Năm 2005 ban lãnh đạo và nhân dân huyện Mỏ Cày đã xác định bưởi Da Xanh là cây ăn trái chủ lực của huyện, năm 2007 toàn huyện có 500 ha đất trồng bưởi, thì hiện nay diện tích trồng bưởi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-Y Ö Z -
Trương Phạm Cẩm Quỳnh
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ, năm 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
-Y Ö Z -
Trương Phạm Cẩm Quỳnh
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ
TIÊU THỤ BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ TIÊU THỤ BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH BẾN TRE” do TRƯƠNG PHẠM CẨM QUỲNH thực hiện và đề nạp
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng 5 năm 2009
Cán bộ hướng dẫn
(ký tên)
PGs Ts Nguyễn Bảo Vệ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Cần thơ, ngày … tháng 5 năm 2009
Người viết
Trương Phạm Cẩm Quỳnh
Trang 5Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGs.Ts Nguyễn Bảo Vệ, người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện và cho những lời khuyên bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn:
PGs.Ts Nguyễn Thị Thu Cúc đã đóng góp ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn Ths Võ Thị Bích Thủy đã chia sẻ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Ks Nguyễn Thanh Hùng, các cán bộ khuyến nông và bà con nông dân xã Nhuận Phú Tân, Thanh Tân, Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ, hỗ trợ trong quá trình điều tra
Xin trân trọng ghi nhớ và gửi lời cảm ơn chân tình tới bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Trang 6Thành kính dâng
Cha và mẹ người đã sinh thành, nuôi dưỡng và dạy dỗ con nên người Tận tâm chia sẻ, ủng hộ con trong suốt quá trình con học tập và khôn lớn
Trang 7LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
I SƠ YẾU LÝ LƯỢC:
Họ và tên: Trương Phạm Cẩm Quỳnh Giới tính: nữ
Ngày tháng năm sinh: 20/ 11/ 1986 Dân tộc: kinh
Nơi sinh: Mộc Hóa – Long An
Con ông Trương Văn Khánh và bà Phạm Minh Toán
Địa chỉ liên lạc: Cách Mạng Tháng 8 – quận Bình Thủy – Tp Cần Thơ
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
1 Tiểu học:
Từ 1994 – 1997 là học sinh trường An Lục Long, Châu Thành, Long An
1997-1998 là học sinh trường An Thới II, Bình Thủy, Cần Thơ
(đã ký)
Trương Phạm cẩm Quỳnh
Trang 8TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
-ο0ο -
Luận văn tốt nghiệp kèm theo dưới đây, với đề tựa là “ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ TIÊU THỤ BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH BẾN TRE” do TRƯƠNG PHẠM CẨM QUỲNH thực hiện và báo cáo trước Hội đồng ngày … tháng 5 năm 2009 Đã được Hội đồng đồng chấm luận văn tốt nghiệp chấp nhận thông qua Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:………
Ý kiến Hội đồng ……….………
………
………
…….………
…………
Duyệt Khoa Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD (ký tên) ………
Cần Thơ, ngày … tháng 5 năm 2009 Chủ Tịch Hội Đồng (ký tên) ………
Trang 9MỤC LỤC
Danh sách hình .ix
Danh sách bảng xiii
Tóm lược xv
MỞ ĐẦU 1
1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 HIỆN TRẠNG SẢN SUẤT CÂY ĂN TRÁI TỈNH BẾN TRE .3
1.2 NGUỒN GỐC CÂY CÓ MÚI .3
1.3 NGUỒN GỐC CÂY BƯỞI DA XANH .4
1.4 ĐẶC TÍNH CÂY CÓ MÚI .4
1.4.1 Đặc tính thực vật 4
1.4.2 Đặc tính sinh thái .8
1.5 XÂY DỰNG VƯỜN CÂY CÓ MÚI .10
1.5.1 Xây dựng vườn cây có múi 9
1.5.2 Chăm sóc vườn cây có múi 12
1.6 TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÂY CÓ MÚI 19
1.7 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM HUYỆN MỎ CÀY 19
1.7.1 ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI 19
1.7.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN .20
2 PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG TIỆN 22
2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA .24
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 25
3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁC VƯỜN BƯỞI DA XANH HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH BẾN TRE .25
3.1.1 Tuổi nông dân 25
3.1.2 Tham gia tập huấn 25
3.1.3 Diện tích canh tác 26
Trang 103.1.4 Tuổi cây 27
3.1.5 Đất thành lập vườn 28
3.1.6 Tình hình nước ở địa phương 29
3.2 XÂY DỰNG VƯỜN BƯỞI DA XANH .30
3.2.1 Bờ bao và hệ thống cống bộng 30
3.2.2 Mương líp 33
3.2.3 Đắp mô .37
3.2.4 Cây che mát, chắn gió 40
3.3 KỸ THUẬT CANH TÁC BƯỞI DA XANH 41
3.3.1 Hình thức canh tác và đặc điểm trái bưởi Da Xanh 41
3.3.2 Mật độ gieo trồng và kỹ thuật nhân giống 46
3.3.3 Bón phân .52
3.3.4 Côn trùng và bệnh gây hại và biện pháp phòng trị trên vườn bưởi Da Xanh ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre 60
3.3.5 Chăm sóc vườn bưởi Da Xanh 66
3.4 THU HOẠCH 74
3.5 NĂNG SUẤT 75
3.6 CÁC HÌNH THỨC TIÊU THỤ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỦ YẾU CỦA BƯỞI DA XANH Ở HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH BẾN TRE 78
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ CHƯƠNG 87
Trang 11nơi thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre 23 3.1: Phần trăm số hộ có và không tham gia các nội dung tập huấn nông
nghiệp ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 34,2**, khác biệt có
ý nghĩa thống kê 1% 26 3.2: Phân bố phần trăm số hộ có trồng bưởi Da Xanh có các độ tuổi khác
nhau ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 26,2**, khác biệt có
ý nghĩa thống kê 1% 28 3.3: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da có và không bị nước lợ trong
năm ở huyện Mỏ cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 11,1**, khác biệt có ý
nghĩa thống kê 1% 29 3.4: Phân bố phần trăm số hộ không và có các dạng bờ bao khác nhau ở
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 20,3**, khác biệt có ý nghĩa
thống kê 1% 31 3.5: Phân bố phần trăm số hộ có các thành phần vật liệu làm cống bộng cấp
thoát nước khác nhau ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 60**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 32 3.6: Phân bố phần trăm số hộ có các chiều rộng mương khác nhau tại huyện
Mỏ
Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 45,4**, khác biệt có ý nghĩa thống kê
1% 34 3.7: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có các chiều rộng líp khác
nhau tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 30,3**, khác biệt có
ý nghĩa thống kê 1% 35
Trang 123.8: Phân bố trăm số hộ có các kiểu lên líp khác nhau ở huyện Mỏ Cày, tỉnh
Bến Tre (2009) χ2 = 73,3**, khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 37 3.9: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có và không vun mô tại
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 82,2**, khác biệt có ý nghĩa
thống kê 1% 38 3.10: Phần trăm số hộ phân bố theo chiều cao líp so với đỉnh lũ cao nhất bình
quân hằng năm tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 28,1**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 40 3.11: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh theo các hình thức khác
nhau trên địa bàn huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 28,1**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 42 3.12: Phân bố phần trăm số hộ theo các nhóm cây trồng xen khác nhau trong
vườn bưởi Da Xanh ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 19,3**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 43 3.13: Hai dạng trái bưởi Da Xanh (a) hình cầu, (b) hình quả lê tại các vườn
điều tra huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre 44 3.14: Phân bố phần trăm số hộ có trái bưởi mang các đặc tính vỏ, ruột khác
nhau ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 86,1**, khác biệt có
ý nghĩa thống kê 1% 45 3.15: Phân bố phần trăm số hộ có các mức độ hột của trái bưởi Da Xanh khác
nhau tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 102,6**, khác biệt có
ý nghĩa thống kê 1% 46 3.16: Phân bố phần trăm số hộ có cách trồng cây khác nhau tại huyện Mỏ
Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 42,5**, khác biệt có ý nghĩa thống kê
1% 48 3.17: Hai cách đặt cây (a) đặt đứng, (b) đặt nghiên không tạo tán lại tại các
vườn bưởi Da Xanh huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre 49 3.18: Phân bố phần trăm số hộ theo các kỹ thuật nhân giống bưởi Da Xanh
khác nhau tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 30,9**, khác
biệt có ý nghĩa thống kê 1% 50
Trang 133.19: Phần trăm số hộ có sử dụng các loại phân khác nhau bón cho vườn bưởi
Da Xanh huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 60,5**, khác biệt có
ý nghĩa thống kê 1 % 53 3.20: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh sử dụng số lượng phân
hữu cơ khác nhau ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 45**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 54 3.21: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có và không bón vôi ở
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 45**, khác biệt có ý nghĩa
thống kê 1% 55 3.22: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh theo số các lần bón phân
hóa học trong năm tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 =
101,1**, khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 59 3.23: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh theo các hình thức bón
phân hóa học tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 140,5**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 60 3.24: Phân bố phần trăm số hộ có xuất hiện các nhóm côn trùng gây hại trong
vườn bưởi Da Xanh huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 35,9**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 61 3.25: Phân bố phần trăm số hộ có các bệnh gây hại trong vườn trồng bưởi Da
Xanh huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 259,7**, khác biệt có ý
nghĩa thống kê 1% 63 3.26: Phân bố phần trăm số hộ có các biện pháp xử lý sâu bệnh trong vườn
bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 20,1**,
khác biệt có ý nghĩa thống kê 1% 64 3.27: Phân bố phần trăm số hộ có và không tỉa cành trong vườn trồng bưởi
Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 43,8**, khác
biệt có ý nghĩa thống kê 1% 67 3.28: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có và không đắp thêm mô
tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2=71,1**, khác biệt có ý
nghĩa thống kê 1% 68
Trang 143.29: Phân bố phần trăm số hộ theo các phương pháp vô chân gốc khác nhau
tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 35,1**, khác biệt có ý
nghĩa thống kê 1% 7 3.30: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có các hình thức tủ gốc
khác nhau tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 27,8**, khác
biệt có ý nghĩa thống kê 1% 71 3.31: Phương pháp làm mát gốc phù hợp tại các vườn bưởi Da Xanh huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (a) đậy lá dừa kết hợp bồi bùn, (b) để cỏ thân
thấp 72 3.32: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có và không xử lý ra hoa
tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 83,5**, khác biệt có ý
nghĩa thống kê 1% 74
3 33: Phân bố phần trăm số hộ có các thời vụ thu hoạch rộ bưởi Da Xanh tại
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 54,5**, khác biệt có ý nghĩa
thống kê 1% 75 3.34: Phân bố phần trăm số hộ có tỉ lệ trái bưởi Da Xanh đạt loại nhất tại
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 48.1**, khác biệt có ý nghĩa
thống kê 1% 75 3.35: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh theo các mức năng suất
thu được tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 49,7**, khác biệt
có ý nghĩa thống kê 1% 77 3.36: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có các hình thức tiêu thụ
tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) χ2 = 90,6**, khác biệt có ý
nghĩa thống kê 1% 79 3.37: Sơ đồ các con đường vận chuyển tiêu thụ bưởi Da Xanh ở huyện Mỏ
Cày, tỉnh Bến Tre (2009) 81
Trang 15DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa bảng Trang
1.1: Chế độ bón phân cho cây có múi 15
3.1: Phân bố phần trăm số hộ nông dân trồng bưởi Da Xanh ở huyện Mỏ
Cày, tỉnh Bến Tre theo các độ tuổi khác nhau (2009) 25
3.2: Phân bố phần trăm số hộ có các diện tích canh tác bưởi Da
Xanh huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) 27
3.3: Phân bố phần trăm số hộ có các loại đất thành lập vườn khác nhau
canh tác bưởi Da Xanh huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .29
3.4: Phần trăm số hộ có và không ngập nước tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến
Tre (2009) 31
3.5: Phân bố phần trăm số hộ có các chiều cao mô khác nhau ở tại huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .39
3.6: Phân bố phần trăm số hộ theo các loại cây trồng chắn gió, che mát
xung quanh vườn bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
(2009) 41
3.7: Phân bố phần trăm số hộ có mật độ trồng bưởi Da Xanh khác nhau tại
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .47
3.8: Phần trăm số hộ theo các cách đặt cây con khác nhau tại huyện Mỏ
Cày tỉnh Bến Tre (2009) 4
3.9: Phân bố phần trăm số hộ mua các nguồn gốc cây giống khác nhau tại
huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .52
3.10: Phân bố phần trăm số hộ theo liều lượng N sử dụng cho cây bưởi Da
Xanh có từ 5-8 năm tuổi tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .56
3.11: Phân bố phần trăm số hộ theo liều lượng P2O5 sử dụng cho cây bưởi
Da Xanh có từ 5-8 năm tuổi tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .57
3.12: Phân bố phần trăm số hộ theo liều lượng K2O sử dụng cho cây bưởi
Da Xanh có từ 5-8 năm tuổi tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .58
Trang 163.13: Phân bố phần trăm số hộ theo các liều lượng thuốc bảo vệ thực vật
sử dụng trong vườn trồng bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến
Tre (2009) 65 3.14: Phân bố phần trăm số hộ có và không nuôi kiến vàng trong các
vườn trồng bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) 66 3.15: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có số lần tỉa cành
trong năm khác nhau tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) 68 3.16: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có các thời điểm vô
chân gốc, bồi líp trong năm tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (2009) .69 3.17: Phân bố phần trăm số hộ trồng bưởi Da Xanh có các phương pháp
làm cỏ khác nhau tại huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre (2009) .73 3.18: So sánh mức độ khác biệt về năng suất/cây giữa 5 nhóm đất có
trồng bưởi Da Xanh trên địa bàn tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
năm 2009 .78
Trang 17Trương Phạm Cẩm Quỳnh, 2009 “Điều tra hiện trạng kỹ thuật canh tác và tiêu thụ
bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre” Luận văn tốt nghiệp đại học, khoa Nông
Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ 108 trang Người hướng dẫn khoa học: PGs.Ts Nguyễn Bảo Vệ
Kết quả thu đuợc: diện tích trồng bưởi Da Xanh từ 5-8 năm tuổi tại huyện Mỏ Cày không nhiều, trồng phân tán Có 55,5% số vườn không có đê bao, số vườn bị ngập nước
là 45,6% Chiều rộng trung bình của mặt mương (2,8 m) và mặt líp (5,6 m) tương đối nhỏ Đỉnh lũ hằng năm cách mặt líp rất thấp (trung bình 0,15 m) Trồng với các hình thức chuyên canh (21,1%), xen canh (48,9%), đa canh (30,0%) trong đó, trồng với cây có múi khác chiếm tỉ lệ cao (36,7%) Mật độ trồng dầy, phần lớn nông dân nhân giống bằng cách chiết cành (56,7%) Số vườn cho trái bưởi có từ 1-5 hột chiếm tỉ lệ cao nhất (73,3%) Nông dân có thói quen sử dụng phân hữu cơ (84,5%), bón liều lượng phân hóa học ít hơn liều luợng NPK khuyến cáo, đa số lần bón chỉ bón một lần trong năm Mức độ gây hại của sâu bệnh thấp, nông dân ít dùng thuốc bảo vệ thực vật, phần trăm số hộ có nuôi kiến vàng trong vườn cao (92,2) Số hộ áp dụng biện pháp xử lý ra hoa còn ít (11,1%) và kỹ thuật còn hạn chế Năng suất bưởi hiện nay thấp (trung bình 37,2 kg/cây/năm), chưa phát huy hết tiềm năng về năng suất của giống bưởi này Cây bưởi Da Xanh trồng trên đất phù
sa, nước ngọt và không bị ngập nước cho năng suất cao nhất (43,286 kg/cây/năm) Sản phẩm đa số bán cho thương lái Tiêu thụ chủ yếu tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18MỞ ĐẦU
Nằm ở cuối nguồn hệ thống sông Tiền, tỉnh Bến Tre với hệ sinh thái đất và nước khá đa dạng: nước ngọt, nước lợ 2-3 tháng, lợ hoàn toàn và mặn Khí hậu ôn hòa, đất đai tương đối màu mỡ, được bồi đắp phù sa hàng năm nhờ hệ thống sông ngòi chằng chịt Ngoài thế mạnh là nghề trồng dừa và làm ra các sản công nghiệp từ cây dừa, thì hiện nay
cả nước biết đến Bến Tre còn quê hương của giống bưởi Da Xanh Một loại cây có múi khi chín vỏ vẫn giữ được màu xanh và ruột màu hồng rất đặc trưng, giá thành hiện nay rất cao và nhu cầu thị trường hiện nay không đủ sản lượng để cung cấp, giá thành cao
Huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre được xem nơi xuất xứ của giống bưởi Da Xanh Huyện nằm trên dãi cù lao Minh, được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hàm Luông, có diện tích trồng bưởi Da Xanh cao nhất toàn tỉnh Năm 2005 ban lãnh đạo và nhân dân huyện Mỏ Cày đã xác định bưởi Da Xanh là cây ăn trái chủ lực của huyện, năm 2007 toàn huyện có 500 ha đất trồng bưởi, thì hiện nay diện tích trồng bưởi
Da Xanh khoảng 750 ha, và còn sẽ tăng lên trong những năm tới
Tuy là nơi xuất xứ, có diện tích các vườn bưởi Da Xanh đang cho trái nhều Nhưng hầu hết nông dân trồng bưởi Da Xanh ở huyện Mỏ Cày theo kiểu tự phát, sản xuất theo kinh nghiệm là chủ yếu Do vậy trái bưởi có nhiều điểm chưa đạt tiêu chuẩn, như: chất lượng trái chua ngọt không đồng đều, bưởi cho trái khi không hột, khi có hột, màu hồng của ruột không đặc trưng,… cả chất lượng và sản lượng đều chưa thể đáp ứng được yêu cầu các thị trường xuất khẩu khó tính Do đó, muốn mở rộng diện tích, xây dựng vùng chuyên canh trồng bưởi Da Xanh, sản xuất ra trái bưởi Da Xanh đạt tiêu chuẩn về chất lượng, thì việc tìm hiểu những thuận lợi và hạn chế về điều kiện sản suất và kỹ thuật canh tác trong nông dân là cần thiết Để qua đó, phát huy những ưu thế sản xuất, khắc phục các yếu tố chưa phù hợp của nông dân, nâng cao chất lượng của trái bưởi Da Xanh Đáp ứng nhu cầu sản lượng cao, phẩm chất trái ngon cung cấp cho thị trường tiêu thụ nội địa và nước ngoài
Vì vậy đề tài “Điều tra hiện trạng kỹ thuật canh tác và tiêu thụ bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre” được thực hiện nhằm mục tiêu:
Tìm ra những thuận lợi và hạn chế trong kỹ thuật canh tác và tiêu thụ của nông dân trồng bưởi Da Xanh tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tr
Trang 19CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT CÂY ĂN TRÁI Ở TỈNH BẾN TRE
Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Bến Tre (2008), diện tích
cây ăn trái toàn tỉnh là 36.727 ha, diện tích đã cho thu hoạch là 29.542 ha, sản lượng chung 367.655 tấn/năm Tập trung ở các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày và Châu Thành Trái cây chủ yếu là dừa, nhãn, xoài, cam Sành, bưởi,… Trong đó diện tích cây bưởi Da Xanh 4.250 ha, chiếm diện tích nhiều nhất là cây 2-3 năm tuổi, diện tích đã cho thu hoạch là 1.670 ha, sản lượng 29.304 tấn Hiện nay chính quyền và nhân dân tỉnh Bến Tre đã xác định cây bưởi Da Xanh sẽ là cây ăn trái phát triển chủ lực của tỉnh sau cây dừa Kế hoạch đến năm 2010 diện tích trong toàn tỉnh đạt 3.500 ha Nhìn chung bưởi Da Xanh vẫn có tốc độ phát triển nhanh hàng năm, đồng thời vẫn giữ vững giá cả cao trên thị trường tiêu thụ trái cây và hiện nay nhu cầu thị trường rất cao
Huyện Mỏ Cày, tổng diện tích trồng cây ăn trái huyện Mỏ Cày là 6.087 ha,
trong đó diện tích cây bưởi Da Xanh là 750 ha (Phòng Thống Kê Huyện Mỏ Cày, 2008) diện tích trồng lớn nhất tỉnh Bến Tre Là nơi xuất xứ của giống bưởi này, có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và kinh nghiệm sản xuất lâu năm,… Đó là những điều kiện thuận lợi để huyện phát triển về diện tích và sản lượng đứng đầu trong toàn tỉnh
1.2 NGUỒN GỐC CÂY CÓ MÚI
Cho đến nay việc xác định nguồn gốc cây có múi vẫn còn tranh luận vì nó có rất nhiều chủng loại có diện tích phân bố rộng, từ xích đạo lên đến vĩ tuyến 43o Các loài thậm chí các chi lai hữu tính với nhau một cách dễ dàng, luôn sản sinh ra các loài mới và
có những loài người ta không xác định được bố mẹ, thậm chí ngay giống cây trồng rất phổ biến ở miền Nam cũng như miền Bắc Việt Nam, các chuyên gia gọi là Quýt và cũng không ai biết nó được lai giữa các giống nào (Vũ Công Hậu, 1996) Có lẽ, đây cũng là lý
do vì sao có thể tháp các giống cam quýt dễ dàng với nhau và cũng gián tiếp có thể thấy cam quýt thuộc dòng thuộc giống cây ăn trái được thuần dưỡng sớm nhất
Cây bưởi có tên khoa học là Citrus maxima (Burn, Mera), thuộc nhóm Citrus, họ
Rutaceae, là loại cây trồng lâu đời và phân bố rộng khắp từ miền Bắc tới miền Nam Việt Nam Bưởi có nguồn gốc ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Dương, là giống cây có múi chịu
Trang 20khí hậu nóng ẩm nhất và thực tế chỉ trồng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nóng (Vũ Công Hậu, 1996)
1.3 NGUỒN GỐC CÂY BƯỞI DA XANH
Người đầu tiên trồng cây bưởi Da Xanh tại Bến Tre là ông Trần Văn Luông (Sáu Luông) sinh năm 1905, mất năm 1979 ở ấp Thanh Sơn II, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Làm nghề lái xe ống lô thời Pháp Khoảng năm 1940 ông Sáu Luông đi dự đám giỗ ăn được trái bưởi ngon nên đem hột về trồng Thấy bưởi ngon, con cháu ông chiết nhánh đem về trồng ở ấp An Thuận, xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre
Năm 1971 ông Đặng Văn Rô (Ba Rô) quê xã An Định, huyện Mỏ Cày mua đất ấp Thanh Sơn II, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày đã có cây bưởi người chủ đất trước để lại (là ông giáo Bình chiết nhánh từ nhà ông Sáu Luông) Ông Ba Rô đem trái dự thi hội thi trái ngon đạt giải I năm 1999 và được mệnh danh là vua bưởi Da Xanh Do bưởi khi chín vỏ trái vẫn còn màu xanh nên được đặt tên là bưởi Da Xanh (Đỗ Văn Công, 2007)
bất định phân bố tương đối rộng và dầy đặt ở tầng đất mặt (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
- Thân
Cam quýt thuộc dạng thân gỗ hình bán trụ Cây trưởng thành có thể có 4 đến 6
cành chính Tùy theo tuổi cây và điều kiện sống, phương pháp nhân giống mà cây có
chiều cao và hình thái khác nhau (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
- Lá
Cam quýt có lá hình dáng khác nhau, thường có hình ovan, hình trứng ngược, hình thoi, có eo lá hoặc không có, eo, lá to hoặc nhỏ Ở đa số cam quýt, mép lá có răng cưa Tuổi thọ lá cam quýt từ 2 đến 3 năm tùy theo vùng sinh thái, vị trí và tình trạng sinh
trưởng của cây và cành mang lá (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
Trang 21(c) (a) (b)
Hình 1.1: (a) lá bưởi Năm Roi, (b) lá bưởi Da Xanh, (c) lá bưởi đường
- Hoa và cấu tạo hoa
Hoa của nhóm cam quýt có màu trắng khoảng từ 3 - 7 cánh hoa, ngoại trừ ở loài chanh có màu tím ở phía ngoài
Cấu tạo hoa của loài cam quýt: phát hoa của họ cam quýt thuộc dạngraceme, hoa đính trên cuống hoa Hoa lúc trổ có chiều dài từ 1,5 đến 3,0 cm, lá đài (sepal) có 5 lá dạng giống cái ly Lúc chưa chín thành thục, nụ hoa có dạng như trái banh (ball), phía đầu của lá đài bao quanh bộ phận hoa bên trong và mở ra khi tràng hoa (corrolla) kéo dài
ra Tràng hoa có năm cánh hoa (petal) màu trắng luân phiên với các lá đài Cánh hoa dầy, gắn xen kẻ với nhau Nhị đực (stamen) có khoảng 20-40 chỉ nhụy màu trắng chúng dính nhau một phần, mỗi chỉ nhụy mang một bao phấn có bốn ngăn màu vàng Bao phấn bao quanh gần hoặc ngang với nhụy cái Hoa tiết ra mùi thơm qua đường khí khổng (stomata) Bầu noãn có 8-14 tâm bì vòi nhụy và tiểu noãn (Ford, 1942 and Schneider, 1968) Phần gốc trong của mỗi ngăn của mỗi tâm bì, đỉnh phôi (pacenta) phát triển và mang tiểu noãn Tiểu noãn có kiểu đính dạng noãn ngược (anatropous), với khí khẩu (micropyle) đối diện với trục của bầu noãn Tiểu noãn trưởng thành gồm cuốn noãn (funicilus), micellus, túi phôi có 8 nhân và 2 vỏ tiểu noãn (integument) Lúc trổ, bầu noãn
có dạng cầu méo (subglobose) khác biệt với hình dạng vòi nhụy hẹp như ở cây cam hoặc dạng hình trụ lẫn vào bên trong phía dưới vòi nhụy như ở cây chanh (lemon) Nướm nhụy tương đối lớn, có khả năng nhận hạt phấn trước một vài ngày trước khi bao phấn nở và
trong một số trường hợp có thể nhận hạt phấn trước từ 6-8 ngày (Randhawa et al., 1961)
Các tế bào phía trên nướm nhụy tiết ra chất nhờn là nơi hạt phấn dính vào Các rãnh kéo dài từ mỗi ngăn đi qua vòi nhụy, mở ra ở bề mặt nướm Hạt phấn nẩy mầm đi xuống các
Trang 22rãnh để tạo ra tế bào có hai nhân và đi vào tiểu noãn để thực hiện quá trình thụ phấn và
tạo ra hột (Baneriji, 1954 and Geraci et al., 1981)
(d) (e)
(f) (g)
Hình 1.1: (a) hoa, (b) cấu trúc của hoa, (c) trái, (d) bên trong trái khi chưa chín, (e) bên trong trái khi chín (e) hạt, (g) lá của bưởi Da Xanh
- Trái và cấu trúc của trái
Trái nhóm cam quýt là một dạng đặc biệt của quả mọng (berry) và được gọi là
hesperidium Trái được tăng trưởng và phát triển từ bầu noãn, bao gồm một số tâm bì (carpel) Trong họ cam quýt chỉ có bưởi là cho trái lớn nhất
Cấu trúc của trái ở loài Fortunella có từ 3 đến 7 tâm bì trong khi nhóm cam quýt
có trên 8 tâm bì chúng xắp xếp xung quanh lõi Theo mối quan hệ tiến hóa, tâm bì được xem là lá được thay đổi theo hướng đứng dọc, bìa lá uốn cong lại thành trục giữa, do đó
Trang 23sẽ thành lập múi (locule, segment), trong múi có hột và túi chứa nước hay con tép (juice sac) phát triển (Lima and Davies, 1984)
Nhóm cam quýt có hai nhóm phân biệt về hình thái rõ rệt: vỏ trái (pericarp) và phần ăn được (thịt trái, endocarp hay pulp) Trong phần vỏ trái, nó bao gồm phần bên ngoài có màu sắc gọi là ngoại quả bì (epicarp), phần phía trong màu trắng là trung quả bì (mesocarp) Ngoại quả bì bao gồm biểu bì chứa lớp cuticle và một vài lớp tế bào nhu mô dầy Nằm phía trong của ngoại quả bì có chứa nhiều tuyến tinh dầu Trong giai đoạn đầu phát triển trái, ngoại quả bì có màu xanh đậm chứa nhiều mô có hoạt động quang hợp và một ít khí khổng (20-40 mm2) Khi trái gần chín, diệp lục tố dần bị tiêu biến và lục lạp (chloroplast) chuyển thành sắc lạp (chromoplast) giàu thể caroten (Goldschmidt, 1988) Phần phía trong albedo có thể chiếm từ 60% đến 90% thể tích của trái Sau đó, khi phần thịt trái phát triển, albedo trở nên mỏng hơn, nhiều giống cam quýt albedo thoái hóa và biến mất (Schneider, 1968)
Phần thịt trái bao gồm các múi được bao quanh màng bên ngoài chứa nhiều con tép chứa nước (juice sac) Con tép được hình thành lúc trổ hoa, xuất hiện giống như cái vòm phát triển từ màng và nhô vào trong múi Sự phát triển các vòm thành con tép xảy ra thông qua hoạt động của mô phân sinh ngọn, sau đó thành một khối mô và trở thành con tép Lúc trái chín, con tép kéo dài hơn, cấu trúc có nhiều tế bào, nhô ra và hướng về lõi trái, nơi hột sẽ được hình thành
Con tép là cơ quan tích trữ sau cùng (sink) Tuy nhiên, sự phát triển của con tép có vấn đề về mặt sinh lý Vấn đề là ở chỗ con tép không nối kết với hệ thống mạch, là nguồn
cung cấp nước và chất đồng hóa vào trái (Schneider, 1968; Koch et al., 1968; Koch and
Avigre, 1990) Cả hai con tép, cọng tép (stalk) và biểu bì của múi nơi con tép dính không
có sự phân chia và cơ quan vận chuyển Do đó, con tép phải nhận chất dinh dưỡng từ nguồn khá xa (đến 3 cm) là hậu libe (postphloem) thông qua sự vận chuyển tế bào - tế bào không có mạch Điều hiện nay chưa giải thích rõ ràng về sự vận chuyển tế bào - tế bào xảy ra theo con đường cộng bào Cơ chế sinh lý của sự vận chuyển nước và chất hoà tan để trái tăng trưởng cũng như các phản ứng sinh hóa còn phải nghiên cứu tiếp
- Hột
Hột cam quýt phần lớn là đa phôi, chỉ riêng bưởi và các giống lai của chúng là đơn
phôi (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
Trang 241.4.2 Đặc tính sinh thái
- Nhiệt độ
Do có nguồn gốc á nhiệt đới nên cam quýt không chịu được nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp nhưng nói chung chịu nóng tốt hơn chịu lạnh Việt Nam không có nhiệt độ thấp làm chết cam quýt nên về nguyên tắc có thể trồng cam quýt ở bất kỳ nơi nào, miền Nam cũng như miền Bắc (Vũ Công Hậu, 1996) Đối với cây bưởi nhiệt độ thích hợp nhất để cây sinh trưởng và phát triển từ 23-29oC, bưởi ngưng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới
13oC và chết ở nhiệt độ -5oC (Võ Hữu Thoại và ctv., 2002) Nhiệt độ xuống dưới 25oC kéo dài trong vài tuần sẽ gây nên sự khởi phát mọc hoa nhiều hơn (Iwamasa, 1996), trong vườn cây vào các thời kỳ khô hạn kéo dài hơn 30 ngày sẽ gây cảm ứng ra nhiều nụ hoa hơn một cách có ý nghĩa Mức độ cảm ứng tỷ lệ với thời gian stress (Southwick and Davenport, 1986) Nông dân trồng cây cam, quýt và bưởi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ lâu đã biết cách sử dụng biện pháp “xiết nước” để cho cây ra hoa trái
vụ, biện pháp này có hiệu quả khá cao Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất trái, khi chín trong điều kiện nhiệt độ cao sự hình thành các sắc tố carotenoic và antoxian bị trở ngại, vỏ quả không chín vàng, thịt quả trắng lạt (cam quýt), còn ở bưởi và bưởi chùm, màu đỏ không phải có từ sắc tố antoxian
mà từ licopen và sắc tố này đòi hỏi nhiệt độ cao Do đó, ở vùng nhiệt đới các loại bưởi có màu sắc và càng đi lên các vĩ tuyến cao thì màu sắc nhạt hơn (Vũ Công Hậu, 1996)
Do điều kiện tự nhiên vùng nhiệt đới (miền nam Việt Nam), điều hạn chế của bưởi nói riêng và cây có múi ở miền Nam nói chung là vỏ trái khi chín có màu xanh đến vàng
lợt (Võ Hữu Thoại và ctv., 2002)
- Mưa và ẩm độ
Cam quýt là những cây ưa ẩm độ trung bình, do nghề trồng cam quýt đã mở ra rất rộng, nên có thể trồng ở các nước có chế độ mưa khác nhau, nhưng ở các nơi mưa ít thì phải tưới Ở miền Nam, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên có mùa khô rõ rệt, lượng nước bốc hơi nhiều, cần thiết phải có chế độ tưới tiêu hợp lý Miền Nam không có rét đến mức làm cho cam quýt ngừng sinh trưởng, nếu để tự nhiên không tưới, đến đầu mùa mưa tháng 4-
5 dương lịch (dl), chỉ sau mưa 25-30 ngày là cam quýt ra hoa, chín vào tháng 11-1 dl đó
là mùa cam quýt rộ Vào tháng 11-12 dl cũng có năm, có nơi nhiệt độ khá thấp, nếu kết
Trang 25hợp lúc đó ẩm độ còn tốt, thì lại ra hoa một đợt nữa, quả chín vào tháng 6-7 dl (là vụ cam quýt trái vụ) thường ít hơn chính vụ (Vũ Công Hậu,1996)
Ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ thấp không phải là điều kiện chính để ra hoa mà là mưa
và nước tưới Nên với kỹ thuật tưới nếu áp dụng đúng lúc, người ta có thể cho cam quýt
ra hoa nhiều vụ trong năm Cam quýt không ưa độ ẩm không khí quá thấp, trái ngoài rìa tán thường chất lượng không bằng ở giữa tán cây do ẩm độ ở đó ổn định hơn Tất nhiên,
ẩm độ cao quá cũng tạo điều kiện bệnh phát triển nhất là bệnh chảy nhựa thân Vườn cây cam quýt ở nơi khô ráo, đủ ánh sáng, bốn phía được che chắn bằng các cây chắn gió thường phát triển tốt (Vũ Công Hậu, 1996)
- Đất
Đất là nơi cây cắm bộ rễ xuống, giữ cho cây không bị lay chuyển Đất có hai chức năng quan trọng là cung cấp chất dinh dưỡng và giữ nước Vì vậy đất nào giữ được một hàm lượng nước ổn định là những đất thích hợp cho cam quýt (Vũ Công Hậu, 2000)
Đất trồng cam quýt và bưởi phải có tầng canh tác dầy ít nhất 0,6 m và thành phần
cơ giới nhẹ hoặc trung bình Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH nước từ 5,5-7,
có hàm lượng hữu cơ trên 3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp, dưới 0,8 m rất
thích hợp cho cam quýt phát triển (Võ Hữu Thoại và ctv., 2002)
1.5 XÂY DỰNG VÀ CHĂM SÓC VƯỜN CÂY CÓ MÚI
1.5.1 Xây dựng vườn cây có múi
- Chọn vị trí vườn
Cũng như các loại cây ăn trái khác do phải vận chuyển từ vườn đến thị trường để tiêu thụ cho nên vườn thường ở nơi thuận tiện đường giao thông, đường thủy càng tốt vì vận chuyển được nhiều về số lượng, giá thành rẻ, hơn nữa trái lại ít bị hư Ở điều kiện nhiệt đới cây có múi không đòi hỏi cao về đất tốt, nhưng do bộ rễ phát triển yếu, đòi hỏi
ẩm độ đất phải ổn định, độ pH không quá cao hoặc quá thấp gây độc hại vi lượng, thực tế
ở nước ta chỉ trồng cam quýt ở những vùng đất phù sa, không cát quá cũng không sét quá (Vũ Công Hậu, 1996)
Trang 26- Mương, líp trong vườn cây có múi
Đào mương lên líp nên áp dụng ở vùng ĐBSCL Trồng cây ăn trái phải đào mương lên líp nhằm nâng cao mặt đất, làm dày tầng canh tác và giúp thoát thủy tốt (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Thanh Triều, 1998) Đối với nhóm cam quýt, líp có chiều rộng từ 5,1 – 9 m, kích thước này khá thích hợp Cũng theo hai tác giả trên, có hai vấn đề cần đặt ra trong việc đào mương lên líp của nông dân ĐBSCL là kỹ thuật đào mương để lên líp phải đúng và làm sao cho líp không bị úng ngập trong mùa lũ
Trồng cây ăn trái ở ĐBSCL đã gắn liền với việc lên líp nhằm mục đích sau:
a Nâng cao mặt đất để rễ cây xuống sâu lấy chất dinh dưỡng
b Làm dày tầng canh tác
c Không bị úng ngập vào mùa mưa
d Có mương dẫn nước tưới trong mùa khô và thoát nước trong mùa mưa
e Rửa độc chất phèn mặn trong đất
f Làm đường vận chuyển vật tư và sản phẩm
g Kết hợp với nuôi tôm cá
Áp dụng đúng kỹ thuật đào mương lên líp để hạn chế được yếu tố bất lợi của đất, tranh thủ được thời gian trồng cây ngay sau khi lên líp, giúp cây phát triển tốt, sớm mang lại lợi nhuận cho nhà vườn và có thể trồng xen ngay các loại hoa màu nhằm lấy ngắn
nuôi dài (Trần Thượng Tuấn và ctv.,1994)
- Chọn giống
Công tác chọn giống cây trồng là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại trong vấn đề xuất khẩu, cũng như tiêu thụ ở nội địa Cần chú trọng chọn và nhân giống các dòng tốt, sạch bệnh cho sản xuất đại trà Giống được chọn là những giống không những ưu tú về chất lượng, hình dạng mà phải có năng suất cao, ổn định
Theo Vũ Công Hậu (2000) chọn giống phải chú ý hai điểm chính sau:
+ Tính thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương
+ Đáp ứng được yêu cầu của thị trường
Trang 27Vì việc chọn ra cây đầu dòng có năng suất cao, phẩm chất tốt là rất cần thiết Tiêu chuẩn cây đầu dòng đối với cây có múi là cây đại diện cho một dòng của giống mang những đặc tính tốt, đặc trưng so với cây quần thể để thu mắt tháp, cành chiết Cây đầu dòng cần thỏa mãn những ưu điểm sau:
+ Cây đầu dòng có những đặc điểm hình thái đặc trưng của giống + Sạch bệnh
+ Năng suất trung bình của cây đầu dòng phải cao ít nhất bằng năng suất trong tiêu chuẩn chọn cây đầu dòng (cây mẹ) và ổn định ít nhất 3 năm
+ Phẩm chất ngon, đảm bảo về hương vị, màu sắc vỏ, màu quả thịt,
độ ngọt, độ chua, dễ lột múi, số hột
- Mật độ trồng
Vấn đề mật độ trồng cây thường được tranh luận, và trên thế giới người ta trồng cùng một giống nhưng với các mật độ khác nhau Xác định khoảng cách và mật độ trồng hợp lý còn phụ thuộc vào những vấn đề như: diện tích lớn hay nhỏ, đất tốt hay xấu, khả năng đầu tư về phân bón, nước tưới, thời gian khai thác vườn trái ngắn hay dài,…
Trồng dầy, nhất là cách trồng bằng cành chiết, cây ra trái sớm, thu hoạch sớm, nhưng trồng dầy, độ ẩm trong vườn quá cao, sâu bệnh tập trung, ngọn cây vươn lên cao, bóng râm nhiều, sâu bệnh càng tăng Ở miền Tây Nam Bộ đất thấp, mùa mưa mực nước ngầm cao, một phần rễ bị thối, phân hữu cơ không đủ phải bón phân hoá học, thường không cân đối về chất, không thích hợp về lượng, tuổi thọ cây cũng giảm (Vũ Công Hậu, 2000)
Vũ Công Hậu (1996) cho rằng bưởi nên trồng với khoảng cách 6 x 6 m và cam 5 x
4 m, cam Sành và các loại quýt trồng mật độ 3 x 3 m Mật độ trồng ở ĐBSCL riêng với cây bưởi là 24 - 33 cây trên 1.000 m2 là thích hợp (Võ Hữu Thoại và ctv., 2002)
1.5.2 Chăm sóc vườn cây có múi
- Côn trùng và bệnh trên cây có múi
Cam quýt bị nhiều sâu bệnh phá hại, nhiều loại nguy hiểm vì cam quýt được thuần dưỡng rất lâu, là nguồn thức ăn cho nhiều loại côn trùng Khi thuần dưỡng, cam quýt được đưa vào sinh sống trong vườn, điều kiện môi trường thuận tiện hơn nhiều khi còn là
Trang 28cây hoang dại Số sinh vật sống nhờ cam quýt rất nhiều và phong phú về chủng loại, 12 loại nhện, 352 loại côn trùng, 186 loại tuyến trùng (Vũ Công Hậu, 1996)
Trên cây có múi có rất nhiều loại côn trùng gây hại, trong các sâu hại, sâu vẽ bùa
là đối tượng có lâu đời, nhưng lại bộc phát thành dịch trong thời gian gần đây (Phạm Văn Kim, 2001)
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thị Thu Cúc (1997) tại tỉnh Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp tỷ lệ sâu vẽ bùa hiện diện 47,6% trên tổng số vườn điều tra Trương Thị Ngọc Chi (1995) cho rằng tất cả các loài cam Sành, cam Mật, chanh Tàu, chanh Giấy, bưởi, quýt Tiều, quýt Xiêm, tắc (hạnh) đều bị sâu vẽ bùa tấn công Cam quýt cũng có nhiều loại bệnh, trong dự án IPM trên cây ăn trái tại ĐBSCL, dự án cũng xác định được các đối tượng quan trọng cần nghiên cứu để giải quyết: bệnh vàng lá gân xanh hay Greening, bệnh virus tristeza, bệnh thối rễ chết cây là những bệnh cực kỳ quan trọng, đã và đang
hạn chế sự phát triển của các loại cây có múi Bệnh thối rễ chết cây do nấm Fusarium
solani gây ra là các mối quan tâm hàng đầu của các nhà vườn Đây là bệnh phổ biến của
khu vực ĐBSCL (Phạm Văn Kim, 2001)
Bên cạnh 3 bệnh trên, trên trái của cây có múi còn bị nhiều thiệt hại như bệnh da
lu, da cám, ghẻ lồi, ghẻ lõm, ghẻ nham…Tuy đã được các tài liệu trên thế giới đề cập đến nhưng đối với chúng ta các bệnh nầy vẫn còn là thách thức lớn cần tìm hiểu qui luật gây hại và biện pháp đối phó chúng (Phạm Văn Kim, 2001)
- Phân bón
Đối với họ cam quýt, vấn đề phân bón ảnh hưởng đến phẩm chất trái bao gồm: hình dáng, kích thước trái, trọng lượng trái, cấu trúc vỏ, độ dày của vỏ, độ nhẵn và màu sắc của vỏ ngoài hoặc phẩm chất bên trong đặc trưng bằng những yếu tố như lượng nước
trái, tổng số chất hòa tan và độ chua (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Theo Vũ Công
Hậu (1996) khi bón phân cho cây có múi cần chú ý các đặc điểm sau:
+ Rễ cây ăn nong: ít lông hút nên sức hấp thu dinh dưỡng yếu
+ Nhiều chất vi lượng như Zn, Cu, Mn, cần cho cam quýt hơn là cây khác
Trong vấn đề phân bón đối với vườn cây có múi, Lê Thị Thu Hồng (1996) cho rằng có nhiều vấn đề cần cải thiện trong phát triển sản xuất cây có múi ở ĐBSCL như bón phân hoá học nhiều làm đất chua thêm, không bón phân hữu cơ làm giảm lượng vi
Trang 29sinh vật có lợi trong đất, làm tính chất vật lý trong đất không được cải thiện Bón phân hữu cơ cho cây có múi đóng vai trò rất quan trọng, nhất là trong điều kiện đất của ĐBSCL hằng năm đều bị ngập lũ Phạm Văn Kim (2000) cho rằng biện pháp đối phó với
bệnh thối rễ, chết cây ở ĐBSCL không phải là đối phó với nấm Fusarium solani, mà là
đối phó với tình trạng dẽ dặt của đất, tức là làm cho đất luôn tươi xốp và thông thoáng Biện pháp bón phân hữu cơ ủ hoai mục vừa giúp đất được thoáng khí trong mùa mưa, giúp cho đất không trở nên quá chua mà còn cung cấp vi sinh vật đối kháng để ức chế
nấm F solani có sẵn trong đất Ngoài việc bón phân hữu cơ hằng năm cho cây có múi
vào đầu mùa mưa, Phạm Văn Kim (2000) cũng khuyến cáo trong vườn cây có múi nên bón 200 kg vôi/ha để giữ pH đất không quá chua và giúp cải thiện phần nào cấu trúc của đất
Dùng số liệu phân tích lá làm chỗ dựa cho việc lập chương trình bón phân cho cam quýt đã thu được những kết quả khá đầy đủ Kết quả phân tích lá mọc vào mùa xuân
đã được 4 – 6 tháng tuổi của những chồi không ra trái, các lá của những chồi ra trái có hàm lượng N, P, K thấp hơn và hàm lượng Mg, Ca cao hơn so với các lá cùng độ tuổi của những chồi không ra trái (Hoàng Minh Châu, 1998)
Có lẽ, nét đặc biệt nhất về dinh dưỡng của cam quýt là hiện tượng thiếu dinh dưỡng nhiều chất khi thâm canh Các triệu chứng thể hiện ở lá khi thiếu: N, P, K, Mg, Ca,
Mn, Zn, Cu, Fe, B, và Mo đã được phát hiện trên đồn điền, nông trường cũng như trong vườn cá nhân Muốn được sản lượng tối đa và trái có chất lượng cao cần phải xác định được nhu cầu dinh dưỡng của cây để có kế hoạch bón phân cân đối (Hoàng Minh Châu, 1998)
Dùng phân hữu cơ có thể trả lại hầu hết các nguyên tố vi lượng cho đất, song trong điều kiện thâm canh, phân hữu cơ không bảo đảm đủ các nguyên tố đa lượng cho cây nên phải bón kết hợp phân hữu cơ và phân hoá học (Vũ Hữu Yêm, 1995) Việc bón phân N,
P, K cần thiết trong điều kiện thâm canh tăng năng suất, nhưng thiếu hay thừa đều có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển, số lượng phân bón hằng năm cho cây có múi tùy thuộc vào điều kiện đất đai, giống, tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định bón cho thích hợp (Hoàng Minh Châu, 1998)
Thu hoạch 1 tấn cam lấy đi của đất là 1,18–1,19 kg N; 0,20-0,27 kg P; 2,06-2,61
kg K; 0,97-1,04 kg Ca; 0,17-0,19 kg Mg (Vũ Công Hậu, 1996) Trần Thượng Tuấn và
Trang 30ctv (1994) có nhận xét bón nhiều đạm có chiều hướng làm trái nhỏ đi, tăng tỷ lệ trái
xanh, có cấu trúc vỏ ngoài xấu có lẽ một phần là do cây ra nhiều trái (độ lớn của trái có chiều hướng thay đổi ngược chiều với số trái của cây), ảnh hưởng của đạm còn tùy thuộc vào nhu cầu đạm của đất Do đó, đôi khi có thay đổi trên năng suất của trái Ở những chân đất màu mỡ ảnh hưởng của đạm là không đáng kể Trong điều kiện lân dễ tiêu thấp, đạm thừa càng tỏ ra có ảnh hưởng xấu đến phẩm chất trái Tuy nhiên, việc bón phân thừa lân cũng làm cho trái thô và phẩm chất giảm
Mức bón phân K cao nhất làm tăng độ lớn trung bình của trái và độ dày của vỏ trái làm giảm tỷ lệ nước trái, tổng số chất hòa tan và tăng độ chua của nước trái so với mức bón K thấp nhất Bón K không ảnh hưởng đến Vitamin C, không ảnh hưởng đến năng suất (tính thành kg trái của một cây), nhưng ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ các loại trái (theo
độ lớn) Bón nhiều K (khoảng 1,7% K trong chất khô của lá ra mùa xuân 9 tháng tuổi) có chiều hướng tạo được một tỷ lệ cao những trái lớn, chín muộn, màu sắc xấu, vỏ dầy, thô
và nước trái có tỷ lệ chất hòa tan thấp Mức bón K thấp (khoảng 0,8% K trong chất khô ở lá) tạo được một tỷ lệ cao trái nhỏ chín sớm, màu sắc đẹp, vỏ mỏng, nhẵn, nước trái có tỷ
lệ chất hòa tan cao và tổng số acid thấp
Vũ Công Hậu (1996), Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) đề nghị cách bón phân
trên cam quýt hằng năm như sau:
Bảng 1.1: Chế độ bón phân cho cây có múi
Năm tuổi N
(g/cây)
P2O5 (g/cây)
K2O (g/cây)
Trang 31Lê Thanh Phong (2003) cho rằng: cây ăn trái khó đạt được năng suất cao và chất lượng tốt nếu để nó phát triển tự nhiên mà không cắt tỉa để tạo một dạng hình hợp lý Việc tạo hình và cắt tỉa trên cây ăn trái được xem như một hoạt động chăm sóc quan trọng Việc tạo hình và cắt tỉa cành giúp cây về các mặt như sau:
+ Về mặt hình thái tạo hình giúp sinh trưởng điều dưỡng của cây như tạo chiều cao thích hợp, phân cành hợp lý Nên có hình dạng cân đối để sử dụng ánh sáng có hiệu quả hơn
+ Sự sinh trưởng giữa rễ, thân và cành được cân bằng hơn giúp cây tạo khung tán vững chắc, hạn chế đổ ngã
+ Về năng suất, chất lượng tạo hình giúp cải thiện màu sắc trái do ảnh hưởng của ánh sáng, giúp cải thiện kích thước trái do sự chuyển vị dinh dưỡng trong cây được thuận lợi
+ Tăng hiệu quả việc phòng trừ sâu bệnh
Hiệu quả dễ thấy nhất là sau khi cắt tỉa cành cây sẽ tạo ra các chồi non sinh trưởng mạnh và có nhiều khả năng để các cành mới này cho hoa trái, giúp giữ được sản lượng ổn định hằng năm
Tuy nhiên, việc cắt tỉa cành bao nhiêu và mức độ như thế nào cũng tùy thuộc vào cành cho trái của cây, sức sinh trưởng của cây Riêng cam, quýt thì việc cắt tỉa còn hạn chế Trong điều kiện cây ăn trái ở ĐBSCL thì thường được tiến hành sau khi thu hoạch hoặc tạo cành mới trước khi xử lý ra hoa
Lê Thanh Phong (2003) cho rằng các loại cành cần cắt tỉa:
+ Cành khô chết, cành bị sâu bệnh, cành gãy
+ Cành mọc khít, cọ sát nhau
+ Cành vượt mọc thẳng lên bên trong tán
+ Cành mọc song song che khuất nhau
+ Cành mọc hướng vào trung tâm tán
+ Cành mọc chúi xuống đất
+ Cành mọc ra từ gốc tháp, các chồi rễ
Nói chung, tùy loại cây mà định khối cắt tỉa, không nên cắt quá 1/3 số cành trên cây trong năm
Trang 32- Cỏ dại
Trong thực tế, một số nhóm cỏ dại có vai trò sinh thái quan trọng làm nơi cư trú quan trọng cho côn trùng có lợi cho cây trồng Do vậy, việc duy trì quan hệ cân bằng giữa cây trồng và cỏ dại cũng là một khâu quan trọng trong hệ thống nông nghiệp sinh thái bền vững, nó giúp cải thiện và duy trì cân bằng sinh thái giữa côn trùng, sâu bọ gây hại và các thiên địch trong khu trồng trọt Do đó, sự có mặt của một số loài cỏ xung quanh khu trồng trọt là một điều cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta hãy còn biết rất ít về mối quan hệ cỏ dại, côn trùng có lợi, côn trùng gây hại và cây trồng Vì trong một số trường hợp, cỏ dại cũng là nơi cư trú của sâu bọ gây hại Do đó, sự có mặt của cỏ dại xung quanh khu trồng trọt không những không mang lại lợi ích mà còn làm cho mùa màng thất bát nặng thêm Do vậy, người nông dân phải biết cách duy trì số lượng côn trùng có ích thích hợp thông qua hệ thống canh tác, trong đó bên cạnh cây trồng chủ yếu có mặt một số lượng vừa đủ cỏ dại phù hợp đóng vai trò là cây ký chủ của côn trùng có ích
Trong tự nhiên, khi sống trong quần thể, các cá thể thực vật còn ảnh hưởng lẫn nhau thông qua một số chất hóa học do chúng tiết ra xung quanh bộ rễ (hiện tượng allelopathy) điều này làm thay đổi thành phần, số lượng và sự phân bố cỏ xung quanh khu trồng trọt như dưa Chuột thường tiết ra Cucurbitacin gây ức chế sự phát triển của cỏ,
cây Dền (Mananthus dubus) và khoai Mì (Manihot esculenta) cũng có ảnh hưởng như
vậy Rõ ràng, chúng ta còn chưa biết nhiều về mối quan hệ bảo đảm sự tồn tại cùng có lợi giữa cỏ dại và cây trồng (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Viết Thắng, 1997)
Theo Đỗ Văn Chuông (1999) có thể nói là một sai lầm không nhỏ khi cỏ trong vườn bị diệt bởi thuốc diệt cỏ, cỏ không những giữ ẩm cho đất, cung cấp chất hữu cơ, mà còn làm giảm bệnh thối trái nhãn do khả năng hấp thụ bức xạ mặt trời của lớp cỏ trên mặt đất làm giảm bức xạ nhiệt phản chiếu từ mặt đất, do đó trái ít bị tổn thương, ít bị bệnh Tóm lại, trong mùa nắng nên giữ cỏ xanh trong vườn cây ăn trái
Ở ĐBSCL thường bị lũ lụt trong 3 tháng 9,10 và 11dl, đỉnh lũ thường tập trung vào cuối tháng 9 – 10dl Trong điều kiện các vườn cây ăn trái ở ĐBSCL thường bị ngập
lũ hoặc mưa dầm nên ngưng làm cỏ vào tháng 7dl để mặt đất có cỏ nhỏ che phủ (hoặc phủ rơm, cỏ khô) giúp mặt đất vùng tán cây giảm bị đóng ván bề mặt, đất dễ thoáng hơn (Dương Minh, 1998)
Trang 33Trong hệ thống canh tác nông nghiệp sinh thái bền vững, người ta thường tiến hành phục hồi và nâng cao độ phì đất bằng thảm thực vật che phủ Thoạt tiên, người ta tạo thảm thực vật bằng cách gieo hột cỏ hoặc một số cây họ đậu Kỹ thuật này có ưu điểm như sau:
+ Cho phép cải tạo và giữ nền đất luôn ẩm, dễ thấm nước
+ Ngăn xói mòn đất
+ Làm đất màu mỡ hơn (chủ yếu nhờ gia tăng mùn hữu cơ)
+ Hạn chế sâu bọ gây hại nhờ sự có mặt của thiên địch và vi sinh vật gây bệnh đối với chúng trong thảm thực vật che phủ (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Việt Thắng, 1997)
Theo kết quả điều tra của Trần Vũ Phến và Phan Văn Dũng (2000) để duy trì và phát huy hiệu quả sử dụng của thảm thực vật che phủ người ta thường áp dụng một
sự hình thành tư duy canh tác mới phù hợp với nền nông nghiệp sinh thái bền vững, người nông dân cũng phải xem xét lại một cách tổng thể và hợp lý về mặt tự nhiên đối với vấn đề làm cỏ đất canh tác
Có nhiều người cho rằng phải tiêu diệt hết cỏ dại vì nó cạnh tranh thức ăn với cây trồng chính Tuy nhiên, họ quên rằng trong quan hệ tự nhiên rất khó có sự phân biệt rạch ròi giữa cây trồng và cỏ dại Thực chất, cỏ dại bổ ích cho đất và cây trồng, vậy lợi ích bồi
bổ của cỏ dại là gì? Trong thực tế rễ cỏ thâm nhập vào đất làm đất tơi xốp, khi rễ chết đi chúng sẽ bổ sung chất mùn, giúp các vi khuẩn trong đất sinh sôi nẩy nở và làm giàu đất đai, cho phép nước thấm vào đất và không khí được đi sâu vào trong đất làm cho đất tơi xốp hơn Đặc biệt thảm thực vật che phủ tỏ ra rất hữu hiệu trong vườn cây ăn trái, vì
Trang 34thảm thực vật che phủ (cỏ và cây phân xanh) hoai mục làm đất thêm màu mỡ, ngăn chặn được rửa trôi xói mòn Mặt khác người nông dân cũng chủ động ngăn chặn sự xuất hiện của những loài cỏ dại không mong muốn (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tiến Thắng, 1997)
1.6 TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÂY CÓ MÚI
Vũ Công Hậu (1996) cho rằng ở ĐBSCL sản lượng cây có múi vào khoảng 800.000 – 1.000.000 tấn Thực ra một phần bán sang các nước khu vực Đông Nam Á: Trung Quốc, singapore Còn chủ yếu cam Sành, quýt Đường rất được ưa chuộng và được giá ở các chợ trong nước, đặc biệt thị trường thành phố Hồ Chí Minh rất chuộng bưởi Da Xanh, sản lượng không đủ tiêu thụ tại thị trường này Các chợ Hà Nội chuộng cam Sành
do phẩm chất thơm ngon của nó (Nguyễn Minh Châu, 2000) Trong tiêu thụ, trái chế biến vẫn giữ một tỷ lệ quan trọng khoảng 1/3 số trái xuất khẩu Được chế biến nhiều nhất là bưởi chùm, rồi đến cam Sành (Vũ Công Hậu, 1996)
Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bến Tre, sản lượng trái cây
toàn tỉnh đến năm 2008 là 367.655 tấn/năm Trong đó riêng cây bưởi là 29.304 tấn/năm Nhìn chung, trái bưởi Da Xanh vẫn giữ vững giá cả trên thị trường tiêu thụ trái cây
Hiện nay kênh tiêu thụ sản phẩm bưởi ở Bến Tre gồm 4 dạng: bán cho thương lái đường dài, bán thương lái nhỏ bán cho vựa trái cây và bán lẻ, tại huyện có cơ sở tư nhân đăng ký thương hiệu tự trồng, đóng gói và có cửa hàng bán lẻ cho người tiêu dùng nhưng vẫn chưa có hình thức hợp tác xã để các chủ vườn liên kết với nhau tiêu thụ sản phẩm
Nguyễn Minh Châu (2000) cho rằng tồn tại lớn nhất trong sản xuất cây có múi có
lẽ là thị trường, mặc dù đối với cây có múi không lớn lắm như đối với xoài, nhãn, để việc bán sản phẩm dễ dàng hơn thì các nhà vườn có đặc sản như bưởi Năm Roi, cam Sành, xoài Cát Hòa Lộc , nên tự nguyện thành lập hợp tác xã kiểu mới, gồm những nhà vườn trồng cùng một chủng loại chất lượng cao để tiêu thụ sản phẩm cho chính mình Ở các nước như Đài Loan, Nhật, Úc, Do Thái hầu hết nông dân đều tự nguyện gia nhập hợp tác xã để được hợp tác xã hỗ trợ về kỹ thuật, vốn, vật tư giá rẻ, và đầu ra cho sản phẩm Các chủng loại trái cây chất lượng cao nên có thương hiệu riêng để bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng và người sản xuất
Trang 351.7 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH BẾN TRE
1.7.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
Dân số: 275.504 người, số người trong độ tuổi lao động là 169.749 người, mật độ dân số 748 người/km2, tổng số hộ 63.388 hộ, số hộ nông nghiệp 51.621 hộ, lao động nông thôn 138.237 người, chiếm 81% số lao động
Hiện trạng sản xuất nông nghiệp:
Theo Phòng Thống Kê huyện Mỏ Cày (2008) tổng diện tích tự nhiên của huyện là 35.295 ha, diện tích đất nông nghiệp là 27.818 ha, trong đó:
- Đất trồng mía và lúa : 3.800 ha
- Đất trồng dừa :16.000 ha
- Đất trồng cây ăn trái : 6.087 ha
- Phần còn lại là đất thủy sản và đất trồng cây trồng khác
Cây ăn trái trồng phổ biến tại huyện là: cam Sành, chanh, hạnh (tắc), quýt đường, bưởi Da Xanh, vú sữa, sầu riêng
Ngoài ra, thế mạnh kinh tế của huyện là làm ra và xuất khẩu sản phẩm từ cây dừa như cơm dừa sấy, dầu dừa, ngành ngề thủ công nghiệp làm từ cây dừa như đồ thủ công
mỹ nghệ, chỉ xơ dừa,… Gần đây, còn có trái bưởi Da Xanh (sản phẩm có nguồn gốc và được trồng nhiều ở địa phương) có giá thành rất cao trên thị trường (trái loại I có giá từ 20.000-25.000/kg/) hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh Bến Tre
1.7.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
- Vị trí địa lý
Mỏ Cày là huyện trung tâm của khu vực Cù lao Minh, được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hàm Luông và nhiều sông nhỏ, kênh, rạch
- Phía Đông : Giáp huyện Giồng Trôm – Bến Tre
- Phía Tây : Giáp huyện Chợ Lách– Bến Tre và tỉnh Vĩnh Long
- Phía Nam : Giáp huyện Thạnh Phú – Bến Tre
- Phía Bắc : Giáp huyện Châu Thành- Bến Tre
Diện tích tự nhiên: 35.295 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 27.818 ha
Trang 36- Khí tượng
Huyện Mỏ Cày chịu ảnh hưởng chung khí hậu vùng ĐBSCL có hai mùa mưa nắng, nhiệt độ trung bình 27,20C, ẩm độ 79,2%, lượng mưa 1.376 mm tập trung chủ yếu vào các tháng 5- tháng 11 dl Số giờ nắng trung bình 2.407 giờ/ năm (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Bến Tre, 2008)
Trang 37CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA 2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA
Trang 38- Xã Nhuận Phú Tân
Đặc điểm chung của xã là nước sông ngọt quanh năm, địa hình thấp, không có đê bao chung của vùng Phía Bắc giáp với huyện Chợ Lách được ngăn cách bởi sông Cái Hàng, phía Đông giáp với tỉnh Vĩnh Long có ranh giới là con sông lớn Cổ Chiên (Hình 2.2) Do đặc điểm địa lý tiếp xúc với 2 con sông lớn nên vào các đợt triều cường các vườn ở khu vực này thường bị ngập nước từ 0,2-0,5 m, đây là khu vực đất phù sa gần sông tương đối tốt và màu mỡ Phía Nam giáp với xã Khánh Thanh Tân và phía Tây là xã Tân Thanh Tây và Tân Bình, đây là khu vực đất phù sa xa sông và giồng cát, có địa hình cao không bị ngập nước
- Xã Thanh Tân
Địa hình được bao bọc bởi 2 con sông lớn: Phía Bắc, Tây và một phần phía Nam giáp với sông Hàm Luông; Sông Cái Cấm ôm trọn phía Đông và một phần phía Nam còn lại Đặc điểm chung của xã Thanh Tân là đất phù sa gần sông, không có đê bao chung của vùng, địa hình tương đối cao Nhưng, với vị trí địa lý nêu trên thì các vườn không thể khống chế nước sông tràn vào vườn vào mùa mưa lũ Mực nước ngập từ 0-0,2 m Đặc biệt, hằng năm nước sông ở xã Thanh Tân còn bị nhiễm lợ vào thời điểm tháng 2-6 dl (Hình 2.3)
Tháng 1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Lợ Hình 2.2: Sơ đồ phân bố thời điểm nước bị nhiễm lợ trong năm, tại xã Thanh Tân nơi thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
- Xã Tân Thành Bình
Đây là xã có xây dựng hệ thống đê bao chung của vùng Các hộ nông dân trồng vườn hoàn toàn có thể khống chế được nước và mùa mưa lũ Đất phù sa gần sông, nước ngọt quanh năm Phía Bắc, phía Tây giáp với sông Cái Cấm và sông Hàm Luông, các phía còn lạ giáp với các xã: Thạnh Ngãi, Tân Phú Tây, Thành An, Hòa Lộc và Định Thủy
Trang 392.2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
2.2.1 Phương pháp chọn hộ điều tra
Chọn trong huyện Mỏ Cày ra 3 xã có thời gian nhiễm mặn dưới 3 tháng trong năm, có diện tích trồng bưởi Da Xanh nhiều trong huyện Từ mỗi xã lại chọn ra 30 hộ có các vườn trồng bưởi Da Xanh từ 5-8 tuổi, diện tích từ 1500 m2 trở lên Tổng số phiếu đề tài điều tra là 90 phiếu
2.2.2 Điều tra tình hình địa điểm điều tra
Nhờ cán bộ khuyến nông huyện Mỏ Cày giới thiệu 3 xã thỏa điều kiện nêu trên, là xã: Nhuận Phú Tân, Thanh Tân, Tân Thành Bình
Gặp cán bộ Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Bến Tre, Phòng Nông Nghiệp huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, Phòng Thống Kê Nông Nghiệp huyện Mỏ Cày, Sở Khoa Học Công Nghệ Tỉnh Bến Tre để tìm hiểu đặc điểm địa hình, tình hình sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật trồng bưởi Da Xanh được khuyến cáo và hiện trạng canh tác bưởi
Da Xanh chung của nông dân trong huyện và các xã điều tra của huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
Nhờ cán bộ khuyến nông của 3 xã Nhuận Phú Tân, Thanh Tân, Tân Thành Bình giới thiệu và dẫn đường đến các hộ điều tra
2.2.3 Điều tra hiện trạng canh tác
Điều tra được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và ngẫu nhiên các
hộ nông dân có vườn trồng bưởi Da Xanh theo phiếu điều tra soạn sẵn nội dung, không gợi ý trả lời Nội dung được hỏi tập trung vào đặc điểm vườn (ngập nước; nhiễm lợ;…),
kỹ thuật xây dựng vườn (đào mương; lên líp; bờ bao; trồng cây chắn gió; che mát;…), kỹ thuật trồng (chọn giống; cách nhân giống; trồng cây; bố trí mật độ cây;…), kỹ thuật chăm sóc (tỉa cành; bón phân; quản lý sâu, bệnh;…), năng suất và các hình thức chủ vườn bán sản phẩm,… (phụ chương)
2.3 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng phần mềm excel, và MSTATC
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁC VƯỜN ĐIỀU TRA HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH
BẾN TRE
3.1.1 Tuổi nông dân
Qua kết quả điều tra tại 3 xã Nhuận Phú Tân, Thanh Tân, Tân Thành Bình huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre cho thấy hầu hết nông dân trồng bưởi đã có khá nhiều năm kinh nghiệm làm vườn trung bình từ 45-60 tuổi, trong đó độ tuổi 40-50 chiếm tỉ lệ cao nhất 44,4%, và thấp nhất là 7,8 % số nông dân dưới 40 tuổi (Bảng 3.1) Phần trăm số hộ nông dân theo các độ tuổi khác nhau ở mức có ý nghĩa thống kê 1%
Bảng 3.1: Phân bố phần trăm số hộ nông dân trồng bưởi Da Xanh ở huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre theo các độ tuổi khác nhau (2009)
Stt Tuổi nông dân
** khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%
3.1.2 Tham gia tập huấn
Do cây bưởi Da Xanh mới được phát triển rộng rãi từ năm 2004 - 2005 đến nay nên được các cấp chính quyền rất quan tâm và chú trọng phát triển, địa phương thường xuyên tổ chức tập huấn cho nông dân Do đó, tỉ lệ phần trăm hộ nông dân huyện Mỏ Cày
có tham gia tập huấn tương đối khá nhiều đến 52,2%, trong đó tham gia chương trình hướng dẫn trồng bưởi Da Xanh chiếm tỉ lệ cao nhất 24,5% Ngoài ra, có 47,8% số nông