TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG - o O o -Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN THỊ HẬU
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CẢI MẦM TRÊN CÁC PHƯƠNG PHÁP
TƯỚI NHỎ GIỌT VÀ CÁC LOẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được công bố trong luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hậu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
- o O o
-Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài:
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CẢI MẦM TRÊN CÁC PHƯƠNG PHÁP
TƯỚI NHỎ GIỌT VÀ CÁC LOẠI
GIÁ THỂ KHÁC NHAU
Sinh viên Nguyễn Thị Hậu thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2009
Cán bộ hướng dẫn
Ts Trần Thị Ba
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
………
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CẢI MẦM TRÊN CÁC PHƯƠNG PHÁP TƯỚI NHỎ GIỌT VÀ CÁC LOẠI GIÁ THỂ KHÁC NHAU Do sinh viên Nguyễn Thị Hậu thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp ………
………
………
………
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2009 Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Hậu
Ngày sinh: 15-05-1985
Quê quán: Ấp 9A, Xã Thuận Hòa, Huyện An Minh, Tỉnh Kiên Giang
Đã tốt nghiệp phổ thông trung học tại Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá năm 2004
Năm 2005-2009: sinh viên trường Đại học Cần Thơ, ngành Nông học, khóa 31, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
Tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học năm 2009
Trang 8NGHUỄN THỊ HẬU, 2009 “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên
các phương pháp tưới nhỏ giọt và các loại giá thể khác nhau” Luận văn tốt
nghiệp Kỹ sư Nông học, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Ts Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên các phương pháp tưới nhỏ giọt và các loại giá thể khác nhau” tại trại Nghiên cứu và Thực nghiệm Nông nghiệp, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ từ (9/2008-3/2009) nhằm chọn ra kiểu phương pháp tưới nhỏ giọt và giá thể trồng cải mầm thích hợp Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 thí nghiệm: 1/ Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng (24-29/09/2008) gồm: (i) XD + 1 ống nhỏ giọt trên rãnh của tấm tole; (ii) XD + 1 ống nhỏ giọtdưới rãnh của tấm tole; (iii) XD + 1 ống nhỏ giọt trong máng tole; (iv) XD + 2 ống nhỏ giọt trong máng tole; (v) Vải + 1 ống nhỏ giọt trên rãnh của tấm tole; (vi) Vải + 1 ống nhỏ giọt dưới rãnh của tấm tole; (vii) Vải + 1 ống nhỏ giọt trong máng tole; (viii) Vải + 2 ống nhỏ giọt trong máng tole Kết quả cho thấy các nghiệm thức sử dụng giá thể Xơ dừa trên ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng cho năng suất và chiều cao tương đương nhau tốt hơn so với các nghiệm thức sử dụng ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng ở giá thể Vải 2/
Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên các hệ thống tưới nhỏ giọt khác nhau (25-30/11/2008), gồm 3 hệ thống: (i) 1 ống φ12 đặt trên rãnh tấm tole; (ii) 1 ống φ8 đặt dưới rãnh tấm tole; (iii) 2 ống φ8 đặt trong máng tole Kết quả về chiều cao và năng suất hoàn toàn không khác biệt nhau qua phân tích thống kê 3/ Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên các loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (vụ 1: 25-30/12/2008), gồm 5 loại giá thể: (i) 100% Đất PQ + 0% XD; (ii) 70% Đất PQ + 30% XD; (iii) 50% Đất PQ + 50% XD; (iv) 30% Đất
PQ + 70% XD; (v) 0% Đất PQ + 100% XD Kết quả cho thấy giá thể đơn thuần 100% Xơ dừa cho năng suất và chiều cao tốt nhất và có huynh hướng thấp dần khi
Trang 9tỷ lệ đất Phú quốc tăng lên 4/ Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên các loại giá thể khác nhau bằng hệ thống nhỏ giọt (vụ 2: 21–26/02/2009), bố trí thí nghiệm tương tự như thí nghiệm 3 nhưng vào vụ có thời tiết nóng hơn Kết quả về chiều cao và năng suất không khác biệt với thí nghiệm 3 5/ Khảo sát sự sinh trưởng
và năng suất cải mầm trên các loại giá thể khác nhau bằng hệ thống nhỏ giọt, nhưng tái sử dụng giá thể cũ của thí nghiệm 3 & 4 (vụ 3: 5-8/03/2009), bố trí thí nghiệm tương tự thí nghiệm 3 và 4 Kết quả tất cả các loại giá thể đều cho năng suất quá thấp chỉ bằng 12-13% so với giá thể sử dụng lần đầu (thí nghiệm 3 & 4)
Tóm lại: cải mầm trồng trên 3 hệ thống tưới nhỏ giọt không khác biệt cả chiều cao và năng suất Cải mầm trồng trên giá thể thuần 100% Xơ dừa cho chiều cao và năng suất tốt nhất
Trang 101.1 Khái quát về rau mầm 2
1.1.1 Lịch sử phát triển của rau mầm 3
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng 3
1.1.4 Cách sử dụng rau mầm 5
1.1.5 Ưu điển và hạn chế của việc trồng rau mầm 5
1.1.6 Điều kiện ngoại cảnh trồng rau mầm 7
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 20
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
3.2.2 Năng suất 23 3.3 Thí nghiệm 2 24
3.3.2 Năng suất 25
3.4.1 Điều kiện thí nghiệm 26
Trang 113.4.2 Chiều cao cây 27
3.4.3 Năng suất 28
3.5.1 Điều kiện thí nghiệm 31
3.5.3 Năng suất 33
3.5.4 Hàm lượng chất khô 34
3.6 Thí nghiệm 5 35
3.6.1 Điều kiện thí nghiệm 35 3.6.2 Năng suất 37 3.7 Hiệu quả kinh tế 39 3.7.1 Thí nghiệm 1 và 2 39
3.7.2 Thí nghiệm 3 39
3.7.3 Thí nghiệm 4 40
3.7.4 Thí nghiệm 5 41
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
4.1 Kết luận 43 4.2 Đề nghị 43 Tài liệu tham khảo 44
Trang 12Giá trị dinh dưỡng một số loại rau mầm
Tình hình khí tượng tại thành phố Cần Thơ (9/2008–2/2009)
Chiều cao cây và năng suất của cải mầm ở thời điểm 6 NSKG
trên tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng (TN1:
24-29/09/2008)
Chiều cao cây và năng suất của cải mầm ở thời điểm 6 NSKG
trên 3 hệ thống tưới nhỏ giọt (TN2: 25-30/11/2008)
Hàm lượng chất khô của cải mầm trồng trên 5 loại giá thể khác
nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (TN3, vụ 1: 25-30/12/2008)
Hàm lượng chất khô của cải mầm trồng trên 5 loại giá thể khác
nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (TN4, vụ 2: 21-26/02/2009)
Năng suất tổng cải mầm trồng trên 5 loại giá thể khác nhau,
nhưng tái sử dụng giá thể cũ bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (TN4,
Trang 13Vật liệu và dụng cụ trồng cải mầm: (a) đất rừng Phú Quốc, (b) giá
thể Xơ dừa X0, (c) hạt cải củ Trang Nông, (d) kệ trồng cải mầm
Sơ đồ đo độ nghiêng của hệ thống trồng cải mầm tại nhà lưới trại
Nghiêng cứu và Thực nghiệm Nông nghiệp, khoa Nông nghiệp và
Sinh học Ứng dụng, trường ĐHCT
Hệ thống trồng cải mầm (TN1: 24-29/09/2008): (a) & (b) 1 ống
đặt trên rãnh và dưới rãnh tấm tole, (b) & (c) 1 ống và 2 ống đặt
trong máng tole
Hệ thống trồng cải mầm (TN2: 25-30/11/2008): (a) 1 ống φ12 trên
rãnh tấm tole, (b) 1 ống φ8 đặt dưới rãnh tấm tole, (c) 2 ống φ8 đặt
trong máng tole
(a) Thùng chứa nước dùng áp lực trên cao; (b) Kệ trồng cải mầm
Rễ cải mầm (TN1: 24-29/09/2008): (a) trên giá thể Vải, (b) trên
giá thể Xơ dừa
Nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng trung bình qua 6 ngày khảo sát, cải
mầm trồng trên 5 loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ
giọt (TN3, vụ 1: 25-30/12/2008)
Chiều cao cây của cải mầm qua 4 thời điểm khảo sát, trồng trên 5
loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ (TN3, vụ 1:
25-30/12/2008)
Năng suất và tỷ lệ năng suất thương phẩm trên năng suất tổng của
cải mầm trồng trên 5 loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới
nhỏ giọt (TN3, vụ 1: 25-30/12/2008)
Nhiệt độ, ẩm độ & ánh sáng trung bình qua 6 ngày khảo sát của
cải mầm trồng trên 5 loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới
nhỏ giọt (TN4, vụ 2: 21-26/02/2009)
Chiều cao cây của cải mầm qua 4 thời khảo sát, trồng trên 5 loại
giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (TN4, vụ 2:
21-26/02/2009)
Năng suất và tỷ lệ năng suất thương phẩm trên năng suất tổng của
cải mầm trồng trên 5 loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới
Trang 143.8
3.9
Nhiệt độ, ẩm độ & ánh sáng trung bình qua 3 ngày khảo sát, cải
mầm trồng trên 5 loại giá thể khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ
giọt, nhưng tái sử dụng giá thể cũ (TN5, vụ 3: 5-8/03/2009)
Cải mầm bi nấm tấn công khi trồng trên 5 loại giá thể tái sử dụng
Trang 15MỞ ĐẦU
Cải mầm là loại cải được trồng rất ngắn ngày (5-7 ngày), an toàn và bổ dưỡng, thực phẩm sạch có giá trị dinh dưỡng cao Theo lời của bác sĩ Nguyễn Lân Đính, chuyên viên dinh dưỡng nguyên giám đốc trung tâm dinh dưỡng thành phố
Hồ Chí Minh nhận xét: bản thân các loại cải mầm có các thành phần dinh dưỡng nhất định như Vitamin A, B, C, E,…vì giai đoạn cây mầm là giai đoạn cây chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dự trữ để giúp cây tăng trưởng và phát triển về sau, chúng ta ăn rau mầm là ăn phần “cao cấp” nhất, dinh dưỡng nhất
Theo thống kê của Bộ Y tế (2006), từ 1999-2004 trên toàn quốc có 1.428 vụ ngộ độc vói hơn 23.000 người mắc, trong đó có 316 trường hợp tử vong, Rau quả không an toàn là tác nhân của một trong các vụ ngộ độc trên, tuy nhiên đều phần lớn
là ngộ độc cấp tính do thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật có hại gây ra, dễ nhận biết Ảnh hưởng của tồn dư quá ngưỡng nitrat (NO3) và các kim loại nặng đối với cơ thể con người còn gây hiệu quả nghiêm trọng và kéo dài Hiện nay, với việc xã hội ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng được cải thiện con người ngày càng muốn nâng cao nhu cầu cuộc sống của mình, nhất là vấn đề sức khỏe Đặc biệt rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong bửa ăn hằng ngày của mỗi người trên khắp hành tinh, khi lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu vể
số lượng và chất lượng rau lại càng được gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ hơn (Trần Khắc Thi và Phạm Mỹ Linh, 2007)
Trước tình hình đó có một đòi hỏi cấp thiết đặc ra là sản suất được những cây cải mầm sạch cả về sâu bệnh lẫn dư lượng hóa chất đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Nhưng viêc sản suất cải mầm còn gặp nhiều khó khăn, vì đây là loại rau rất ngắn ngày ( 5-7 ngày), sống trên giá thể và lớn lên nhờ nước, còn chưa phổ biến và khá mới mẻ với nông dân Do đó để tìm phương pháp tưới nước và loại giá thể phù
hợp là rất khó, chính vì vậy đề tài “Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất rau
mầm trên các phương pháp tưới nhỏ giọt và các loại giá thể khác nhau” là hết
sức cần thiết nhằm tuyển chọn ra phương pháp tưới và loại giá thể phù hợp cho năng suất cao, phẩm chất tốt, sinh trưởng mạnh
Trang 16CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CẢI MẦM 1.1.1 Giá trị dinh dưỡng
Theo Bruce, E (2007), cải mầm là một trong những món ăn bổ dưỡng nhất
và hoàn thiện nhất đối với sức khỏe con người Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, sự nảy mầm làm tăng hàm lượng enzyme trong cải cao hơn 43 lần so với thức ăn bình thường Quá trình nảy mầm dưới tác dụng của ánh sáng sẽ tạo chất diệp lục, chất này giúp cơ thể khắc phục hiện tượng thiếu protein trong bệnh thiếu máu Cải mầm chứa rất nhiều vitamin (A, B, C, E,…) và nhiều khoáng chất ( Calcium, Kali, Sắt, Kẽm, Magie)
Cải mầm có thời gian canh tác rất ngắn, (5-7 ngày) rất an toàn và bổ dưỡng Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng của mầm cải củ rất cao, các thành phần có trong 100g trọng lượng tươi cải mầm gồm có: nước (90,1%), năng lượng (43cal), protein (3,8 mg), calcium (50 mg), vitamin A (391 IU), thiamin (0,1 mg), vitamin C (28,9 mg) (Meyerowitz, 2002)
Theo Nguyễn Thị Đào (2007) các loại hạt đều chứa đầy đủ các chất bổ dưỡng cần thiết để nuôi mầm trong suốt thời kỳ sinh trưởng của nó Vì thế, trong quá trình trồng, người ta không phải sử dụng đến phân hóa học Mầm lại được ủ và nuôi trong các nhà lưới được ngăn chặn xâm nhập của côn trùng nên cũng không cần dùng đến thuốc trừ sâu Hàm lượng các độc tố từ phân bón và thuốc trừ sâu hoàn toàn không có Nói cách khác, cải mầm là loại cải siêu sạch
Theo một số tài liệu nước ngoài: Người Nhật dùng mầm đậu xanh hằng ngày như một món ăn truyền thống, theo các chuyên gia dinh dưỡng Pháp, phụ nử Nhật nhờ ăn mầm đậu xanh nên họ ít có nguy cơ bị ung thư 5-8 lần so với phụ nử phương Tây Bên cạnh cải mầm còn có thể dùng trị suy dinh dưỡng cho trẻ em ở những nước nghèo (Hội rau mầm quốc tế: ISGA, 2001)
Trang 17Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng một số loại cải mầm (Bruce, E 2007)
Loại mầm Proten (%) Vitamins Chất khoáng Chất khác
Đậu Adzuki 25 A, C, E Iron, Niacin, Calcium -
Cỏ 3 lá đỏ 30 A, B, C, E Calcium, Magie, Iron
Potassium, Znic Trace, Elements
Cỏ họ đậu
Đậu lăng 25 A, B, C, E Iron,Calcium, Phospho -
ăn giàu đạm đã dư thừa Một số nhà khoa học đã dần tìm ra tác dụng kỳ diệu của rau mầm, một số loại mầm có tác dụng ngừa ung thư (cải bông xanh) và đề nghị trong thực đơn hằng ngày của con người hiện nay các nước tiên tiến có rất nhiều tập đoàn chuyên kinh doanh cải mầm, ở Nhật cải mầm được sản xuất theo quy mô công nghiệp (Sandeson, 2007)
* Ở Việt Nam
Trang 18Theo Phan Quốc Kinh (2007) Giám đốc Khoa học Trung tâm Phát triển Hóa Sinh Việt Nam là người đầu tiên công bố cách trồng cải mầm Ngay trong năm
1997, sản phẩm cải mầm đã được ông giới thiệu trong cuốn sách Thực phẩm chức
năng và Thực phẩm thuốc do nhà xuất bản Nông Nghiệp phát hành
Theo Trần Thị Ba và ctv (2008) hạt đậu xanh làm giá là loại rau mầm
truyền thống ở nước ta, đậu phộng đậu nành thỉnh thoảng cũng được sử dụng làm cải mầm Từ năm 2002 mầm cải củ bắt đầu xuất hiện ở nhà hàng, giờ cũng trở nên phổ biến, gần đây mầm rau muống hướng dương cũng đã xuất hiện Tất cả đều sản xuất lẻ tẻ, quy mô gia đình
1.2 CÁC LOẠI HẠT SẢN XUẤT CẢI MẦM
Trên thế giới, đã từ lâu có rất nhiều loại hạt được sử dụng để sản xuất cải mầm như cải củ (Radish), cải bắp (Cabbage), cải bông xanh (Broccoli), cải rổ (Kale ), đậu xanh (Mungbean), đậu Hà Lan (Garden sugar pea), đậu phộng (Peanut), đậu nành(Soybean), đậu lăng (Lentil), cỏ đinh lăng (Alfalfa), hướng dương (Sunflower), rau muống (Water Spinach), cỏ họ đậu hạt thơm (cây cà ri: Fenugreek), cỏ 3 lá đỏ (Red clover), cải xanh (Mustard), bí đỏ (Pumpkin), mè (Sesame), hành củ (Onion), lúa mì(Wheat), lúa kiều mạch (Buckwheat), lúa mạch đen (Rye), rau dền (Amarant), bắp (Corn), hạt kê (Millet), yến mạch (Oats), lúa (Rice), Ở Việt Nam, phổ biến là hạt đậu xanh làm giá, cải củ, nhìn chung hầu hết các loại hạt giống rau thông thường đều có thể dùng sản xuất cải mầm, mỗi loại mầm có nét đặt trưng
riêng về mùi vị, màu sắc và hình thái (Trần Thị Ba và ctv., 2008)
1.3 CÁCH SỬ DỤNG CẢI MẦM
Một trong những loại rau đang được người tiêu dùng ưa thích là rau mầm vì cách chế biến đa dạng: trộn dầu giấm; ăn kèm với các loại thịt và hải sản nướng, xào; súp rau nhúng tái… và đặc biệt ăn kèm với bánh xèo, bánh khọt, cá trê, cá lóc ruộng nướng trui, tôm sú tái chanh thật là ngon! Ở Việt Nam, hiện nay trong các nhà hàng, món yêu thích hiện nay là món cải mầm lót dĩa, thịt bò xào nóng hoặc tái được cho lên trên hoặc cải mầm trang trí giữa dĩa rồi đặt thịt, tôm, cá, gà chiên…để xung
Trang 19quanh hay đặt trực tiếp lên trên Ở nước ngoài, người ta còn sử dụng nước ép cải mầm trộn lẫn với nước trái cây khác như táo, cà rốt dùng như một loại nước giải
Minh khuyến khích và cấp giấy chứng nhận là cải mầm an toàn
Theo Trần Tiến Lãng (2008) cố vấn kỹ thuật của Công ty Trang Nông cho biết: sử dụng cải mầm là một xu hướng phát triển ở Việt Nam, vì đây là loại rau sạch, giàu dinh dưỡng và đậm đà hương vị Ban đầu ở một số nước, người ta chỉ mới dùng xà lách làm cải mầm Giờ đây có đến hơn 20 loại hạt giống được dùng làm cải mầm, nhiều loại hạt với nhiều mùi vị khác nhau, chế biến được rất nhiều
món ăn khác nhau, thường ở dạng tươi sống như xà lách, xà lách xoong…
Cải mầm dễ trồng và là loại rau sạch, có thể tận dụng những khoảng không gian trống trong nhà (mái hiên, sân thượng,…) tiết kiệm diện tích vì có thể trồng thành từng cụm hoặc từng tầng Thực trạng hiện nay, diện tích trồng trọt ngày càng
bị co hẹp dần do quá trình đô thị hóa Để có nguồn rau sạch, đáp ứng đủ nhu cầu về rau cho mỗi gia đình, đặc biệt là các hộ gia đình sinh sống ở đô thị, nên tận dụng khoảng trống trên sân thượng (có làm giàn lưới che) hoặc trong sân vườn nhà (nơi thoáng mát) để trồng cải mầm Cải mầm trồng được quanh năm không ảnh hưởng thời tiết vì trồng trong nhà, phòng, nhà lưới, nhà kín (Nguyễn Thị Hưng, 2006)
Trang 20Trồng cải mầm để giảm stress có thể xem như là một thú vui giải trí, vừa có thể tăng thêm thu nhập, vừa có thể bổ sung thêm rau trong bữa ăn hàng ngày vì nó
có vị cay nồng kích thích vị giác để có thể ăn ngon hơn sau những ngày lao động mệt nhọc, nếu trồng cải mầm sẽ tạo cảm giác sảng khoái, gần gũi thiên nhiên, giúp giảm bớt căng thẳng và cuối cùng là cả nhà cùng vui với những món ăn ngon miệng
từ cải mầm bổ dưỡng (Llc and Dwgco, 2009)
1.4.2 Hạn chế
Hạt giống không an toàn do công ty giống cây trồng sử dụng hóa chất để bảo
quản hạt, hạt giống có thể nhiểm một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột như
Escherichia coli 0157: H7 và Salmonella Cải mầm trồng trong môi trường ẩm độ
rất cao nên dễ phát triển bệnh, đặc biệt ở những vụ trồng sau nếu không đảm bảo vệ sinh sạch sẽ làm phát sinh bệnh (Trần Thị Ba và ctv., 2008)
Khó điều khiển được lượng nước tưới vì năng suất cải mầm phụ thuộc nhiều
vào nước tưới, nếu tưới quá ít cây còi cọc chậm phát triển nhưng tưới dư dễ gây úng Cải mầm là loại cải còn non, dễ bị mất nước nên sau khi thu hoạch, phải bảo quản trong tủ lạnh để giữ cho cải mầm không bị héo nhằm bảo toàn chất lượng (Salunkhe and Desai, 1984)
Việc quản bá rộng rãi lợi ích về giá trị dinh dưỡng của cải mầm đến mọi người dân hiện nay gặp rất nhiều khó khăn vì việc sản xuất cải mầm hiện nay chủ yếu là nhỏ lẻ, chưa trồng được dạng quy mô tập trung, sản xuất với số lượng lớn
Kỹ thuật thu hoạch hiện nay còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp thủ công (dùng tay nhổ cải mầm sau đó dùng kéo cắt rễ, rữa sạch, bỏ vào hộp ) rất tốn thời gian và công sức Ngoài ra sản phẩm rau mầm hiện nay ít thấy bán lẻ, tập trung tại các chợ đầu mối, nếu có bán nhiều thì chỉ tập trung chủ yếu tại các siêu thị (Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 2008)
Trang 211.5 ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH TRỒNG RAU MẦM 1.5.1 Nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng: Nhiệt độ thích hợp 25-300C, ẩm độ 60-65%,
ánh sáng nhẹ hoặc tối trong nhà và thoáng khí (Trần Thị Ba và ctv, 2008)
1.5.2 Nước: Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), cây rau chứa rất
nhiều nước nên nước tưới phải sạch, chỉ dùng nguồn nước tưới từ các giếng khoan
có đủ tiêu chuẩn vệ sinh dinh dưỡng ( theo tiêu chuẩn vệ sinh đối với nước uống và sinh hoạt về phương diện lý hóa và vi sinh vật, Bộ Y tế, 505/BYT/QĐ ngày 13/4/1992) Theo Nguyễn Văn Thắng (1999) bộ rễ cây rau ăn ở tầng mặt, tính chịu hạn chịu úng kém, lai dễ bị nhiễm bệnh Vì vậy việc tưới nước và thao nước chủ động một cách hợp lý là hết sức cần thiết
1.6 HỆ THỐNG TƯỚI NHỎ GIỌT 1.6.1 Định nghĩa tưới nhỏ giọt
Đây là hệ thống tưới áp dụng cho cây trồng cạn, cả cây ngắn ngày trồng theo
hàng và cây dài ngày quan trọng nhất trong nhà lưới (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
Nước theo hệ thống đường ống bằng chất dẻo thoát qua vòi nhỏ giọt rồi làm ẩm vùng đất chứa bộ rễ cây trồng, so với các phương pháp đây là phương pháp tiên tiến nhất, hiệu quả nhất Tưới nhỏ giọt là sự cung cấp nước thường xuyên và chậm cho đất Nước vào đất từ những lổ tưới nhỏ giọt, và hầu hết sự di chuyển của nước để làm ẩm đất phụ thuộc vào tính mao dẫn của đất (Tạ Minh Tuấn, 1998) Tưới nhỏ giọt cung cấp nước trực tiếp đến đất, nước làm ướt đất trước khi bốc hơi và chỉ cung
cấp tại nơi cần nước (Stryker, 2005).5
1.6.2 Lịch sử phát triển của tưới nhỏ giọt
Hệ thống tưới nhỏ giọt ra đời cách đây khoảng 30 năm, được coi là một phương pháp tưới khoa học, kinh tế do tiết kiệm nước tưới, đã được áp dụng khá phổ biến ở một số nước, không chỉ trong vườn thí nghiệm, phương pháp tưới nhỏ giọt đã được đưa vào sản xuất trong các nông trại, đặc biệt ở nơi thiếu nước, mang lại lợi tức lớn cho nhà nông Một trong những nước có kỹ thuật tiên tiến nhất về lĩnh vực này là Israel, họ đã chế tạo một hệ thống tưới nhỏ giọt hoàn chỉnh và cực kỳ
Trang 22thuận lợi, cho phép tưới nước tự động đúng lượng nước cần tưới trong một ngày,
tưới đúng giờ cần tưới (Nguyễn Thượng Bằng và Nguyễn Anh tuấn, 2006)
1.6.3 Ưu điểm và hạn chế
* Ưu điểm
Tiết kiệm nước tưới do chỉ làm ẩm vùng đất chứa bộ rễ cây trồng nên tiết kiệm một lượng nước đáng kể Tưới nhỏ giọt là phương pháp tưới hiệu quả nhất, trong khi tưới theo phương pháp phun thì mức độ hiệu quả chỉ đạt trong khoảng 75-86%, còn hệ thống tưới nhỏ giọt tiêu biểu thì mang lại hiệu quả hơn 90%, có nghĩa
là ít phun phí nước, vừa dễ thiết kế, lắp đặt, không đắt tiền và làm giảm vấn đề về
bệnh với mức độ ẩm độ cao trên cây trồng ( Marsh et al., 1982) Thuận lợi của hệ
thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm 15-40% chi phí cho nước tưới so với việc áp dụng các kiểu tưới khác, sự ứng dụng có thời khắc và ít tốn công (Báo Kinh tế Việt Nam, 2008)
Hệ thống tưới nhỏ giọt năng suất cây trồng tăng đáng kể so với các phương pháp khác trong cùng điều kiện về đất đai, khí hậu và chế độ chăm sóc Kết quả thực nghiệm ở hàng loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Ấn Độ, Israel, Australia đã khẳng định rằng khi tưới nhỏ giọt, ở cây ăn quả năng suất tăng từ 20-30%, ở nho tăng 30-40%, ở cây rau tăng 50 đến hơn 100% Theo các chuyên gia sở dĩ khi tưới nhỏ giọt năng suất cây trồng tăng cao vì vùng đất chứa bộ rễ cây trồng luôn được duy trì một chế độ ẩm tối ưu nhờ đó tạo môi trường thích hợp về dinh dưỡng nước, không khí cho cây (Nguyễn Đức Quý, 2007)
* Hạn chế
Giá đầu tư ban đầu lớn, là phải thường xuyên làm sạch hệ thống và kiểm soát những ống bị tắc nghẽn (Barry, 1997)
1.7 SẢN XUẤT TRÊN CHẤT NỀN 1.7.1 Tác dụng của giá thể
Theo Hồ Hữu An (2005), việc nghiên cứu trồng rau không cần đất đã bắt đầu
ở Bỉ vào năm 1973 và được ứng dụng rộng rãi đầu tiên vào năm 1980 Do nhu cầu
Trang 23thị trường đòi hỏi cây rau ngày càng phải sạch và tinh khuyết nên công nghệ trồng rau trên giá thể đã xuất hiện và dần thay thế cho việc trồng rau trên nền đất truyền thống Hiện nay, gần như 100% vành đai rau xanh ven đô thành phố Sydney, Úc đã sản xuất rau-hoa-quả trên giá thể trong nhà kính vừa đảm bảo tình vệ sinh và cho năng suất cao (Nguyễn Quốc Vọng, 2006) Việc trồng không đất (soilles culture), chất nền là yếu tố quan trọng để cây rau đạt sự tăng trưởng tốt nhất, nguồn vật liệu thay thế chủ yếu là tận dụng các nguồn phế phẩm và vật liệu ghẻ tiền như mùn cưa,
xơ dừa, (Lemaire, 1994)
1.7.2 Giá thể trồng cải mầm
Theo kết quả nghiên cứu Nguyễn Văn Đém (2007) sản xuất trên giá thể Xơ dừa X0 (Công ty Dasa) qua 6 ngày sau khi gieo, cho năng suất cao và được chọn trong sản xuất rau mầm
Còn theo Phan Quốc Kinh (2007) để trồng rau mầm, người ta có thể sử dụng các giá thể như xơ dừa, rơm cắt nhỏ, lõi trắng bắp cắt nhỏ, những giá thể này phải tiệt trùng Tuy nhiên, điều kiện một số vùng, khó có thể kiếm những giá thể này, việc tiệt trùng lại càng phức tạp, có thể thay chúng bằng giấy ăn thông thường
Theo Kauffmam (2005) cây cải mầm trên giá thể phải có các chất trơ như xơ thực vật được dùng làm giá thể cho bộ rễ cây bám vào Kết cấu của giá thể nên có lổ hổng để duy trì hoàn hảo lượng không khí và nước cần thiết cho cây, vì rễ cây cần thở Trồng cải mầm có thể chọn bất cứ giá thể nào mà cây có thể nẩy mầm và phát triển tốt, cần chú ý độ sạch giá thể để sản xuất ra cải mầm sạch
Trang 24CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Nhà lưới trại Nghiên cứu và Thực nghiệm Nông nghiệp, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
- Thời gian: từ tháng 9/2008 – 3/2009
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
- Ống tưới nhỏ giọt với 2 loại ống: ống φ12 và ống φ8 (2 lỗ nhỏ giọt cách nhau
30 cm/1 đường ống)
- Giá thể: đất rừng Phú Quốc (đất đỏ), Xơ dừa, Vải: độ dày giá thể 1 cm
- Hạt cải củ của Công ty giống Cây Trồng Trang Nông: sử dụng 30 g/400 cm2
- Tấm tole, máng tole, kệ trồng cải mầm (gọi chung là hệ thống trồng cải
mầm): độ nghiêng hệ thống 3-40
- Phòng trồng cải mầm, máy đo ánh sáng, nhiệt kế, ẩm kế
- Hóa chất thanh trùng giá thể (Chlorin 2%)
- Bình phun nước, kéo, thước, cân, giấy thấm, nước máy…
Trang 25(d)
(c)
Hình 2.1 Vật liệu và dụng cụ trồng cải mầm: (a) đất rừng Phú Quốc, (b) giá thể Xơ
dừa X0, (c) hạt cải củ Trang Nông, (d) kệ trồng cải mầm
Ghi chú:
+ Đảo Phú Quốc với diện tích 561,65 km 2 , đất được phong hóa từ loại đá trầm
tích mảnh vở là đất nhiệt đới ẩm, biểu hiện rõ quá trình feralit với những mức dộ
khác nhau, gồm các loại đất: đất Sialit Feralit xám; đất Feralit; đất Cát; đất mặn sú
vẹt; đất phù sa chua gley Thí nghiệm sử dụng đất Feralit (đất vàng đỏ): Đất được
lấy tại Ấp Suối Cát, xã Cửa Dương, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (có vị trí rất
quan trọng trong sản xuất Nông nghiệp, tại đây có Nông trại sản xuất rau với diện
tích 7 ha), trong rừng trên nền đất cao ráo gần ngưồn nước suối, xa khu dân cư Theo kết quả phân tích của Bộ môn Khoa học Đất, khoa Nông nghiệp & Sinh học
mg/kg; Ktd là 0,04 meq/100 g; Pbrayl là 6,45 mgP/kg; pH 3,7-4,7
Trang 26+ Xơ dừa X0 (mụn xơ dừa xuất khẩu của Công ty DASA, 2007): Theo Công ty DASA thì Xơ dừa X0 rất tơi xốp, giữ ẩm cao giúp cho hạt giống dễ nẩy mầm, là môi trường kháng khuẩn tốt không mang mầm bệnh, không chứa hóa chất độc hại, hữu
cơ tổng là 95%, độ thoáng khí là 22%, khả năng giữ nước là 70%, EC <0,5 ms/c,
Salmonella)
+ Vải (mền gòn): Vải phải mới chưa qua sử dụng
+ Độ nghiêng của hệ thống (Hình 2.2): gốc nghiêng được tính nhu sau:
* Đo 2 đầu của hệ thống từ mặt đất đến điểm tiếp giáp mặt trên của hệ thống, đầu thấp ký hiệu là b, đầu cao ký hiệu là a ( lấy điểm a trừ điểm b bằng được điểm A)
* Tiếp tục đo từ đầu này đến đầu kia của hệ thống phía bên dưới mặt đất (chiều dài chiếu vuông gốc của đầu cao và đầu thấp của hệ trống xuống mặt đất), chiều dài đó được ký hiệu là B
* Sau đó áp dụng công thức tgx = A/B và tính ra gốc x, gốc x cũng là gốc nghiêng của hệ trống trồng cải mầm
b
Gốc nghiêng
B
Hệ thống đặt nghiêng
a
Hình 2.2 Sơ đồ đo độ nghiêng của hệ thống trồng cải mầm tại nhà lưới trại Nghiên
cứu và Thực nghiệm Nông nghiệp, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường ĐHCT
Trang 27* Tình hình khí tượng tại tỉnh Cần Thơ
Tình hình khí tượng thủy văn tại tỉnh Cần Thơ trong thời gian thực hiện thí
nghiệm được ghi nhận qua Bảng 2.1
Bảng 2.1 Tình hình khí tượng tại thành phố Cần Thơ (09/2008 – 02/2009)
Tháng bình/ngày (Nhiệt độ trung 0C) bình /ngày (%) Ẩm độ trung Tổng giờ nắng /ngày (giờ)
(Nguồn: đài khí tượng thủy văn thành phố Cần Thơ, 2008 – 2009)
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1 khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trồng trên tổ hợp
giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng (24-29/09/2008) Mục đích: xác định được loại giá thể và hệ thống tưới nhỏ giọt trên dụng cụ
thích hợp trồng cải mầm
Bố trí thí nghiệm: theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức
gồm 2 loại giá thể và 4 phương pháp tưới với 3 lần lặp lại:
1 XD + 1 ống nhỏ giọt trên rãnh tấm tole
2 XD + 1 ống nhỏ giọt dưới rãnh tấm tole
3 XD + 1 ống nhỏ giọt trong máng tole
4 XD + 2 ống nhỏ giọt trong máng tole
5 Vải + 1 ống nhỏ giọt trên rãnh tấm tole
6 Vải + 1 ống nhỏ giọt dưới rãnh tấm tole
7 Vải + 1 ống nhỏ giọt trong máng tole
8 Vải + 2 ống nhỏ giọt trong máng tole
Trang 28Ghi chú:
- XD: Xơ dừa
ống nhỏ giọt đặt trên và dưới rãnh của tấm tole, (c) & (d) gồm 1 và 2 ống nhỏ giọt đặt trong máng tole Thí nghiệm dùng Motor điện chạy hệ thống tưới nhỏ giọt, gắn Motor điện thông với hệ thống, đặt motor điện trong thùng nước và cắm điện khi tưới, mỗi ngày tưới 2 lần, mỗi lần tưới 1-2 phút
1 ống trong máng tole
Hinh 2.3 Hệ thống trồng cải mầm (TN1: 24-29/09/2008): (a) & (b) 1 ống đặt trên
rãnh và dưới rãnh tấm tole, (c) & (d) 1 ống và 2 ống đặt trong máng tole
Trang 29Thí nghiệm 2 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất của cải mầm trồng trên 3
hệ thống tưới nhỏ giọt (25 -30/11/2008) Mục đích: xác định được hệ thống tưới thích hợp để trồng cải mầm
Bố trí thí nghiệm: theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức là
3 hệ thống tưới với 4 lần lặp lại:
- Phương pháp tưới nước cũng tương tự thí nghiệm 1, lưu lượng dòng chảy ở
trong máng tole là 1,7 lít nước/phút/hệ thống
Trang 30(b) (c)
2 ống φ8 trong máng tole
1 ống φ8 trên rãnh tấm tole
(a)
1 ống φ12 trên rãnh tấm tole
Hình 2.4 Hệ thống trồng cải mầm (TN2: 25-30/11/2008): (a) 1 ống φ12 trên rãnh
tấm tole, (b) 1 ống φ8 đặt dưới rãnh tấm tole, (c) 2 ống φ8 đặt trong máng tole
Thí nghiệm 3 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên 5 loại giá thể
khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (vụ 1: 25-30/12/2008) Mục đích: xác định được loại giá thể trồng cải mầm thích hợp nhất trong vụ
noel với phương pháp tưới nhỏ giọt
Bố trí thí nghiệm: theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm
thức là 5 loại giá thể với 3 lần lặp lại:
Trang 31- Đất PQ: đất Phú Quốc, XD: Xơ dừa
nước/phút/kệ, mỗi ngày mở hệ thống tưới nhỏ giọt 2 lần, mỗi lần mở trung bình khoảng 1-2 phút
- Thí nghiệm này hệ thống tưới nhỏ giọt dùng áp lực dòng nước ở trên cao, trên kệ đặt một thùng nước 200 lít, lắp đường ống thông với hệ thống tưới, gắn van
để ngăn nguồn nước bên trên xuống đồng thời mở ra khi tưới
(a)
(b)
Hình 2.5 (a) Thùng chứa nước dùng áp lực trên cao; (b) Kệ trồng cải mầm
Trang 32Thí nghiệm 4 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên 5 loại giá thể
khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt (vụ 2: 21–26/02/2009) Mục đích: xác định được loại giá thể thích hợp ở cuối vụ xuân cho năng suất
cải mầm cao nhất
Bố trí thí nghiệm: tương tự thí nghiệm 3 nhưng vào vụ nóng hơn
Thí nghiệm 5 Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trên 5 loại giá thể
khác nhau bằng hệ thống tưới nhỏ giọt, nhưng tái sử dụng giá thể cũ (vụ 3: 5-8/03/2009)
Mục đích: xác định được loại giá thể thích hợp trồng cải mầm khi sử dụng
lại giá thể cũ với phương pháp tưới nhỏ giọt
Bố trí thí nghiệm: tương tự thí nghiệm 3 và 4, nhưng tái sử dụng giá thể của
thí nghiệm 3 và 4
Ghi chú: cách sử lý giá thể sau khi thu hoạch cải mầm ở thí nghiệm 3 & 4 Làm thuần giá thể: giá thể sau khi thu hoạch nhặt hết rễ, thân và lá cải mầm, sau đó đem phơi khô trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời khoảng 2-3 ngày rồi cho giá thể vào túi nilon
Sử lý giá thể với chlorin: Pha giá dung dịch chlorin 2%, tiếp theo cho dung dịch pha này vào bọc nilon chứa giá thể cần xử lý, cho chlorin đến khi giá thể thật
ẩm Ủ giá thể trong chlorin khoảng 1 ngày và 1 đêm
Làm khô giá thể: sau khi xử lý giá thể với Chlorin 2%, đêm giá thể ra phơi dưới ánh nắng mặt trời trên nền bằng phẳng có trải cao su, phơi như thế khoảng 3 ngày để Clo có thể bay hết ra khỏi giá thể và mầm bệnh dể bị tiêu diệt
2.2.2 Phương pháp canh tác
+ Chuẩn bị hột
Ngâm hạt cải củ trong nước sạch ở nhiệt độ 45-500C, khoảng 2 giờ, sau đó vớt hạt ra và ủ hạt trong vải sạch hoặc khăn sạch, khoảng 6-8 giờ khi hạt nứt nanh đem ra và tiến hành gieo
Trang 33+ Chuẩn bị vật liệu và gieo hạt
Xử lý chlorin: hệ thống tưới nhỏ trồng cải mầm trước khi gieo phải được rửa sạch, pha dung dịch chlorin với nồng độ 2% rồi phun thật đều lên toàn hệ thống trồng cải mầm, sau đó để khô tự nhiên
Chuẩn bị giá thể: dùng tay vò nát những cục lợn cợn trong giá thể, sau đó dùng cây thẳng, sạch phả nhẹ làm đều bề mặt giá thể với độ cao giá thể là 1 cm Tiếp theo lót lên bề mặt giá thể 2 lớp giấy thấm Phun nước cho ẩm giá thể (dùng tay vắt mạnh giá thể thấy có một ít nước chảy ra kẻ tay) và tiến hành rãi hạt Tất cả thí nghiệm được tiến hành trong phòng mát, che tối
+ Chăm sóc và thu hoạch
Chăm sóc: hai ngày đầu dùng bình nhựa phun nước sạch, phun thật đều lên
hạt cải, khoảng 2-3 lần/ngày, nhưng nếu thấy thời tiết quá nóng bức có thể tăng thêm 1 lần tưới Ở 2 ngày đầu hạt trong giai đoạn nảy mầm cần ẩm độ cao, giúp cho
tỷ lệ nảy mầm đồng đều, do đó phải phun nước thật đều hạt Từ ngày thứ 3 cây con
đã đứng thẳng, rễ đã mọc dài có thể đâm xuống giá thể để hút nước nên không phun nước trên hạt mà cung cấp nước vào giá thể bằng biện pháp tưới nhỏ giọt, cải mầm được che tối nên ẩm độ rất cao, việc cấp nước bên dưới giá thể để tránh nước ướt lá cải giảm phát sinh bệnh Đến ngày cuối trước khi thu hoạch nếu thấy ẩm độ quá cao
có thể ngưng tưới nước
Thu hoạch: ngày thứ 6 sau khi gieo tiến hành thu hoạch đồng loạt, dùng kéo cắt ngang gốc cải nơi tiếp giáp bề mặt giá thể, cân năng suất tổng, sau đó lựa ra cải mầm thương phẩm và không thương phẩm, rau non lá màu xanh nhạt rất ngon
2.2.3 Phương pháp ghi nhận
+ Điều kiện tiểu khí hậu
Nhiệt độ và ẩm độ không khí: dùng nhiệt kế và ẩm kế để đo nhiệt độ và ẩm
độ không khí (lúc 7:00, 9:00, 11:00, 13:00, 15:00 và 17:00 giờ) Đặt nhiệt kế và ẩm
kế ngay trên hệ thống gieo cải mầm khoảng 5 cm ở giai đoạn cây thấp (3 ngày sau
Trang 34khi gieo) những ngày sau cây cải đã cao nhiệt kế và ẩm kế được đặt trên ngang với
độ cao ngọn cải
Ánh sáng: máy đo ánh sáng Lux Meter Model DM-28, Japan (lúc 7:00, 9:00, 11:00, 13:00, 15:00, 17:00 giờ), đặt máy đo ánh sáng phía bên trên hệ thống ngang với độ cao ngọn cải
+ Chiều cao cây
Dùng thước nhựa dẻo để đo từ gốc thân, nơi tiếp giáp với bề mặt giá thể đến đỉnh cao nhất của cây, 10 cây/lô rồi tính trung bình (đo 4 thời điểm ở: 3; 4; 5 và 6 ngày sau khi gieo)
+ Năng suất
Năng suất tổng: cân toàn bộ cải thu họach được trong lô (cắt bỏ rễ)
Năng suất thương phẩm: loại bỏ cây cải mầm bị thối nhũng hoặc có vết đen
li ti trên lá to khoảng 1mm, mắt thường trông thấy được bằng cảm quan
+ Hàm lượng chất khô
Cải mầm khi thu hoạch cân trọng lượng tươi, đem sấy khô đem đặt vào tủ sấy, giữ ở nhiệt độở 600C, khoảng 3-4 ngày rồi cân trọng lượng khô
+ Hiệu quả kinh tế
Tổng chi phí: bao gồm tiền giống, giá thể, vật liệu và dụng cụ thí nghiệm, vận chuyển giá thể…
Tổng thu nhập: năng suất (g/400 cm2) x giá bán (đồng/g) = (đồng/g)
Lợi nhuận: tổng thu nhập – tổng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận: việc đánh giá hiệu quả kinh tế của từng loại giá thể trồng cải mầm đầu tư một đồng chi phí vào sản xuất có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận của mỗi loại giá thể như sau:
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/Tổng chi phí đầu tư
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Dùng phần mềm EXCEL để tính số liệu trung bình, và MSTATC để phân tích
thống kê số liệu thí nghiệm
Trang 35CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ghi nhận tổng quát
Điều kiện khí hậu trong thời gian thực hiện thí nghiệm nhiệt độ (25-350C),
ẩm độ (68,8-96%) không khí được ghi nhận là khá cao và cường độ ánh sáng rất
thấp (40-80 lux) Trong khi, nhiệt độ (27-380C) và ánh sáng (1000-4000 lux) ngoài
trời rất cao, khi được che tối làm giảm cường độ ánh sáng đồng thời làm giảm nhiệt
độ khoảng 30C Theo Trần Thị Ba và ctv (2008) thì điều kiện thích hợp cho việc
trồng cải mầm là: nhiệt độ 25-300C; ẩm độ 60-65% tối hoặc ánh sáng nhẹ trong
phòng Nhìn chung thời tiết không thuận lợi cho việc trồng cải mầm nên bệnh xuất
hiện nhiều
Kết quả ở thí nghiệm 1 các nghiệm thức sử dụng giá thể Xơ dừa có chiều cao
và năng suất cao, còn nghiệm thức trên giá thể Vải có chiều cao và năng suất rất
thấp Thí nghiệm 2 cải mầm trồng trên 3 hệ thống tưới nhỏ giọt đều không khác biệt
qua phân tích thống kê về chiều cao cây và năng suất Ở thí nghiệm 3 & 4 cải mầm
trồng trên giá thể Xơ dừa cho năng suất và chiều cao tốt hơn các giá thể có phối trộn
đất Phú Quốc, thấp nhất là ở giá thể thuần đất Phú Quốc Còn ở thí nghiệm 5 là tái
sử dụng giá thể cũ của thí nghiệm 3 & 4 thì bị bệnh hoàn toàn, bệnh xuất hiện bắt
đầu ngày thứ 2 sau khi gieo đến ngày thứ 4 thì thu hoạch nên chiều cao cây thấp và
năng suất chỉ đạt khoảng 12-13% so với thí nghiệm 3 & 4
3.2 Thí nghiệm 1: Khảo sát sự sinh trưởng và năng suất cải mầm trồng trên tổ
hợp giá thể, ống tưới nhỏ giọt và dụng cụ trồng (24 - 29/09/2008)
3.2.1 Chiều cao cây
Chiều cao cây của cải mầm lúc thu hoạch 6 ngày sau khi gieo (NSKG) của 8
nghiệm thức có khác biệt qua phân tích thống kê (Bảng 3.1), ở 4 nghiệm thức sử
dụng giá thể Xơ dừa (XD + 1 ống trên rãnh tấm tole; XD + 1ống dưới rãnh tấm tole;
XD + 1 ống trong máng tole; XD + 2 ống trong máng tole) có chiều cao không khác
biệt qua phân tích thống kê (biến thiên 7,5-8,0 cm), nhưng cao hơn có ý nghĩa qua
Trang 36phân tích thông kê với 4 nghiệm thức sử dụng giá thể Vải (Vải + 1 ống trên rãnh tấm tole; Vải + 1 ống dưới rãnh tấm tole; Vải + 1 ống trong máng tole; Vải + 2 ống trong máng tole) có chiều cao cây thấp khác biệt không ý nghĩa qua phân tích thống
kê (dao động 5,8-6,4 cm)
Bảng 3.1 Chiều cao cây và năng suất cải mầm ở thời điểm 6 ngày sau khi gieo trên
tổ hợp giá thể, ống tưới nhỏ và vật liệu trồng (TN 1: 24-29/09/2008)
Nghiệm thức Chiều cao
cây (cm)
Năng suất thương phẩm (g/400 cm2)
Năng suất tổng (g/400 cm2)
Năng suất thương phẩm/ năng suất tổng (%)
179,6 a 162,5 a 173,1 a 152,4 a 0,0 b 0,0 b 0,0 b 0,0 b
221,8 a 205,4 ab 216,7 a 194,5 abc 118,5 e 121,1 de 164,6 bcd 159,2 cde
80,9 a 80,0 a 79,7 a 77,6 a 0,0 b 0,0 b 0,0 b 0,0 b
Trang 37ngày trồng, chiều cao cây được 7-12 cm, kết quả chiều cao cây thí nghiệm 1 ở các nghiệm thức cải mầm trồng trên giá thể vải (dao đông 5,8-6,4 cm) cho thấy là quá thấp nên không đạt tiêu chuẩn được chọn làm cải mầm thương phẩm
Năng suất thương phẩm của 4 nghiệm thức cải mầm trồng trên giá thể Xơ dừa luôn không khác biệt nhau, biến thiên 152,4-179,6 g/400 cm2, còn các nghiệm thức cải mầm trồng trên giá thể Vải do chiều cao cây thấp không có năng suất thương phẩm Tỷ lệ năng suất thương phẩm trên năng suất tổng của tổ hợp giá thể
có Xơ dừa đều đạt cao (77,6-80,9%) không khác biệt qua phân tích thống kê