BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ HUỲNH HỐC SẾN ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN KỸ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
HUỲNH HỐC SẾN
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC
NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HUYỆN LONG HỒ,
TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC
NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HUYỆN LONG HỒ,
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
- -
Luận văn Kỹ sư Nông học
ĐỀ TÀI
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC
NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HUYỆN LONG HỒ,
TỈNH VĨNH LONG
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Hốc Sến
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Lê Thanh Phong
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
- -
Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG VÀ HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG Do sinh viên Huỳnh Hốc Sến thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng khoa học:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Ngày …… tháng ……năm 2012
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Hốc Sến
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Nơi sinh: Thạnh Trị - Sóc Trăng
Địa chỉ liên lạc: xã Lâm Kiết, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng
Đã tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2006 tại Trường Trung Học Phổ Thông Văn Ngọc Chính, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng
Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2008, Ngành Nông Học, khoá 34, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Cần Thơ, Ngày …tháng…năm 2012
Người khai
Huỳnh Hốc Sến
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha mẹ suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của các con
Thành kính biết ơn
TS Lê Thanh Phong, người đã tận tình hướng dẫn và cho những lời khuyên
hết sức bổ ích trong việc hoàn thành luận văn này
Thầy cố vấn học tập TS Nguyễn Trọng Ngữ đã quan tâm giúp đỡ tôi hoàn
thành khóa học
Chân thành biết ơn
Quý thầy, cô Bộ môn Khoa học Cây trồng đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Quý thầy, cô trường Đại học Cần Thơ và Khoa Nông Nghiệp & SHƯD đã
truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian học ở trường
Chân thành cám ơn!
Các bạn Nhàn, Cường, Trinh, Vũ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Các bạn Lắm, Tâm đã động viên, khuyến khích tôi trong thời gian thực hiện
luận văn
Thân gửi về các bạn lớp Nông Học khóa 34 và toàn thể quý thầy, cô Khoa
Nông Nghiệp và SHƯD lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Huỳnh Hốc Sến
Trang 8Huỳnh Hốc Sến, 2011: “ Điều tra kỹ thuật canh tác nhãn Tiêu Da bò tại huyện Kế
Sách, tỉnh Sóc Trăng và huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long” Luận văn tốt nghiệp Kỹ
sư ngành Nông Học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS Lê Thanh Phong 35 trang
TÓM LƯỢC
Nhãn Tiêu Da bò là giống nhãn có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu rộng lớn Tuy nhiên, hiện nay nguồn cung cho thị trường vẫn còn nhiều vấn đề chưa đạt yêu cầu, trong đó có yếu tố sản lượng và độ đồng đều về chất
lượng Đề tài: Điều tra kỹ thuật canh tác nhãn Tiêu Da bò tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long được thực hiện nhằm muc đích: (1) tìm hiểu kỹ thuật canh tác nhãn Tiêu Da bò của nông dân ở huyện Kế Sách
và huyện Long Hồ; và (2) ước tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất nhãn của nông dân Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2011 đến tháng 02/2012 tại các xã An Lạc Tây, An Lạc Thôn, Nhơn Mỹ, Phong Nẵm của huyện Kế Sách và các xã An Bình, Bình Hòa Phước của huyện Long Hồ Tổng số hộ điều tra là 60 hộ Kết quả điều tra cho thấy, diện tích trồng nhãn Tiêu Da bò của các hộ nông dân trung bình là 0,8 ha; tuổi cây trung bình là 9,5 tuổi Tất cả vườn nhãn đều trồng cây trên mô; chiều rộng mương trung bình 2,3 m; chiều rộng liếp trung bình 5,5 m và số cống bọng trong mỗi vườn trung bình là 1 Tất cả nông dân đều không xử lý đất trước khi trồng Trong chăm sóc, tất cả nông hộ có tỉa cành, tạo tán Tất cả vườn nhãn được tưới nước bằng máy dầu, trung bình 2 lần/tuần vào mùa nắng và 1 lần/tuần vào mùa mưa Tất cả hộ điều tra đề có quản lý cỏ dại trong vườn và có tủ gốc cho cây Về bón phân, số hộ sử dụng phân bón lá chiếm 23,3%; không bón phân hữu cơ Tất cả nông dân trồng nhãn trong vùng điều tra bón phân hóa học trung bình hằng năm cho mỗi cây là 1,6 kg N, 1,7 kg P2O5 và 1,0 kg K2O Về sâu bệnh, bệnh Chổi rồng chiếm
tỷ lệ 100% trong các vườn quan sát, bệnh Chết khô cành chiếm 25%; sâu Đục cành gây hại chủ yếu, chiếm 50,4% Năng suất nhãn Tiêu Da bò đạt năng suất trung bình
Trang 9là 15,9 tấn/ha Về hiệu quả kinh tế, chi phí đầu tư vườn trung bình là 31,8 triệu đồng/ha và đạt lợi nhuận trung bình là 222,6 triệu đồng/ha
Trang 10MỤC LỤC
Nội dung Trang
Tiểu sử cá nhân iii
Lời cảm tạ v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh sách bảng xi
Danh sách hình……… xii
MỠ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM HUYỆN KẾ SÁCH – SÓC TRĂNG VÀ HUYỆN LONG HỒ - VĨNH LONG 2
1.1.1 Huyện kế sách, tỉnh sóc trăng 2
1.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 2
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 3
1.1.2 Huyện long hồ, tỉnh vĩnh long 4
1.1.2.1 Đặc điểm tự nhên 4
1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 5
1.2 NGUỒN GỐC CÂY NHÃN 5
1.3 ĐẶC ĐIỂM CÂY NHÃN 6
1.3.1 Đặc tính thực vật 6
1.3.1.1 Rễ, thân, lá 6
1.3.1.2 Hoa, trái, hột 6
1.3.2 Đặc tính sinh thái 7
1.3.2.1 Nhiệt độ 7
1.3.2.2 Nước 7
1.3.2.3 Đất đai 8
1.3.2.4 Gió 8
Trang 111.4 KỸ THUẬT TRỒNG NHÃN 8
1.4.1 Nhân giống 8
1.4.2 Kỹ thuật trồng 9
1.4.3 Thời vụ 10
1.4.4 Chăm sóc 10
1.4.5 Bón phân 11
1.4.6 Phòng trừ sâu bệnh 12
1.4.6.1 Sâu hại 12
1.4.6.2 Bệnh hại 13
1.4.7 Thu hoạch 14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
2.1 PHƯƠNG TIỆN 15
2.1.1 Thời gian và địa điểm 15
2.1.2 Dụng cụ và vật liệu điều tra 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP 15
2.2.1 Phương pháp điều tra 15
2.2.2 xữ lý số liệu 15
2.2.3 Phương pháp làm bài 15
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 THÔNG TIN CHUNG 16
3.1.1 Thông tin chủ hộ 16
3.1.1.1 Tuổi nông hộ 16
3.1.1.2 Số nhân khẩu và số lao động 16
3.1.2 Thông tin vườn 16
3.1.2.1 Diện tích 16
3.1.2.2 Tuổi cây 16
3.1.2.3 Mật độ trồng 17
3.1.2.4 Năng suất 17
3.2 THIẾT KẾ VƯỜN 17
3.2.1 Kích thước mương, liếp và kiểu lên liếp 17
Trang 123.2.3 Mực nước cao nhất so với mực liếp trong năm 18
3.2.4 Hệ thống thóat nước 19
3.2.5 Xữ lý đất trước khi trồng 19
3.2.6 Phương pháp nhân giống 19
3.3 KỸ THUẬT CANH TÁC 19
3.3.1 Quản lý nước 19
3.3.2 Quản lý cỏ dại 19
3.3.3 Tủ gốc và bồi mô 20
3.3.4 Tỉa cành 20
3.3.5 Bón phân 20
3.3.5.1 Loại phân 20
3.3.5.2 Cách bón và thời điểm bón 21
3.3.5.3 Liều lượng bón trong năm 22
3.3.6 Sâu bệnh 22
3.3.6.1 Loại sâu 22
3.3.6.2 Biện pháp phòng trừ sâu, bệnh 23
3.3.7 Xữ lý ra hoa 23
3.3.8 Thu hoạch 23
3.4 HOẠCH TOÁN KINH TẾ 24
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 26
4.1 KẾT LUẬN 26
4.2 ĐỀ NGHỊ 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 PHỤ LỤC
Trang 13DANH SÁCH BẢNG Tên bảng Trang
Bảng 1 Lượng phân bón cho nhãn theo độ tuổi (Nguyễn Danh Vàng, 2008)… …11
Bảng 3.1 So sánh trung bình tuổi nông hộ của huyện Kế Sách (ST) và Long Hồ (VL)……… ………17
Bảng 3.2 So sánh trung bình nhân khẩu và lao động huyện Kế Sách (ST) và Long Hồ (VL)……… … …17
Bảng 3.3 So sánh trung bình diện tích của huyện Kế Sách và Long Hồ……….…18
Bảng 3.4 So sánh trung bình tuổi cây của huyện Kế Sách và Long Hồ … …….18
Bảng 3.5 Khoảng cách trồng ……… ……… …19
Bảng 3.6 So sánh trung bình năng suất của huyện Kế Sách và Long Hồ……….…19
Bảng 3.7 Kích thước mương liếp……… ……20
Bảng 3.8 So sánh trung bình kích thước mương, liếp của huyện Kế Sách (ST) và Long Hồ (VL)……… ….…….20
Bảng 3.9 Kích thước mô……… ……… …… 21
Bảng 3.10 Bình quân lượng phân hóa học (kg/cây).……… …… …25
Bảng 3.11 So sánh trung bình lượng phân bón huyện Kế Sách (ST) và Long Hồ (VL)…… ……… …….26
Bảng 3.12 Chi phí chăm sóc……… … 28
Bảng 3.13 Chi phí phân thuốc……… ……… ….28
Bảng 3.14 Chi phí thành lập vườn….……… ….29
Bảng 3.15 So sánh trung bình chí phí lập vườn Huyện Kế Sách (ST) và Long Hồ (VL)……… …29
Trang 14DANH SÁCH HÌNH Tên hình Trang
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Kế Sách – Sóc Trăng……… ………2
Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long……… …….5
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ (%) sử dụng các loại phân hóa học……….… ……23
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ (%) sử dụng các loại phân bón lá……….….… … 24
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ (%) các thời điểm xuất hiện bệnh……… ……….…… …26
Trang 15MỞ ĐẦU
Cây nhãn (Euphoria longana) là loài cây ăn trái dễ trồng thích ứng rộng, có
giá trị kinh tế cao, được trồng ở Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam,… Trái nhãn có thể dùng ăn tươi, làm đồ hộp, sấy khô,… đều là những sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng Các sản phẩm từ nhãn còn làm thuốc quý trong đông y như cơm nhãn, hạt nhãn, vỏ trái Cơm trái nhãn làm thuốc bổ điều trị suy nhược thần kinh, chứng sút kém trí nhớ, mất ngủ hay hoảng hốt Hoa nhãn là nguồn cung cấp cho ong lấy mật có chất lượng cao
Hiện nay, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 300.000 ha vườn cây ăn quả Trong đó, các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Đồng Tháp trồng hơn 150.000 ha, chiếm hơn 50% diện tích vườn toàn vùng và cũng là những tỉnh có diện tích vườn cây ăn trái đặc sản lớn nhất cả nước Nhãn được trồng hầu hết ở các tỉnh ĐBSCL như: Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng,… với diện tích khoảng 56.000 ha Nhãn có thị trường xuất khẩu rộng lớn như Canada, Pháp, Trung Quốc, Trung Đông, Doha (Qatar), với giá thấp nhất là 2 USD/kg Đặc biệt giá cơm trái nhãn khô trên thị trường trong nước khá cao, dao động từ 150.000 – 300.000 đồng
Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích trồng nhãn ở nước ta nói chung và ở ĐBSCL nói riêng đã giảm khá nhiều do gặp nhiều khó khăn như: giá cả không ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, không tập trung; trình độ canh tác của người dân chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm truyền thống; việc áp dụng cơ giới hóa còn gặp nhiều khó khăn; mạng lưới phân phối chưa đi vào công nghiệp hóa; và việc bảo quản trái sau thu hoạch chưa tốt,… Đây cũng chính là những nguyên nhân góp phần làm cho trái nhãn của nước ta khó đi vào thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường
Châu Âu Đề tài “Điều tra kỹ thuật canh tác nhãn Tiêu Da bò tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm
tìm hiểu về kỹ thuật canh tác nhãn Tiêu Da bò và hiệu quả kinh tế trong canh tác nhãn Từ đó, đề nghị các kỹ thuật thích hợp để cải thiện kỹ thuật canh tác của nông dân
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA
1.1.1 Huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
1.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý:
Huyện Kế Sách nằm ở vùng hạ lưu sông Hậu, cách thành phố Sóc Trăng 20
km Ranh giới đất đai của Kế Sách nằm ở vị trí có tọa độ địa lý từ 9o14’ đến 9o 55’
vĩ độ Bắc và từ 105o30’ đến 106o04’ kinh độ Đông Phía Đông và Đông Bắc giáp sông Hậu; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang; phía Nam giáp huyện Mỹ Tú
và huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Kế Sách – Sóc Trăng
Trang 17Đất đai và khí tượng thủy văn:
Huyện Kế Sách có tổng diện tích đất tự nhiên là 35.287,61 ha, chiếm 10,66%
so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng Huyện có năm nhóm đất chính (http://www.ipc.soctrang.gov.vn) sau:
Nhóm đất phù sa: có diện tích 6.324,05 ha, chiếm 17,92% diện tích đất tự nhiên của huyện Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa của sông Hậu và các sông rạch thuộc hệ thống sông Hậu Quá trình hình thành đất gắn liền với sự tác động của chế độ bán nhật triều biển Đông Nhóm đất phù sa là nhóm đất tốt, thích hợp cho phát triển đa dạng hóa các loại cây trồng hàng năm và cây ăn quả lâu năm
Nhóm đất Glây: có diện tích là 446,4 ha, chiếm 1,26% diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Xuân Hòa, Trinh Phú Nhóm đất này được hình thành và phát triển ở địa hình thấp trũng, khó thoát nước, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều Đất có thời gian ngập úng trên 6 tháng trong năm, thường chỉ trồng được một
vụ lúa, năng suất thấp
Nhóm đất có nguồn gốc là đất mặn ít: có diện tích 6.221,2 ha, chiếm 17,63% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã Kế An, Kế Thành; Thị trấn Kế Sách; Nhơn Mỹ Toàn bộ diện tích nhóm đất có nguồn gốc là đất mặn ít thuộc loại đất tốt,
độ phì nhiêu khá, các chất dinh dưỡng trong đất cân đối, thích hợp với nhiều loại cây trồng và nuôi trồng thủy sản nước ngọt hoặc nước lợ
Nhóm đất phèn: có diện tích là 2.987,5 ha, chiếm 8,46% diện tích tự nhiên, được hình thành do sản phẩm bồi tụ phù sa và vật liệu sinh phèn (xác thực vật chứa lưu huỳnh) Nhóm đất phèn trên địa bàn huyện là đất phèn nhẹ, việc cải tạo và sử dụng tương đối thuận lợi, do có nguồn nước ngọt dồi dào, cùng với các biện pháp thủy lợi kết hợp tiêu úng xổ phèn, giữ mức nước cần thiết trên đồng ruộng Hầu hết diện tích đất phèn đã được sản xuất 2 vụ lúa kết hợp với nhiều loại cây trồng khác
Nhóm đất nhân tác: có diện tích 11.761,21 ha, chiếm 33,33% diện tích tự nhiên, phân bố rộng khắp các xã, thị trấn trong huyện Nhóm đất này được hình thành do hoạt động lên liếp trồng cây lâu năm, làm vườn Hầu hết nhóm đất nhân tác đã được khai thác sử dụng có hiệu quả và sử dụng vào nhiều mục đích sản xuất như: trồng màu, rau thực phẩm, cây ăn quả lâu năm, nuôi cá ao hồ và nuôi trong mương vườn
Các loại đất khác còn lại có diện tích 7,561,46 ha, bao gồm đất ở, đất sông, kênh, rạch và đất có mặt nước chưa sử dụng Nhìn chung, tài nguyên đất đai của Kế Sách đã được khai thác sử dụng với điều kiện tự nhiên và phát huy lợi thế của vùng ven sông Hậu Phần lớn diện tích đất nông nghiệp đã được đầu tư thâm canh, nâng cao mức thu nhập trên một đơn vị diện tích sản xuất Đồng thời, đang có xu hướng
Trang 18chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng diện tích và sản lượng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường
Huyện Kế Sách nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết mang nét đặc trưng của vùng ĐBSCL, là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt cao Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 26,80C Nhiệt độ cao nhất là 37,80C (tháng 4 dl); nhiệt độ thấp nhất là 16,20C (tháng 12 – 1 dl) Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 2.342 giờ, bình quân 6,5 giờ/ngày Trong năm, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 dl đến tháng 11 dl, mùa khô từ tháng 12 dl đến tháng 4 dl năm sau Lượng mưa trung bình là 1,846 mm; lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, trong mùa mưa lượng mưa chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm, tổng số ngày mưa trung bình là
136 ngày/năm Trên địa bàn huyện có 2 hướng gió chính: gió mùa Tây Nam từ tháng 5 dl đến tháng 11 dl; gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Tốc độ gió trung bình 2 m/s Mỗi năm bình quân có trên 30 cơn giông và lốc xoáy, gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống Các yếu tố khí hậu thời tiết bất lợi và thiên tai có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Dân số trung bình của huyện Kế Sách năm 2009 là 157.449 người, mật độ dân số là 445 người/km2 Thị trấn Kế Sách có mật độ dân số cao nhất là 947 người/km2 Ở các xã, dân cư phân bố tương đối đồng đều, chỉ có xã Phong Nẫm, có mật độ dân số thấp nhất là 284 người/km2 Số người trong độ tuổi lao động năm
2009 là 105.330 người (chiếm 66,9% so với dân số toàn huyện, kinh tế của huyện
Kế Sách chủ yếu là nông nghiệp
1.1.2 Huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
1.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý:
Long Hồ là một trong bảy huyện, thị của tỉnh Vĩnh Long, diện tích tự nhiên 19.298 ha Huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Long; phía Bắc giáp huyện Cái Bè của tỉnh Tiền Giang; phía Tây giáp thành phố Vĩnh Long và huyện Châu Thành của tỉnh Đồng Tháp; phía Nam giáp huyện Tam Bình cùng tỉnh; phía Đông giáp huyện Chợ Lách của tỉnh Bến Tre và huyện Mang Thít cùng tỉnh
Trang 19Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Đất đai và khí tượng thủy văn (vinhlong.mard.rov.vn):
Long Hồ có địa hình ven sông gồm các cù lao và những dãy đất phù sa quanh năm bồi đấp nên thích hợp trồng vườn cây ăn trái và trồng lúa thế mạnh của huyện là trồng vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch ở các xã cù lao
Long Hồ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27 - 28oC, Nhiệt độ tối cao nhất là 36,9oC; nhiệt độ thấp nhất là 17,7oC Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7-8oC Lượng bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng/ngày là 7,5 giờ Bức xạ quang hợp/năm 795.600 kcal/m2 Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2.181 – 2.676 giờ/năm Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là có lợi cho việc thâm canh, tăng vụ Ẩm độ không khí bình quân 74 - 83%, trong đó năm 1998 có ẩm độ bình quân thấp nhất 74,7%; ẩm độ không khí cao nhất tập trung vào tháng 9 và tháng 10 dl đạt trung bình 86 - 87% và tháng thấp nhất là tháng 3 dl
có ẩm độ trung bình 75-79% Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh Vĩnh Long là khá lớn, khoảng 1.400-1.500 mm/năm, trong đó lượng bốc tháng vào mùa khô là 116-179 mm/tháng Lượng mưa bình quân qua các năm từ 1995 đến 2001 có
Trang 20sự chênh lệch khá lớn Điều này cho thấy có sự thay đổi thất thường về thời tiết Lượng mưa hằng năm của tỉnh phân bố tập trung vào tháng 5-11 dl, chủ yếu vào tháng 8-10 dl
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Dân số của huyện Long Hồ là 33.593 hộ với 154.454 dân Mật độ phân bố
800 người/ km2 Dân số thành thị chiếm khoảng 5,8% và nông thôn chiếm khoảng 94,2% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,15% Lao động làm việc trong khu vực nhà nước là 2.196 người, làm việc trong các ngành kinh tế 82.887 người Thế mạnh kinh
tế của Long Hồ là nông nghiệp, trước đây, cây trồng chủ yếu của huyện là lúa và hoa màu Những năm gần đây, do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh trên cây lúa và chăn nuôi gia súc gia cầm, nông dân huyện Long Hồ được khuyến khích thực hiện các mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất để khai thác 2 thế mạnh là kinh tế vườn và thủy sản
1.2 NGUỒN GỐC CÂY NHÃN
Nguồn gốc của cây nhãn cho đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau, có tác giả cho rằng nguồn gốc của cây nhãn ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc), có tác giả cho rằng gốc từ Ấn Độ sau đó mới được đem đi trồng ở Malaysia
và Trung Quốc, có tác giả lại cho rằng Kalimanta (Indonesia) cũng là cái nôi của nhãn Nhãn là cây nhiệt đới và á nhiệt đới, có thể trồng được từ đường xích đạo đến
vĩ tuyến 28 – 36 độ, nhưng chỉ có một số nước trồng với diện tích lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Miến Điện, Indonesia, Mã Lai, Ấn Độ, Mỹ,…(Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Ở Việt Nam, nhãn Tiêu Da bò là loại nhãn được phát triển tại miền Nam đã trên 20 năm, có nguồn gốc từ Huế, nên còn được gọi là nhãn Tiêu Huế, được trồng nhiều ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước,…
Trang 21(Nguyễn Danh Vàn, 2008) Rễ hoạt động tốt trong nhiệt độ 23 - 28oC, ở 29 - 30oC
rễ hoạt động chậm dần, ở 33 - 34 oC rễ ngừng sinh trưởng (Trần Thế Tục, 2002)
Đa số các giống nhãn lá kép có 3 - 5 cặp lá chét, tuy nhiên cũng có giống chỉ có 1 -
2 cặp lá Lá nhãn hình mũi mác, mặt lá xanh đậm, lưng lá xanh nhạt, cuống lá ngắn, gân chính và gân phụ nổi rõ Lá non màu đỏ tím hay đỏ nâu tùy giống (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Có thể dựa vào cấu tạo hình thái, màu sắc của lá để phân biệt các giống nhãn (Trần Thế Tục, 2002)
1.3.1.4 Hoa, trái, hột
Phát hoa mọc đầu ngọn cành, dài khoảng 8 – 40 cm, rộng khoảng 30 cm không có lá Trên một phát có rất nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn mà có từ vài trăm đến hai, ba nghìn hoa (Trần Thế Tục, 2002) Có ba loại hoa: hoa cái, hoa đực và hoa lưỡng tính cái, đầu tiên hoa đực nở trước kế là hoa lưỡng tính và sau cùng là hoa cái (Chen, 1984), Trong điều kiện ĐBSCL, hoa cái nở trước rồi hoa lưỡng tính và sau cùng là hoa đực (Trần Thị Ngọc Đầy, 2009) Tuy nhiên, do hoa nhãn nở tương đối tập trung nên có sự trùng thời điểm nở hoa giữa các loại hoa, một hoa nở từ 3 - 4 ngày và kéo dài một tuần (thụ phấn nhờ côn trùng như kiến, ruồi, ong) Giống nhãn Tiêu Da bò ở ĐBSCL có hoa nở 3 đợt, trái đậu đợt 1 và trái đậu đợt 2 phát triển mạnh hơn trái đậu đợt 3 (Trần Thị Ngọc Đầy, 2009)
Trái đơn, hình cầu, tròn dẹp cân đối hay hơi lệch, đỉnh trái tròn, cuống trái hơi lõm (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Trái nhãn thuộc loại quả phì có đường kính từ
1 – 3 cm, vỏ xanh mờ khi non, chín có màu vàng sáng hoặc nâu trắng tùy giống Một chùm nhãn có thể trên dưới 80 trái, trọng lượng trái dao động 5 – 20 g/trái
(Dương Minh và ctv., 1968)
Hột tròn hoặc tròn dẹp, màu nâu đen, bóng (có giống nhãn bạch sa hột trắng),
có nhiều tinh bột phôi màu vàng, nặng 1,6 - 2,6 g chiếm từ 17,3% - 42,9% trọng lượng trái Có giống nhãn hột rất bé hoặc không hột do kết quả thụ tinh, thụ phấn kém (Trần Thế Tục, 2002)
Trang 221.3.2 Yêu cầu sinh thái
1.3.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa và đậu trái Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển là từ 21 - 27oC Trong giai đoạn hoa nở cần nhiệt độ cao 25 - 31oC Trong điều kiện tự nhiên, nếu nhiệt độ thấp khoảng 8 - 14oC sẽ thuận lợi cho sự phân hóa mầm hoa của cây nhãn Trong thời gian nhãn đang ra nụ hoa mà gặp nhiệt độ cao, lá ở chùm hoa phát triển sẽ ảnh hưởng đến nụ hoa và hoa dễ làm cho nhãn mất mùa trái Ngược lại, nếu gặp nhiệt
độ thấp việc thụ phấn thụ tinh của hoa sẽ gặp trở ngại sẽ dẫn đến năng suất thấp (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.3.2.2 Nước
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nhãn rất cần nước, nhất là vào những giai đoạn cây ra cành, lá, đặt biệt là giai đoạn cây ra hoa kết trái Lượng mưa thích hợp cho cây nhãn trong một năm vào khoảng 1.300 - 1.600 mm và phân bố đều trong năm (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.3.2.3 Đất đai
Đất nào trồng nhãn cũng được miễn đó không phải là đất bạc màu, đất phèn, mặn, khô hạn hoặc trũng không thoát nước (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Tuy nhiên, đất trồng nhãn thích hợp nhất là đất cát pha thịt, cát giồng, đất cồn và phù sa ven sông, đủ ẩm độ cho cây, và có độ pH từ 5 - 7
1.3.2.4 Gió
Gió Tây Nam và bão gây hại nhiều cho nhãn Gió Tây Nam thường gây nóng, khô làm nhụy hoa mất nước, khô teo làm ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, làm trái phát triển kém (Trần Thế Tục, 2002) Bão có thể gây rụng trái, gãy cành dẫn đến gây tổn thất vườn nhãn Có thể khắc phục bằng cách tạo tán cây thấp, che phủ gốc và trồng cây chắn gió
Trang 231.4 KỸ THUẬT TRỒNG NHÃN
1.4.1 Nhân giống
Nhân giống hữu tính là phương pháp thông dụng trước đây nhưng cây chậm cho trái, trái bị phân ly phẩm chất trái không đồng đều không giữ được đặc tính của cây mẹ (Trần Văn Hâu, 2004) Ở những vùng đất có tầng canh tác mỏng, mực thủy cấp cao cây dễ bị ảnh hưởng bởi nước vì bộ rễ ăn sâu,… Hiện nay, trồng hột chủ yếu để làm gốc ghép (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Nhân giống vô tính là phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay cho các loại cây ăn trái, phương pháp này gồm có chiết cành, giâm cành, tháp cành, tháp mắt (Trần Văn Hâu, 2004) Ở nhãn người ta thường áp dụng biện pháp ghép cành
và tháp mắt Chiết cành là phương pháp nhân giống phổ biến nhất có nhiều ưu điểm mau cho trái, cây con giữ được đặc tính tốt của cây mẹ, có bộ rễ ăn cạn nên thích hợp với vùng đất có mực thủy cấp cao như ở ĐBSCL, tuy nhiên, cây mau già, nếu
bị gió bão cây dễ đổ ngã vì bộ rễ ăn cạn, phương pháp này có hệ số nhân giống thấp (Trần Văn Hâu, 2004) Tháp mắt là phương pháp đang được nông dân sử dụng để cải tạo những vườn nhãn cũ Có thể tháp mắt nhãn Tiêu Da bò hoặc nhãn Xuồng lên gốc nhãn Long Có thể tháp trực tiếp lên gốc nhãn Long 1 - 2 năm tuổi, cây lớn hơn thì tháp lên cành ở vị trí gần mặt đất Đối với gốc nhãn già thì cưa gốc để cây mọc tược non, khi tược già thì tháp mắt lên Cành phát triển từ mắt tháp sẽ tăng trưởng nhanh gấp 2 - 3 lần so với trồng bằng cây con (Trần Văn Hâu, 2004)
1.4.2 Chuẩn bị đất và mật độ trồng
Hệ thống rễ nhãn chịu nước kém, nếu bị ngập trong thời gian dài sẽ bị thối
rễ, chết cây Do đó, trồng nhãn cần chú ý đến việc bờ bao, cống bọng thoát nước cho nhãn trong mùa mưa lũ Do đất ở ĐBSCL thấp nên trồng nhãn phải đào mương, lên liếp Tùy theo độ cao của vườn mà đào mương sâu hay cạn, liếp rộng hay hẹp Thường liếp rộng 7 – 8 m, mương rộng 2 - 3 m, sâu 1 - 1,5 m (Viện nghiên cứu cây
ăn quả Miền Nam, (năm 2006)
Khoảng cách trồng tùy thuộc vào đất đai và mô hình trồng, có thể chọn khoảng cách thích hợp 6x5 m, 6x6 m, tương đương khoảng 300-350 cây/ha (Dương
Minh và ctv, 2001) Trong những năm đầu, khi cây chưa giao tán, có thể trồng xen
những cây ngắn ngày như rau, đậu, đu đủ,… (Trần Văn Hâu, 2004)
1.4.3 Thời vụ
Trang 24Ở vùng ĐBSCL, nếu có đủ nước tưới thì nên trồng vào cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 - 11 dương lịch vì trong mùa nắng cây có đầy đủ ánh sáng sẽ phát triển tốt hơn Nếu trồng vào mùa mưa, khoảng tháng 5 - 6 dương lịch thì cần chú ý thoát nước vì nếu mưa nhiều thì đất sẽ bị lèn, nhãn bị chết do nghẹt rễ (www nongnghiep.vn)
1.4.4 Chăm sóc
Đắp mô, bồi liếp trong 2 năm đầu sau khi trồng, hàng năm cần đắp thêm đất khô vào chân mô, giúp mô cao hơn, rộng hơn Từ năm thứ 3 trở đi, hàng năm nên vét bùn non ở đáy mương bồi thêm một lớp mỏng 2 – 3 cm ngay sau khi làm gốc, bón phân Nếu trồng nhãn trên đất thịt pha sét thì hàng năm nên bón thêm phân hữu
cơ giúp đất thông thoáng hơn, tạo điều kiện tốt cho bộ rễ phát triển (Vũ Công Hậu, 2003)
Làm cỏ cần thường xuyên làm cỏ để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, hạn chế sự
cư trú, xâm nhập của sâu bệnh gây hại Kết hợp xới xáo đất giúp đất thông thoáng nhằm giúp bộ rễ tăng cường trao đổi chất, không dùng cuốc lưỡi và không xới sâu
vì làm tổn thương bộ rễ Nhãn rất cần nước, nếu được tưới đầy đủ cây nhãn sẽ phát triển nhanh, ra hoa, kết trái tốt Tuy nhiên, nhãn cũng là cây chịu úng kém nên cần thoát nước liếp trồng trong mùa mưa Đối với những vườn có nguy cơ bị ngập trong mùa mưa lũ thì nên có hệ thống bờ bao vững chắc, kịp thời bơm nước ra khỏi vườn khi cần thiết Sau thu hoạch cần tiến hành tỉa cành tạo tán, tỉa bỏ những cành sâu bệnh, cành bị che khuất trong tán cây, cành vượt, đồng thời bấm tỉa những cành vừa được thu trái để giúp cây ra đọt non đồng loạt (Trần Văn Hâu, 2004)
Theo Trần Văn Hâu (2004), xử lý ra hoa cho nhãn cần phải chú ý những kỹ thuật canh tác quan trọng sau đây để đạt được năng suất và chất lượng cao Kích thích ra đọt mới ngay sau khi thu hoạch bằng cách tỉa cành, bón phân đạm cao và tưới nước đầy đủ: giai đoạn 1 - 2 tháng trước khi ra hoa cần ngưng bón phân đạm, giảm ẩm độ đất để chồi trưởng thành và đi vào thời kỳ nghỉ; giai đoạn trước khi ra hoa nên bón nhiều phân lân và kali; sau khi ra hoa nên bón nhiều phân đạm và lân; một tháng trước khi thu hoạch nên bón nhiều phân kali
Vì cây nhãn Tiêu Da bò sinh trưởng rất mạnh nên nhánh nhãn rất mau liền
da Nếu khoanh vỏ quá ngắn nhánh sẽ bị liền da trước khi nhãn ra hoa, nếu khoanh cành quá dài nhánh không liền da được có thể làm chết cành Do đó, để đảm bảo cho cây ra hoa đạt kết quả cao, nhà vườn lột một miếng da từ 5 – 10 mm, sau đó buộc dây để nhánh không liền da được Biện pháp nầy đạt kết quả cao nhưng tốn công cắt dây khi cành đã ra hoa Hiện nay, để kích thích cho nhãn Tiêu Da bò ra hoa quanh năm, nông dân sử dụng Chlorate Kali với liều lượng 20 - 30g tưới cho mỗi mét đường kính tán, giúp cho cây có tỉ lệ ra hoa cao trong mùa nghịch Ngoài ra,
Trang 25phun Nitrate Kali ở nồng độ 1% ở giai đoạn nhú mầm hoa cũng giúp cho hoa ra tập trung (4 tuần sau khi khoanh cành hay hóa chất) Thời gian từ khi khoanh cành đến khi ra hoa từ 30-35 ngày và thu hoạch khoảng 5 - 5,5 tháng
kg P2O5 + 2 kg K2O (tương đương với 4,2 kg Urê + 5,5 kg Super lân + 4 kg Clorua Kali) Thời kỳ bón phụ thuộc vào độ tuổi của cây mà bón nhiều lần hay ít lần, tốt nhất là chia làm 4 lần bón trong một năm:
Lần 1: bón sau khi thu hoạch trái, vào tháng 8 đến tháng 9 dl Lần bón này nhằm phục hồi cho cây sau thu hoạch, thúc đẩy cành mùa thu và coi đây là lần bón
cơ bản trong năm Ở lần này, bón toàn bộ phân chuồng, 80% lượng phân lân, 30% lượng phân đạm và 30% lượng phân kali
Lần 2: bón vào đầu tháng 2 dl, khi cây phân hóa mầm hoa Sử dụng 30% lượng phân đạm, 20% lượng phân lân và 30% lượng phân kali
Lần 3: bón vào cuối tháng 3 dl đến đầu tháng 4 nhằm làm cho chùm hoa phát triển tốt, tăng khả năng đậu trái Lần bón này chỉ sử dụng 10 - 20% lượng phân đạm
Lần 4: bón vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 dl nhằm bổ sung dinh dưỡng cho trái phát triển Ở lần bón này, sử dụng toàn bộ lượng phân đạm và phân kali còn lại (20% lượng phân đạm + 40% lượng phân kali)
Bảng 1 Lượng phân bón cho nhãn theo độ tuổi (Nguyễn Danh Vàng, 2008)
Lượng phân bón (kg/cây/năm) Loại phân 4 – 6 tuổi 7 – 10 tuổi > 10 tuổi
Trang 26
Để bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây, có thể áp dụng hình thức bón phân qua lá Có thể sử dụng Urê nồng độ 0,2% và Kalihydrophotphat (KH2PO4) nồng độ 0,2-0,3% Ngoài ra, có thể bổ sung các nguyên tố vi lượng như Bo, Zn bằng cách phun các dung dịch axit Boric, dung dịch Sunphat kẽm 0,1% Thời gian phun tốt nhất là trước khi hoa nở để làm tăng tỷ lệ đậu và sau khi đậu trái làm hạn chế rụng trái non
1.4.6 Phòng trừ sâu bệnh
1.4.6.1 Sâu hại
- Bọ ăn lá (Epitachna sp): Bọ tấn công trên cây mỗi khi ra đọt non làm mất
diện tích lá, giảm khả năng quang hợp, cây chậm phát triển Bọ thường ăn lá vào ban đêm gây hại rất nhiều trong mùa mưa, trên nhãn tơ Phòng trị bằng cách phun các loại thuốc như Cymbush 5EC, liều lượng từ 8 – 10 cc/bình 8 lít nước mỗi khi cây ra đọt dài 3 - 5 cm vào lúc chiều tối
- Sâu đục trái (Acrocercops cramerella): Sâu tấn công trên nhiều loại trái
như: nhãn, chôm chôm, ổi, từ khi trái còn non đến khi trái lớn Sâu đục trái đôi khi vào tới bên trong hạt, miệng lỗ đục có thể thấy một ít chất thải của sâu Vết đục thường là nơi tiếp giáp giữa 2 trái, cuống trái Phòng trị bằng cách thu dọn những trái bị hại đem tiêu hủy; phun thuốc có tính nội hấp sau khi đậu trái khoảng 15 ngày Nếu thấy có sâu hại thì phun thêm một vài lần nhưng phải ngưng thuốc trước khi thu hoạch 2 tuần Dùng Karate liều 8 cc/bình hoặc Fastac 8 cc/bình, Sumicidin 8 –
16 cc/bình, Polytrin 8 – 15 cc/bình, Oncol 20 – 25 cc/bình 8 lít nước để phun
- Bọ xít (Tessaratoma longicorn): Bọ xít có màu vàng nâu, chích hút đọt
non, cuống hoa, trái non làm hoa và trái non bị rụng Trong những năm gần đây bọ xít gây hại nặng trên các vườn nhãn làm giảm năng suất đáng kể Phòng trị bằng cách dùng các loại thuốc như Fastac với liều 8 – 10 cc/bình, Sumicidin 8 – 10 cc/bình, Trebon 8 – 15 cc/bình, Fenbis, Hopsan 15 – 20 cc/bình, sử dụng bình 8 lít
để phun khi thấy bọ xít xuất hiện
- Rệp sáp (Pseudococcus sp.): Rệp có lớp sáp phủ bên ngoài, rệp chích hút ở
cuốn trái đọt non, dưới mặt lá, lá trái bị nhiễm nặng sẽ kém phát triển và thường hay bị nấm bồ hóng Phòng trị bằng cách dùng các loại thuốc như: Supracide 20 cc/bình, Pirinex 15 - 20 cc/bình, Lanate 20 cc/bình 8 lít, khi phun nên kết hợp với chất bám dính để đạt được hiệu quả cao
- Sâu đục gân lá (Acrocecrops hierocosma Meyer): Sâu non đục vào gân
chính của lá non, vết đục từ chóp lá dần về cuốn lá làm lá bị hư, không phát triển được, ảnh hưởng đến đọt và sự ra hoa của cây nhãn Phòng trị bằng cách tỉa cành