Toàn huyện hiện có trên 30 ha đất trồng cam Soàn, đây là giống cây đã được biết đến từ lâu tuy nhiên chưa được phổ biến rộng, thị trường tiêu thụ chưa rộng rãi nên người dân trồng cam So
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ QUYÊN
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC
VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI CAM
SOÀN (Citrus senensis L.cv.soan) TẠI HUYỆN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC
VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI CAM
SOÀN (Citrus senensis L.cv.soan) TẠI HUYỆN
TRÀ ÔN – TỈNH VĨNH LONG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS TS Nguyễn Bảo Vệ Nguyễn Thị Quyên MSSV: 3073191
Lớp: NÔNG HỌC K33
Cần Thơ, 2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGs.Ts Nguyễn Bảo Vệ, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn:
Các thầy cô bộ môn Khoa học cây trồng đã nhiệt tình chỉ dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn
Chị Cao Nguyễn Phương Khanh cán bộ phòng Nông Nghiệp huyện Trà Ôn và bà con nông dân xã Thiện Mỹ, xã Tích Thiện, xã Thuận Thới, xã Lục Sĩ Thành, xã Phú Thành huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Trang 4TIỂU SỬ CÁ NHÂN
♦ LÝ LỊCH CÁ NHÂN
• Họ và tên: Nguyễn Thị Quyên
Giới tính: nữ Dân tộc: kinh
• Sinh ngày: 28/02/1988
• Nơi sinh: xã Thiện Mỹ huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long
• Họ tên cha: Nguyễn Văn Hoàng
Sinh năm: 1966
• Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thùy Sinh năm: 1966
• Quê quán: xã Thiện Mỹ huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long
♦ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
• 1995 - 1999: Trường: Tiểu Học Thiện Mỹ B
• 2000 - 2003: Trường: Trung Học Cơ Sở Thị Trấn Trà Ôn
• 2004 – 2006: Trường: Trung Học Phổ Thông Trà Ôn
• 2007 - 2010: Trường Đại Học Cần Thơ, ngành Nông học, khóa 33, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 5
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quyên
Trang 6BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành nông học với đề tài: ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI CAM SOÀN
(Citrus senensis L.cv.soan) TẠI HUYỆN TRÀ ÔN – TỈNH VĨNH LONG
Do sinh viên Nguyễn Thị Quyên thực hiện
Trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Cán bộ hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ
Trang 7BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học với đề tài: ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶCTÍNH TRÁI CAM SOÀN (Citrus senensis L.cv.soan)
TẠI HUYỆN TRÀ ÔN – TỈNH VĨNH LONG
Do sinh viên Nguyễn Thị Quyên thực hiện và bảo trước Hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày tháng năm 2010
Trang 8
MỤC LỤC
Danh sách hình ……… ix
Danh sách bảng ……… xiii
Tóm lược ……… …… xv
MỞ ĐẦU ……… .…1
1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……… 2
1.1 GIÁ TRỊ, NGUỒN GỐC CỦA CÂY CÓ MÚI ……… 2
1.1.1 Giá trị của cây có múi ……… 2
1.1.2 Nguồn gốc cây có múi ……… 2
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ……… 3
1.2.1 Tình hình sản xuất ……… 3
1.2.2 Tình hình tiêu thụ ……… 3
1.3 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CÂY CÓ MÚI ……… 4
1.3.1 Rễ ……… 4
1.3.2 Thân, cành ……… 4
1.3.3 Lá ……… 5
1.3.4 Hoa ……… 5
1.3.5 Trái ……… 6
1.3.6 Hạt ……… 6
1.4 YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CÂY CÓ MÚI ……….6
1.4.1 Khí hậu ……… 6
1.4.2 Ánh sáng ……… 8
1.4.3 Đất ……… 9
1.4.4 Nước ……… 9
1.5 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC ……… 10
Trang 91.5.1 Thiết kế vườn ………10
1.5.2 Chọn giống và cách nhân giống ……… 11
1.5.3 Kỹ thuật trồng ……… 12
1.5.4 Chăm sóc ……… 14
2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ……… 21
2.1 ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA ……… 21
2.1.1 Tổng quan về huyện Trà Ôn- tỉnh Vĩnh Long ……… 21
2.1.2 Khí hậu và thời tiết ……… 21
2.1.3 Tài nguyên nước và chế độ thủy văn ……… 22
2.1.4 Tài nguyên đất ……… 23
2.1.5 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp ……… 23
2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG ĐIỀU TRA ……… 23
2.1.1 Địa bàn điều tra ……… 23
2.1.2 Thời gian điều tra ……… 23
2.1.3 Nội dung điều tra ……… 23
2.2.4 Khảo sát một số đặc tính trái cam Soàn ……… 24
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ……… 25
3.1 HIỆN TRẠNG CANH TÁC ……… 25
3.1.1 Thông tin về nông hộ ……… 25
● Tuổi nông dân ……… 25
● Diện tích vườn ……… 25
● Tuổi cây ……… 26
● Tuổi líp ……… 27
● Nguồn đất lập vườn ……… 27
● Tình hình nước ở địa phương ……… 28
3.1.2 Giống canh tác ……… 29
Trang 10● Nguồn giống ……… 29
● Cách nhân giống ……… 30
3.1.3 Xây dựng vườn ……… 30
● Thiết kế mương ……… 30
● Thiết kế líp ……… 32
● Thiết kế mô ……… 35
● Cây chắn gió ……… 38
● Đê bao, cống (bọng) ……… 39
3.1.4 Kỹ thuật canh tác vườn cam Soàn ……… 42
● Mô hình ……… 42
● Đặc điểm thực vật cam Soàn ……… 43
● Kỹ thuật trồng ……… 47
● Bón phân ……… 52
● Kỹ thuật chăm sóc ……… 61
● Thu hoạch và tiêu thụ ……… 71
3.2 KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH TRÁI CAM SOÀN ……… 77
3.2.1 Chất lượng bên ngoài ……… 77
● Màu sắc vỏ trái ……… 77
● Đường kính trái và chiều cao trái ……… 77
● Tỉ lệ đường kính/chiều cao (%) ……… 78
● Trọng lượng trái (g) ……… 78
● Trọng lượng vỏ/trái (g) ……… 78
● Tỉ lệ vỏ/trái (%) ……… 79
3.2.2 Chất lượng bên trong ……… 80
● Màu dịch trái ……… 80
● Độ Brix ……… 80
● PH ……… 81
Trang 11● Số hạt/trái ……… 82
● Trọng lượng hạt/trái ……… 83
● Tỉ lệ hạt/ trái (%) ……… 83
● Số múi/trái ……… 84
● Số túi tinh dầu (túi/cm2 ) ……… 84
● Trọng lượng thịt/trái (g) ……… 85
● Tỉ lệ phần ăn được(%) ……… 85
4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ……… 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 89
PHỤ CHƯƠNG ……… 93
Trang 12TÓM LƯỢC
Đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ thuật canh tác và khảo sát một số đặc tính trái
cam Soàn (Citrus senensis L.cv.soan) tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” được thực
hiện nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan đến cây cam Soàn Tìm ra những thuận lợi
và khó khăn của người dân trong quá trình trồng cam Soàn, cũng như tìm ra ưu điểm của trái cam Soàn để có hướng sản xuất tốt hơn trong tương lai, đặc biệt là hướng đến mục đích xuất khẩu Điều tra bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên những hộ có trồng cam Soàn đã cho trái với diện tích từ 1000m2 trở lên, ở 5 xã trong huyện Trà
Ôn, để phỏng vấn trực tiếp theo câu hỏi đã soạn sẵn, không gợi ý trả lời Và thu mẫu trái về phòng thí nghiệm phân tích một số đặc tính trái
Kết quả thu được: Diện tích trồng cam Soàn nhỏ, phân tán Chuyên canh 37,78% và 62,22% xen canh Có 22,22% số hộ không có đê bao và bị ngập nước Khoảng cách trồng dày trung bình cây cách cây là 2,76 m, hàng cách hàng là 2,8 m, phần lớn nông dân sử dụng giống ghép (100%) Số vườn cho trái có ít hạt (5-15 hạt)
có 77,78% Trung bình líp rộng 4,62 m, mương rộng 1,81 m, chiều cao so với mực nước cao nhất trong năm trung bình là 0,32 m Đa số nông dân không có thói quen
sử dụng phân hữu cơ 86,67%, liều lượng sử dụng phân hóa học trung bình thấp hơn
so với khuyến cáo Mức độ sâu bệnh gây hại ít, khi có sâu bệnh nông dân thường sử dụng biện pháp bảo vệ thực vật, ít sử dụng biện pháp sinh học Số hộ có xử lý ra hoa
là 33,33% với biện pháp rất đơn giản là xiết nước Năng suất trung bình cây trên 3 năm tuổi là 4,58 tấn/1000m2 60% bán cho thương lái, thị trường tiêu thụ chủ yếu là thành phố Hồ Chí Minh Kết quả khảo sát trái cam Soàn, trung bình có độ brix là 11,94%, pH là 4,10, số hạt là 12,34 hạt, trọng lượng hạt là 2,95 g, trọng lượng trái là 174,25 g, trọng lượng vỏ là 32,99 g, tỉ lệ vỏ/trái là 18,80%, tỉ lệ hạt/trái là 1,71%, tỉ
lệ ăn được là 79,49%, số túi tinh dầu là 238,72 túi, chiều cao trái 65,28 mm, đường kính trái 69,22 mm, tỉ lệ đường kính/chiều cao là 106,06%
Trang 13DANH MỤC BIỂU BẢNG Trang
Bảng 1.1 Thành phần dưỡng chất ở các trái cây thông dụng
Bảng 1.2 Lượng phân bón cho cây có múi (Nguyễn Như Hà, 2006)
Bảng 3.1 Phân bố phần trăm số hộ có độ tuổi nông dân khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 25
Bảng 3.2 Phân bố phần trăm số hộ có nguồn giống khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 30
Bảng 3.3 Phân bố phần trăm số hộ có chiều rộng mương khác nhau ở huyện Trà
Bảng 3.6 Phân bố phần trăm số hộ có chiều cao mô khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 37
Bảng 3.7 Phân bố phần trăm số hộ có chiều rộng mô khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 38
Bảng 3.8 Phân bố phần trăm số hộ có chiều rộng mô khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 43
Bảng 3.9 Phân bố phần trăm số hộ có và không có hiện tượng khô đầu múi khác nhau
ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 46
Bảng 3.10 Phân bố phần trăm số hộ có tuổi cây bắt đầu cho trái khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 47
Bảng 3.11 Phân bố phần trăm số hộ có và không có xử lý đất khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 48
Bảng 3.12 Phân bố phần trăm số hộ có và không có bón lót khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 53
Trang 14Bảng 3.13 Phân bố phần trăm số hộ có sử dụng các loại phân bón lá khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 55
Bảng 3.14 Phân bố phần trăm số hộ có liều lượng sử dụng phân N khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 56
Bảng 3.15 Phân bố phần trăm số hộ có liều lượng sử dụng phân P2O5 khác nhau
ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 57
Bảng 3.16 Phân bố phần trăm số hộ có liều lượng sử dụng phân K2O khác nhau
ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 58
Bảng 3.17 Phân bố phần trăm số hộ có cách bón phân khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 60
Bảng 3.18 Phân bố phần trăm số hộ có và không có bồi líp khác nhau ở huyện Trà
Bảng 3.23 Phân bố phần trăm số hộ có biện pháp phòng trị sâu bệnh khác nhau
ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 70
Bảng 3.24 Phân bố phần trăm số hộ có và không có xử lý sau thu hoạch ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 72
Bảng 3.25 Năng suất của cam Soàn ở các độ tuổi khác nhau ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 73
Bảng 3.26 Màu vỏ trái của cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) …77
Trang 15Bảng 3.27 Trọng lượng trái, trọng lượng vỏ/trái, chiều cao trái, đường kính trái,
tỉ lệ đường kính/cao trái cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) … 78
Bảng 3.28 Tỉ lệ vỏ/trái cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) …… 80
Bảng 3.29 Màu dịch trái cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) … 80
Bảng 3.30 pH trái cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) ………… 82
Bảng 3.31 Trọng lượng hạt/trái trái cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
(2010) 83
Bảng 3.32 Số múi/trái cam Soàn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) …… 85
Bảng 3.33 Tỉ lệ hạt/trái, số túi tinh dầu, số múi/trái, trọng lượng thịt trái, cam Soàn
ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (2010) 85
Trang 16MỞ ĐẦU
“Thiên thời địa lợi nhân hòa” là một trong những nhân tố được ông bà ta đánh giá rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị của nó Trà Ôn là một trong những vùng đất có đủ các yếu tố trên, được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều nên việc sản xuất nông nghiệp ở đây rất thuận lợi
Từ lâu cây lúa vốn gắn bó với người nông dân nơi đây nhưng hiệu quả từ cây lúa không cao so với cây ăn trái Đặc biệt là cây cam Sành đã đem lại lợi nhuận rất cao cho người nông dân nhất là trong những thời điểm sốt giá như vừa qua Bên cạnh đó thì cây cam Soàn cũng đã đem lại nguồn thu nhập khá lớn cho một số nông hộ Toàn huyện hiện có trên 30 ha đất trồng cam Soàn, đây là giống cây đã được biết đến từ lâu tuy nhiên chưa được phổ biến rộng, thị trường tiêu thụ chưa rộng rãi nên người dân trồng cam Soàn nhỏ lẻ tự phát, chưa có kiến thức rõ về giống cây này vì thế chưa phát huy được hết năng suất và phẩm chất của cam Soàn Nhưng giá cam Soàn hiện nay rất cao và tương đối ổn định do trái có vị ngọt thanh rất ngon, vỏ vàng trơn láng rất đẹp mắt, cho trái quanh năm, ít sâu bệnh nên có thể phát triển theo hướng nông nghiệp bền vững đáp ứng nhu cầu thị trường khó tính Do đó
chúng ta cần quan tâm hơn về loại trái cây này, đề tài: “Điều tra hiện trạng kỹ
thuật canh tác và khảo sát một số đặc tính trái cam Soàn (Citrus senensis L.cv.soan) tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm tìm ra những
thuận lợi và khó khăn trong kỹ thuật canh tác cam Soàn của người dân nơi đây Đánh giá hình thức tiêu thụ trái cam Soàn tại huyện Trà Ôn Từ đó phát huy những
ưu thế trong sản xuất, đồng thời hạn chế những yếu tố chưa phù hợp tạo điều kiện
cơ sở không chỉ phát triển về diện tích mà còn phát triển về chất lượng cam Soàn trên đất Trà Ôn nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung, góp thêm vào danh sách trái cây ngon Việt Nam một thương hiệu mới
Trang 17CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 GIÁ TRỊ, NGUỒN GỐC CỦA CÂY CÓ MÚI
1.1.1 Giá trị của cây có múi
Theo Đào Duy Cầu (2004), cam quýt là nguồn thực phẩm quan trọng và có giá trị dinh dưỡng cao, hương thơm ngon Ngoài các loại đường như: Glucose, fructose, mantose, saccarose, sinh tố các loại (đặc biệt sinh tố C), cam quýt còn chứa một số chất khoáng như: lân, canxi, sắt… rất cần đối với cơ thể con người, đặc biệt đối với người bệnh, người già yếu và trẻ em Là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, ngoài dùng ăn tươi, cam quýt còn dùng làm mứt, chế biến nước giải khát, chưng cất tinh dầu, làm thuốc chữa bệnh (Đường Hồng Dật, 2003)
Bảng 1.1 Thành phần dưỡng chất ở các trái cây thông dụng
Thành phần trong 100 gram ăn được
Ca (mg)
P (mg)
Fe (mg)
(Nguồn: FAO, 1976 được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999)
1.1.2 Nguồn gốc cây có múi
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt trồng trọt hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á (Nguyễn Ngọc Thuận, 2000)
Khó xác định được nguồn gốc của cây có múi nói chung và cam quýt nói riêng, vì cây có múi có rất nhiều chủng loại và lại là những cây lâu năm, có diện tích phân bố rộng, từ xích đạo lên đến vĩ tuyến 430 Từ mặt biển lên đến vùng núi cao 2500 mét Tuy nhiên đa số tác giả cho rằng nguồn gốc phần lớn cây có múi là ở
Trang 18là cam quýt được trồng từ bao giờ, nhưng chắc chắn chúng là một trong những loại cây trồng trong vườn lâu nhất và phổ biến nhất (Nguyễn Danh Vàn, 2008).
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
1.2.1 Tình hình sản xuất
Trong các loại cây ăn trái nhiệt đới và á nhiệt đới cam quýt là loại có địa bàn phân bố rộng Có thể nói cam quýt có mặt ở hầu hết các lục địa Vùng phân bố trên thế giới vào khoảng 35 vĩ độ Bắc và Nam Ở nước ta cam quýt thường tập trung ở vùng đất phù sa cổ, cao và tương đối nhẹ, ven các con sông, trên đất ruộng (Đào Duy Cầu, 2004) Hiện nay tổng diện tích cây có múi ở nước ta có 87.500 ha, với năng suất 1,173 tấn/ha, tổng sản lượng là 683.300 tấn Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 46.700 ha, với năng suất 1,495 tấn/ha, tổng sản lượng là 433.900 tấn Riêng tỉnh Vĩnh Long có 7.600 ha trồng cây có múi, năng suất 10,31 tấn/ha, tổng sản lượng là 433.900 tấn (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2008) Theo Phòng thống kê huyện Trà Ôn (2007), diện tích cây có múi là 4.073,6 ha, trong đó
có 38,44 ha trồng cam Soàn
Nhìn chung diện tích cây có múi ngày càng được mở rộng vì trồng cam trong vườn cho thu nhập cao hơn các loại cây ăn trái khác, tuy nhiên đòi hỏi nhà vườn phải có trình độ thâm canh cao (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001)
1.2.2 Tình hình tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ trái cây có múi hiện nay rất có tiềm năng, kể cả trong nước
và ngoài nước Tuy giá cả trái cây có múi rất cao nhưng biến động bất thường, dịch bệnh phát triển nên diện tích canh tác có phần thu hẹp, sản lượng không đủ cung cấp ra thị trường
Hiện nay cây có múi vẫn đang là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, đem lại lợi nhuận kinh tế cho quốc gia Song, việc trồng cây có múi thường dựa vào kinh nghiệm, tính chất tự cung tự cấp, chất lượng sản phẩm kém, chưa đáp ứng được yêu cầu khó tính của một số quốc gia nên tiêu dùng chủ yếu là trong nội địa
Trang 191.3 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CÂY CÓ MÚI
1.3.1 Rể
Rễ cây cam quýt thuộc loại rễ có nấm cộng sinh (Micorhiza) Phần lớn phân
bố ở tầng đất sâu 10-30 cm, rễ hút tập trung ở tầng sâu 10-25 cm Phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt, sự phân bố tùy thuộc vào: độ dày tầng đất mặt, thành phần hóa học của đất, mực nước ngầm, cách bón phân, hình thức nhân giống (trồng hạt rễ ăn sâu nhưng phân bố hẹp, ít rễ hút; cây chiết, giâm cành nhiều rễ phân
bố nông và tự điều tiết được tầng sâu phân bố theo những thay đổi của điều kiện bên ngoài, nhất là mực nước ngầm) Rễ hoạt động mạnh 1-8 năm tuổi, tái sinh kém
và suy giảm dần ở thời kỳ cực thịnh vào năm thứ 7-8 (Đường Hồng Dật, 2000)
1.3.2 Thân, cành
Cam quýt thuộc dạng thân gỗ, loại hình bán bụi Một cây trưởng thành có thể
có từ 4-6 cành chính Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì cam quýt sẽ rất ít khi
có thân chính Tùy theo tuổi cây, điều kiện chăm sóc, hình thức nhân giống mà cây
có chiều cao hình thái khác nhau (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Cam quýt có khả năng phát triển chồi non nhiều lần trong năm khoảng 3- 4 đợt chồi bao gồm:
+ Đợt chồi mùa xuân: ra sớm hay muộn, nhiều hay ít, mạnh hay yếu tùy thuộc vào mưa xuân, nhiệt độ và thời gian hái trái vụ trước Đợt chồi này rất quan trọng,
vì nó ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến năng suất quả năm đó của cây
+ Đợt chồi mùa hè: cung cấp thêm bộ lá trên cây, có tác dụng nuôi trái trong năm đó
+ Đợt chồi mùa thu: tập trung phát triển trong mùa mưa lớn, nhiệt độ cao Do cành phát triền nhanh và mạnh nên thường không được vững chắc
+ Đợt chồi mùa đông: thường ít và yếu
Dựa vào chức năng và đặc tính của các loại cành mà phân thành: cành mẹ, cành quả, cành dinh dưỡng và cành vượt
+ Cành mẹ: là những cành sinh ra và nâng đỡ cành quả, nên thường rất khỏe Những loại cành có thể trở thành cành mẹ là cành phụ thuộc vào giống tuổi cây,
Trang 20+ Cành trái: là những cành có khả năng ra hoa kết trái ngay trên nó, những cành này thường được sinh ra từ cành mẹ
+ Cành dinh dưỡng: là cành sinh ra vào các mùa trong năm, không mang hoa trái chỉ có lá Nhờ có lá phát triển nhiều, quang hợp mạnh, sản xuất các chất dinh dưỡng nhiều mà giúp cho rễ, hoa trái phát triển nhanh, mạnh
+ Cành vượt: là loại cành thường nẩy ra từ những mầm ngủ trên thân hay trên những cành lớn Cành thường mọc thẳng, từ trong cây đâm thẳng ra tán, có nhiều gai Khi cây còn nhỏ có thể lợi dụng loại cành này để tạo hình, khi cây đã già cần cải lão thì mới cần thiết dùng đến cành này, bình thường cành vượt là loại cành
vô ích, không có lợi cho cây nên phai thường xuyên cắt bỏ
1.3.3 Lá
Lá cam quýt có hình dạng rất khác nhau, lá các loại cam quýt thường có hình ôvan, hình trứng lộn ngược, hình thoi , lá thường có eo lá hoặc không có, eo lá có
thể to hoặc nhỏ, mép lá có răng cưa trừ các loài quất (chi Fortunella) Cam quýt
trưởng thành thường có 150.000-200.000 lá Tổng diện tích lá khoảng 200m2 Tuổi thọ lá cam quýt từ 2-3 năm tùy vào vị trí lá, tình trạng sinh trưởng của cây, cành mang lá Trên mặt lá có 400-500 khí khổng trên 1mm2 (Trần Thế.Tục và ctv, 1998)
Lá dạng phiến, không có lông, nhọn ở đầu, là dày, xanh đậm, cuống có cánh, rộng
từ 4-10 mm, có đốt ở đáy phiến (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.3.4 Hoa
Hoa cam quýt thuộc lọai đơn hay chùm, mọc từ nách lá Trong điều kiện tự nhiên hoa thường mọc ra vào đầu mùa mưa hoặc trong kỹ thuật xiết nước khích thích ra hoa Hoa cam quýt có dạng hình thuẩn tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới, đường kính rộng từ 2,5-4 cm, rất thơm, thường là hoa lưỡng tính Đài hoa dai không rụng, hình chén, có 3-5 lá đài Hoa có 4-8 cánh (thường là 5 cánh), màu trắng, dính liền nhau ở đáy Bao phấn 4 ngăn màu vàng, bầu noãn có 8-15 ngăn dính liền nhau tại một trục ở giữa trái, mỗi tâm bì có 0-6 tiểu noãn Hầu hết các loài cam quýt đều tự thụ, tuy nhiên cũng có thể thụ phấn chéo nhưng có nhiều hạt hơn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Trang 211.3.5 Trái
Trái gồm 3 phần: ngoại, trung và nội quả bì
+ Ngoại quả bì: là phần vỏ ngoài của trái, có biểu bì với lóp vỏ cutin dày và các khí khổng, giàu lục lạp nên có thể quang hợp khi trái còn xanh
+ Trung quả bì: kế ngoại quả bì, có màu trắng đôi khi vàng nhạt hay hồng nhạt như ở bưởi, chứa nhiều đường bột, vitamin C và pectin giữ vai trò quan trọng trong việc hút nước chuyển cho trái
+ Nội quả bì: gồm các múi trái được bao quanh bởi vách mỏng trong suốt, bên trong nhiều con tép chứa dịch nước có đường và acid Thời gian trái chín biến động 7-14 tháng kể từ khi thụ phấn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Màu sắc vỏ trái thay đổi tùy theo giống và loài cùng với điều kiện sinh thái Thông thường các loại quả cam quýt có vỏ màu vàng da cam ở giống chín sớm, đỏ
da cam ở giống chín muộn, một số loài vỏ màu xanh, xó những vệt vàng (Đường Hồng Dật, 2003)
1.3.6 Hạt
Hạt cam quýt là loại hạt của cây hai lá mầm, đa số là đa phôi trừ bưởi là đơn phôi Hạt có hai màng vỏ màng ngoài cứng do thấm nhiều lignin, nhăn nheo nhiều gân (bưởi), nhẵn, bóng (chanh, quýt), màng trong mỏng Số lượng giống thay đổi tùy giống và điều kiện canh tác Người ta thấy rằng số hạt có liên quan đến sự phát dục : trái càng nhiều hạt càng dễ phát triển, trái ít hoặc không có hạt thì kích thướt nhỏ lại (Nguyễn Hữu Đống, 2003).`
1.4 YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CÂY CÓ MÚI
1.4.1 Khí hậu
● Nhiệt độ
Phần lớn các loài cây ăn quả có múi sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ
12-390C Trên 400C với thời gian dài nhiều ngày, cây có múi ngừng sinh trưởng, lá rụng, cành bị khô héo Nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của các loài cây ăn trái có múi: ra đọt, sinh cành mới, hoạt động của bộ rễ Biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn có lợi cho quá trình tích lũy vận chuyển đường,
Trang 22độ ban đêm quá thấp làm cho các hoạt động trên sẽ kém đi (Đường Hồng Dật, 2000)
Khi nhiệt độ từ 2-100C thì cây đi vào trạng thái tĩnh, dưới 00C cây bắt đầu chết
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thì nhiệt độ không bao giờ dưới 150
C nên cơ quan phát triển liên tục và nhanh chóng (nếu đủ nước) (Trần Thế Tục, 2000)
Theo Vũ Công Hậu (2000), do có nguồn gốc á nhiệt đới nên cam quýt không chịu được nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp nhưng nói chung chịu nóng tốt hơn chịu lạnh Nhiệt độ càng thấp xuống cam quýt sinh trưởng chậm lại, thời gian từ khi ra hoa đến khi trái chín dài ra Ước tính cứ tăng độ cao 100m thì thời gian ra hoa đến trái chín dài thêm một tuần
● Ẩm độ
Ẩm độ cần thiết trong khoảng 70 – 80% Nước ta là nước thuộc khí hậu nhiệt đới, ẩm độ không khí thường cao, rất thuận lợi cho cam quýt sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên ẩm độ cao cũng tạo điều kiện cho nhiều loại sinh vật gây hại nhất là những loại nấm bệnh Cam quýt là loại cây ưa ẩm, nhưng không chịu được ngập úng Cho nên cam quýt thường được trồng trên đất cao, hơi dốc sẽ có tuổi thọ cao hơn trồng trên đất thấp, bằng phẳng khó thoát nước (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Bên cạnh ẩm độ cao cũng làm khí quyển hấp thụ nhiều tia tử ngoại hơn nên trái cây chín cũng ít tươi thắm hơn Và nhiệt độ quá cao, ẩm độ cao cũng làm cho trái có nhiều múi phồng lên và phẩm chất kém ( Trần Thế Tục, 2000)
Ẩm độ đất và không khí có ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, tỷ lệ đậu hoa quả của cam quýt Nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ tháng 12-2 năm sau hoa quả sẽ nhiều Tháng 3-4 khô hạn có khả năng giảm số lượng quả trên cây (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
● Lượng mưa
Lượng mưa trung bình cho cam khoảng từ 1000 – 1500 mm/ năm Trồng cây có múi sẽ không có lợi nếu thiếu nước Thiếu nước cây tăng trưởng không bình thường, lá xoắn lại, trái non rụng hoặc chín sớm (chín héo), phẩm chất, sản lượng kém đi, cây trở nên yếu ớt, nấm bệnh dễ xâm hại, nếu không được chăm sóc, ít tưới
Trang 23nước cây sẽ chết dần Chú ý không được dùng nước mặn hoặc nước có chứa Mg tưới cho cây (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999)
● Gió
Gió, bão là yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của cam quýt Có gió nhẹ làm cho không khí trong vườn dễ lưu thông, điều hòa ẩm độ, giảm sâu bệnh giúp cây sinh trưởng tốt Trong thời kỳ ra hoa, kết trái có gió nhiều, gió mạnh hoặc gặp bão hoa khó đậu, trái dễ bị xây sát, dễ rụng, cây có thể bị đổ, nhất là cây trồng bằng cành chiết do rễ ăn cạn
Nên trồng cây chắn gió là biện pháp cần thiết để bảo vệ cây đỡ bị lay, chắn gió mùa đông bắc khi cây ra hoa, chắn gió tây gió Lào và bão khi trái đang lớn ( Đào Duy Cầu, 2004)
1.4.2 Ánh sáng
Cam quýt không ưa ánh sáng mạnh, thích ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000 – 15.000 lux gần bằng 0,6 cal/cm2, tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng và 4,5 giờ chiều những ngày quang mây mùa hè Ở những ngày này, khi trời quang mây cường
độ ánh sáng lên đến 100.000 lux tương đương 127 cal/cm2
, ở chỗ râm cường độ ánh sáng là 10.000 lux tương đương 0,5cal/cm2 Cần bố trí mật độ dày hợp lý, ở những nơi thoáng và tránh nắng trực tiếp Tuy nhiên không nên trồng cam quýt dưới bóng cây to vì dễ bị sâu bệnh gây hại (Phạm Văn Côn, 2003)
Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), Ở một số vùng chuyên canh cây cam quýt của Đồng bằng sông Cửu Long bà con có kinh nghiệm trồng xen một số loại cây khác để che bóng
Nói chung cam quýt là loại cây ưa nhiều ánh sáng, trong thời kỳ trái chín, có đầy đủ ánh sáng thì trái “phát mã” tốt, màu sắc trái tươi đẹp và phẩm chất tốt Tuy nhiên, nếu ánh sáng quá mạnh, lại gặp nhiệt độ cao cũng không tốt vì trái sẽ phát triển kém, vỏ trái dễ bị nám, múi ít nước, khô và xốp Nhu cầu về ánh sáng để quang hợp thay đổi tùy theo giống: cam, quýt, bưởi cần có đủ ánh sáng mới cho năng suất cao (Đào Duy Cầu, 2004)
Trang 24Đặc biệt cây mẫn cảm xấu với muối B, muối Carbonate và NaCl (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Nếu trồng trên các loại đất sét nặng thì tỷ lệ đường/ axit giảm (ăn sẽ chua), cây phát triển kém, trái thô, vỏ dày và sẽ chín muộn hơn Nếu trồng trên đất cát, khả năng giữ nước kém và rễ sẽ phát triển mạnh, keo đất ít, khả năng giữ và hấp thu chất dinh dưỡng kém, trái sẽ chín muộn hơn, khô hạn trái dễ bị xốp, tỷ lệ đường / axit cao hơn và vỏ mỏng hơn (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
4.4.4 Nước
Cam quýt là loại cây ưa ẩm và ít chịu hạn Đa số các loài và giống yêu cầu nhiều nước ở các thời kỳ nảy mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết trái và trái phát triển Đối với cam thời kỳ cần nước là từ tháng 11 đến tháng 2, quýt Unshin từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Rễ cam quýt có năng lực hút nước khá mạnh so với nhiều loại cây lâu năm khác Tuy vậy lá cam quýt lại có khả năng phát tán mạnh, năng lực giữ nước kém Những mùa cam quýt sinh trưởng mạnh, thời kỳ quả lớn, đều đòi hỏi rất nhiều nước, nhưng từ khi trái chuyển sang chín trở đi lại yêu cầu ít nước hơn Yêu cầu về nước của cam quýt thay đổi tùy giống, chanh yêu cầu nhiều nước nhất Cam quýt tuy đòi hỏi nhiều nước nhưng lại sợ nước đọng Vườn cam quýt bị đọng nước rễ kém phát triển, dễ bị thối, lá và quả dễ bị rụng nhiều (Đào Duy Cầu, 2004)
Trang 251.5 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
1.5.1 Thiết kế vườn
● Địa điểm, vị trí vườn
Cũng như các loại trái khác do phải vận chuyển đến các thị trường ngày càng
xa, vườn phải ở nơi có đường giao thông thuận tiện, đường thủy càng tốt vì quả ít
hư hỏng
Tuy cây có múi không đòi hỏi cao về đất tốt nhưng do bộ rễ phát triển yếu, do
đó đòi hỏi độ ẩm đất phải ổn định, độ pH không quá cao hoặc quá thấp gây độc hại
vi lượng, thực tế ở nước ta chỉ trồng cam quýt ở các đất phù sa cũ hoặc mới không cát cũng không sét quá Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), ở Đồng Bằng Sông Cửu Long các vườn cam quýt thường được xây dựng trên đất phù sa ven sông, nơi đây cây phát triển tốt vì có nước ngọt quanh năm
● Đào mương lên líp
Đào mương lên líp nên áp dụng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Trồng cây ăn trái phải đào mương lên líp nhằm nâng cao mặt đất, làm dày tầng canh tác và giúp thoát thủy tốt (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Thanh Triều, 1998)
Tùy theo địa hình mà ta quyết định kích thước mương líp trồng cây cam quýt cho phù hợp, nếu chiều rộng mặt líp quá hẹp, hạn chế sự phát triển bộ rễ, còn líp quá rộng dễ bị úng nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa nắng (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Theo Trần Thế Tục (2000), đối với líp: nếu líp đôi thì rộng từ 6-8 m, líp đơn thì 3-4 m, cách mặt nước thừ 30-50 cm Đối với mương: mương rộng 3-4 m (nếu líp đôi), rộng 1-1,5 m (nếu líp đơn) Nhớ chú ý tầng sinh phèn
Đối với kỹ thuật lên líp thì thông thường có các kiểu lên líp sau:
+ Lên líp theo kiểu cuốn chiếu: lớp đất mặt tốt và lớp đất trên không xấu lắm Lớp đất mặt mương làm chân líp, lớp đất sâu làm mặt líp
+ Lên líp theo kiểu kê đất: lớp đất mặt mỏng, lớp đất dưới không tốt, có phèn…Đào lớp đất mặt mương thứ nhất đưa qua líp thứ nhất bên trái , sau đó đưa lớp sau mương thứ nhất làm chân líp thứ hai, lấy đất mặt mương thứ hai làm mặt
Trang 26+ Lên líp theo băng: đào đất mặt ở mương trãi dài thành một băng ở giữa líp, lớp đất sâu ốp vào hai bên
+ Lên líp đắp mô: tập trung đất mặt đắp thành mô (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
● Bờ bao
Việc xây dựng bờ bao quanh vườn rất quan trọng trong điều kiện ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vì là đường giao thông vận chuyển trong vườn, là nơi xây dựng cống đầu mối để điều tiết nước, nơi trồng các hàng cây chắn gió và hạn chế ngập lũ trong mùa mưa (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
● Cống bọng
Tùy theo diện tích vườn lớn hay nhỏ mà thiết kế ít hay nhiều, kích thướt lớn hay nhỏ Thường đặt ở đê bao và đối diện với nguồn nước chính để lấy và thoát nước được nhanh Vị trí đặt cống cao hay thấp tùy vào lượng nước cần giữ lại trong các mương vườn, sau khi xả hết nước (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.5.2 Chọn giống và cách nhân giống
● Chọn giống
Muốn đạt năng suất cao trước tiên phải chọn tạo giống tốt Tuyển chọn cây đầu dòng có khả năng sinh trưởng khỏe, năng suất cao, phẩm chất tốt, ổn định, sạch bệnh (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Theo Vũ Công Hậu (1996), chọn giống phải chú ý hai điểm sau:
+ Tính thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương
+ Đáp ứng được yêu cầu của thị trường
Chọn giống từ cây mẹ tốt, không sâu bệnh, năng suất cao, đã cho trái ổn định hơn 3 năm Cây chiết có rễ mọc cạn, thích hợp ở đất thấp Cây hạt, cây tháp có rễ mọc sâu, thích hợp ở đất cao (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1999)
● Cách nhân giống
Có hai phương pháp nhân giống: vô tính và hữu tính
+ Hữu tính: nhân giống bằng hạt, cây sức sống mạnh, dễ làm, tạo giông mới, rẻ tiền, số lượng nhiều nhưng chậm cho trái và không giữ dược đặc điểm di truyền của cây mẹ Hiện nay ít được sử dụng, chỉ dùng làm gốc ghép
Trang 27+ Vô tính: một số phương pháp phổ biến hiện nay: chiết cành, giâm cành, tháp cành, tháp mắt…Giữ được đặt tính cây mẹ, mau cho trái, chống chịu tốt với môi trường, sâu bệnh, phục hồi được cây già, duy trì giống quý hiếm, áp dụng được trên những cây không hạt (Phan Ngưỡng Tinh và ctv, 2002)
Chú ý các ký sinh trùng nhất là virus sẽ lây nhiễm bệnh qua vết tháp, do đó phải đảm bảo tuân thủ các cách tạo dòng vô tính an toàn hợp vệ sinh (B Aubert và G Vullin, 1999)
Phương pháp phổ biến hiện nay áp dụng trên cam quýt là tháp
+ Tiêu chuẩn chọn gốc tháp: có sức sống cao, thích nghi với điều kiện địa phương, có khả năng nuôi cành (mắt) tháp tốt, không sâu bệnh, không dị dạng, mọc thẳng, điều kiện gốc tháp thay đổi từ 0,5-1,5cm
+ Tiêu chuẩn cành (mắt) tháp: chọn từ cây mẹ có năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt, sinh trưởng khỏe, thích ứng tốt với điều kiện môi trường ở địa phương,
độ đồng đều cao Cây mẹ không quá già hoặc quá non chưa cho trái Riêng cành tháp phải có tuổi sinh trưởng tương đương gốc tháp (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.5.3 Kỹ thuật trồng
● Thời vụ trồng
Cam quýt có thể trồng được quanh năm, trừ những tháng quá giá lạnh ở miền Bắc hoặc quá nóng ở miền Nam, nhưng tốt nhất nên trồng vào đầu mùa mưa (ở miền Nam) để tiết kiệm nước tưới cây, cây con dễ sống hoặc sau Tết khi thời tiết
ấm áp có mưa Xuân nhiều (ở miền Bắc) thì cây con dễ sinh trưởng tốt hơn Tuy nhiên vào mùa mưa ẩm độ cao sâu bệnh dễ phát sinh cần nên lưu ý (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
● Làm mô
Ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long người ta làm mô để trồng cam quýt, bưởi Để đắp mô, tốt nhất là dùng loại đất ao, mương vườn cũ, đất mặt ruộng hay bãi bồi ven sông phơi khô Mô có kích thước rộng 60-80 cm, cao 20-30 cm tùy địa hình Phần giữa mô nên trộn với 100-200 g phân lân và 5-10 kg phân chuồng hay
Trang 28rơm rác ủ tạo điều kiện cho rễ cây phát triển trong giai đoạn đầu (Đường Hồng Dật, 2000)
● Khoảng cách trồng
Để xác định khoảng cách và mật độ trồng hợp lý phụ thuộc vào giống, đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, khả năng đầu tư về phân bón, nước tưới, thời gian khai thác vườn cây ăn trái ngắn hay dài…
Trồng dày nhất là bằng cành chiết, cây ra trái sớm, chóng có thu hoạch, thu lại vốn sớm nhưng độ ẩm trong vườn cao, sâu bệnh tập trung, ngọn cây vươn cao, bóng râm nhiều sâu bệnh càng tăng, chi phí đầu tư ban đầu cao
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bưởi nên trồng 6x6 m, cam mật 5x4 m, cam sành và các loại quýt, dù trồng dày cũng không vượt dưới 3x3 m (Vũ Công Hậu, 2000) Theo Trần Thế Tục (2000), cam, chanh, quýt nên trồng khoảng cách 4x4 m
Có thể trồng dày ở giai đoạn đầu nhưng đốn tỉa bớt khi cây giao tán
Cần kết hợp khoảng cách trồng và kiểu trồng thích hợp Cách phổ biến hiện nay:
+ Kiểu hình vuông và hình chữ nhật là cách trồng dễ dàng áp dụng cơ giới hóa
Nếu là cành chiết thì trước khi trồng nên tỉa bớt lá và những cành không cần thiết để giảm bớt sự thoát hơi nước trong giai đoạn đầu rễ chưa phát triển (nếu cành chiết có nhiều cành bên thì đặt thẳng đứng, ít cành thì đặt hơi nghiêng một chút)
Trang 29Đặt cây con xong cắm cọc để không bị gió lay đổ hay bật gốc (Nguyễn Danh Vàn, 2006)
● Trồng cây chắn gió và che mát
Các loại cây có múi nói chung và cam quýt nói riêng thích ánh sáng tán xạ vì thế nên trồng một số cây cao, tán lá thưa thoáng: so đũa, tràm, cóc, cây cau…dọc theo mép mương, giữa các hàng cam để che bớt nắng Nếu có điều kiện trồng cây chắn gió xung quanh vườn để hạn chế thiệt hại do gió bão và ngăn chặn côn trùng, nấm bệnh từ nơi khác xâm nhập (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Ngoài ra, cây chắn còn có tác dụng điều hòa khí hậu trong vườn được ổn định, cung cấp phân xanh, cho côn trùng thụ phấn mùa hoa nở Cây chắn gió phải thích nghi tốt với điều kiện địa phương, sinh trưởng khỏe, tán dày, cành lá dai chắc, ít ảnh hưởng đến cây trồng chính (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.5.4 Chăm sóc
● Bồi líp
Ở những vùng đất thấp trồng đắp mô, những năm đầu mỗi năm đắp đất phụ thêm vào chân mô, để chân mô rộng ra khoảng 40-50 cm Khi chân các mô giáp mí mỗi năm dùng bùn vét mương hoặc đất phù sa, đất tốt…bồi lên mặt líp từ 3-5 cm
(Nguyễn Danh Vàn, 2008)
● Trồng xen
Trồng xen rau màu, cây họ đậu dưới các hàng cam quýt trong 2-3 năm đầu tận dụng đất trống, tăng thêm thu nhập, chống cỏ dại, cung cấp thêm chất hữu cơ, thêm
cố định đạm làm phân bón cho cây (Đường Hồng Dật, 2003)
● Quản lý cỏ, che phủ líp, xới đất
Vào giai đoạn đầu khi cây còn nhỏ chưa giao tán nên làm sạch cỏ nhất là trong mùa mưa, nhằm hạn chế côn trùng gây hại ẩn nấp, cạnh tranh nước và chất dinh dưỡng, cỏ dùng phơi khô phủ gốc giữ ẩm cho đất, bảo vệ rễ Ngoài ra có thể dùng rơm, rạ, lục bình phơi khô để đậy gốc, líp, cần xới đất hằng năm để giúp đất thông thoáng, cung cấp thêm oxy cho rễ, thúc đẩy quá trình sinh trưởng, (Nguyễn Bảo Vệ
và Lê Thanh Phong, 2004)
Trang 30● Tưới tiêu nước
Khi cam quýt còn nhỏ nên tưới nước thường xuyên, nhất là trong mùa nắng Tránh tưới bằng gàu trực tiếp vào gốc cây con vì dễ làm lung lay gốc, độ bám vào đất của rễ kém, cây phát triển kém Khi cây trưởng thành kết hợp xiết nước để điều khiển xử lý ra hoa Cam quýt là loại cây ưa ẩm, chịu hạn kém nhưng rất sợ úng, do
đó phải thoát nước kịp thời vào mùa mưa, phải giữ mặt líp cao hơn mực nước cao nhất trong năm bằng 30 cm trở lên Cho nên cần có hệ thống tưới tiêu nước chủ động, lắp đặt cống bọng, máy bơm…(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000), bón phân không tưới nước phần lớn không có hiểu quả kinh tế hoặc hiệu quả không cao
● Bón phân
Để phát triển tốt, các loại cây có múi cần được cung cấp đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K cũng như nguyên tố vi lượng Cu, Mg, Bo…Đạm là nguyên tố có vai trò quyết định đối với năng suất và phẩm chất của quả Đạm xúc tiến sự phát triển của cành lá, thúc đẩy việc hình thành các đợt chồi mới trong năm Số lá và tình trạng lá có liên quan trực tiếp đến khối lượng quả và năng suất của cây Nhiều đạm quá mức ảnh hưởng xấu đến chất lượng trái: trái to,
vỏ dày, phẩm chất kém, trái lên mã chậm, vitamin C giảm Khi thiếu đạm, lá mất diệp lục ngã sang vàng, nhánh trái nhỏ mảnh, lá bị rụng, nhánh dễ chết khô, trái nhỏ, năng suất giảm Đạm ảnh hưởng đến hấp thụ các chất dinh dưỡng khác
Lân rất cần cho quá trình tạo mầm hoa Thiếu lân cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ không phát triển Lân có tác dụng nâng tỷ lệ đường/axit làm hương vị trái thơm ngon, vỏ trái nặng, trơn, lõi chặt, chuyển mã nhanh
Kali rất cần khi ra chồi non và thời kỳ trái phát triển mạnh Kali ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất quả Bón đủ Kali trái to, ngọt, không chín, chịu đựng cao khi cất giữ và vận chuyển
Bên cạnh những nguyên tố vi lượng Ca, Mg, Bo, Cn, Zn…cũng phải được cung cấp đầy đủ và cân đối để phát triển năng suất Bón đầy đủ phân chuồng và hữu cơ
có thể khắc phục được tình trạng thiếu vi lượng trong đất (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000)
Trang 31Bảng 1.2 Lượng phân bón cho cây có múi (Nguyễn Như Hà, 2006)
Cây kiến thiết cơ bản (gam/ cây/ năm)
Tiêu chuẩn dinh dưỡng Tuổi cây
Phân NPK thích hợp và lượng bón
1 100- 200 100- 200 75- 150 20- 20- 15 : 0,5- 1
2 100- 200 300- 400 220- 300 20- 20- 15 : 1,5- 2
3 400- 500 400- 500 300- 375 20- 20- 15 : 2- 2,5
Cây kinh doanh (gam/ cây)
Sau thu hoạch 200- 300 150- 200 75- 150
Trang 32Nguyên tắc chung trong đốn tỉa là “cắt thận trọng” khi cây còn non cắt rất ít, khi cây già cắt nhiều hơn Bao gồm cắt tỉa tạo hình khi cây nhỏ, tạo trái khi cây trưởng thành và đốn trẻ hóa cây già lão Chủ yếu cắt bỏ cành sâu bệnh, cành vượt, cành ốm yếu, tạo bộ khung cân đối thông thoáng (Phạm Văn Côn, 2003)
● Côn trùng gây hại, bệnh hại
Cam quýt bị nhiều sâu bệnh phá hại, nhiều loại rất nguy hiểm vì:
+ Cam quýt được thuần dưỡng từ rất lâu
+ Diện phân bố rất rộng (Vũ Công Hậu, 2000)
Theo Đào Duy Cầu (2004), để phòng trừ sâu bệnh triệt để và có hiệu quả cao phải phối hợp tốt các biện pháp canh tác, biện pháp cơ học, biện pháp hóa học và biện pháp sinh học Một số sâu bệnh trên cam quýt phổ biến hiện nay: sâu vẽ bùa, sâu đục thân cành, nhện trắng, nhện đỏ, sâu xanh, sâu ăn lá, rệp, bọ xít, rầy mềm, rầy chổng cánh…, bệnh chảy nhựa, bệnh loét, bệnh sẹo, vàng lá, bệnh thối trái…
● Sâu hại thường gặp nhất
+ Sâu vẽ bùa (Phyllosnistis Citrella): Sâu thường đẻ trứng trên các búp non, lá
non Sâu non ăn mô tế bào giữa hai lớp biểu bì trên lá, tạo thành những đường ngoằn ngoèo như vẽ bùa làm lá co rúm và biến dạng Để phòng trừ cắt bỏ và tiêu hủy ngay các lá bị sâu hại, phun thuốc Decis 1/1000, Nicotex 1-2/1000, 1-2 lần trong mỗi đợt cây có chồi non
+ Rầy chổng cánh (Diaphorina citri Kuwayara): chích hút nhựa cây, còn là môi
giới truyền bệnh Greening Vệ sinh vườn, diệt cỏ dại, bảo vệ thiên địch, phun thuốc trừ gầy Basa, Trebon…
+ Sâu đục vỏ trái (Prays citri Milliire): sâu tấn công làm trái bị biến dạng với
thức ăn của sâu, phun định kỳ các thuốc gốc lân hay gốc tổng hợp (Vũ Khắc Nhượng, 2005)
● Một số bệnh thường gặp nhất
+ Bệnh loét (Xanthomonas campestris pv citri): dễ thấy nhất là trên lá và trái
Đầu tiên vết sũng ướt, màu xanh đậm, sau đó biến thành nâu lợt Để phòng trị cắt bỏ cành, lá bị bệnh, phun thuốc gốc đồng: Copper Zinc, Kasuran
Trang 33+ Bệnh thối gốc, chảy mủ: do nấm Phytophthora hay Botryodiplodia gây ra
Bệnh làm thối vỏ thân cây ở gốc, chảy mủ hôi Cây bệnh cũng làm vỏ rễ, trái bị thối, trái thối phát mùi chua Để phòng trừ phải khử đất bằng vôi, chọn đất thoát nước tốt, không trồng quá dày, cạo bỏ phần vỏ bệnh bôi thuốc tím 1%, phun lá và trái bằng Rydomyl 0,2%
+ Bệnh vàng lá: do thiếu dinh dưỡng, vàng lá thối rễ nguy hiểm nhất là vàng lá Greening, lá nhỏ vàng lốm đốm giống như thiếu kẽm Không thể trị chỉ có thể phòng ngừa bằng cách dùng giống sạch bệnh, ngăn ngừa rầy chổng cánh (Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng, 1997)
+ Bệnh da lu, da cám: bệnh do nhóm nhện gây ra, làm trái bị sần sùi, đổi màu, biến dạng làm trái xấu xí, mất giá trị thương phẩm khó bán Không trồng cam quýt quá dày, kiểm tra vườn thường xuyên, dùng luân phiên các loại thuốc: Danitol 10EC, Nissorun 5EC, Kelthane 18,5 EC…(Nguyễn Danh Vàn, 2004)
Trong chiều hướng phát triển nông nghiệp bền vững và sự đòi hỏi ngày càng cao trái cây “sạch”, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường nước ngoài, tình trạng canh tác cây có múi dựa trên thuốc hóa học như hiện nay sẽ là trở ngại lớn IPM là chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp trên cây trồng nhằm hạn chế tối đa thuốc trừ sâu Trong IPM biện pháp sinh học và biện pháp canh tác được sử dụng tối đa thuốc hóa học chỉ giữ vai trò hỗ trợ chứ không phải là chính yếu, đảm bảo an toàn sinh thái và môi trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao Chủ yếu gồm các biện pháp chính như sau:
+ Cân bằng sinh thái và vấn đề bộc phát dịch hại, bảo vệ và phát huy vai trò của thiên địch ( bọ rùa, ruồi thích khách, kiến vàng, ong ký sinh,…)
+ Chọn giống sạch bệnh, thiết kế mương vườn cao ráo, thông thoáng, vệ sinh vườn, quản lý cỏ dại, bón phân cân đối…
+ Sử dụng thuốc hóa học khi thật cần thiết, đúng liều lượng, đún loại, đúng cách, tuân thủ thời gian cách ly (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)
● Quản lý cỏ dại
Cỏ dại là nơi cư trú của thiên địch, có tác dụng giữ ẩm cho đất, chóng xói mòn,
Trang 34trùng gây hại phát triển, ngoài ra chúng còn cạnh tranh dinh dưỡng với cây trồng
Do đó phải biết cách quản lý để đem lại hiệu quả tốt Khi cây đã trưởng thành không nên làm sạch cỏ trong vườn nhất là phun thuốc hóa học sẽ làm chết thiên địch, phải lựa chọn loại cỏ thích hợp để làm thảm thực vật cho vườn cây, duy trì mật độ vừa phải (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Việt Thắng, 1997)
● Xử lý ra hoa
Ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long nông dân thường sử dụng biện pháp xiết nước để kích thích cây ra hoa tập trung vào một thời điểm để thu quả vào đúng dịp Tết Trung Thu hay Tết Nguyên Đán Thời gian xiết nước là khoảng một tháng, đủ
để cây héo lá Sau đó bón phân, tưới nước thật đẫm hoặc bồi bùn,…khoảng 15-20 ngày sau khi tưới cây sẽ trổ hoa (Đường Hồng Dật, 2003)
Theo Nguyễn Danh Vàn (2008) việc xiết nước lâu sẽ giảm tuổi thọ cây, vì thế thời gian xiết nước không nên kéo dài 3 tuần lễ Đối với vùng đất thấp không chủ động được nước Sau khi thu hoạch tiến hành vệ sinh vườn sau đó bón phân Urea với liều lượng cao gấp đôi bình thường, không bón Lân và Kali Phía trên bón một lớp bùn mỏng khoảng 2-3 cm, đồng thời phun KNO3 nồng độ 1% Sau khi xử lý khoảng 20-30 ngày cây bắt đầu nảy tược và ra hoa Lưu ý bón phân xử lý vào thời gian khô ráo, gặp mưa liên tục sẽ không có hiệu quả
● Thu hoạch
Tùy theo giống, kỹ thuật canh tác, điều kiện môi trường sống của cây mà khi trồng khoảng 2-4 năm cây cam quýt có thể cho thu hoạch trái Tùy giống, tuổi cây, tình trạng sinh trưởng của cây tốt hay xấu, cách neo trái…mà từ khi ra bông đến thu hoạch khoảng 7-8 tháng
Trái được xác định chín khi có 25-50% diện tích vỏ trái chuyển màu vàng Nên thu hoạch vào khoảng 8h sáng đến 3h chiều, tránh được sự tổn thương tế bào tinh dầu làm bầm trái Tuy nhiên, không hái lúc trời nắng gắt dễ vỡ túi tinh dầu Nếu vận chuyển đi xa nên cắt bớt cuống và lá trên cuống giảm xay xát và héo trái do lá bốc hơi nước nhiều (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Một số loại cam quýt có vỏ vàng xanh có thể áp dụng một số cách để tạo màu vàng hoàn toàn ở vỏ trái Theo Nguyễn Bảo vệ và Lê Thanh Phong (2004), nhúng
Trang 35trái trong dung dịch Ethephon nồng độ 1.000 ppm trong 5 phút rồi đặt trong phòng kín 6-7 ngày, vỏ trái sẽ chuyển màu vàng Nhiệt độ thích hợp khi xử lý là 25% với
độ ẩm tương đối không khí là 85-90%
Nếu thời điểm trái chín chưa hợp lý có thể neo trái một thời gian ngắn Phun 2,4-D nồng độ khoảng 20 ppm, kết hợp Gibberellic Acid khoảng 10 ppm và KCl khoảng 0,2%, có thể neo trái 2 tháng Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, một số nông dân neo trái bằng cách bón thêm phân đạm và tưới nước thường xuyên trong giai đoạn trái chín (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Sau khi hái trái cần tỉa cành, bón phân, tưới nước đầy đủ giúp cây ra rễ mới, lá mới (Trần Thế Tục, 2000)
Trang 36CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA
2.1.1 Tổng quan về huyện Trà Ôn- tỉnh Vĩnh Long
Huyện Trà Ôn thuộc khu vực phía nam của tỉnh Vĩnh Long, được bao bọc bởi sông Hậu và sông Mang Thít, có nguồn nước ngọt dồi dào, đất phù sa màu mỡ, không bị nhiễm mặn, lại nằm ngoài vùng ngập lũ Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa (tháng 5-11), mùa khô (tháng 12- 4 năm sau), ít gặp rủ ro do thiên tai Thế mạnh của vùng vốn là cây lúa nhưng gần đây cây ăn trái đã đem lại nguồn thu nhập rất lớn cho người dân đặc biệt là cây có múi Nên họ đã mạnh dạn chuyển đổi canh tác từ cây lúa sang cây có múi, trong đó cam Sành và bưởi Năm Roi chiếm ưu thế hơn cả Gần đây cây cam soàn đã được nhiều nhà vườn biết đến vì là giống trái có phẩm chất ngon, vị ngọt đậm đà, trái sai, ít sâu bệnh và giá cả ổn định, tương đối cao nên rất được ưa chuộng và đang có xu hướng gia tăng trong tương lai (Nguyễn Duy Tân, 2003)
2.1.2 Khí hậu và thời tiết
Theo Nguyễn Duy Tân (2003), khí hậu huyện Trà Ôn mang tính nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với các đặc trưng sau:
Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, tổng lượng mưa chiếm 94-97% lượng mưa hằng năm, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa nhỏ chiếm 3-6% lượng mưa năm Thời gian bắt đầu mưa ổn định từ ngày 1-10/tháng 5, thời gian kết thúc mưa ổn định từ ngày 10-20/tháng11 Lượng mưa phân bố theo dạng 2 đỉnh, đỉnh chính xuất hiện vào tháng 10, đỉnh phụ xuất hiện vào tháng 7, chênh lệch giữa hai đỉnh khoảng 60-120 mm Trong các tháng mùa mưa đều xảy ra các đợt mưa trên 50 mm, trung bình có 2-4 ngày mưa trên 50
mm và có 0,15-0,45 ngày mưa trên 100 mm
Bức xạ mặt trời lớn và ổn định, tổng lượng bức xạ lớn nhất vào tháng 3 (515-549 Kcalo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (363-391 Kcalo/cm2/ngày) Tổng lượng bức xạ biến thiên từ 26,4-27,40C Tháng 4 nóng nhất có nhiệt độ trung bình từ 28-
Trang 37290C Tháng 1 ít nóng hơn nhiệt độ trung bình tháng từ 24,5-260C Biên độ nhiệt độ năm trên 30C Biên độ nhiệt ngày từ 7-100C Nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 31-
350C, trung bình thấp nhất từ 16-230C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 380C, thấp nhất tuyệt đối là 140C Tổng tích nhiệt hằng năm từ 9.600-9.8000C
Trung bình hằng năm có từ 2.500 đến 2.600 giờ nắng; các tháng mùa khô (tháng 12 đến tháng 4) nắng nhiều trung bình từ 8-10 giờ nắng/ngày, mùa mưa ít nắng hơn, trung bình 4,5-6,5 giờ nắng/ngày, tháng ít nắng nhất là tháng 9, 10, thời gian mùa khô thật sự của Trà Ôn kéo dài: 151-158 ngày, có nắng nhiều, nhiệt độ và bức xạ cao (Nguyễn Duy Tân, 2003)
2.1.3 Tài nguyên nước và chế độ thủy văn
Huyện Trà Ôn được bao bọc bởi sông Hậu và song Măng Thít nên có nguồn nước mặt dồi dào, chất lượng tốt, theo kết quả quan trắc tại trạm thủy văn Cần Thơ (Sông Hậu), lưu lượng nước mùa kiệt Qtb tháng 4 từ 495-1.220 m3/s, mùa lũ Qtbtháng 9 từ 12.200-17.600 m3/s, nguồn nước chất lượng tốt với pHH2O: 6,8-7,0, riêng mùa lũ có hàm lượng phù sa từ 250-450 g/m3 được lắng động tại đồng ruộng, mương vườn, bãi bồi làm đất thêm phì nhiêu
Qui luật biến động dòng chảy của các kênh, rạch ở huyện Trà Ôn có lien quan chặt chẽ với chế độ thủy văn của song Hậu, song Măng Thít và chế độ mưa nội đồng Dòng chảy trên sông Hậu phụ thuộc vào lưu lượng nước ở thượng nguồn song MêKông và chế độ thủy triều của biển Đông Hằng năm, vào mùa lũ lượng nước từ thượng nguồn đổ về rất lớn vào tháng 9 trên song Hậu tại Cần Thơ có lưu lượng 13.600 m3/s Lượng nước lũ qua sông Hậu chiếm 80-85% tổng lượng nước cả năm, mực nước trên song xuống thấp trong thời gian tháng 7 (từ tháng 12 đến tháng
6 năm sau) và đạt giá trị thấp nhất vào tháng 4
Trà Ôn không nằm trong vùng ảnh hưởng mặn 4g/l, chỉ có một phần nhỏ diện tích nhỏ bị ảnh hưởng mặn vào tháng 4 khoảng 2 g/l trong một số giờ triều cường không gây tác hại đến sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tân, 2003)
Trang 382.1.4 Tài nguyên đất
Trà Ôn là một trong các huyện của tỉnh Vĩnh Long có điều kiện tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp Vật liệu hình thành đất Trà Ôn là do phù sa mới sông MêKông (Nguyễn Duy Tân, 2003).g
2.1.5 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp
Theo phòng thống kê huyện Trà Ôn (2007) tổng diện tích tự nhiên của huyện 25.879,9 ha, diện tích đất nông nghiệp 21.275,17 ha Trong đó có 12.414,87 ha đất trồng lúa, cây ăn trái chiếm 6.789,3 ha, phần còn lại trồng rau màu, chăn nuôi Với tổng số dân 151.930 người, mật độ dân số 587 người/ km2, tổng số hộ 33.936 hộ
2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG ĐIỀU TRA
2.2.1 Địa bàn điều tra
Chọn 5 xã có diện tích trồng cam Soàn tập trung nhiều nhất của huyện Trà
Ôn, bao gồm các xã: Thiện Mỹ, Tích Thiện, Phú Thành, Thuận Thới, Lục Sĩ Thành Chọn ngẫu nhiên 45 hộ nông dân có trồng cam Soàn trong 5 xã trên để tiến hành điều tra Trong đó: xã Thiện Mỹ có 17 phiếu, xã Tích Thiện có 10 phiếu, xã Thuận Thới có 8 phiếu, xã Phú Thành có 6 phiếu, xã Lục Sĩ Thành có 4 phiếu Các xã còn lại cũng có trồng nhưng diện tích nhỏ lẻ nên việc điều tra hiện trạng canh tác cam Soàn ở huyện Trà Ôn chỉ thực hiện ở 5 xã trên
2.2.2 Thời gian điều tra
Đề tài được thực hiện từ tháng 7/2009 đến tháng 12/2009 tại 4 xã: Thiện Mỹ, Thuận Thới, Lục Sĩ Thành, Phú Thành thuộc huyện Trà Ôn - tỉnh Vĩnh Long
2.2.3 Nội dung điều tra
Điều tra các nông dân trồng cam Soàn bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo mẫu phiếu đã in sẵn (Phụ chương 1) Nội dung điều tra bao gồm các vấn đề chính sau:
- Thông tin nông hộ
- Giống: nguồn giống, cách nhân giống, chăm sóc trước khi trồng
- Kỹ thuật thiết kế vườn: hệ thống mương , líp
- Kỹ thuật trồng: cách bón lót, đắp mô, mật độ trồng, kiểu trồng, thời vụ trồng
- Kỹ thuật chăm sóc: tỉa cành, quản lý cỏ, bồi líp, tưới nước
Trang 39- Các biện pháp bảo vệ thực vật
- Kỹ thuật bón phân
- Kỹ thuật xử lý ra hoa
- Năng suất
- Thu hoạch và tiêu thụ
2.2.4 Khảo sát một số đặc tính trái cam Soàn
- Thu mẫu trái cam Soàn tại vườn 7 năm tuổi, mỗi cây 5 trái thu ở 4 vườn Mang về phòng thí nghiệm bộ môn Khoa học cây trồng, khoa nông Nghiệp Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ Để tiến hành phân tích trái, khảo sát một
số đặc tính: màu sắc vỏ trái, trọng lượng trái, đường kính, chiều cao, trọng lượng
vỏ, pH, độ Brix, số múi, số hạt, trọng lượng hạt, tỉ lệ vỏ/trái, trọng lượng thịt trái, màu dịch trái, số túi tinh dầu
- Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu:
+ Trọng lượng trái, vỏ: cân kỹ thuật OHAUS- CS5000 (5000 +- 2g)
+ Kích thước trái: thước kẹp
+ Độ brix: sử dụng khúc xạ kế ATAGO do Nhật Bản, thang đo trong khoảng 32% Được xác định bằng cách nhỏ trực tiếp lên lăng kính của khúc xạ, sau đó đọc kết quả theo phần trăm
0-+ PH dịch trái: Sử dụng ph cầm tay hiệu HANNA Lấy khoảng 20 ml dich trái cho vào beaker 50 ml, sau đó dùng máy đo trực tiếp và đọc kết quả hiện thị trên máy
+ Màu vỏ và dịch trái: được xác định bằng máy đo màu (colorimeter) hiệu Minolta CR-300, đo tại 3 vị trí khác nhau trên vỏ trái, nhỏ dung dịch trái vào … , quấn giấy trắng xung quanh, đo màu từ trên miệng ống… Giá trị màu sắc được đánh giá theo hệ thống CIE (L, a, b) như sau:
L: độ sáng tối, độ bóng; -a: xanh lá cây, a: đỏ; -b: xanh da trời, b: vàng
Màu chuẩn ban đầu: L0, a0, b0; ∆E là sự so sánh thực tế hoặc toàn sự khác nhau của màu sắc giữ vị trí đo ở các điểm và màu chuẩn còn gọi là độ khác màu + Phương pháp phân tích số liệu: phân tích số liệu bằng chương trình thống kê
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 HIỆN TRẠNG CANH TÁC
3.1.1 Thông tin về nông hộ
● Tuổi nông dân
Qua kết quả điều tra tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long người dân trồng cam soàn ở huyện Trà Ôn có độ tuổi trung bình lớn hơn 40 tuổi, nhỏ nhất 27 tuổi Trong
đó, số nông dân từ 40-60 tuổi chiếm hơn 68% số hộ điều tra, với độ tuổi này rất thích hợp cho việc làm vườn vì họ có nhiều thời gian dành cho việc quản lý vườn và
có nhiều kinh nghiệm hơn người trẻ tuổi Tuy nhiên, so với người trẻ tuổi thì họ tiếp thu khoa học kỹ thuật hạn chế hơn, kém năng động hơn Phần trăm số hộ nông dân theo các độ tuổi khác nhau ở mức ý nghĩa thống kê 5%
Bảng 3.1 Phân bố phần trăm số hộ có độ tuổi nông dân khác nhau ở huyện Trà
2
χ