực trong
trường hợp khó khăn, thí dụ như rễ cây bị thối rữa, một bộ phân tuyến trùng non phát triển thành con đực
Nguyễn Ngọc Châu (2003) cho rằng ở đa số tuyến trùng trứng được đẻ từng quả một ra ngoài đất hoặc vào trong mô thực vật, nhưng ở nhóm nội ký sinh cố định tuyến trùng cái đẻ hàng loạt vào một túi gelatin do nó tự tiết ra khi
đẻ trứng; ở một số tuyến trùng Heteroderidea, khi con cái phát triển đạt đến giai đoạn cuối, trứng được giữ lại bên trong cơ thể chúng và con cái tạo thành một cái bọc chứa trứng (cyst) Túi trứng và cyst thực sự là những cấu tạo thích nghi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17và tiến hoá để bảo vệ trứng khỏi các điều kiện bất lợi của môi trường Ở đa số tuyến trùng con cái thường đẻ trứng nhưng trong một số trường hợp trứng có thể bên trong cơ thể của con cái và thông thường con mẹ sẽ chết sau đó
Tuyến trùng thực vật non có bốn tuổi và tuổi thứ năm là trưởng thành, kích thước các tuổi khác nhau (Phạm Văn Kim, 2000 và Đường Hồng Dật, 1979)
Chu kỳ phát triển bao gồm giai đoạn phát triển trong vỏ trứng đến tuyến trùng non, tuyến trùng trưởng thành phân biệt rõ giới tính đực cái Tuyến trùng non phát triển từ trứng sang tuổi 1 thì phần đầu phát triển mạnh nhất, tiếp đó đến phần giữa thân và sau cùng là nữa phần thân sau và các cơ quan bên trong bắt đầu phát triển Khi hoàn thành tuổi 2 chúng bắt đầu ăn để bước sang tuổi 3 Tuổi 5 là tuổi tuyến trùng phát triển thành tuyến trùng trưởng thành, đây cũng
là tuổi mà cơ quan sinh dục phát triển hoàn chỉnh nhất
1.5 Triệu chứng và sự gây hại của tuyến trùng
Theo Đường Hồng Dật (1979), tuyến trùng có khả năng thích ứng với tất
cả các bộ phận của cây, chúng có thể sống ở rễ, ở các bộ phận trên mặt đất và ở các bộ phận sinh sản Tác hại cũng như triệu chứng gây ra rất khác nhau Nhiều trường hợp triệu chứng xuất hiện tương đối rõ nhưng cũng có trường hợp không hình thành triệu chứng bên ngoài mà biểu hiện chủ yếu là cây sinh trưởng kém Còn theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), triệu chứng gây hại do tuyến trùng gây ra dễ nhầm lẫn với triệu chứng do các nguyên nhân khác gây ra như: hiện tượng cây thiếu nước, thiếu chất dinh dưỡng, các bệnh
viroide, vi khuẩn , thậm chí do côn trùng hoặc nhện gây ra
Do quá trình sống và sinh sản trên hoặc mô thực vật, tuỵến trùng có thể gây ra nhiều biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với thực vật Đó là các biến đổi về cơ học như phá hủy mô thực vật, tạo ra các vết thương, các biến đổi về sinh lý do các chức năng chính của thực vật như hút và vận chuyển chất dinh dưỡng của rễ thân, quang hợp của lá bị phân huỷ, các biến đổi sinh hoá do tuyến trùng tiết ra các enzym tiêu hoá làm thay đổi các quá trình sinh hoá bình thường của cây (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Còn Phạm Văn Kim (2000) thì cho rằng, tuyến trùng ký sinh có mang kim ở đầu để chích hút chất dinh dưỡng từ cây Cách gây hại cho cây, chủ yếu,
là chích hút làm cho mô cây bị hư hỏng Nếu ký sinh ở rễ thì làm cho rễ bị hư hỏng, không hút được đầy đủ dưỡng liệu từ đất nên cây bị cằn cõi, lá vàng, rụng lá, cây chết dần Triệu chứng bệnh do tuyến trùng gây ra biểu hiện rất chậm Trên cây đa niên, bệnh có thể tiến triển trong nhiều năm trước khi làm chết cây nên rất khó nhận ra kịp thời
Theo Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh (1986) tuyến trùng dùng vòi châm hút dinh dưỡng từ mô cây, đồng thời chúng tiêm nước bọt hoá lỏng các dịch của tế bào chất và chuẩn bị tiêu hoá Như vậy các tế bào cây lần lượt bị tiêu huỷ và chất độc tiết ra tạo nên hoại thư và biến dạng các mô và tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập
Các nghiên cứu đánh giá trên cơ sở của 20 loại cây trồng ở các vùng khác nhau trên thế giới đã xác định mức thiệt hại trung bình hàng năm do tuyến trùng ký sinh gây ra là 12.5%, tương đương khoảng 77 tỷ USD (tỷ giá của năm1984) Đặc biệt ở các nước đang phát triển do trình độ canh tác thấp, mức
độ đầu tư có hạn thì thiệt hại do tuyến trùng ký sinh thường cao hơn (trung bình
là 14.5%) so với các nước phát triển (trung bình là 8%) (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh,2000)
Đến nay đã điều tra phát hiện khoảng 250 loài tuyến trùng ký sinh cây trồng ở Việt Nam, trong đó ước đoán số loài tuyến trùng ký sinh đã được phát hiện chiếm 50% số loài tuyến trùng ký sinh thực vật ở Việt Nam (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Ở nước ta, tuyến trùng là một trong những trở ngại chủ yếu cho việc phát triển cây hồ tiêu Ở một số nông trường tuyến trùng cũng gây ra những thiệt hại đáng kể cho cây cà phê (Đường Hồng Dật,1979)
1.6 Sự lưu tồn và lây lan của tuyến trùng
Theo Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh (1986), khi gặp điều kiện bất lợi (cây khô héo, đất bị hạn…) ấu trùng hình thành một nang được bao
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19bọc trong lớp da ngoài của lần lột xác trước Dưới dạng nang chúng có thể
chống chịu được sự khô hạn trong nhiều năm Khi gặp lại điều kiện bình
thường tuyến trùng lại hồi sinh và phát triển tiếp tục Nhờ khả năng ấy tuyến
trùng có thể tồn tại trong một thời gian nhất định trong đất không trồng trọt và
không có ký chủ thích hợp
Một số tuyến trùng thực vật có thể tiềm sinh đến hàng chục năm Tuyến
trùng Ditylenchus angustus gây bệnh tiêm đọt sần cho lúa, lưu tồn trong rơm rạ
đến 4 tháng sau khi thu hoạch Tuyến trùng A besseyi gây bệnh khô đầu lá trên
lúa có thể tồn tại trong hạt lúa giống tồn trữ đến vài tháng và lan truyền cho vụ
sau (Phạm Văn Kim, 2000) Tuyến trùng hại lúa mì non trong điều kiện khô
trong phòng thí nghiệm có thể sống được 28 năm (Đường Hồng Dật, 1979)
Tất cả tuyến trùng ăn thực vật trãi qua một thời kỳ ngắn hoặc dài của
chu kỳ phát triển ở trong đất và sống ở đó một giai đoạn nhất định hoặc gần
toàn bộ vòng đời Tuyến trùng không thể di động trong khoảng cách lớn do cơ
thể quá bé nhỏ Do đó, chúng phải nhờ các yếu tố khác như gió, mưa, nước
tưới, đất, nguồn cây giống và tàn dư thực vật để lây nhiễm sang cây khác
(Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986)
1.7 Quan hệ tương hỗ giữa tuyến trùng với các vi sinh vật khác
1.7.1 Tuyến trùng và bệnh nấm
Tuyến trùng có liên quan đến những bệnh được gây ra bởi nấm
(Cylindrocladium crotalariae, Fusarium spp, Rhizoctonia solani và những loài
khác) có nghĩa là nó có khả năng xâm nhập vào rễ cũng như gây bệnh trên lá
với sự tác động của tuyến trùng (Nicholson et al 1985, trích dẫn Nguyễn
Ngọc Châu, 2003)
Sự phân huỷ mạnh mẽ tinh bột ở củ khoai tây do tuyến trùng
Ditylenchus destructor đã làm tăng sự mẫn cảm đối với nấm Phytophthora
infestans (Mijiger,1957, trích dẫn Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 2003)
Cũng theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, tuyến trùng và nấm tuy có
liên quan với nhau trong quá trình ký sinh trên cây trồng nhưng cũng có một số
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20loài tuyến trùng đối kháng có đặc tính sử dụng nấm làm nguồn thức ăn, giúp cho cây trồng tránh được sự xâm nhiễm của một số loài nấm bệnh
Aphelenchoides, làm giảm mức độ bị bệnh trên cây ngô do nấm Pythium arrhenomanes
1.7.2 Tuyến trùng và bệnh vi khuẩn
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), một số vi khuẩn xâm nhập vào cây trồng thông qua các vết thương cơ giới và các lỗ hở tự nhiên Nguyên
nhân gây bệnh vàng lá vi khuẩn lúa mì (Corynebacterium triciti) phân bố ở Ấn
Độ, Trung Quốc chỉ gây bệnh trên cây trồng khi cây trồng bị tuyến trùng
Anguina tritici xâm nhập trước Tuy nhiên một số tuyến trùng có thể ăn vi
khuẩn gây bệnh cho thực vật (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
1.7.3 Tuyến trùng và bệnh virút
Một số tuyến trùng hút dịch chứa virut, sau đó chúng nhân nhanh số lượng trong cơ thể và truyền sang cây khoẻ theo phương pháp sinh học Một số loài khác không thực hiện quá trình sinh sản nhân nhanh số lượng virút trong
cơ thể mà chúng truyền ngay trong tuyến nước bọt khi tuyến trùng bơm đẩy kim hút hút nhựa cây (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Cũng theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) virút có thể có mặt trong cơ thể tuyến trùng ở tất cả các giai đoạn phát triển từ giai đoạn trứng Trong tất cả các giai đoạn thì giai đoạn tuyến trùng non tuổi 2 mang truyền virút mạnh nhất, sau đó mới tới giai đoạn trưởng thành
1.8 Các yếu tố ảnh hưởng lên tuyến trùng thực vật
Loại đất: Tuyến trùng ký sinh ở rễ cây thì các loại đất cát, đất cát pha, đất thịt nhẹ là những loại đất phù hợp cho sự tích lũy và hoạt động của tuyến trùng, giúp di chuyển dễ dàng đến vùng rễ cây để gây hại (Lê Lương Tề, 1977)
Độ ẩm và nhiệt độ đất: Số lượng tuyến trùng tăng nhiều trong mùa mưa
ấm áp và giảm đi nhiều trong mùa khô hạn Độ ẩm cao giúp tuyến trùng di chuyển dễ dàng Vì vậy lớp đất mặt (2-3 cm) khô cứng nên số lượng tuyến trùng ít hơn là các tầng phía dưới Nhiệt độ đất bất lợi làm tuyến trùng chuyển
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21sang trạng thái tiềm sinh, khi gặp điều kiện thuận lợi tuyến trùng hoạt động trở lại (Lê Lương Tề, 1977)
Không khí trong đất: Oxy tham gia phần lớn vào quá trình phân giải trong đất, trong môi trường nghèo oxy thì tuyến trùng không hoạt động, tuyến trùng tuổi 2 hại củ cải đường ngừng chuyển động ở điều kiện oxy trong nước chỉ có 36%, đối với tuyến trùng nốt sần là 4% (Lê Lương Tề, 1977)
pH đất: ảnh hưởng của pH thông qua cây ký chủ, cây trồng phát triển tốt trong môi trường đất trung hoà và nó thúc đẩy tăng mật độ của tuyến trùng
Chất bài tiết của rễ cây trồng: Trong quá trình sinh trưởng, rễ cây tiết ra nhiều chất có tính hấp dẫn tuyến trùng Các chất này có tác dụng kích thích trứng tuyến trùng nở Tuy nhiên, một số loại cây tiết ra các chất có tác dụng xua đuổi tuyến trùng (Lê Lương Tề, 1977)
Kỹ thuật canh tác: luân canh giúp làm hạn chế hoặc cắt đứt nguồn ký chủ của tuyến trùng, làm giảm sự gia tăng mật số của chúng (Kleynhans, 1999, trích dẫn
Ngô Thành Đua, 2008)
Vi sinh vật đối kháng: Có những loại nấm, vi khuẩn, virus, Rickettsia, Tardigrade, Tuberlaria, Enchytraeid, côn trùng và tuyến trùng đối kháng có khả năng tiêu diệt tuyến trùng hại cây Vi sinh vật đối kháng ở trong đất là một yếu
tố quan trọng làm giảm số lượng tuyến trùng hại cây tích lũy tồn tại ở trong đất (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
1.9 Tuyến trùng gây hại tiêu
Các loại bệnh gây hại quan trọng trên tiêu bao gồm: Phytopthora sp., Fusarium solani, Radopholus similis và Meloidogyne incognita Sự tương tác
giữa 4 tác nhân gây hại này thường đưa đến sự phức hợp về bệnh (disease complexes) tại hầu hết các nước trồng tiêu trên thế giới (Ramana và Eapen,
2000, trích dẫn Ngô Thành Đua,2008) Sundararaju et al (1979) ghi nhận có 48
loài tuyến trùng thuộc 29 giống, trong khi đó thì Ramana và Eapen (2000) ghi nhận được có 30 giống và 54 loài trên cây tiêu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Theo Ramana và Eapen (2000), Meloidogyne spp và R similis là hai
loài gây thiệt hại nặng nề cho tất cả các nước trồng tiêu trên thế giới và trong 4
loài Meloidogyne hiện diện phổ biến nhất trên thế giới như M incognita, M.arenaria, M javanica và M hapla M incognita là loài phổ biến nhất trên
cây tiêu Tại Kerala và Karnataka, có khoảng 70% và 54% số cây bị nhiễm bởi
M incognita (Ramana và Mohandas, 1987 và 1989, trích dẫn Ngô Thành Đua,
2008), cây bị nhiễm tuyến trùng bướu rễ với mật số cao có triệu chứng suy yếu chậm (slow decline)
Theo Eng (2002), có sự tương tác qua lại giữa Meloidogyne và các bệnh
do nấm Fusarium và Pythium, tuyến trùng chích hút tạo vết thương vùng rễ
tiêu, tạo cơ hội cho nấm tấn công rễ tiêu Năng suất bị giảm nghiêm trọng khi
có sự kết hợp của Meloidogyne và virút
Tại Việt Nam, Nguyễn Bá Khương (1987) đã ghi nhận được 14 giống tuyến trùng gây hại trên tiêu tại Việt Nam, kết qủa khảo sát của Trần Vũ Phến
và Nguyễn Thị Thu Cúc (1990) trên một số vườn tiêu thuộc Tây Ninh, Đồng Nai, Hà Tiên, Phú Quốc, Hậu Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long) đã phát hiện được 27 giống tuyến trùng hiện diện trong đất và rễ tiêu, trong đó có nhiều loài đã được ghi nhận gây hại trên cây tiêu tại nhiều nơi trên thế giới như
Radopholus similis (ghi nhận tại Hà tiên), Meloidogyne incognita (hiện diện
trong 74% số mẫu điều tra)
1.9.1 Tuyến trùng Tylenchulus
Do có kiểu sống bán ký sinh nên Tylenchulus mất đi khả năng chuyển
động và trở thành ký sinh tại chổ hoặc bán nội ký sinh Ấu trùng tuổi 2 được nở
ra từ trứng do kích thích của các chất được tiết ra từ rễ thực vật Ở giai đoạn này, chúng không dinh dưỡng mặc dù có kim hút, sau đó chúng trải qua 3 lần lột xác trong đất và trở thành con trưởng thành non Sự lột xác cuối cùng cần
có sự kích thích của rễ thực vật Khi gặp cây ký chủ con cái non xâm nhập vào phần trước cơ thể vào mô ngoài của rễ để hút dinh dưỡng và phình rộng cơ thể
ở phía ngoài cơ thể Con cái thành thục đẻ trứng vào một túi getalin tạo thành
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23bọc trứng Túi này thường bao bọc phần bên ngoài của cơ thể con cái (Nguyễn Ngọc Châu, 2003).
Ấu trùng tuổi 2 của T semipenetrans có thể ngừng sự phát triển của
chúng khi không có mặt của cây ký chủ và tồn tại ở trong đất trong một thời gian một vài năm Khi cây ký chủ xuất hiện J2 đạt đến tuyến trùng trưởng
thành và xâm nhập vào cây chủ Sự sinh sản của loài T semipenetrans xảy ra với sự có hoặc không có con đực T semipenetrans thích nghi rộng với các loại
đất và điều kiện môi trường khác nhau, tuy nhiên loài này mẫn cảm với sự khô hạn Nhiệt độ tối ưu của chúng là 250C và pH thích hợp từ 6-8 Loại tuyến trùng này có thể được phát hiện ở độ sâu đến 4m, tuy nhiên mật độ phong phú nhất của chúng thường ở dưới lớp đất sâu 30 cm
T semipenetrans ký sinh gây hại chính trên các cây giống cam chanh (Citrus), phân bố ở hầu khắp các vùng trồng cam chanh Ngoài ra cũng gặp loài này ký sinh trên cây olive và bưởi Các loài nấm Fusarium oxysporum và F solani có khả năng làm tăng hiệu ứng gây hại của loài này Các chủng sinh lý
hoặc chủng sinh học khác nhau cũng đã được xác định trên cơ sở sự mẫn cảm của cây chủ (đã xác định được 4 chủng trong loài này)
1.9.2 Tuyến trùng Rotylenchulus
Đây là tuyến trùng bán nội ký sinh Loài R reniformis gây ra sự biến đổi
tế bào xung quanh vùng đầu của chúng R reniformis sinh sản bằng sinh sản
hữu tính Loài này có thể chịu được điều kiện nhiệt độ khắc nghiệt, tuy vậy, nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của chúng là 25-290 C và pH thích hợp từ 4,8-5,2 Sự sinh sản của chúng có thể bị hạn chế ở 360C Đây là loài ưa đất mịn với
độ bùn và cát tương đối cao
R reniformis ký sinh với mật độ quần thể rất lớn trên các cây trồng
chính như bông, ngô, chè, các loại đậu, đậu đũa, đậu tương, dứa, khoai lang Tác hại do loài này ký sinh thường tăng lên do kéo theo các bệnh nấm
(Rhizoctonia, Fusarium, Verticillium) Tuy nhiên một loại nấm sợi là Glomus fasciculatus lại có khả năng hạn chế loài tuyến trùng này Ở nước ta, loài này
ký sinh gây hại phổ biến trên nhiều cây trồng khác nhau như, dứa, chuối, hồ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24tiêu và đặc bịêt loài này ký sinh gây hại rất phổ biến ở các vườn ươm (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
1.9.3 Tuyến trùng Meloidogyne
Còn gọi là tuyến trùng sưng rễ thuộc bộ Tylenchida, bộ phụ Tylenchina, siêu họ Heteroderoidea, họ Meloidogynidae Đây là nhóm tuyến trùng nội ký sinh cố định, quan trọng nhất cho nền nông nghiệp trên thế giới Nhóm tuyến trùng này phân bố rộng khắp thế giới và ký sinh ở hầu hết các cây trồng Cho đến nay đã thống kê khoảng gần 80 loài ký sinh thuộc giống này, trong đó có 4
loài ký sinh gây hại quan trọng, nhất là: M incognita, M arenaria, M javanica
và M hapla.Cây trồng bị Meloidogyne xâm nhiễm thường hình thành các u
sưng trên hệ thống rễ Kích thước và hình dạng các u sưng thay đổi tuỳ theo số lượng, loài tuyến trùng xâm nhiễm và đặc tính của cây ký chủ Sự xâm nhiễm của tuyến trùng này thường mở đường cho nhiều nấm và vi khuẩn gây bệnh cây trong đất làm cho cây bị bệnh trầm trọng hơn Tuyến trùng này có phổ ký chủ rất rộng, xâm nhiễm gần 2.000 loại cây trồng khác nhau, bao gồm hầu hết các loại rau cải được biết Trong số các loại rau bị hại nặng nhất là dưa chuột,
bí đỏ, cà chua, cà tím, xà-lách, cà-rốt, cần tây, (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
2 CÂY TIÊU 2.1 Giới thiệu chung về cây tiêu
Cây tiêu có nguồn gốc tự nhiên ở vùng nhiệt đới ẩm, được người Ấn Độ phát hiện và sử dụng đầu tiên Đến thế kỷ 13, cây tiêu được trồng rộng rãi ở hầu hết các châu lục (Lê Đức Niệm, 2001) Cũng theo tac giả, tiêu chỉ thích hợp ở độ cao 800m, lên cao lạnh làm tiêu kém phát triển
Ở Việt Nam, cây tiêu được đưa vào trồng từ thế kỷ 17 nhưng đến cuối thế kỷ 18 mới phát triển trên những diện tích rộng (Lê Đức Niệm,2001) Một
số vùng có tiềm năng phát triển tiêu gồm Lộc Ninh, Bà Rịa, Lâm Đồng, Đak Lak, Khe Sanh, Hà Tiên, Phú Quốc… (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 252.2 Đặc tính thực vật
Rễ tiêu có 4 loại gồm rễ trụ, rễ cái, rễ con, rễ bám Thân tiêu thuộc loại
thân bò, cọng trụ Dựa vào chức năng có thể chia làm 3 loại nhánh là nhánh vượt, nhánh ác và nhánh luơn Trong đó chỉ có nhánh ác là có khả năng cho trái Lá tiêu hình tim tròn hay hơi dài, thuộc loài lá đơn mọc xen, là một đặc tính để phân biệt giống Hoa tiêu có thể luỡng tính hoặc đơn tính mọc trên 1 gié hoa đối diện với lá, trùng bình từ 25 – 50 hoa Mỗi trái chỉ có một hột tròn gần như không có cuống, kích thước thay đổi tuỳ giống Hột tiêu gồm có bên ngoài
là vỏ hột, bên trong là phôi và phôi nhủ, là phần được sử dụng của cây
2.3 Các yêu cầu ngoại cảnh
Theo Lê Đức Niệm, tiêu có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới nên đòi hỏi yêu cầu khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ tốt nhất là 25 – 270C Nếu ở nhiệt độ trên 400C hoặc dưới 100C thì ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của tiêu
Cây tiêu thích hợp trong điều kiện mưa đều, lượng mưa hằng năm khoảng 1000 -3000 mm, tuy nhiên cây tiêu vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường trong vùng ít mưa nhưng phân phối đều Phân bố luợng mưa, tình trạng thoát nước, và khả năng giữ ẩm của đất đóng vai trò quan trọng đối với cây tiêu hơn là tổng lượng mưa Lượng mưa khá là điều kiện thuận lợi nếu thoát nước tốt, ngược lại tiêu dễ bị bệnh Khô hạn cũng là yếu tố giới hạn sự sinh trưởng
và phát triển của cây tiêu (Phan Quốc Sủng, 2000)
Cây tiêu thích bóng râm ở mức độ nhất định, là cây bóng râm ở giai đoạn còn nhỏ, khi cây bắt đầu tăng trưởng thì không cần bóng râm nhiều và cần tỉa bớt dần để ánh sang lọt vào (Lê Đức Niệm, 2001) Cây tiêu cần trồng nơi ít gió, gió khô nóng hay gió lạnh đều không thích hợp cho cây phát triển (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005), cây tiêu có thể trồng ở độ cao 1500m so với mực nước biển và sinh trưởng trên nhiều loại đất Tuy nhiên, yêu cầu đất không bị ngập và dễ thoát nước Đất cần có nhiều chất hữu cơ, tơi xốp,
độ pH từ 5,5 – 6,5
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 262.4 Giống và trụ tiêu 2.4.1 Giống tiêu
Theo Phan Hữu Trinh và ctv (1988), các giống được trồng phổ biến ở Việt Nam có thể phân thành 3 nhóm giống dựa trên đặc tính hình thái, chủ yếu kích cỡ lá:Tiêu lá nhỏ còn gọi là tiêu sẻ gồm các giống Vĩnh Linh, Tiêu Sơn,
Di Linh …, tiêu giống trung bình như Lada – Belangtoeng, Karimuda, Kuching…, tiêu lá lớn còn gọi là tiêu trâu như giống sẻ mỡ, trâu đất đỏ
2.4.2 Trụ tiêu
Trụ tiêu là nơi để tiêu leo bám trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, đồng thời nó cũng chiếm một tỉ trọng lớn trong phần chi phí đầu tư cho việc trồng tiêu Hiện tại nông dân sử dụng các loại trụ như trụ bằng cây đã chết, trụ bằng cây sống, trụ bằng gạch hoặc ximăng… (Nguyễn Bảo Vệ và ctv,2005)
2.5 Sâu bệnh hại tiêu 2.5.1 Sâu hại tiêu
Theo Trần Văn Hoà (2001) tiêu thường bị nhóm chích hút gây hại, trong
đó có rầy Elasmognatus nepalensis, chúng hút hoa và lá non, sống ẩn nấp ở
mặt dưới lá Rầy chích hút làm lá non bị vàng, gié hoa bị héo đen và rụng Rầy thường xuất hiện vào đầu và cuối mùa mưa.Một đối tượng gây hại khá quan
trọng nữa là rệp sáp (Pseudococcus sp.) còn gọi là rầy bông trắng, có hình bầu
dục, trên thân có phủ lớp sáp trắng xám mịn Rầy chích hút lá non làm cây phát triển kém
2.5.2 Bệnh trên tiêu
- Bệnh chết dây
Theo Viện Bảo vệ thực Vật (2007) bệnh chết dây còn gọi là bệnh héo
nhanh, do nấm Phytophthora sp gây ra Đây là một bệnh rất nguy hiểm, bệnh
làm cho cây tiêu chết nhanh và chết hàng loạt, gây thiệt hại trầm trọng trong
các vườn tiêu Nấm Phytophthora sp còn kết hợp với các loại nấm khác như Fusarium sp., Pythium sp và Rhizoctonia sp tấn công làm tiêu chết nhanh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27chóng Bệnh thường xảy ra trong mùa mưa lúc trời nóng ẩm Nấm bệnh có trong đất và lây lan nhanh qua nước, thường xuất hiện trong mùa mưa Ngoài
ra nếu tiêu bị tuyến trùng tấn công cũng giúp nấm dễ xâm nhiễm vào rễ hơn Đầu tiên là phần thân chính có dấu hiệu bị héo Lá ngã màu vàng và rụng Lá rụng từ dưới lên hay từ trên xuống và rụng phần lớn trong khoảng 1 – 2 tuần, cành trơ trụi và khô, cây chết sau vài ngày hay vài tuần với hệ thống rễ thối đen
và phần thân ở cổ rễ bị thối rã ra
- Bệnh vàng héo rũ
Còn gọi là bệnh héo chậm hay bị suy thoái bệnh do tuyến trùng gây ra đôi khi kết hợp với việc thiếu dinh dưỡng Cây bệnh trở nên suy yếu, lá vàng, chóp lá bị đen dần và rụng Rễ có nhiều bướu, mọc ngắn lại và ít đâm rễ nhánh
Tuyến trùng sống trong đất nhất là loài Meloidogyne spp chui vào rễ chích hút
nhựa làm rễ suy yếu, tạo nên các bướu làm nghẽn mạch rễ, giảm khả năng hút nước và chất dinh dưỡng, năng suất giảm rõ rệt và cuối cùng cây bị chết Cây
càng chết nhanh hơn nếu bị bội nhiễm bởi nấm Phytophthora sp.và Fusarium
sp Đất có sa cấu nhẹ và hơi chua thường bị tuyến trùng nhiều hơn (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005)
3 Điều kiện tự nhiên và tình hình trồng tiêu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, ảnh hưởng của gió mùa, tổng lượng bức xạ cao và ổn định (bình quân 390 – 520 cal/cm2/ngày), nhiệt độ cao đều quanh năm, trung bình 27,8 oC, thấp nhất là tháng 1 (25,7oC) và cao nhất là tháng 4 (28,9oC), tổng tích ôn là 9127oC/ năm,
số giờ nắng là 2377 giờ/ năm, trong đó các tháng mùa khô có số giờ nắng 193,2 – 271,5 giờ/ tháng, ít bão và sương mù (Bộ Khoa Học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu)
Yếu tố chi phối lớn nhất của khí hậu đối với sản xuất cây tiêu là mưa và phân bố mưa Bà Rịa – Vũng Tàu có lượng mưa trung bình năm 1933 mm/ năm, tăng dần từ phía Nam đến phía Bắc Mùa mưa tập trung lượng mưa cao, trong khi mùa khô dài gay gắt, ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng của cây cũng như chi phí tưới, thoát nước Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết cơ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28bản là thuận lợi cho việc phát triển cây tiêu Tổng diện tích tự nhiên của Bà Rịa
- Vũng Tàu là 197.537 ha, với 9 nhóm đất chính, trong đó đất đỏ bazan và đất
đỏ vàng chiếm 40,8%, đất xám 14,3%, đất cát biển 10,2% còn lại là những nhóm khác
Bà Rịa - Vũng Tàu có tổng diện tích tự nhiên là 198.200 ha, đất phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp là 89.188 ha (chiếm 44,9% diện tích đất), trong đó diện tích đất đỏ bazan 63.934 ha (chiếm 32,4%), có nhiều thuận lợi và tiềm năng lớn để phát triển cây lâu năm Cũng như các tỉnh khác ở miền Đông Nam
Bộ, các cây trồng chính được người dân đầu tư chủ yếu ở Bà Rịa - Vũng Tàu là cây tiêu, điều, cao su, cà phê và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao được thị trường tiêu thụ nhiều Trong các loại cây trồng trên thì cây tiêu chiếm 12% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp Hầu hết các huyện trong tỉnh đều có trồng tiêu, riêng huyện Côn Đảo diện tích không đáng kể Diện tích hồ tiêu tập trung chủ yếu ở một số nơi như huyện Châu Đức 5330 ha, huyện Xuyên Mộc
1255 ha, huyện Tân Thành 367 ha và thị xã Bà Rịa 263 ha Đây là những địa phương có diện tích đất đỏ bazan thích hợp cho cây tiêu phát triển Các huyện còn lại diện tích không đáng kể (Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Bà Rịa –Vũng Tàu, 2006)
Diện tích trồng mới gia tăng nhiều nhất ở huyện Côn Đảo 11923 ha, các địa phương khác trồng mới không đáng kể Diện tích tiêu bị hủy bỏ chủ yếu ở
Xuyên Mộc 188 ha, do đây là khu vực nhiễm bệnh chết nhanh do Phytophthora
sp., gây chết hàng loạt trong 1 vài năm trước đây (Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật
Bà Rịa - Vũng Tàu, 2006)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phương tiện
- Địa điểm: xã Sơn Bình , huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Số vườn điều tra: 10 vườn
- Thời gian thực hiện: 01/2008 đến 04/2008
- Phiếu điều tra: mẫu in sẵn
- Dụng cụ thu mẫu: cây lấy đất, bọc nylon, giấy báo, viết, nhãn, phiếu ghi nhận đặc điểm của cây lấy mẫu,…
- Dụng cụ ly trích mẫu: hệ thống rây (1mm, 100μm, 45μm), beaker, đĩa petri,
xô và giấy thấm, rây,…
- Dụng cụ quan sát mẫu: kính lúp, kính hiển vi, đĩa đếm, lame đếm, lame, lamelle và kim vớt tuyến trùng, pipet,…
- Hóa chất: nước cất, cồn 95%, dầu quan sát vật kính 100, formalin (40% formaldehyde), dung dịch FA 4:1 (formalin: 10ml, acid acetic:1ml; glycerol: 2ml; nước cất: 87ml)
2.2 Phương pháp
2.2.1 Điều tra nông dân
Nhằm tìm hiểu về tình hình dịch hại trên tiêu, cũng như sự hiểu biết của nông dân về dịch bệnh và biện pháp phòng trừ Chúng tôi tiến hành điều tra nông dân tại xã Sơn Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo phương pháp điều tra trực tiếp nông dân trồng tiêu có diện tích tối thiểu là 1000m2
Nội dung điều tra
- Đặc điểm canh tác tiêu của nông dân
- Thành phần dịch hại trên tiêu nói chung và bệnh do tuyến trùng gây ra nói riêng
- Kinh nghiệm phòng trừ dịch hại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 302.2.2 Điều tra ngoài đồng và thu thập mẫu
Điều tra ngoài đồng
Công tác điều tra được thực hiện nhằm đánh giá tình hình bệnh tuyến trùng trên tiêu và mức độ thiệt hại thực tế ngoài đồng, sau đó thu mẫu đất và rễ
- Mỗi nọc tiêu lấy khoảng 1kg đất
- Cách lấy: tuỳ vào đường kính tán của nọc tiêu và dựa vào hình chiếu của tán cây so với mặt đất một góc vuông mà lấy đất, những nơi có nhiều rễ tiêu Bỏ 10cm lớp đất mặt sau đó lấy sâu khoảng 20-30cm Mỗi gốc tiêu lấy 4 điểm, bỏ
chung vào bọc đựng mẫu và ghi ký hiệu đầy đủ trên bọc đựng mẫu
- Mẫu rễ
Mỗi gốc tiêu lấy từ 1 - 10g rễ
2.2.3 Khảo sát tại phòng thí nghiệm
Nhằm xác định thành phần và mật số tuyến trùng, chúng tôi tiến hành phân tích các mẫu
Trang 31- Quan sát rễ dưới kính lúp để ghi nhận sự hiện diện của tuyến trùng bán nội
ký sinh
Sau khi quan sát xong, cắt rễ thành từng đoạn nhỏ, và tách nhỏ từng
đoạn rễ trên kính lúp để tách được tuyến trùng bướu rễ (Meloidogyne con cái
trưởng thành), sau khi tách xong để rễ vào đĩa petri, cho nước vừa ngập mẫu rễ, đậy nắp lại, ghi ký hiệu và đặt ở nơi thoáng mát và tránh ánh nắng chiếu vào,
để ấu trùng Meloidogyne ra khỏi rễ và đếm mật số sau 48 giờ
Mẫu đất
Đất đem về đổ ra và trộn đều, cân 500g cho vào xô A, đổ 2-3 lít nước vào rồi dùng tay bóp cho đến khi đất tan hết, cho nước thêm vào xô chứa khoảng 5-7 lít và khuấy đều Đổ ngay phần nước đất đó vào xô B (không để lắng) thông qua rây 1mm, tiếp tục cho nước vào xô A (khoảng 2-3 lít) khuấy đều và đổ ngay vào xô B, tiếp tục như vậy lặp lại 3 lần
Nước trong xô B (để lắng khoảng 1-2 phút), đổ vào xô C thông qua rây 100μm, tiếp tục đổ nước vào xô B (để lắng khoảng 1-2 phút) đổ vào xô C thông qua rây 100μm, tiếp tục như vậy lặp lại 3 lần
Nước thu được ở xô C (để lắng khoảng 1-2 phút) tiến hành lược bỏ phần nước bằng cách đổ từ từ qua rây 45μm để trích lấy tuyến trùng, khi thấy nước trong xô tới phần cặn thì dừng, lấy phần trên rây 45μm cho qua rây baermann (có để một miếng giấy lọc), để trong một đĩa petri, tiếp tục cho nước thêm vào
xô C rồi khuấy và để lắng 1-2 phút rồi lọc tiếp, cứ như thế lặp lại 3 lần Cho nước vào vừa ngập giấy lọc trên rây baermann, đậy nắp đĩa petri lại và ghi ký hiệu mẫu và ngày thực hiện rồi đặt nơi thoáng mát và không có ánh nắng Sau
48 giờ lấy rây ra còn lại phần nước
Đếm tổng số tuyến trùng trong mẫu, vớt tuyến trùng lên quan sát, ghi nhận tỷ lệ từng loại tuyến trùng, sau đó đếm mật số tuyến trùng hiện diện trong từng mẫu đất phân tích
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Hình 2.1 Sơ đồ ly trích tuyến trùng từ đất qua các hệ thống rây
Lấy phần cặn trên rây
Để lắng 1-2 phút
Đổ ngay
Xô
Xô B