TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN HOÀNG THẠNH KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÁI ĐẾN PHẨM CHẤT TRÁI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN HOÀNG THẠNH
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÁI ĐẾN PHẨM CHẤT TRÁI QUÝT HỒNG
(Citrus recticulata Blanco) TẠI HUYỆN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÁI ĐẾN PHẨM CHẤT TRÁI QUÝT HỒNG
(Citrus recticulata Blanco) TẠI HUYỆN
LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
MSSV: 3061020
Lớp: NH K32
Cần Thơ, 2010
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-oOo- Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành nông học, với đề tài:
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÁI ĐẾN PHẨM CHẤT TRÁI QUÝT HỒNG
(Citrus recticulata Blanco)TẠI HUYỆN
LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Sinh viên Nguyễn Hoàng Thạnh thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần thơ, ngày tháng năm 2010
Trần Văn Hâu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Cần thơ, ngày tháng năm 2010
Nguyễn Hoàng Thạnh
Trang 4Quê quán: thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
Quá trình học tập: năm 2005 - 2006 tốt nghiệp THPT trường THPT Phan Văn Trị Năm 2006 - 2010 là sinh viên trường Đại Học Cần Thơ
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài: KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÁI ĐẾN PHẨM CHẤT TRÁI QUÝT HỒNG (Citrus recticulata Blanco) TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP Do sinh viên Nguyễn Hoàng Thạnh thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: ………
………
………
………
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức: ………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm 2010 Trưởng khoa Nông Nghiệp Chủ tịch Hội đồng
và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 6LỜI CẢM TẠ Kính dâng,
Cha, mẹ suốt đời tận tụy vì tương lai của con
Thành kính ghi ơn,
PGS.Ts Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành bài luận văn này
Chân thành biết ơn,
Cô Phan Thị Thanh Thủy, cố vấn học tập đã quan tâm dìu dắt, chia sẽ buồn vui, động viên và giúp đỡ em suốt khóa học
Ks Phan Xuân Hà đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Các bạn trong lớp Nông học k32 đã giúp em hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm tạ,
Toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng và trường Đại Học Cần Thơ đã dìu dắt và truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích cho em trong thời gian học tại trường
Thân ái gởi về,
Các bạn lớp Nông học k32 và ngành Nông học lời chúc sức khỏe, hạnh phúc
và thành đạt trong tương lai
Trang 7MỤC LỤC
Trang
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.6.1 Sự phân hóa mầm hoa và sự kích thích ra hoa 7
Trang 82.2.2 Nội dung 2 16
3.2 Thí nghiệm: ảnh hưởng của vị trí trái đến phẩm chất trái
Trang 93.3 Sự phát triển đường kính trái (a) và tốc độ tăng trưởng đường kính
trái (b)từ đậu trái đến thu hoạch trên quýt Hồng tại huyện Lai
3.4 Sự phát triển trọng lượng trái từ đậu trái đến thu hoạch trên quýt
Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009 24 3.5 Tốc độ tăng trưởng trọng lượng trái từ đậu trái đến thu hoạch trên
quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009 24 3.6 Hình dạng bên ngoài và phẩu diện cắt dọc các giai đoạn phát triển
trái từ khi đậu trái đến thu hoạch của trái quýt Hồng tại huyện Lai
3.7 Hàm lượng TA (%), Vitamin C (mg/100 g) (a) và hàm lượng
nước (%), độ Brix (%) (b) của trái quýt Hồng qua từng thời điểm
phân tích từ 90 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp, 2009
27
3.8 Tỉ lệ múi khô/trái, tỉ lệ chiều dài phần khô/múi của trái quýt Hồng
trong quá trình phát triển trái từ 195 - 270 ngày sau khi đậu trái tại
3.9 Điều kiện ánh sáng ở từng vị trí trái trong quá trình phát triển của
trái quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009 29 3.10 Chiều cao (cm) trái quýt Hồng ở các vị trí để trái trong quá trình
phát triển trái từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai
3.11 Đường kính (cm) trái quýt Hồng ở các vị trí để trái trong quá trình
phát triển trái từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai
3.12 Dày vỏ (cm) trái quýt Hồng ở các vị trí để trái trong quá trình phát
triển trái từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai Vung,
Trang 103.13 Trọng lượng (g) trái quýt Hồng ở các vị trí để trái trong quá trình
phát triển trái từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai
3.14 Trọng lượng thịt trái (g) của trái quýt Hồng ở các vị trí để trái qua
từng thời điểm phân tích từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại
3.15 Trọng lượng vỏ (g) của trái quýt Hồng ở các vị trí để trái qua từng
thời điểm phân tích từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện
3.16 Hàm lượng Vitamin C (mg/100 g) của trái quýt Hồng ở các vị trí
để trái qua từng thời điểm phân tích từ 105 - 270 ngày sau khi đậu
trái tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009 35 3.17 Hàm lượng TA (g/L) của trái quýt Hồng ở các vị trí để trái qua
từng thời điểm phân tích từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại
3.18 Độ Brix (%) của trái quýt Hồng ở các vị trí để trái qua từng thời
điểm phân tích từ 105 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai
3.19 Hàm lượng nước con tép (%) của trái quýt Hồng ở các vị trí để
trái trong quá trình phát triển trái từ 105 - 270 ngày sau khi đậu
trái tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009 38
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
1.1 Thành phần dinh dưỡng của cam, quýt, chanh, bưởi 3
3.1 Đặc tính ra hoa trên quýt Hồng hoa tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp, 2009
19 3.2 Tỉ lệ cành ra hoa, ra đọt, hoa không có lá và hoa có lá trên quýt Hồng
tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009
Hồng ở các nghiệm thức qua các thời điểm phát triển trái từ 180 -
270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009
39 3.5 Độ cứng của trái quýt Hồng ở các nghiệm thức qua các thời điểm
phát triển trái từ 210 - 270 ngày sau khi đậu trái tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp, 2009
40 3.6 Tỉ lệ (%) múi khô/trái của trái quýt Hồng ở các nghiệm thức trong
quá trình phát triển trái từ 195 - 270 sau khi đậu trái tại huyện Lai
3.7 Tỉ lệ (%) chiều dài phần khô/múi của trái quýt Hồng ở các nghiệm
thức trong quá trình phát triển trái từ 195 - 270 sau khi đậu trái tại
Trang 12Nguyễn Hoàng Thạnh, 2010 “Khảo sát đặc tính sinh học sự ra hoa và phát triển trái và ảnh hưởng của vị trí trái đến phẩm chất trái Quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông học trường Đại Học Cần Thơ Giáo viên hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát đặc tính sinh học sự ra hoa và phát triển trái và ảnh hưởng của vị trí trái đến phẩm chất trái quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm mục tiêu để tìm hiểu về sự phát triển hoa và trái, để có biện pháp tác động tốt nhất đến năng suất và phẩm chất trái Thí nghiệm được thực hiện tại vườn quýt Hồng của ông Nguyễn Thành Lâm tại ấp Long Khánh A, xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tiến hành khảo sát từ tháng 03/2009 đến tháng 12/2009 Đề tài thực hiện gồm hai nội dung: Khảo sát đặc tính sinh học sự ra hoa và sự phát triển của trái quýt Hồng, Ảnh hưởng của vị trí trái đến phẩm chất trái quýt Hồng Kết quả của đề tài như sau: Tỉ lệ ra hoa cao (90,5%), tỉ lệ đậu trái khá cao (50%), sự rụng trái non xuất hiện trong vòng 30 ngày đầu sau khi đậu trái với tỉ
lệ rụng là (30,9%) Sự phát triển của trái quýt Hồng theo một đường cong đơn giản gồm ba giai đoạn Giai đoạn phân chia tế bào và hình thành cơ quan trong vòng 60 ngày đầu sau khi đậu trái.Giai đoạn tăng trưởng nhanh Trong đó, chiều cao trái tăng trưởng và đạt tốc độ tăng trưởng cực đại tại thời điểm 86 ngày sau khi đậu trái Đường kính trái đạt tốc độ tăng trưởng cực đại tại thời điểm 101 ngày sau khi đậu trái Tốc độ tăng trưởng trọng lượng trái đạt cực đại tại thời điểm 160 ngày sau khi đậu trái Giai đoạn trưởng thành và chín: Thời điểm 180 ngày sau khi đậu trái thì trái bắt đầu ngã vàng (da lươn) Trái khoảng 273 ngày sau khi đậu và vỏ có màu vàng cam đặc trưng thì có thể thu hoạch Hiện tượng khô đầu múi có thể phân biệt được vào giai đoạn 195 ngày sau khi đậu trái Qua kết quả khảo sát ảnh hưởng vị trí trái cho thấy, các chỉ tiêu như kích thước trái, trọng lượng trái, hàm lượngVitamin
C, hàm lượng TA không bị ảnh hưởng bởi vị trí của trái Độ Brix và hàm lượng nước trong con tép ở nghiệm thức trên tán cao hơn so với hai nghiệm thức còn lại Màu sắc của trái trên tán vàng và bóng hơn so với trái ở giữa và dưới tán Trái ở dưới tán vỏ bị sần sùi và cứng hơn so với trái ở trên tán Tỉ lệ múi khô/trái và chiều dài phần khô/múi cũng bị ảnh hưởng nhiều Cần nghiên cứu chế độ dinh dưỡng và nước trong giai đoạn trái phát triển nhanh, và kỹ thuật tỉa cành phù hợp để giúp cho quýt Hồng đạt năng suất và chất lượng cao
Trang 13MỞ ĐẦU
Lai Vung là một huyện nằm ven bờ sông Hậu, tiếp giáp với Cần Thơ và Vĩnh Long, một vùng đất phù sa màu mỡ Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi đó nên Lai Vung rất phù hợp trồng nhiều loại cây ăn trái đặc biệt là loại cây có múi như quýt Hồng Hiện nay, huyện có 1.200 ha diện tích trồng quýt Hồng với sản lượng là 36.000 tấn (Phòng Nông Nghiệp huyện Lai Vung, 2008) Quýt Hồng là một cây ăn trái có giá trị kinh tế rất cao, là cây trồng chủ lực của của nông dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Vì thế câyquýt Hồng được xem là lợi thế kinh tế của địa phương
Trái quýt Hồng với màu vàng đậm, hầu như là loại trái cây có múi duy nhất
ở đồng bằng sông Cửu Long có màu sắc đẹp khi so sánh với các lọai trái cây có múi
ở vùng Á Nhiệt đới Do có màu sắc tươi đẹp nên quýt Hồng rất được ưa chuộng trong dịp tết Nguyên Đán để thờ cúng Ngoài màu sắc tươi đẹp bên ngoài thì phẩm chất bên trong cũng là yếu tố rất được quan tâm, vì theo quan niệm Á Đông vào những ngày đầu năm tất cả đều phải trọn vẹn, tốt đẹp Hơn nữa, trái quýt Hồng với
vị ngọt, chua nhẹ,hậu không đắng như quýt xiêm, rất thích hợp trong các bửa tiệc mừng xuân
Song, việc trồng quýt Hồng từ trước tới nay mang tính chất tự phát, chủ yếu cho tiêu dùng nội địa Mặt khác, đối tượng này vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu đúng mức so với tầm quan trọng của nó, cho tới nay tài liệu khoa học ở nước ta về loài cây này còn rất hạn chế Kỹ thuật của bà con nông dân chưa được chú ý, chỉ sản xuất theo hướng tự phát vì thế chất lượng sản phẩm đôi khi không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài: “Khảo sát đặc tính sinh học sự ra
hoa và phát triển trái và ảnh hưởng của vị trí trái đến phẩm chất trái Quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện để tìm hiểu về sự phát triển hoa và trái, để có biện pháp tác động tốt nhất đến năng suất và phẩm chất trái giúp bà con nông dân đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao
Trang 14CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HUYỆN LAI VUNG
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lai Vung nằm ở phía Nam của tỉnh Đồng Tháp, trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam của Tỉnh (vùng Sa Đéc)
Diện tích tự nhiên: 238 km2.
Dân số năm 2007: 165.000 người
Đơn vị hành chính: 11 xã và thị trấn Lai Vung
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 2006 - 2008 là 16,80%/năm
Huyện Lai Vung có vị trí hết sức quan trọng, nằm giữa sông Tiền và sông
Hậu; nằm kề với khu công nghiệp Sa Đéc, ngang khu công nghiệp Trà Nóc (Cần
Thơ) và tiếp giáp với các trung tâm đô thị lớn của vùng như thành phố Cần Thơ,
thành phố Long Xuyên (An Giang) rất thuận lợi cho việc thu hút đầu tư phát triển
Mạng lưới giao thông thuỷ bộ rất thuận lơi, huyện có các tuyến huyện lộ trên 100
km đường nhựa phủ khắp liên thông với Tỉnh lộ 851, 852, 853 nối liền với Quốc lộ
54 và 80; cách cảng Sa Đéc và cảng Cần Thơ chỉ 20 km đi từ khu công nghiệp sông
Hậu
1.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Theo báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2009 của Ủy ban nhân
dân huyện Lai Vung thì diện tích cây lúa là 14.050 ha chiếm 77,46%, diện tích cây
màu 167 ha chiếm 0,92% Diện tích cây ăn trái là 3.921,32 ha chiếm 21,62%, trong
đó diện tích cây quýt Hồng là 1.418,8 ha chiếm 36,18% so với diện tích trồng cây
ăn trái Qua đó cho thấy cây quýt Hồng có vị trí rất quan trọng trong nền nông
nghiệp cũng như giá trị kinh tế đối với huyện Lai Vung (www.dongthap.gov.vn)
1.2 GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY CÓ MÚI
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) trái cam quýt được sử dụng rộng rãi
vì có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nhất là vitamin C Vỏ trái
giàu pectin được sử dụng làm xu xoa, mứt, kẹo, thuốc nam hay trích lấy tinh dầu
Trái được chế biến thành nhiều loại sản phẩm như nước giải khát, xi-rô, mứt, rượu
bổ…
Trang 15Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của cam, quýt, chanh, bưởi
Muối khoáng (mg/100 g)
Protein (%)
hydrat (%)
Carbo-Xơ (%)
Năng lượng (%)
0,5 0,3 0,3 0,5
8,4 3,6 8,6 15,3
1,4 1,3 0,8 0,7
Trần Thượng Tuấn và ctv (1994)
1.3 NGUỒN GỐC CỦA CÂY CÓ MÚI
Khó xác định nguồn gốc của cây có múi vì có rất nhiều chủng loại và đó là những cây trồng lâu năm có diện phân bố rộng (Vũ Công Hậu, 2000) Cam quýt nói riêng, cây có múi nói chung là những loài trái cây phân bố rất rộng, gần như có mặt
ở hầu hết các lục địa và ở mỗi vùng tùy theo điều kiện tự nhiên mà có những giống thích hợp, những đặc tính riêng (Nguyễn Hữu Đống, 2003) Cam quýt có sự phân
bố rộng là do khả năng dễ thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau; do khả năng dễ lai tạo giữa các chủng mới có khả năng thích nghi cao hơn
Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy cây có múi có nguồn gốc ở Đông Nam Á, bao gồm phía Đông Arabia đến Philippines và từ Nam Hymalayas đến Indonesia hoặc Ustralia, trong đó cái nôi của cây có múi là từ Đông Nam Ấn Độ đếm phía Bắc Burma (Nguyễn Hữu Đống, 2003) Còn Tanaka (1979 trích dẫn bởi Nguyễn Hữu Đống, 2003) cho rằng phần lớn nguồn gốc cây có múi ở vùng giáp ranh giới Ấn Độ và Trung Quốc Vũ Công Hậu (2000) cho rằng sự thuần hóa các cây có múi dại đã bắt đầu từ vài thế kỷ trước công nguyên và rất khó xác định nguồn gốc của cây có múi vì có rất nhiều chủng loại Đó là những loại cây trồng lâu năm và có diện tích phân bố rộng từ xích đạo lên tới vĩ tuyến 430 từ mặt biển lên tới
độ cao 2500 m Các loài, thậm chí các chi lai hữu tính một cách dễ dàng, luôn sản sinh ra các loài mới và có những loài người ta không xác định được loài bố mẹ
Ở Việt Nam cam quýt được trồng khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam Các vùng cam quýt nổi tiếng thường là vùng đất phù sa cũ, cao, đất tương đối nhẹ ven sông
Có nơi dân còn vực đất phù sa lên đắp các chân ruộng để trồng cam quýt Miền Bắc Việt Nam có vùng trồng cam nổi tiếng ven sông Thương, sông Sỏi, sông Hồng, sông Lô, sông Ngàn Phố, sông Châu Giang, sông Thái Bình Vùng ĐBSCL, đất
Trang 16rộng người thưa có nhiều vườn cam lớn đến hai ba nghìn hecta như Tiền Giang, Cần thơ, Vĩnh Long… (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999)
1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÂY CÓ MÚI
1.4.1 Thế giới
Trong những năm ở nửa sau của thế kỷ XX, sản xuất cam quýt trên thế giới tăng nhanh Nhu cầu đối với các loại cây có múi đang tăng và ngày càng có nhu cầu lớn hơn Theo tài liệu của tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO, 1997 trích dẫn bởi Đường Hồng Dật, 2000) trong vòng 20 năm (từ 1975 đến 1995) sản lượng cam quýt trên thế giới tăng từ 22 triệu lên đến 48 triệu tấn Tổng sản lượng cam quýt trên thế giới trong những thập niên 90 của thế kỷ XX bình quân hàng năm là 60 - 70 triệu tấn với tổng diện tích là 6,5 triệu hecta, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới và một phần ở các vĩ độ cao hơn 20 - 220 Bắc và Nam bán cầu Giới hạn phân bố của cam quýt lên đến 350 Bắc và Nam, có khi lên đến 400(Đường Hồng Dật, 2000)
Sản lượng cam quýt được sản xuất nhiều ở vùng Bắc bán cầu (42,3 triệu tấn) hơn là Nam bán cầu (18,4 triệu tấn) Về mặt tiêu thụ, 2/3 sản lượng cam quýt được tiêu thụ tươi, còn lại 1/3 sử dụng trong chế biến, đặc biệt là dưới dạng nước giải khát Các nước sản xuất nhiều cam là Mỹ, Braxin, Tây Ban Nha, Ý, Mêhicô, Ấn
Độ, Ai Cập, Israel, Trung Quốc, Achentina, Nam Phi, Maroc, Hy Lạp và Thổ Nhĩ
Kỳ Các nước sản xuất nhiều quýt là Nhật, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Ý, Braxin, Trung Quốc và Achentina Các nước trồng nhiều chanh gồm có Mỹ, Ý, Mehico, Ấn Độ, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ Về bưởi, các nước trồng nhiều là Mỹ, Israel,
Achentina và Trung Quốc (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
1.4.2 Trong nước
Diện tích cây ăn quả ở ĐBSCL ước tính khoảng 234.363 ha và miền Đông Nam Bộ 100.000 ha (Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, 2000) Ở Nam Bộ diện tích cây có múi đứng hàng thứ hai (39.440 ha) sau cây nhãn (48.656 ha) với sản lượng cao nhất là 552.160 tấn Với gần 40.000 ha cây có múi, ĐBSCL chiếm gần 37.000 ha, Đông Nam Bộ chỉ khoảng 3.000 ha đã cho thấy sự quan trọng của cây có múi
Thị trường tiêu thụ trong nước là một thị trường rất quan trọng, thường thì thị trường phía Bắc là nơi thiêu thụ sản phẩm cây ăn trái của miền Nam và ngược lại Do bệnh vàng lá gân xanh từ năm 1994 đến năm 1998 đã làm giảm 30% đến 40% diện tích cây có múi vùng ĐBSCL, dẫn đến sản lượng giảm liên tục làm cho giá thị trường của cây có múi không ngừng tăng cao: từ 15.000 đồng đến 20.000 đồng/kg bưởi năm roi Giá bình quân vào chính vụ khoảng 5.000 đến 7.000
Trang 17đồng/kg Trong khi các loại trái cây khác giảm từ 20% đến 30% như: chôm chôm, sapo…(Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, 2000)
1.5 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT
1.5.1 Rễ
Phần lớn rễ cam quýt phân bố ở tầng đất sâu 10 - 30 cm Rễ hút tập trung ở tầng sâu 10 - 25 cm Rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1 - 8 năm tuổi sau khi trồng Sự phân bố tầng rễ của cây ăn quả có múi tùy thuộc vào nhiều yếu tố Trước hết là tùy thuộc vào loại đất: độ dày tầng đất mặt, thành phần hóa học của đất, mực nước ngầm Việc phân bố của rễ con tùy thuộc vào các biện pháp và kỹ thuật canh tác Rễ quýt rất sợ đất chặt, bí và không phát triển được ở những nơi có mực nước ngầm cao Các cây cam quýt nhân giống bằng hạt có bộ rễ ăn sâu nhưng phân bố hẹp và ít
rễ hút Cây chiết và cây giâm cành có bộ rễ ăn nông nhưng nhiều rễ hút phân bố nông và tự điều tiết được tầng sâu phân bố theo những thay đổi của điều kiện bên ngoài nhất là mực nước ngầm (Đường Hồng Dật, 2003)
nhân giống cây có thể có chiều cao và hình thái khác nhau (Trần Thế Tục và ctv.,
1998)
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) thì trong một năm cây có thể cho 3 -
4 đợt cành Tùy theo chức năng của cành trên cây, chúng có thể gọi như sau:
Cành cho trái: Là những cành mang trái, thường ra trong mùa xuân Cành
ngắn nhỏ, mau tròn mình, dài trung bình 3 - 9 cm, trên cành có lá hoặc vết lá Cành cho trái mọc từ những cành lớn hơn gọi là cành mẹ Những cành mọc ở ngọn hay gần ngọn cành mẹ là những cành đậu trái tốt so với các cành mọc bên trong Vì phải tập trung chất dinh dưỡng để nuôi trái nên thường cành cho trái không tiếp tục cho
ra những cành mới, sau khi thu hoạch thường héo khô đi
Cành mẹ: Là cành tạo ra cành cho trái, thường phát triển mạnh trong mùa
hè và mùa thu Cành to khỏe, lâu tròn mình Cần nắm vững thời vụ ra cành mẹ để
có biện pháp bồi dưỡng tích cực giúp cây tạo được nhiều cành cho trái hơn trong mùa xuân
Trang 18 Cành dinh dưỡng: Chỉ chung tất cả các loại cành trong giai đoạn chưa ra
hoa trái, thường mọc ra ở các mùa trong năm
Cành vượt: Là loại cành mọc thẳng lên trong tán cây từ những cành chính
hay thân Cành mọc ra trong mùa hè, phát triển mạnh, dẹp, màu xanh, lá to bóng láng, đôi khi có gai dài Loại cành này phát triển thường sử dụng nhiều chất dinh dưỡng của cây mà không ích lợi nhiều, chúng lại là nơi sâu bệnh thích tấn công Do
đó, khi cây còn tơ có thể giữ lại cành vượt để tạo khung tán, nhưng khi cây trưởng thành thì nên cắt bỏ
Nhìn chung, sự phát triển của cành tùy thuộc vào số trái trong năm Trong điều kiện tự nhiên, nếu trong năm cây sai trái thì năm sau số trái ít đi vì số lượng cành mọc ra không nhiều Do đó, cần chú ý tới bồi dưỡng cho cây sau thu hoạch để giúp cây có đủ dinh dưỡng tạo nhiều cành mới
1.5.3 Lá
Lá cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá Phần cánh lá có kích thước thay đổi tùy giống Trên cùng một loài thì kích thước chánh lá cũng thay đổi theo mùa Một cây cam quýt khỏe mạnh có thể có 150.000 - 200.000
lá với tổng diện tích lá khoảng 200 m2 Trên lá khí khổng tập trung nhiều nhất ở mặt lưng, số lượng thay đổi tùy giống, trung bình có 400 - 500 khí khổng/mm2 Lá có
chứa túi tinh dầu, hiện diện ở lớp mô giậu (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
1.5.4 Hoa
Hoa cam quýt thuộc dạng hoa đơn hay hoa chùm, mọc từ nách lá Hoa thường mọc trong mùa xuân, nhưng nếu gặp hạn kéo dài và sau đó có mưa hay tưới nước thì cây cũng ra hoa rộ (như trong kỹ thuật xiết nước để kích thích ra hoa) Ở ĐBSCL, hoa cam quýt mọc ở cành phát triển vào đầu và cuối mùa mưa nên cho nhiều vụ trái trong năm (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Hoa cam quýt có hình thuôn tròn, đường kính 2,5 - 4 cm, thơm và thường là hoa lưỡng tính Hoa có 4 - 8 cánh (thường là 5), màu trắng Hoa có 20 - 40 nhị đực hợp thành từng nhóm, dính liền nhau ở đáy Đầu nướm nhụy cái to, bầu noãn có từ
8 - 15 ngăn (tạo thành các múi) dính liền nhau tại một trục giữa cái, mỗi ngăn 0 - 6 tiểu noãn (tạo thành hột) Mầm hoa thường bắt đầu thành lập từ sau khi thu hoạch trái đến trước khi mọc cành mùa xuân, nhưng cũng thay đổi tùy điều kiện khí hậu Thông thường, cây phân hóa từ tháng 11 dương lịch đến đầu tháng 2 dl năm sau
(Trần Thượng Tuấn và ctv.,1994)
Hầu hết các loài cam quýt đều tự thụ Thường thì nhị đực và nhị cái chín cùng một lúc và nướm có thể nhận được phấn trong thời gian kéo dài 6 - 8 ngày Côn trùng (ong, bướm) cũng góp phần quan trọng trong việc thụ phấn Theo Nguyễn
Trang 19Hữu Đống (2003) hoa thường ra đồng thời với cành non, trên một cây có thể tới 60 nghìn hoa và chỉ cần 1% hoa đậu là mỗi cây có thể thu được 100 kg quả Thời gian
từ khi ra hoa đến khi hoa tàn thay đổi tùy giống và điều kiện khí hậu, trung bình là một tháng
1.5.5 Trái
Trái có hình cầu dẹp ở hai đầu, đỉnh và đáy trái lõm, có từ 6 - 10 múi, mỗi múi có từ 0 - 4 hạt, vỏ có quả màu hồng đặc trưng rất đẹp và không có lớp vỏ trắng xốp Mặt ngoài vỏ có lớp sừng chứa nhiều túi tinh dầu Theo Trần Thượng Tuấn và
ctv (1994) trái cam quýt gồm có 3 phần: ngoại, trung và nội quả bì
Ngoại quả bì: Là phần vỏ ngoài của trái, gồm biểu bì với lớp cutin dày, lớp
nhu mô, các túi tinh dầu và các khí khổng Vỏ trái màu xanh và có khả năng quang hợp khi trái còn xanh Khi chín, vỏ trái đổi sang màu vàng hay cam Màu sắc trái khi chín ở vùng khí hậu mát (á nhiệt đới) thường đẹp, tươi hơn vùng nhiệt đới (khi chín trái vẫn còn xanh nhạt)
Trung quả bì: Là phần vỏ trong, nằm kế ngoại bì Đây là các lớp tế bào có
màu trắng, đôi khi màu vàng hay hồng nhạt (bưởi), dày mỏng tùy loài Vỏ trong chứa nhiều đường bột, vitamin C và pectin Khi trái còn non, hàm lượng pectin cao (20%) giúp trái hút nước dễ dàng
Nội quả bì: Là các múi trái bao quanh bởi vách mỏng Trong múi có nhiều
“con tép” chiếm đầy múi, chỉ chừa ít khoảng trống cho hột Tép múi chứa đầy dịch trái gồm đường và acid (chủ yếu là acid citric) Khi trái chín, lượng acid giảm dần, lượng đường và chất thơm tăng lên Tỷ lệ đường và acid thay đổi tùy loài trồng và điều kiện canh tác Ở các loại cam quýt, thời gian chín của trái thay đổi từ 7 - 14 tháng kể từ khi thụ phấn Thông thường cây có thể cho nhiều hoa, nhưng chịu một
tỷ lệ nhỏ trái phát triển được Hoa và trái non có thể bị rụng (thời kỳ này có thể kéo dài 10 - 12 tuần sau khi hoa nở)
1.5.6 Hột
Hình dạng, kích thước, trọng lượng, số lượng hột trong trái và mỗi múi thay đổi tùy giống (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Ngoại trừ bưởi có hột đơn phôi, hầu hết các loài cam quýt đều có hột đa phôi (cho nhiều cây con mọc từ mỗi hột) Các phôi hữu tính hình thành do thụ tinh Khoảng 6 phôi vô tính phát triển
từ tế bào sinh dưỡng của phôi tâm và vì vậy cây con rất giống mẹ Cây mọc ra từ phôi hữu tính thường yếu ớt, dễ chết Tuy nhiên, sự thụ phấn cũng cần thiết phát
triển phôi vô tính (Lê Thanh Phong và ctv., 1999)
Trang 201.6 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ ĐẬU TRÁI
1.6.1 Sự phân hóa mầm hoa và sự kích thích ra hoa
Sự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng phát triển dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng phát triển sinh sản: chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Nó biểu hiện về phản ứng di truyền và trạng thái sinh lý nhất định khi gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp Sau khi cảm ứng được mầm hoa thì hoa được hình thành và phân hóa (Phạm Văn Côn, 2003)
Quá trình ra hoa có thể chia làm các bước sau: sự hình thành mô nguyên thủy mầm hoa, sự phân hóa các bộ phận của hoa, sự thành thục các bộ phận hoa, sự trổ hoa Trong đó thời kỳ điểm sinh trưởng phân hóa thành mô nguyên thủy mầm hoa
là thời kỳ quan trọng nhất, đây là bước chuyển dịch từ sinh trưởng dinh dưỡng sang
sinh trưởng sinh thực (Vũ Văn Vụ và ctv., 2005) Thời kỳ ra hoa phụ thuộc vào
chủng loại thực vật và đặc tính di truyền Sự ra hoa và đậu trái cũng khác nhau giữa các chủng loại cây trồng Có loại ra hoa nhiều và đậu trái với tỉ lệ cao, có loại ra hoa song hầu như rất ít đậu trái (Hoàng Đức Phương, 2000)
Mầm hoa được kích thích trong điều kiện khô hạn nhưng chỉ phát triển khi nhiệt độ ấm lên hoặc ẩm độ đất tăng (không còn “xiết nước”) Thường cây sẽ ra hoa sau khi tưới nước 3 - 4 tuần Thời gian từ khi cảm ứng ra hoa đến khi hoa nở thay đổi từng năm Áp dụng GA3 trong giai đoạn kích thích ra hoa sẽ ngăn cản sự kích thích và sự ra hoa tiếp theo (Davenport, 1990 trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2008)
1.6.2 Sự ra hoa và đậu trái
Mối quan hệ giữa sinh trưởng thân cành và ra hoa kết quả hết sức mật thiết Trong chu kỳ sinh trưởng của cây ăn trái thì sự hình thành, sinh trưởng của lộc cành mới với việc phân hóa mầm hoa, sự phát triển của trái có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu cành lá sinh trưởng quá yếu, khả năng đồng hóa sẽ kém dẫn đến việc phân hóa mầm hoa, sự phát triển của trái sẽ không thuận lợi Ngược lại cành lá sinh trưởng quá mạnh, thời gian sinh trưởng kéo dài, tiêu hao nhiều dinh dưỡng cho các phần non trên cành, cho nên tuy lá có nhiều, sản phẩm đồng hóa tích lũy được ít, do
đó việc phân hóa mầm hoa, sự phát triển của trái cũng gặp khó khăn Bởi vậy những cành lá mới chỉ để phát triến với mật độ vừa phải là tốt nhất (Phạm Văn Côn, 2003)
Theo Trần Văn Hâu (2008) thì cây có múi có nhiều đợt sinh trưởng trong năm tùy theo giống Chồi mới thường xuất phát từ mầm ngủ của chồi bên Chồi mới
có thể ra lá, hoa hoặc vừa ra lá vừa ra hoa Mầm hoa không có thể nhận thấy trong giai đoạn mầm ngủ Dấu hiệu sớm nhất của hoa được nhìn thấy khi mầm phát triển thành chồi
Trang 21Ở vùng á nhiệt đới cây cam thường có ba đợt sinh trưởng chính trong năm:
Đợt đâm chồi vào cuối mùa Đông hay đầu mùa Xuân
Đợt đâm chồi vào mùa Hè, sau khi dứt đợt rụng trái non
Đợt cành mùa Thu
Sự đậu trái bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ và sự khô hạn Thời tiết lý tưởng cho cây thụ phấn là: nắng, nhiệt độ vừa phải, không có gió lớn, điều kiện để bao phấn dễ nảy nở, nẩy mầm thuận lợi, côn trùng môi giới hoạt động tốt, số lượng hạt phấn mang đến đầu nhụy nhiều (Phạm Văn Côn, 2003) Thông thường phát hoa
có lá đậu trái cao hơn so với phát hoa không có lá; chồi có tỉ lệ lá/hoa cao sẽ có tỉ lệ giữ trái đến khi thu hoạch cao Nhiệt độ cao (>35oC) và sự khô hạn dễ gây ra sự rụng trái non Nhiều tác giả cho rằng sự rụng sinh lý khi trái có kích thước từ 0,5 - 2,0 cm có liên quan đến chất điều hòa sinh trưởng, nước và các chất carbohydrate (Trần Văn Hâu, 2008)
1.6.3 Sự rụng trái non
Sự rụng là sự phân tách một phần của cây như: hoa, lá, trái, cành khỏi cơ thể
mẹ Sự rụng quả cũng là một quá trình thích ứng của cây khi thiếu chất dinh dưỡng, nước và hoocmon cho sự sinh trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một số lượng nhất định các quả non, để tập trung chất dinh dưỡng và hoocmon cho những quả khác Sự rụng của trái thường mạnh mẽ vào lúc phôi sinh trưởng nhanh và lúc phình to của trái Về mặt giải phẫu sự rụng trái là do sự hình thành tầng rời ở gốc của cuống trái Tầng rời là một vài lớp tế bào mô mềm (nhu mô) đặc biệt có đặc trưng giải phẫu là: tế bào bé hơn, tròn, chất nguyên sinh đặc hơn, gian bào bé, không hóa suberin và linhin Ngoài ra yếu tố mạch dẫn thường ngắn và ở các vùng này thường thiếu yếu tố sợi trong hệ thống dẫn… Tất cả các cấu trúc đó làm cho vùng tế bào này yếu hơn các vùng khác Khi có những yếu tố cảm ứng sự rụng thì tầng rời xuất hiện nhanh chóng Trong lớp tế bào này xảy ra những biến đổi mạnh
mẽ Biến đổi trao đổi chất theo hướng phân giải các hợp chất pectin gắn các tế bào với nhau nhờ các enzim pectinaza Kết quả là các tế bào rời rạc, không còn dính nhau và trái chỉ còn được giữ lại bằng bó mạch mỏng manh Dưới tác dụng của khối lượng trái và các tác động cơ học như gió thì trái có thể bị rụng dễ dàng (Vũ Văn
Vụ và ctv., 2005)
Cam quýt có hiện tượng rụng quả sinh lý, thường một năm có hai đợt rụng
- Đợt rụng quả sinh lý lần thứ nhất, thường xuất hiện vào thời kỳ quả còn nhỏ (khoảng từ tháng 3, tháng 4) Đặc trưng của đợt rụng quả này là quả mang theo
cả cuống
Trang 22- Đợt rụng quả sinh lý lần tứ hai: quả rụng khi có đường kính quả bằng 3 - 4cm, đặc trưng của nó là quả rụng không cuống (xuất hiện cuối tháng 5) Người ta
đã theo dõi trên các giống cam chanh và thấy rằng: hiện tượng rụng quả sinh lý gần như là tất yếu Trước khi quả rụng tốc độ lớn của quả rất chậm, sau mỗi đợt rụng quả tốc độ lớn của quả tăng lên rất nhanh (www.skhcn.vinhlong.gov.vn)
Sự rụng trái non bắt đầu sau khi ra hoa cho đến 3 - 4 tuần sau khi hoa nở Sự rụng trái non xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ trên bề mặt lá từ 35 - 40oC hoặc khi cây bị khô hạn Nhiệt độ cao và sự khô hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến giảm sự đồng hóa khí CO2 và sự rụng trái non gây ra bởi sự mất cân bằng của carbon (Trần Văn Hâu, 2008)
1.6.4 Sự phát triển trái
Sự phát triển trái của cây có múi theo đường cong đơn giản, gồm ba giai đọan như các loại trái cây khác:
(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 - 6 tuần sau khi ra hoa
(2) Sự phát triển kích thước trái:
Chanh: 2 - 3 tháng
Cam: hơn 6 tháng
(3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng
Một số đặc tính của trái (như kích thước, hình dạng trái, cấu trúc và bề dày của con tép) được xác định trong 2 tháng đầu sau khi ra hoa Cây mang nhiều trái ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ phát triển trái (Trần Văn Hâu, 2008)
1.7 HIỆN TƯỢNG RỐI LOẠN SINH LÝ TRÊN CÂY CÓ MÚI VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Hiện tượng rối loạn sinh lý là sự rối loạn các chức năng của tế bào, đây là sự kết hợp của các điều kiện bất lợi về môi trường như nhiệt độ, ẩm độ, dinh dưởng, bệnh, côn trùng… Hầu hết các hiện tượng rối loạn sinh lý thì không thể chữa được, ngăn ngừa là biện pháp giải quyết tốt nhất (Ladaniya, 2008)
Hiện tượng rối loạn sinh lý trên trái cây có múi được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới Hiện tượng rối sinh lý được mô tả bao gồm hiện tượng nứt trái (splitting hay cracking), con tép kết tinh (granulation), khô múi (dry juice sac) và nhăn vỏ (creasing) Hiện tượng con tép kết tinh thường xảy ra nhiều ở các cây còn tơ, con tép trở nên cứng và bị nhạt màu, hàm lượng đường và acid bị giảm (Xingjie, 1990) Theo Singh và Singh (1980) thì hiện tượng con tép kết tinh có liên quan đến dinh dưởng, trong cây có một lượng lớn Ca và Mg nhưng bị thiếu hụt về P và Bo
Trang 23Hiện tượng khô múi (dry juice sac) được cho là bị ảnh hưởng bởi tuổi cây, kích
thước trái, năng suất của cây, thời gian thu hoạch và phân bón (Burns và ctv., 1998,
trích dẫn bởi Boonyakiat và Yantarasri, 2001) Hiện tượng này xuất hiện trên cam, quýt, quýt lai Trái bị khô có những khoang rỗng chứa dịch bị đặc quánh lại Trọng lượng trái, phần trăm của thịt quả, phần trăm của dịch quả và hàm lượng TSS đều giảm và phần trăm vỏ quả thì cao hơn so với trái bình thường Trong trường hợp trái
bị khô trầm trọng thì đường và acid sẽ giảm đi rất nhiều, trái quýt sẽ trở nên nhạt nhẽo Trái bị khô có khuynh hướng phát triển khi trái chín, khi thu hoạch trễ hay cây còn tơ (Ladaniya, 2008) Theo Singh và Singh (1980) thì khả năng phát triển của bệnh này có thể được hạn chế bằng cách cân bằng dinh dưỡng Tuy nhiên, việc
đó cần có nhiều nghiên cứu và nhiều thời gian để ứng dụng Nó giống như việc cân bằng dinh dưỡng và liên kết các mô với nhau trong con tép có tác dụng nhiều tháng trước khi hiện tượng này xuất hiện Với việc tập trung và kết hợp các yếu tố dinh dưỡng khác nhau là lối đi để chúng ta khắc phục hiện tượng này
Hiện tượng nứt trái (creasing) cây ăn quả có múi đặc biệt là chanh và quýt có
hiện tượng nứt vỏ trái và làm trái mất giá trị thương phẩm Ở Ấn Độ trong các tháng
5 – 7 khi lượng acid trong cam và chanh tăng dần khi khí hậu và độ ẩm trong đất bắt đầu thay đổi đột ngột, và mùa mưa bắt đầu Mưa lớn cung cấp thật nhiều nước cho cây và mưa đột ngột giảm, làm cho trái phát triển quá mứt dẫn đến nứt trái Sự rối loạn sinh lý làm vỏ quả căng ra và sau đó nứt (Ladaniya, 2008)
Con tép kết tinh (granulation) sự kết tinh được phát hiện đầu tiên bởi
Bartholomew và ctv (1935) trên cam Valencia Trong sự kết tinh của cam, quýt,
quýt lai dịch trái được trích ly giảm theo chiều hướng xấu bởi vì dịch quả có những khoảng đặc quánh lại Trọng lượng quả, tỉ lệ thịt trái, tỉ lệ dịch trích ly và hàm lượng TSS đều giảm Phần vỏ bao múi của trái có hiện tượng kết tinh sẽ nặng hơn trái bình thường Sự kết tinh có khuynh hướng phát triển khi trái bắt đầu chín, thu hoạch trễ hay cây còn tơ (Ladaniya, 2008)
Hiện tượng phồng vỏ (puffing) khi trái bị phồng vỏ quả trở nên dày, đậm và to,
thịt quả cũng khác hơn, tạo ra một lổ hổng không khí giữa vỏ trái và múi Cam quýt được bảo quản lâu thì hiện tượng này xuất hiện càng nhiều bởi vì sự tích lủy của độ
ẩm cao (Ladaniya, 2008)
Trang 24CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Địa Điểm
- Thí nghiệm được thực hiện tại vườn quýt Hồng của ông Nguyễn Thành Lâm tại
ấp Long Khánh A, xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
- Phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
2.1.2 Thời Gian
- Tiến hành khảo sát từ tháng 03/2009 đến tháng 12/2009
2.1.3 Tình hình khí tượng thủy văn tỉnh Đồng Tháp
Số liệu khí tượng được thu thập tại trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Đồng Tháp bao gồm nhiệt độ trung bình và lượng mưa trung bình từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2009 được trình bày trong Hình 2.1
Thời gian khảo sát bắt đầu vào tháng 3, đây là giai đoạn đã có mưa với lượng mưa trung bình là 37,7 mm
0 50 100 150 200 250
Lượng m ưa Nhiệt độ
Hình 2.1: Biểu đồ tình hình lượng mưa trung bình và nhiệt độ trung bình tháng tại tỉnh Đồng
Tháp từ tháng 1/2009 đến tháng 12/2009 (Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Đồng Tháp)
Trang 252.1.4 Dụng cụ và vật liệu thí nghiệm
- Bảng đánh dấu trên cây
- Thước kẹp, cân điện tử STATORIUS
- Khúc xạ kế - Atago của Nhật (đo độ Brix)
- Hóa chất: NaOH 0,1N (Trung Quốc)
HCl đậm đặc 36 - 38% (Trung Quốc) Oxalic acid độ tinh khiết 99% dạng bột (Trung Quốc) 2,6-diclorophenol indophenol 99% (Trung Quốc)
- Cây quýt Hồng: Những cây quýt Hồng được chọn làm vật liệu thí nghiệm có cùng độ tuổi (8 năm tuổi), có độ đồng đều cao về sinh trưởng, không có biểu hiện bất thường hay sâu bệnh và được chăm sóc trong cùng điều kiện Cây quýt Hồng trồng bằng nhánh chiết, trồng theo kiểu hình vuông, khoảng cách trồng 3 x 3 m và trồng trên đất phù sa ven sông
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Nội dung1: Khảo sát đặc tính sinh học sự ra hoa và sự phát triển của trái
quýt Hồng
+ Mục tiêu: Tìm hiểu sự phát triển hoa, thời gian nở hoa, thời gian đậu trái, sự
phát triển của trái quýt Hồng để xác định những trở ngại và định hướng nghiên cứu,
có biện pháp tác động tốt nhất đến năng suất và phẩm chất trái trong quá trình chăm sóc
+ Khảo sát sự phát triển của hoa: Chọn ngẫu nhiên 10 cây trong vườn tương
đối đồng đều về sinh trưởng để khảo sát sự phát triển hoa và tỉ lệ đậu trái
Chỉ tiêu theo dõi:
Ghi nhận thời gian ra hoa trong năm
Tỉ lệ ra hoa: làm khung hình vuông 50 x 50 cm đặt năm vị trí quanh tán cây
và cố định các vị trí đã đặt khung, sau đó đếm tổng cành ra hoa, số đọt (cành sinh trưởng), tổng số hoa trong khung, hoa có và không có lá
Sự phát triển của hoa: Ghi nhận ngày nhú mầm, ngày hoa nở rộ, ngày hoa rụng cánh, ngày đậu trái và ngày thu hoạch
Tỉ lệ đậu trái và rụng trái non: Khi đậu trái, đếm số trái con lại trong mỗi khung và ghi nhận tỉ lệ đậu trái, ghi nhận số trái còn lại 15 ngày/lần cho đến khi thu hoạch Ghi nhận giai đoạn trái rụng và số trái rụng
Trang 26
+ Khảo sát sự phát triển của trái:
Chọn ngẫu nhiên 10 cây có sự đậu trái cùng lúc quan sát thời gian phát triển của trái và 15 ngày sau khi đậu trái thì thu 30 trái để khảo sát, cứ 15 ngày/lần thu mẫu cho đến khi thu hoạch
Chỉ tiêu theo dõi:
Đặc tính trái: Cân trọng lượng trái, trọng lượng vỏ, trọng lượng múi (nếu
có), trọng lượng hạt Đo kích thước trái (dài, rộng, dày vỏ), đếm số múi trong trái ở các thời kỳ thu trái Ghi nhận về sự thay đổi màu sắc của vỏ trái, đặc điểm hình thái bên ngoài và những biểu hiện rối loạn sinh lý bên trong
Phẩm chất trái: Hàm lượng Vitamin C, hàm lượng TA, hàm lượng nước
thịt trái, 0Brix thịt trái
Định lượng Vitamin C trong con tép
Hàm lượng Vitamin C trong con tép được định lượng theo phương pháp của Murin (1990) Phương pháp được tóm lược như sau:
Cân khoảng 5 g mẫu cho vào cối sứ cùng với 20 ml HCl 1% tiến hành nghiền nát mẫu, sau đó lên thể tích 100 ml với acid oxalic 1%, lắc kỹ và để yên dung dịch mẫu trong 10 phút Kế đó lọc và lấy 10ml dịch lọc đem chuẩn độ với dung dịch 2,6-diclorophenol indophenol 0,001N cho đến khi thấy xuất hiện màu phớt Hồng bền sau một phút thì ngưng quá trình chuẩn độ, đọc thể tích dung dịch 2,6-diclorophenol indophenol 0,001N đã sử dụng Phân tích lặp lại ba lần Mẫu đối chứng lấy 2 ml acid HCl 1% và 8 ml acid oxalic 1% đem chuẩn độ giống như trên
Công thức
100 088
, 0 ) ( ) 100 / (
V b
a g mg
X
Trong đó:
a: số ml trung bình khi chuẩn mẫu vật
b: số ml trung bình khi chuẩn mẫu đối chứng
V1: thể tích dung dịch chiết ban đầu (100 ml)
V2: thể tích dung dịch chiết lấy để chuẩn độ (10 ml)
m: trọng lượng mẫu cân lúc đầu (g)
0,088: số mg acid ascorbic tương đương với 1 ml dung dịch chuẩn độ
2,6-diclorophenol indophenol
Trang 27 Tổng acid chuẩn độ trong con tép - TA (%)
Cân 2 g mẫu đem nghiền nhỏ với nước cất đủ 50 ml và sau đó rút 2 ml dung dịch mẫu để yên trong 10 phút Tiếp sau đó, lấy 1 ml nước trong của mẫu và 9 ml nước cất đem định lượng Cho vào 3 giọt phenoltalein, lắc đều, chuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,01N cho đến khi có màu Hồng nhạt bền vững Phân tích lặp lại ba lần Mẫu đối chứng là 10 ml nước cất
K V
V TA
.0
0
Trong đó :
Vf : thể tích NaOH chuẩn độ của mẫu trái (ml)
Vo : thể tích NaOH chuẩn độ mẫu Blank (ml)
Hàm lượng nước trong con tép
Hàm lượng nước con tép được xác định bằng phương pháp sấy khô được tiến hành như sau: đĩa petri được rữa sạch sấy khô và cân trọng lượng (W0) Sau đó cho mẫu vào đĩa đem cân trọng lượng tươi của mẫu và đĩa (W1), để cho mâu khô nhanh mẫu được cắt nhỏ ra Mẫu được sấy ở nhiệt độ 600C trong thời gian 48 giờ và được làm nguội bằng bình hút ẩm khoảng 25 - 30 phút, đem cân trọng lượng khô của mẫu (W2) Để chắc chắn rằng mẫu đã khô, mẫu được cho vào trở lại vào tủ sấy 30 phút, lấy ra để nguội ở bình hút ẩm và cân lại như trên cho đến khi trọng lượng không đổi
2 1
W W X
Trong đó:
X (%): Hàm lượng nước trong con tép
W0: trọng lượng đĩa (g)
Trang 28W1: trọng lượng đĩa và mẫu tươi (g)
W2: trọng lượng đĩa và mẫu khô (g)
Độ Brix trong con tép
Lấy đại diện 3 múi trong trái ép lấy dịch trái, dùng khúc xạ kế hiệu ATAGO
để đo độ Brix
2.2.2 Nội dung 2: Ảnh hưởng của vị trí trái đến phẩm chất trái quýt Hồng
+ Mục tiêu: Xác định ảnh hưởng của vị trí để trái trong tán cây đến hiện tượng
KĐM và trái bị “chai”
+ Cách bố trí
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức và năm lần lặp lại (mỗi lặp lại được bố trí trên một cây)
Nghiệm thức 1: Vị trí trái ở trên tán
Nghiệm thức 2: Vị trí trái ở giữa tán
Nghiệm thức 3: Vị trí trái ở dưới tán
+ Chỉ tiêu theo dõi
Ở từng thời điểm thu mẫu (bắt đầu thu mẫu tại thời điểm 105 ngày), mỗi cây thu ba trái (một trái tương ứng vói một nghiệm thức) và thu trên năm cây
Kích thước trái: Đo chiều cao trái, đường kính trái, bề dày vỏ trái
Trọng lượng: Cân trọng lượng trái, trọng lượng vỏ, trọng lượng múi
Đăc tính trái: Đo màu sắc vỏ trái, độ cứng trái
Phẩm chất trái: phân tích hàm lượng Vitamin C, hàm lượng TA, hàm lượng nước trong con tép, đo 0Brix
Quan sát sự xuất hiện của hiện tượng KĐM và trái bị “chai”:
Tỉ lệ múi khô/trái: Đếm tổng số múi trên trái, đếm số múi khô hoặc “chai” (nếu có) Từ đó suy ra tỉ lệ múi khô/trái
Tỉ lệ chiều dài phần khô/múi: Đo chiều dài của múi, đo chiều dài phần khô (nếu có) Từ đó suy ra tỉ lệ chiều dài phần khô/múi
Cách phân tích phẩm chất trái tượng tự như cách phân tích ở nội dung một
Trang 292.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
+ Các số liệu được nhập vào máy tính bằng phần mềm Mirosoft Excel, sau đó thống kê bằng phần mềm SPSS Phân tích phương sai (ANOVA) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức Các giá trị trung bình được so sánh bằng phép thử LSD ở mức ý nghĩa 5%
+ Phương pháp tính toán và xây dựng phương trình tăng trưởng:
Sự tăng trưởng của trái dựa theo phương trình tăng trưởng của Robertson và ctv
(1920) Phương trình được trình bày như sau:
x a
với a là số cuối cùng của giá trị xqs cộng với
sai số chuẩn (Se), t1 là thời gian ở giá trị
2
a
x được K 1 , K 2 , K 3 K n Lấy giá trị
Ktrung bình từ K 1 , K 2 , K 3 K n thế vào công thức ( )
f ' (**) Trong đó (**) là phương trình biễu diễn
tốc độ tăng trưởng của giá trị xtính theo thời gian t
Trang 30Để xác định tốc độ tăng tưởng đạt cực đại thì đạo hàm bấc 1 của (**) Y’(x) phải
bị triệt tiêu và x đi qua điểm x0 từ trái sang phải mà đạo hàm bậc 1 đổi dấu từ dương sang âm Tại điểm tới hạn x0 thì tốc độ tăng trưởng đạt cực đại
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH SINH HỌC SỰ RA HOA VÀ PHÁT TRIỂN TRÁI
3.1.1 Đặc tính sinh học sự ra hoa
*Quá trình phát triển hoa
Sau khi “tưới ra hoa” 8 ± 0,1 ngày thì hoa bắt đầu nhú mầm Khi hoa quýt Hồng nhú mầm và phát triển trong vòng 15 ± 0,1 ngày thì hoa nở và sau 3 ± 0,1 ngày thì hoa bắt đầu rụng cánh Sự đậu trái bắt đầu sau khi hoa rụng cánh là 3 ± 0,1 ngày Thời gian từ khi đậu trái đến thu hoạch là 273 ngày (Bảng 3.1) Nhìn chung,
sự ra hoa của quýt Hồng kéo dài khoảng một tháng kể từ khi tưới ra hoa cho đến khi hoa tàn và đậu trái Theo Nguyễn Hữu Đống (2003) thời gian từ khi ra hoa đến khi hoa tàn thay đổi tùy giống và điều kiện khí hậu, trung bình là một tháng
Bảng 3.1: Đặc tính ra hoa trên quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009
*Tỉ lệ ra hoa
Qua Bảng 3.2 ta thấy rằng tỉ lệ ra hoa ở cây quýt Hồng khá cao, tỉ lệ số cành ra hoa là 90,5% so với tỉ lệ ra đọt non là 9,5% Điều này cho ta thấy tỉ lệ ra hoa trên cây quýt Hồng có liên quan đến kỹ thuật xiết nước để tạo ra sự khô hạn kích thích quá trình phân hóa mầm hoa Theo Trần Văn Hâu (2008) thì yếu tố khô hạn là yếu
tố kích thích ra hoa cho cam quýt ở vùng nhiệt đới Số hoa sản xuất tỉ lệ thuận với
sự khắc nghiệt của nhiệt độ thấp hoặc khô hạn Nhiệt độ càng thấp hay sự khô hạn càng khắc nghiệt tỉ lệ ra hoa càng cao Ở ngoài đồng, sự khô hạn dài hơn 30 ngày kích thích số mầm hoa có ý nghĩa
Hoa quýt Hồng có hai loại hoa có lá và hoa không có lá (hoa chùm) Hoa có
lá chiếm tỉ lệ 91,6 %, hoa không có lá chiếm tỉ lệ 8,4% (Bảng 3.2) Qua kết quả đó cho thấy tỉ lệ hoa có lá ở quýt Hồng rất cao, vì thế tỉ đậu trái của quýt Hồng thường
Giai đoạn ra hoa trên cây quýt Hồng Ngày ± Se
Trang 32rất cao Trần Văn Hâu (2008) cũng cho biết phát hoa có lá đậu trái cao hơn so với phát hoa không có lá; chồi có tỉ lệ lá/hoa cao sẽ có tỉ lệ giữ trái đến khi thu hoạch cao
Bảng 3.2: Tỉ lệ cành ra hoa, ra đọt, hoa không có lá và hoa có lá trên quýt Hồng tại huyện Lai
3.1.2 Sự đậu trái và rụng trái non
Sự đậu trái và rụng trái non được ghi nhận từ khi đậu trái đến khi thu hoạch, thời gian từ khi đậu trái đến thu hoạch là 273 ngày (khoảng 9 tháng) Sau khi chấm dứt quá trình đậu trái (3 ngày sau khi rụng cánh), số trái còn lại trên mỗi khung là
64 ± 5,3 trái, với tỉ lệ đậu trái là 50% Sau khi đậu trái, quá trình rụng sinh lý của quýt Hồng diễn ra trong vòng 30 ngày đầu với tỉ lệ rụng trái là 31,9%, Giai đoạn từ
45 - 165 ngày sự rụng trái vẫn diển ra và có xu hướng giảm dần Tuy nhiên, giai đoạn từ 180 - 240 ngày sự rụng trái lại tăng, đây là thời điểm rụng trái trước thu hoạch, tỉ lệ rụng trái tại thời điểm 225 ngày là 6,1% (Hình 3.1) Nhìn chung, quá trình rụng trái của quýt Hồng chỉ tập trung trong vòng 30 ngày đầu sau khi đậu trái Trần Văn Hâu (2008) cũng cho biết sự rụng trái non bắt đầu sau khi ra hoa cho đến
3 - 4 tuần sau khi hoa nở Sự rụng trái non xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ trên bề mặt lá từ 35 - 40oC hoặc khi cây bị khô hạn Nhiệt độ cao và sự khô hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến giảm sự đồng hóa khí CO2 và sự rụng trái non gây ra bởi sự mất cân bằng của carbon
Trang 330 10 20 30
Hình 3.1: Tỉ lệ rụng trái (%) qua từng giai đoạn trong quá trình phát triển trái trên cây quýt
Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009
3.1.3 Sự phát triển trái
Kích thước trái
Chiều cao trái quýt Hồng tăng dần sau khi đậu trái cho đến 180 ngày (Hình 3.2a) Ở thời điểm 180 ngày sau khi đậu trái, chiều cao trái là 4,8 ± 0,1 cm Tốc độ tăng trưởng về chiều cao trái đạt cực đại ở ngày 86,1 (Hình 3.2b) Giai đoạn từ 180 đến 270 ngày sau khi đậu trái, chiều cao trái phát triển chậm lại và chuyển sang giai đoạn chín của trái Chiều cao trái trung bình lúc thu hoạch là 5,1 cm
Đường kính trái quýt Hồng cũng tăng dần sau khi đậu trái cho đến 180 ngày (Hình 3.3a) Ở thời điểm 180 ngày, đường kính của trái quýt Hồng là 6,5 ± 0,1 cm Sau đó là giai đoạn tăng trưởng chậm lại từ ngày 180 đến ngày 270 Tốc độ tăng trưởng của đường kính đạt cực đại ở thời điểm 101,5 này sau khi đậu trái (Hình 3.3b) Đường kính trái trung bình lúc thu hoạch là 7,3 cm
Nhìn chung, sự phát triển kích thước trái được chia thành ba giai đoạn rõ rệt Giai đoạn 30 ngày đầu trái tăng trưởng chậm, sau đó là giai đoạn phát triển nhanh
về cả chiều cao và đường kính trái Giai đoạn thứ ba là trái phát triển chậm lại vì đây là giai đoạn mà trái chuyển sang thời kỳ trưởng thành và chín Kết quả này cũng rất phù hợp vì Trần Văn Hâu (2008) cũng cho biết sự phát triển trái của cây có múi theo đường cong đơn giản, gồm ba giai đọan như các loại trái cây khác:
(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 - 6 tuần sau khi ra hoa
(2) Sự phát triển kích thước trái: Chanh: 2 - 3 tháng, Cam: hơn 6 tháng (3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng
Một số đặc tính của trái (như kích thước, hình dạng trái, cấu trúc và bề dày của con tép) được xác định trong hai tháng đầu sau khi ra hoa
Trang 34Hình 3.2: Sự phát triển chiều cao trái (a) và tốc độ tăng trưởng chiều cao trái (b) từ đậu trái
đến thu hoạch trên quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009
Hình 3.3 Sự phát triển đường kính trái (a) và tốc độ tăng trưởng đường kính trái (b) từ đậu
trái đến thu hoạch trên quýt Hồng tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, 2009
Ghi chú: Những chấm tròn biểu thị cho giá trị quan sát (số liệu thật), đường nối liền biểu thị cho giá trị tính
Trang 35 Bề dày vỏ và trọng lượng vỏ
Quýt Hồng ở giai đoạn 60 ngày sau khi đậu trái mới có thể đo được bề dày
vỏ trái Bề dày vỏ trái ở giai đoạn 60 ngày là 3,7 mm và khi thu hoạch là 2,3 mm
Trọng lượng vỏ tăng trưởng chậm từ 60 đến 90 ngày sau khi đậu trái và tăng trưởng rất ít trong quá trình phát triển trái cho đến khi thu hoạch (Hình 3.4) Trọng lượng vỏ trái trung bình lúc thu hoạch là 27,3 ± 0,9 g Sự thay đổi màu sắc vỏ trái bắt đầu ở ngày 180 sau khi đậu trái, từ màu xanh chuyển sang có những đốm vàng (da lươn) và chuyển dần sang màu vàng cam đặc trưng tại thời điểm thu hoạch
Trọng lượng múi và trọng lượng hạt
Trọng lượng múi và trọng lượng hạt có thể phân biệt vào ngày 60 và ngày
135 sau khi đậu trái Ở thời điểm 60 ngày trọng lượng múi là 3,7 g và ở thời điểm
135 ngày trọng lượng hạt là 1,9 g Trọng lượng múi tăng dần cho đến 210 ngày sau khi đậu trái Giai đoạn từ 210 ngày cho đến thu hoạch trọng lượng trái tăng trưởng chậm lại (Hình 3.4) Số múi trung bình trong trái là 11- 12 múi, mỗi múi được bao bởi một lớp vách dai, tạo thành các vách ngăn giữa các múi với nhau
Trọng lượng trái
Trọng lượng trái tăng trưởng liên tục từ sau khi đậu trái cho đến ngày 210, từ ngày 210 đến ngày 270 trọng lượng trái tăng trưởng chậm lại (Hình 3.4) Tốc độ tăng trưởng trọng lượng trái đạt cực đại ở ngày 160,3 sau khi đậu trái (Hình 3.5) Trọng lượng trái trung bình lúc thu hoạch là 182,1 g Trong đó trọng lượng vỏ chiếm 15,0%, trọng lượng hạt chiếm 1,4%, thịt trái chiếm 83,6% (Bảng 3.3) Trọng lượng trái cũng tăng trưởng qua ba giai đoạn, giai đoạn đầu tăng trưởng chậm, sau
đó là giai đoạn tăng trưởng nhanh và giai đoạn cuối là giai đoạn trái tăng trưởng chậm chuyển sang quá trình chín của trái Tại thời điểm 195 ngày thì hiện tượng khô múi bắt đầu xuất hiện Tỉ lệ múi khô/trái và tỉ lệ chiều dài phần khô/múi tại thời điểm 195 ngày lần lượt là 6,7% và 12,6%, khi ta bổ dọc trái quýt thì có thể thấy các con tép ở gần đầu của múi bị kết tinh ở thời điểm 210 ngày thì ta có thể nhận biết hiện tượng khô đầu múi qua hình dạng bên ngoài của trái Trái bị khô thì vỏ trái hơi sần sùi nhất là phần cuống trái vỏ dày hơn và bị phù lên
Nhìn chung, kích thước và trọng lượng trái phát triển theo ba giai đoạn Giai đoạn 60 ngày đầu trái tăng trưởng chậm vì đây là giai đoạn phân chia tế bào và hình thành các cơ quan Giai đoạn từ 60 - 180 ngày là giai đoạn trái tăng trưởng nhanh Tuy nhiên, kích thước và trọng lượng trái có sự tăng trưởng không đồng bộ Trái quýt Hồng đạt tốc độ tăng trưởng cực đại về chiều cao trước nhất (86 ngày sau khi đậu trái), sau đó là đường kính trái đạt tốc độ tăng trưởng cực đại ở ngày 101 sau khi đậu trái Sau khi kích thước đạt tốc độ tăng trưởng cực đại thì trọng lượng trái