KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC Tên đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC Giáo viê
Trang 1KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC
Giáo viên hướng dẫn:
PGS TS Trần Thị Ba
ThS Võ Thị Bích Thủy
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Đức Tâm MSSV: 3073196 Lớp: Nông học – K33
Cần Thơ, 2010
Trang 2Cha mẹ đã suốt đời tận tụy, lo lắng cho con ăn học nên người!
Các anh chị đã ủng hộ, động viên em trên con đường học tập!
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến!
Cô Trần Thị Ba và cô Võ Thị Bích Thủy đã tận tình chỉ dẫn, cho những lờikhuyên bổ ích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em nghiên cứu, học tập trongsuốt quá trình làm luận văn này
Thầy Bùi Văn Tùng đã giúp đỡ, hướng dẫn phân tích rất nhiều chỉ tiêu ởphòng thí nghiệm
Thầy Nguyễn Phước Đằng cố vấn học tập đã dìu dắt chúng em qua giảngđường đại học
Quí thầy cô trường Đại học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp & SHƯD đã tậntình giảng dạy, rèn luyện cho em Những lời của thầy cô là hành trang để em bướcvào đời sau này trong tương lai
Chân thành cảm ơn:
Cám ơn chị Kiều, chị Trang, chị Yến, anh Tú, anh Tươi, anh Hải… và cácbạn Nông học K33 trong nhà lưới đã giúp đỡ nhiều, để hoàn thành tốt luận văn
Huỳnh Đức Tâm
Trang 3Họ và tên: Huỳnh Đức Tâm Giới tính: Nam
Sinh ngày: 05/10/1989 Dân tộc : Kinh
Nơi sinh: Giồng Riềng, Kiên Giang
Con bà: Trang Thị Ánh Nguyệt Sinh năm: 1956
Chổ ở hiện nay: 215 Thuận Tiến, Bình Sơn, Hòn Đất, Tỉnh Kiên Giang
Điện thoại: 0972693538
Quá trình học tập
Năm 1995-2000: học cấp 1 tại trường tiểu học Bình sơn
Năm 2000-2004: học cấp 2 tại trường trung học cơ sở Bình Sơn
Năm 2004-2007: học cấp 3 tại trường trung học phổ thông Bình sơn
Năm 2007-2010: sinh viên ngành Nông học khóa 33, khoa Nông nghiệp & SHƯD,trường Đại học Cần Thơ
Trang 5ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC
Do sinh viên Huỳnh Đức Tâm thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2010
Cán bộ hướng dẫn
PGS TS Trần Thị Ba
Trang 6
-Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VÀ VÔ CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU CẦN NƯỚC Do sinh viên Huỳnh Đức Tâm thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp ………
………
………
………
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức ………
Trưởng khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 7trưởng, năng suất và chất lượng rau cần nước” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nônghọc, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ Cán bộhướng dẫn: PGS TS Trần Thị Ba và ThS Võ Thị Bích Thủy
-TÓM LƯỢC
Đề tài “Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ và hữu cơ lên sự sinh trưởng,năng suất và chất lượng rau cần nước” được thực hiện tại Trại Thực nghiệm Nôngnghiệp, Đại học Cần Thơ (tháng 7-10/2009) nhằm mục tiêu xác định loại và liềulượng phân bón thích hợp, cho sinh trưởng, năng suất và phẩm chất cao Thí nghiệmđược bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức là 4 liềulượng phân bón khác nhau: (1) phân vô cơ 120 N - 120 P2O5- 40 K2O kg/ha: sửdụng đơn thuần phân vô cơ, (2) 30 tấn phân hữu cơ: sử dụng đơn thuần phân hữu
cơ, (3) 15 tấn phân hữu cơ + 120 N - 120 P2O5- 40 K2O kg/ha, (4) 15 tấn phân hữu
cơ + 60 N - 60 P2O5- 20 K2O kg/ha, với 4 lần lặp lại, diện tích mỗi lô là 2 m2, vàmật độ cây 8x8 cm
Kết quả thí nghiệm trên rau cần nước cho thấy nghiệm thức sử dụng 15 tấnphân hữu cơ hoai mục kết hợp với 60 N + 60 P2O5+ 40 K2O cho tăng trưởng, năngsuất (24,98 tấn/ha) và chất lượng cao, thấp nhất là nghiệm thức sử dụng đơn thuầnphân vô cơ (10,43 tấn/ha) Về chất lượng, thì hàm lượng nitrate trong thân và lá củarau cần nước ở nghiệm thức sử dụng 30 tấn phân hữu cơ hoai mục thấp nhất (35mg/kg), cao nhất là nghiệm thức sử dụng 120 N - 120 P2O5- 40 K2O (224 mg/kg)nhưng vẫn ở ngưỡng cho phép của tổ chức Y tế thế giới, hàm lượng nitrate trongrau không vượt quá 500 mg/kg
Trang 8Chương Nội dung Trang
Trang 101.1 Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng (Cục Khuyến nông
1.2 Hàm lượng đạm và lân trong một số cây phân xanh (Cục
2.1 Nhiệt độ và cường độ ánh sáng đo được trong ngày tại Trại
2.2 Liều lượng, liều lượng (kg/ha) và thời kỳ bón cho rau cần nước
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp trong vụ 1 và vụ 2, ĐHCT
(tháng 7-10/2009)
13
3.1 Chiều cao cây (cm) qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1 tại Trại
3.2 Sự gia tăng số chồi trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009) 233.3 Sự gia tăng số chồi trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009) 233.4 Sự gia tăng số lá trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009) 243.5 Sự gia tăng số lá trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009) 243.6 Đường kính thân và diện tích lá cây rau cần nước lúc thu hoạch
trong vụ 1 và vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT
(tháng 7-10/2009)
25
3.7 Độ Brix và độ lưu tồn nitrate của cây rau cần nước lúc thu
hoạch trong vụ 1 và vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp,
ĐHCT (tháng 7-10/2009)
30
3.8 Đánh giá cảm quan về độ ngon của 4 nghiệm thức trong vụ 1
và vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
7-10/2009)
31
Trang 112.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của liều lượng phân vô cơ
và hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau cần
nước” tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
7-10/2009)
12
3.1 Tỉ lệ lá bệnh trên cây rau cần nước qua các ngày sau khi cắt
trong vụ 1 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
7-8/2009)
17
3.2 Tỉ lệ lá bệnh trên cây qua các ngày sau khi cắt tại trong vụ 2 tại
3.3 Sự gia tăng chiều cao (cm) qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009) 193.4 Chiều dài lá, dài phiến và rộng phiến qua các ngày sau khi cắt
trong vụ 1 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
7-8/2009)
21
3.5 Chiều dài lá, dài phiến và rộng phiến qua các ngày sau khi cắt
trong vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
9-10/2009)
22
3.6 Mật độ cây rau cần nước (cây/m2) lúc thu hoạch trong vụ 1 và
vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
7-10/2009)
26
3.7 Tỉ lệ vật chất khô của cây rau cần nước lúc thu hoạch trong vụ
1 và vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng
7-10/2009)
27
3.8 Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỉ lệ thương phẩm
của cây rau cần nước lúc thu hoạch trong vụ 1 và vụ 2 tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
28
Trang 12rau trồng phổ biến ở Việt Nam, ăn ngon, bổ dưỡng cung cấp chủ yếu khoáng chất,vitamin cho cơ thể con người, còn có khả năng chữa được nhiều bệnh nên rất được
ưa chuộng và mang lại hiệu quả kinh tế cao do kỹ thuật trồng đơn giản, ít sâu bệnh,đầu ra tương đối dễ dàng Hiện nay do việc sử dụng phân hữu cơ và vô cơ khôngcân đối, người sản suất rau chạy theo năng suất nên đã sử dụng phân phân hoá học,thuốc bảo vệ thực vật… đặc biệt là phân đạm với liều lượng rất cao đã làm tănghàm lượng độc chất hóa học cũng như hàm lượng nitrate tích lũy trong các loại thựcphẩm và rau quả Vì vậy đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vô cơ lên sự sinhtrưởng, năng suất và chất lượng rau cần nước” được thực hiện nhằm mục tiêu xácđịnh loại và liều lượng phân bón thích hợp, cho sinh trưởng, năng suất và phẩm chấtcao
Trang 13CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA RAU CẦN NƯỚC 1.1.1 Nguồn gốc
Rau cần có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Á, đã được trồng từ lâu ở cácnước Pakistan, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan,Malaysia, Philippin, Indonesia (Java, Sumatra), Autralia Ở Việt Nam, rau cần tacũng được trồng từ lâu ở các tỉnh phía bắc, từ Nghệ An trở ra; đặc biệt là các tỉnhđồng bằng trung du Bắc Bộ như Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, HưngYên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ Các tỉnh miền Nam nhưĐồng Nai, Bạc Liêu, Kiên Giang… (Phạm Hoàng Hộ, 2003)
1.1.2 Đặc điểm thực vật
* Thân: là cây thân thảo, nhẵn, mọng nhớt, phân nhánh, cao từ 0,3-1 m,
sống dai Thân mọc bò dài ngập trong bùn, sau đó đứng thẳng, thân rỗng, có nhiềuđốt và khía dọc, mỗi đốt có một lá (Nguyễn Văn Luật và Trần Minh Thu, 2004)
* Lá: lá có hình dạng rất thay đổi, có cuống, nhưng các lá gốc và lá ngọn
giống nhau, mọc so le, chia thùy hình lông chim, 1-2 lần, thùy hình trái xoan, hìnhthoi hoặc hình mác, gốc tròn, mép khía răng không đều; bẹ lá to, rộng, ôm sát vàothân, cuống lá dài 3-8 cm; những lá gần ngọn không cuống (Lê Trần Đức, 1997)
* Hoa: rau cần có cụm hoa gồm những tán kép mọc đối diện với lá, có 5-15
tán đơn, mỗi tán đơn mang 10 đến 20 hoa màu trắng Thường ra hoa vào cuối mùa
hè hoặc đầu thu (Võ Văn Chi, 2005)
* Giống: người ta thường nhân giống bằng phương pháp vô tính Đầu tháng
2 hằng năm, cần trồng lại một khoảnh, chăm sóc cho cây lên tốt, đến đầu tháng 10nhổ cả thân rễ đem giâm để nhân giống hoặc dùng chồi để nhân giống, vì rau cần cókhả năng đẻ nhánh khỏe từ chồi gốc (Võ Văn Chi, 2005)
Trang 141.2 YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY RAU CẦN NƯỚC 1.2.1 Nước và ánh sáng
Rau cần ta ưa nước, ưa bóng râm, thường được trồng ở rừng ngập nước cónhiều bùn như ruộng nước, ao… có lớp bùn càng sâu, càng màu mở cây càng sinhtrưởng mạnh (Mai Thị Phương Anh, 1996) Ánh sáng giữ vai trò rất quan trọng, nógiúp cho cây quang hợp tốt Nếu thiếu ánh sáng sẽ làm giảm năng suất và chấtlượng sản phẩm cây trồng (Trung tâm UNESCO, 2005)
1.2.2 Nhiệt độ và ẩm độ
Rau cần ta ưa nhiệt độ và khí ẩm mát, thời vụ trồng bắt đầu khi trời se lạnh,khoảng cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 Nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển là15-200C, ở nhiệt độ trên 250C và dưới 50C cây sinh trưởng chậm và lá có màu huyết
dụ (Đường Hồng Dật, 2003)
1.2.3 Đất trồng
Đất thích hợp cho sản xuất rau cần là đất thịt pha cát, đất thịt nhẹ, đất thịttrung bình, đất phù sa ven sông, phải có tầng canh tác dầy 20-40 cm Đất có tínhchất vật lí và hóa học tốt: tơi xốp, giàu mùn, có khả năng giữ và thoát nước khi cầnthiết, giữ phân tốt, có pH từ ít chua đến trung tính 6,0-6,8 (Nguyễn Như Hà, 2006)
1.3 TÌNH HÌNH SÂU BỆNH
Rau so với các loại cây trồng ngắn ngày khác thì có tỷ lệ sâu bệnh gây hạinhiều hơn, bởi rau có chứa nhiều chất dinh dưỡng, thân lá non mềm và nhiều nước,
đó là nguồn thức ăn ưa thích của nhiều loại sâu bệnh (Trung tâm UNESCO, 2005)
Sâu thường gây hại trên rau cần là sâu ăn tạp (Spodoptera litura) và sâu xanh
da láng (Spodoptera exigua) Hai loại sâu này thường xuất hiện chủ yếu vào giai
đoạn 20 ngày sau khi cấy do lúc này ruộng rau bắt đầu rậm rạp và thời điểm nàycũng là lúc rau rất ngon và có thể dùng Decis 2.5EC để trị (Trần Thanh Tùng,2009)
Trang 15Bệnh hại chủ yếu là bệnh đốm lá do nấm Cercospora sp., bệnh hại nặng khi
có mưa dầm Phòng và trị bệnh bằng thuốc Antracol 70WP, Ridomil 68WP(Nguyễn Văn Tươi, 2010)
1.4 PHÂN HỮU CƠ 1.4.1 Các loại phân hữu cơ
* Phân chuồng: là hỗn hợp phân gia súc, gia cầm với xác bã thực vật Phân
chuồng chứa đủ ba chất dinh dưỡng cần thiết cho tất cả các loại cây trồng là đạm,lân và kali Ngoài ra phân chuồng còn chứa nhiều nguyên tố vi lượng như B, Cu,Mn… và những chất kích thích sinh trưởng như Auxin, heteroauxin, các loạivitamin như vitamin B, vitamin C… Phân chuồng có thành phần không ổn định,phẩm chất phân chuồng phụ thuộc nhiều vào loại, sức khỏe và tuổi của gia súc,cùng với khẩu phần ăn và phương pháp chăn nuôi…
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng (%) của phân chuồng (Cục Khuyến nông Khuyến
* Phân rác: theo Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng (2004) thì phân rác
còn được gọi là phân compost Đó là phân hữu cơ chế biến từ rác, cỏ dại, thân câyxanh,… được ủ với số phân men như phân chuồng, lân, vôi,… cho đến khi hoaimục Phân rác có thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổi trongnhững giới hạn rất lớn tùy thuộc vào bản chất và thành phần của rác Nguyên liệu
Trang 16để làm rác có các loại sau đây: rác các loại, tàn dư thực vật sau khi thu hoạch nhưrơm rạ, thân lá cây.
* Phân xanh: phân xanh là biện pháp trồng các cây có khả năng cố định
đạm (chủ yếu là cây họ đậu) rồi vùi chất xanh vào đất nhằm cung cấp dinh dưỡngcho cây trồng, đồng thời làm giàu các chất dinh dưỡng, chủ yếu là đạm và chất hữu
cơ cho đất canh tác Phân xanh là loại phân hữu cơ có thành phần gồm các bộ phậntrên mặt đất của cây, thường được sử dụng tươi không qua quá trình ủ, nên phânxanh chỉ phát huy hiệu quả sau khi được phân hủy Cây phân xanh thường là cây họđậu như: keo đậu, muồng,… vì cây họ đậu thường có các vi sinh vật cộng sinh trên
rễ và giúp cây tổng hợp đạm từ khí trời, lượng đạm về sau có thể cung cấp một phầncho đất trồng (Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004)
Bảng 1.2 Hàm lượng đạm và lân trong một số cây phân xanh (Cục Khuyến nông
Phân hữu cơ giúp giữ phân cho đất, tăng chất mùn cho đất, giúp đất tơi xốp,giữ nước cho đất tốt hơn, giảm rửa trôi phân bón trên đất cát và tăng khả năng thoátnước trên đất sét, tăng cường hoạt động của các vi sinh vật đất làm gia tăng độ hữu
Trang 17dụng của chất dinh dưỡng trong đất Ngoài ra, phân hữu cơ còn là nguồn cung cấpchất dinh dưỡng quan trọng cho cây (Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004).
* Tác động đến vi sinh vật của đất
Chất hữu cơ là môi trường sống tốt cho vi sinh vật sinh sống và phát triểnnhanh chóng, ảnh hưởng tốt đến đời sống của vi sinh vật cố định đạm như:
Rhizobium và Azotobacter Đất được bón nhiều phân chuồng, số lượng vi sinh vật
này tăng rỏ rệt, khả năng nitrate hóa của đất cũng tăng hơn (Đỗ Thị Thanh Ren,1999)
* Cung cấp dinh cho cây trồng
Phân hữu cơ làm giảm được lượng phân bón hóa học sử dụng để bón chocây, nên giúp giảm thiểu được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và nitrate trong rau
Theo Trần Thị Ba và ctv (2008) thì phân hữu cơ làm giảm lượng nước trong trái và
có chiều hướng tích lũy chất khô, còn trên rau ăn lá sẽ có màu xanh sáng bóng, tăng
độ dày của lá, lượng glucid trong rau tăng lên
Giảm hàm lượng kim loại nặng: phức hợp hữu cơ – vô cơ trong đất giúpngăn cản khả năng đồng hóa kim loại của cây trồng, giúp cho sản phẩm của nôngnghiệp trở nên sạch hơn (Vũ Tiến Khang và Lưu Hồng Mẫn, 2000)
1.4.3 Một số vấn đề gặp phải khi sử dụng phân hữu cơ
* Khó khăn trong việc chuyên trở do khối lượng lớn dẫn đến giá thành cao
Theo Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng (2004) thì hàm lượng dưỡngchất trong phân hữu cơ tương đối thấp Muốn bón 100kg N/ha chỉ cần chuyên chở
217 kg urea, trong khi đó phải chở từ 20-30 tấn phân hữu cơ
*Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây chậm
Dinh dưỡng trong phân hữu cơ chủ yếu là ở dạng hữu cơ, vì vậy để cung cấpdinh dưỡng cho cây trồng cần thiết phải thông qua hoạt động của vi sinh vật để tạothành những hợp chất hữu cơ, vô cơ đơn giản hữu hiệu cho cây trồng (Nguyễn Bảo
Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004) Vì vậy trong nhiều trường hợp, phải bón trên 10
Trang 18tấn/ha phân hữu cơ ở đầu vụ mới thấy có hiệu quả rõ rệt (Đỗ Thị Thanh Ren và NgôNgọc Hưng, 2004).
1.4.4 Sự phân hủy chất hữu cơ yếm khí
Trong đất giàu chất hữu cơ (CHC) ngập nước, dưới điều kiện đất khử cao bộ
rễ có triệu chứng kém phát triển liên quan đến các hợp chất giảm sự tăng trưởng,được sinh ra trong tiến trình khử Các chất gây độc trong điều kiện khử hình thành
từ sự phân huỷ các chất hữu cơ là các acid hữu cơ, sulfide, CO2 Acid hữu cơ có thểlàm chậm sự vươn dài của rễ, hạn chế sự hấp thu dưỡng chất và làm giảm sự pháttriển của thân lá Cung cấp chất hữu cơ lượng lớn có hiệu quả làm giảm độc chất Al
Cơ chế chủ yếu là giảm hoạt động của Al3+trong dung dịch đất qua việc kết tủa Alhoà tan tiếp sau sự gia tăng pH dung dịch đất và tạo phức Al-CHC Ngoài ra, sựhiện diện của chất hữu cơ trong đất giúp giảm một cách hữu hiệu sự cố định P do cơchế acid hóa và chelate hóa (Võ Thị Gương, 2006)
1.5 VAI TRÒ CỦA CÁC CHẤT ĐA LƯỢNG ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG 1.5.1 Vai trò của phân đạm
Đạm làm cho cây nhanh chóng xanh, thúc đẩy quá trình quang hợp của cây,kích thích thân lá phát triển Đạm giữ vai trò quan trọng trong các chất hữu cơ rất cơbản và cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây như diệp lục, axit nucleic, cácloại men và các chất điều hòa sinh trưởng (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài,2004) Tuy nhiên, hàm lượng nitrate tích lũy trong thực phẩm cao có thể gây ra cácbệnh về hồng cầu, dễ thấy nhất là bệnh xanh da ở trẻ nhỏ Dịch axit trong dạ dày trẻnhỏ không đủ mạnh như người trưởng thành Do đó, các loại khuẩn đường ruột dễdàng chuyển hóa nitrate thành nitrite (NO2-) Khi Nitrite hấp thụ vào máu, cáchemoglobin (phương tiện chuyên chở ôxy trong máu) sẽ bị biến thànhmethemoglobin Methemoglobin sẽ mất hoặc suy giảm chức năng vận chuyển oxy,gây ra hiện tượng các tế bào (nhất là ở não) không đủ ôxy để hoạt động Ngoài racòn ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển khối u(Nguyễn Văn Tới và Lê Cao Ân, 1995)
Trang 191.5.2 Vai trò của lân
Lân có vai trò trung tâm quá trình trao đổi năng lượng và tổng hợp chấtprotein Lân là thành phần chủ yếu của các chất ADP và ATP là những chất dự trữ
năng lượng trong quá trình sinh hóa trong cây, đặc biệt là quá trình quang hợp.
Lân thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ cây, giúp cây tăng khả năng chống chịuvới điều kiện bất lợi của môi trường như rét, hạn, sâu bệnh Lân còn có tác dụnghạn chế tác hại của việc bón thừa đạm Tác dụng của lân đối với cây trồng chậmchứ không nhanh như đạm, chủ yếu là giúp cho bộ rể phát triển nhanh, nhiều và nhờ
đó hút được nhiều nước và dinh dưỡng để nuôi cây nên cây cứng cáp, ít sâu bệnh(Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)
1.5.3 Vai trò của kali
Kali tham gia tích cực vào quá trình quang hợp, tổng hợp nên các chất gluxitcủa cây Kali làm tăng khả năng thẩm thấu nước ở tế bào khí khổng, giúp khí khổngđóng mở thuận lợi nên điều khiển sự khuyếch tán CO2 của quá trình quang hợp,đồng thời tăng khả năng sử dụng ánh sáng trong điều kiện thời tiết ít nắng (Nguyễn
Mỹ Hoa và Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)
Kali còn làm giảm tác hại của việc bón thừa đạm, chống chịu các điều kiệnbất lợi của cây như rét, hạn, úng, sâu bệnh (Trần Thị Ba, 2008)
1.7 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN HỮU CƠ
1.7.1 Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Schulz (1997) về việc bón phân hữu cơ cho bắp, lúa mì ởLuvisol (Đức) đã cho thấy năng suất bắp, lúa mạch tăng hơn so với đối chứng khibón kết hợp phân bón hữu cơ với phân khoáng, đặc biệt là năng suất tăng 57% khikết hợp phân hữu cơ với một lượng phân khoáng tối thiểu, khi so sánh với việc bónphân khoáng thông thường Ngoài ra, nồng độ nitrate cao trong lá được nhìn nhậnkhi ánh sáng yếu và hiệu quả quang hợp đạt thấp, việc cung cấp đạm dưới dạng hữu
cơ sẽ làm giảm lượng đạm NO3-trong đất và giảm sự tích lũy NO3-trong lá (Reinik,2005)
Trang 20Nghiên cứu của Premuzic (2004) về phân bón hữu cơ cho cây xà lách tạiAchentina đã cho thấy hàm lượng nitrate trong xà lách bị ảnh hưởng bởi ánh sáng.Cùng một loại phân như nhau, ánh sáng tự nhiên làm tích lũy nitrate cao hơn khichiếu ánh sáng nhân tạo trong 24 giờ Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt có
ý nghĩa về sự tồn dư nitrate trên lá giữa hai loại phân bón: bón phân hóa học có hàmlượng nitrate trong lá cao hơn 40–50% so với bón phân hữu cơ
1.7.2 Một số nghiên cứu trong nước
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiền và ctv (1995) lượng phân
bón thích hợp cho bắp cải không quá 450 kg Urê, 300 kg Super Lân, 200 kg kalisunfat và 20 tấn phân chuồng Ở mức phân bón này đạt hiệu quả kinh tế cao nhất,hàm lượng NO3- trong bắp cải (190 mg/kg) thấp dưới cho phép (500 mg/kg) Kếtthúc bón phân trước khi thu hoạch 14 ngày là an toàn, trên bắp cải năng suất đạtđược 40 tấn/ha thì cần lượng phân là 140 N, 52 P2O5và 72 K2O kg/ha
Theo Tô Như Ái và Lê Phú Duy (2006) cho thấy năng suất rau muống đạt11,63 tấn/ha khi bón kết hợp 30 tấn phân hữu cơ với 50 N - 40 P2O5- 20 K2O, trongkhi năng suất chỉ đạt 7,83 tấn khi sử dụng 100 N – 80 P2O5- 40 K2O Kết quả củaMai Thị Phương Anh (1996) thì năng suất rau muống đạt 20-30 tấn/ha khi bón kếthợp 15-20 tấn phân hữu cơ với 150 N - 165 P2O5- 60 K2O
Trang 21CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN 2.1.1 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, Khoa Nông nghiệp & SHƯD,
trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT)
- Thời gian từ 07/2009 – 10/2009
2.1.2 Tình hình khí tượng thủy văn
Nhiệt độ trung bình và cường độ ánh sáng trung bình đo được ở dưới lưới vàngoài trời (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Nhiệt độ và cường độ ánh sáng đo được trong ngày tại Trại Thực nghiệm
Nông nghiệp, ĐHCT (ngày 18/09/2009)
- Giống rau cần nước địa phương của huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Phân bón: phân hữu cơ tự ủ, NPK 16-16-8, Urê, DAP.
- Thuốc dưỡng: Decamon.
- Thuốc trừ sâu bệnh: Abatin 1.8 EC, Ridomil 68WP, Physan 20L.
Trang 22- Vật liệu khác: lưới che, bình phun thuốc, nhiệt kế, máy đo ánh sáng, thước
cây, máy đo màu sắc, máy đo độ Brix
2.2 PHƯƠNG PHÁP 2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4nghiệm thức (4 mức phân bón) với 4 lần lặp lại
1 120+120+40 (kg N- P2O5- K2O/ha) Chỉ sử dụng phân vô cơ trong suốt quátrình canh tác
2 30 tấn phân hữu cơ: chỉ sử dụng phân hữu cơ (phân bò, xác bả rau cần nước
đã ủ hoai mục ) trong suốt quá trình canh tác
3 15 tấn phân hữu cơ+120+120+40 (kg N- P2O5- K2O/ha)
4 15 tấn phân hữu cơ+60+60+20 (kg N- P2O5- K2O/ha)
Trang 23VC: 120+120+40 (kg N- P 2 O 5 - K 2 O/ha)
HC: 30 tấn phân hữu cơ
½HC + VC: 15 tấn phân hữu cơ+120+120+40 (kg N- P 2 O 5 - K 2 O/ha)
½HC + ½VC: 15 tấn phân hữu cơ+60+60+20 (kg N- P 2 O 5 - K 2 O/ha)
- Diện tích mỗi ô: 2 m2
- Diện tích thí nghiệm: 52,64 m2
- Lượng giống trồng: 1,3 kg/m2
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và vô cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng rau cần nước” tại Trại
Thực nghiêm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
Trang 242.2.2 Kỹ thuật canh tác
* Chuẩn bị đất: mỗi lô thí nghiệm dài 2 m, rộng 1 m, lối đi giữa các lô rộng 0,4 m,
lót ni lông để ngăn cách giữa đất nền và đất làn thí nghiệm
* Chuẩn bị giống: giống được sử dụng là gốc rau cần được kế thừa từ vụ trước với
lượng giống sử dụng là 13 tấn/ha, khoảng cách 8x8 cm Thí nghiệm được thực hiệntrong 2 vụ liên tiếp (vụ 1 và vụ 2)
* Chăm sóc:
- Bón phân: vôi được bón đồng thời với quá trình chuẩn bị đất trước khi cấy,
lượng bón 500 kg/ha
Bảng 2.2 Loại phân, lượng phân (kg/ha) và thời gian bón cho rau cần nước tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp trong vụ 1 và vụ 2, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
Quản lí nước: bơm nước chảy đều ruộng, luôn giữ mực nước trong ruộng từ
1–2 cm khi chồi dưới 15 ngày tuổi, lúc chồi lớn tăng mực nước lên 3–5 cm
- Phòng trừ sâu bệnh: theo dõi thường xuyên, phát hiện kịp thời để sử dụng
thuốc hợp lí
- Che mát: dùng lưới che mát cách mặt đất 3 m.
Trang 25- Thu hoạch: dùng dao bén cắt rau, cách mặt đất 4 cm, tiếp tục chăm sóc và
thu hoạch ở vụ tiếp theo
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi
* Ghi nhận tổng quan
- Ngày cắt và ngày thu hoạch.
- Ánh sáng: khảo sát sự biến động của áng sáng trong ngày, sử dụng máy đo
ánh sáng Lux meter DM-28 để đo ánh sáng bên trong và bên ngoài nhà lướivào ngày nắng tốt
- Nhiệt độ: khảo sát sự biến động nhiệt độ không khí bên trong và bên ngoài
nhà lưới vào ngày nắng tốt, treo nhiệt kế cách mặt đất 1m ở 2 vị trí bên trongnhà lưới và 2 vị trí bên ngoài nhà lưới
* Chỉ tiêu sâu bệnh
- Ghi nhận sự suất hiện của sâu hại trên rau cần.
- Tỉ lệ lá bệnh (%): trên mỗi lô, cố định 2 khung (20 cm x 50 cm) để lấy chỉ
tiêu, chọn ngẫu nhiên 10 cây trong mỗi khung, đếm tổng số lá và số lá bệnhtrên 10 cây Sau đó lấy trung bình, định kỳ 7 ngày/lần
Tỉ lệ lá bệnh = -x 100
* Chỉ tiêu về sinh trưởng
- Chiều cao (cm) của cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao: Chọn ngẫu nhiên 5cây trong mỗi khung, vuốt chồi thẳng đứng lên rồi dùng thước cây đo từ mặt đấtđến chót lá cao nhất của cây, định kỳ 7 ngày/lần
- Kích thước lá: lấy lá lớn nhất của 5 chồi được chọn ngẫu nhiên từ khung lấy
chỉ tiêu, rồi lấy trung bình, định kỳ 7 ngày/lần
Chiều dài lá: dùng thước đo từ đầu cuốn lá đến chót lá
Chiều dài phiến lá: dùng thước đo từ đầu phiến lá đến chót lá
Chiều rộng phiến lá: dùng thước đo ngang phiến lá nơi rộng nhất
số lá bệnhtổng số lá
Trang 26- Số chồi trên cây: khi cây lớn chọn ngẫu nhiên 5 cây trong mỗi khung, đếm
số chồi trên mỗi khung, định kỳ 7 ngày/lần
- Số lá trên cây: chọn ngẫu nhiên 5 chồi trong mỗi khung, đếm tất cả các látrên chồi (lá có chiều dài lớn hơn 2 cm), rồi lấy trung bình, định kỳ 7 ngày/lần
- Đường kính gốc thân (mm): chọn ngẫu nhiên 5 cây trong mỗi lô lúc thuhoạch, dùng thước kẹp đo đường kính cách mặt đất 4 cm
- Đo diện tích lá: chọn 3 cây ngẫu nhiên trong mỗi lô, dùng máy Green leafarea meter Model GA-5 (Japan) đo diện tích lá của từng cây sau đó lấy trung bình
* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất
- Mật độ cây (cây/m2): đếm số cây trong 2 khung (2 x 0,1 m2), sau đó quy đổi
ra 1 m2
- Tỉ lệ thương phẩm (%Ptp): từng ô, sau khi thu hoạch rau, lấy rau trong 2khung, cân tổng trọng lượng Sau đó loại bỏ những lá bị hư và những chồi không ănđược, dùng cân cân lại trọng lượng thương phẩm (Ptp)
%Ptp= - x 100
- Năng suất tổng: từng ô, thu hoạch rồi cân trọng lượng
- Cân trọng lượng vật chất khô (%) = - x 100
* Chỉ tiêu chất lượng sau thu hoạch
- Đo độ Brix của lá và thân (%): chọn 3 cây ngẫu nhiên trong mỗi lô sau đó cắtnhỏ rồi nghiền lấy nước cho vào vào Brix kế
- Đo độ lưu tồn Nitrate: dùng máy Quantitative test strip analyser (MerckRQflex 2), chọn 3 cây ngẫu nhiên trong mỗi lô sau đó cắt nhỏ rồi nghiền lấy nước,dùng giấy test thấm dung dịch thu được, đặt giấy test vào máy và ghi nhận số liệu
- Ghi nhận độ ngon của rau: đưa mẫu giấy có thang điểm 3 rồi cho 10 ngườidùng thử rau để lấy kết quả
trọng lượng sau khi sấytrọng lượng tươitrọng lượng thương phẩm (Ptp)
tổng trọng lượng trong khung
Trang 27Bảng 2.3 Thang điểm đánh giá cảm quan về độ ngon rau cần nước
2.2.4 Phân tích số liệu
- Nhập số liệu vẽ hình bằng chương trình Microsoft Excel.
- Phân tích số liệu thống kê bằng chương trình MSTATC.
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 GHI NHẬN TỔNG QUAN
Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới, nhiệt độ trung bình trong nhà lướitháng 7-10/2009 tương đối cao khoảng 31,5oC cao hơn nhiệt độ bên ngoài 2oC, ẩm
độ trung bình cao nên không thuận lợi cho việc trồng rau lắm Trên rau xuất hiện
bệnh đốm lá (Cercospora sp.) ở giai đoạn 14 ngày sau khi cắt, nguồn bệnh có thể là
do các bào tử nấm của vụ trước còn sót lại Các nghiệm thức sử dụng công thức 30tấn phân hữu cơ hoai mục có hiện tượng lá hơi vàng và kích thước lá nhỏ
3.2 TÌNH HÌNH BỆNH HẠI
Trong vụ 1, tỉ lệ lá bệnh trên cây rau cần nước có sự khác biệt thống kê qua cácgiai đoạn khảo sát (Hình 3.1), giai đoạn 14 NSKC, tỉ lệ lá bệnh ở nghiệm thức 15tấn hữu cơ+120-120-40 và 15 tấn hữu cơ+60-60-20 (dao động 15,1-15,6%) ít hơnnghiệm thức 120-120-40 và 30 tấn hữu cơ (dao động 26,1-23,9%) Giai đoạn 21-28NSKC, bón 120-120-40 (33,9-37,6%) bị nhiễm bệnh cao hơn các nghiệm thức cònlại, thấp hơn là 2 nghiệm thức 15 tấn hữu cơ+120-120-40 (15,8-24,3%) và 15 tấnhữu cơ+60-60-20 (16,6-26,2%)
Hình 3.1 Tỉ lệ lá bệnh trên cây rau cần nước qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1 tại
Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009)
Trang 29Trong vụ 2, tỉ lệ lá bệnh của rau cần nước có sự khác biệt thống kê qua cáclần khảo sát (Hình 3.2), giai đoạn 14-21 NSKC, tỉ lệ lá bệnh ít nhất ở nghiệm thức
30 tấn hữu cơ (2,9-14,2%) và 15 tấn hữu cơ+60-60-20 (6,3-13,3%), nhiều nhất ởnghiệm thức 120-120-40 (26,3-16,9%) Giai đoạn 28-35 NSKC, tỉ lệ lá bệnh ởnghiệm thức 120-120-40 (30,8-37,0%) cao hơn các nghiệm thức còn lại
Hình 3.2 Tỉ lệ lá bệnh trên cây qua các ngày sau khi cắt tại trong vụ 2 tại Trại Thực
nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009)
Thí nghiệm thực hiện vào thời điểm mưa nhiều, ẩm độ cao Đây là điều kiện
thuận lợi cho nấm Cercospora sp phát triển và gây hại, các nghiệm thức có sử dụng phân hữu cơ có tỉ lệ lá bệnh thấp có thể do sự đối kháng giữa nấm Trichoderma spp trong phân hữu cơ và nấm Cercospora sp
3.3 TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG 3.3.1 Chiều cao cây
Trong vụ 1, chiều cao rau cần nước có không có sự khác biệt thống kê ở giaiđoạn 14 NSKC (dao động 16,1-18,8 cm) và 21 NSKC (dao động 28,6-30,6 cm)nhưng đến giai đoạn 28 NSKC thì có sự khác biệt qua phân tích thống kê, cao nhấtbón 15 tấn hữu cơ kết hợp với 120-120-40 và 60-60-20 (dao động 37,8-39,1 cm),thấp nhất là 2 nghiệm thức bón đơn thuần phân hữu cơ hoặc vô cơ (dao động 32,6-34,4cm) (Bảng 3.1)
Trang 30Bảng 3.1 Chiều cao cây (cm) qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1 tại Trại Thực
nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009)
Các số trong cùng một cột có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt ý nghĩa thống kê,
**: khác biệt ý nghĩa 1%, ns: không khác biệt
Chiều cao cây rau cần nước vụ 2 không có khác biệt thống kê ở giai đoạn 14NSKC (dao động 16,7-19,4 cm) nhưng có sự khác biệt thống kê ở 21, 28, 35NSKC (Hình 3.3), giai đoạn 21 NSKC, bón 15 tấn hữu cơ kết hợp với 120-120-40
và 60-60-20 (dao động 23,8-24,9 cm) cao hơn khi bón 30 tấn hữu cơ và 120-120-40(dao động 20,4-21,4 cm) Giai đoạn 28 NSKC, cao nhất là 15 tấn hữu cơ+60-60-20(35,7 cm), thấp nhất là 120-120-40 và 30 tấn hữu cơ (dao động 26,5-26,8 cm) Giaiđoạn 35 NSKC (thu hoạch), sử dụng 15 tấn hữu cơ kết hợp 120-120-40 và 60-60-20(dao động 38,4-42,2 cm) cao hơn 120-120-40 và 30 tấn hữu cơ (dao động 29,4-31,7cm)
Hình 3.3 Sự gia tăng chiều cao (cm) qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2 tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009)
Trang 31Việc bón phân hữu cơ làm tăng hiệu quả của phân phân hóa học nên hainghiệm thức sử dụng phối hợp giữa phân hữu cơ và vô cơ có chiều cao cao hơn cácnghiệm thức còn lại Nghiệm thức sử dụng đơn thuần phân hữu cơ có chiều caothấp do trong trong thời gian ngắn kết hợp với điều kiện yếm khí làm cho quá trìnhkhoáng hóa diễn ra trong đất chậm, do vậy không cung cấp đủ dinh dưỡng cho câytrong các vụ đầu (Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004).
3.2.2 Kích thước lá
Trong vụ 1, kích thước lá rau cần nước không có sự khác biệt thống kê ở 14NSKC (dài lá dao động từ 11,1-12,1 cm, dài phiến lá dao động từ 5,13-5,38 cm,rộng phiến lá dao động từ 6,17-6,82cm), do mới cắt nên cây chưa kịp hồi phục Giaiđoạn 21 NSKC và 28 NSKC có sự khác biệt thống kê, bón 15 tấn hữu cơ+120-120-
40 (dài lá 22,3 cm, dài phiến 10,90 cm, rộng phiến 12,99 cm) lớn hơn các nghiệmthức còn lại, thấp nhất khi bón 30 tấn hữu cơ (dài lá 17,7 cm, dài phiến 8,08 cm,rộng phiến 9,33 cm) (Hình 3.4, Phụ chương 2.2, Phụ chương 2.3 và Phụ chương2.4)
Kích thước lá rau cần nước trong vụ 2 có sự khác biệt thống kê qua các lầnkhảo sát, ngoại trừ chiều dài lá ở 14 NSKC dao động 12,7-14,0 cm Giai đoạn 35NSKC bón 15 tấn hữu cơ kết hợp với 120-120-40 và 60-60-20 (dài lá dao động23,7-25,0 cm, dài phiến dao động 11,10-11,70 cm, rộng phiến dao động 12,98-13,57 cm) lớn hơn khi bón đơn thuần phân hữu cơ hoặc vô cơ [dài lá dao động 19,4-19,8 cm, dài phiến dao động 8,33-9,30 cm, rộng phiến 120-120-40 (10,98 cm) lớnhơn 30 tấn hữu cơ (9,33 cm)] (Hình 3.5, Phụ chương 2.13, Phụ chương 2.14 và Phụchương 2.15)
Hai nghiệm thức sử dụng phối hợp phân hữu cơ và vô cơ luôn cho kết quảcao hơn các nghiệm thức còn lại do lượng đạm và lân cung cấp cho cây ở 2 dạnghữu cơ và vô cơ, cộng thêm việc bón phân hữu cơ làm tăng độ hữu dụng của phânhóa học, nghiệm thức chỉ sử dụng đơn thuần phân hữu cơ luôn cho kết quả thấp docung cấp dinh dưỡng chỉ là dạng hữu cơ (Võ Thị Gương, 2006) Ngược lại, khi chỉbón đơn thuần phân vô cơ thì lượng đạm và lân trong phân hóa học có thể bị cố
Trang 32định bởi Al3+và Fe2+, đạm ở dạng NH4+bị giảm độ hữu dụng và một phần bị giữ lạitrong các lá sét (Nguyễn Mỹ Hoa, 2004).
Hình 3.4 Chiều dài lá, dài phiến và rộng phiến qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009)
Trang 33Hình 3.5 Chiều dài lá, dài phiến và rộng phiến qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009)
Ngày sau khi cắt
Trang 343.2.3 Số chồi trên cây
Số chồi trên cây rau cần nước trong vụ 1 không có sự khác biệt ý nghĩa quacác lần khảo sát (Bảng 3.2), giai đoạn 21 NSKC dao động 0,90-1,15 chồi, giai doạn
28 NSKC dao động 0,97-1,17 chồi Sang vụ 2, số chồi trên cây rau cần nước có sựkhác biệt thống kê (Bảng 3.3), bón 15 tấn hữu cơ+120-120-40 và 15 tấn hữu cơ+60-60-20 (14 NSKC dao động 0,83-0,88 chồi, 21 NSKC dao động 1,15-1,28 chồi, 28NSKC dao động 1,30-1,40 chồi, 35 NSKC dao động 1,35-1,43 chồi) có số chồinhiều hơn 2 nghiệm thức còn lại (14 NSKC dao động 0,25-0,28 chồi, 21 NSKC daođộng 0,35-0,53 chồi, 28 NSKC dao động 0,78-0,85 chồi, 35 NSKC 0,88 chồi) Kếtquả cho thấy việc bón phối hợp phân hữu cơ và vô cơ có tác dụng làm tăng số chồi,tác dụng của phân hữu cơ tăng dần ở các vụ sau
Bảng 3.2 Sự gia tăng số chồi trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1 tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009)
ns: không khác biệt thống kê
Bảng 3.3 Sự gia tăng số chồi trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2 tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009)
Trang 353.2.4 Số lá trên cây
Số lá trên cây rau cần nước trong vụ 1 không có sự khác biệt thống kê qualần khảo sát, giai đoạn 14 NSKC dao động 4,20-4,47 lá, giai đoạn 21 NSKC daođộng 4,60-5,25 lá, đến 28 NSKC dao động 4,61-5,25 lá (Bảng 3.4)
Bảng 3.4 Sự gia tăng số lá trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 1 tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-8/2009)
Bảng 3.5 Sự gia tăng số lá trên cây qua các ngày sau khi cắt trong vụ 2 tại Trại
Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 9-10/2009)
Các số trong cùng một cột có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt ý nghĩa thống kê,
**: khác biệt ý nghĩa 1%, ns: không khác biệt
Trang 363.2.5 Đường kính thân và diện tích lá lúc thu hoạch
Đường kính thân cây rau cần nước không có sự khác biệt thống kê (vụ 1 daođộng 4,64-5,76 mm, vụ 2 dao động 4,54-5,59 mm) Diện tích lá rau cần nước có sựkhác biệt thống kê, 2 nghiệm thức 15 tấn hữu cơ+120-120-40 và 15 tấn hữu cơ+60-60-20 (vụ 1 dao động 108,2-113,6 cm2, vụ 2 dao động 104,0-114,3 cm2) cao hơnbón 120-120-40 (vụ 1 đạt 88,0 cm2, vụ 2 đạt 100,1 cm2) và bón 30 tấn hữu cơ (vụ 1đạt 73,5 cm2, vụ 2 đạt 78,2 cm2) (Bảng 3.6)
Bảng 3.6 Đường kính thân và diện tích lá cây rau cần nước lúc thu hoạch trong vụ 1
và vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
Các số trong cùng một cột có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt ý nghĩa thống kê,
**: khác biệt ý nghĩa 1%, ns: không khác biệt
Sử dụng đơn thuần phân hữu cơ có hiện tượng lá ngã màu vàng và kíchthước lá nhỏ Việc lá ngã màu vàng có thể là do thiếu đạm, do thời gian đầu phânhữu cơ chưa khoáng hoá nhiều (Đỗ thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004) Đây
có thể là nguyên nhân chính dẫn đến kết quả diện tích lá của nghiệm thức sử dụngđơn thuần phân hữu cơ thấp hơn các nghiệm thức khác Hai nghiệm thức 15 tấn hữucơ+120-120-40 và 15 tấn hữu cơ+60-60-20 cho kết quả cao hơn các nghiệm thức
Trang 37còn lại do đươc cung cấp lân ở dạng vô cơ và hữu cơ nên đã hạn chế được quá trình
cố định (Võ Thị Gương, 2006)
3.4 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT 3.4.1 Mật độ cây
Mật độ cây rau cần nước có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (Hình 3.6) Trong
vụ 1, ba nghiệm thức 30 tấn hữu cơ, 15 tấn hữu cơ+120-120-40 và 15 tấn hữucơ+60-60-20 (dao động 569-674 cây/m2) cao hơn bón đơn thuần phân hóa học 120-120-40 (412 cây/m2) Trong vụ 2, mật độ cây cao nhất là bón 15 tấn hữu cơ+60-60-
20 (606 cây/m2), thấp nhất là 120-120-40 (408 cây/m2) Từ kết quả cho thấy bónphân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ giúp tăng mật độ cây
Hình 3.6 Mật độ cây rau cần nước (cây/m2) lúc thu hoạch trong vụ 1 và vụ 2 tại
Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
Trang 383.4.2 Vật chất khô
Tỉ lệ vật chất khô của cây rau cần nước có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (Hình3.7), bón 120-120-40 (vụ 1 đạt 7,47%, vụ 2 đạt 6,66%) cao hơn các nghiệm thứccòn lại (vụ 1 dao động 5,93-6,15%, vụ 2 dao động 4,63-5,34%) Nghiệm thức bónđơn thuần phân hóa học cây sinh trưởng kém nên sản phẩm lúc thu hoạch chủ yếu làthân cây, thân cây chứa nghiều cellulose nên có tỉ lệ vật chất khô cao
Hình 3.7 Tỉ lệ vật chất khô của cây rau cần nước lúc thu hoạch trong vụ 1 và vụ 2
tại Trại Thực nghiệm Nông nghiệp, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
3.4.3 Năng suất tổng và năng suất thương phẩm
Trong vụ 1, năng suất tổng và năng suất thương phẩm của cây rau cần nước có
sự khác biệt ý nghĩa thống kê (Hình 3.8 và Phụ chương 2), năng suất tổng của raucần nước khi bón 15 tấn hữu cơ kết hợp với 120-120-40 và 60-60-20 (dao động20,51-22,21 tấn/ha) cao hơn khi sử dụng đơn thuần phân hữu cơ hoặc vô cơ (dao
Trang 39động 11,76-14,68 tấn/ha) Năng suất thương phẩm cũng theo xu hướng tương tự, sửdụng 15 tấn hữu cơ kết hợp với 120-120-40 và 60-60-20 (dao động 15,20-15,31tấn/ha) cao hơn khi sử dụng đơn thuần phân hữu cơ hoặc vô cơ (dao động 7,71-10,91 tấn/ha) Tỉ lệ thương phẩm của các nghiệm thức không có khác biệt thống kêdao động từ 63,3-74,7%.
Hình 3.8 Năng suất tổng, năng suất thương phẩm và tỉ lệ thương phẩm của cây rau
cần nước lúc thu hoạch trong vụ 1 và vụ 2 tại Trại Thực nghiệm Nôngnghiệp, ĐHCT (tháng 7-10/2009)
Vụ 2, năng suất tổng và năng suất thương phẩm giữa các nghiệm thức có sựkhác biệt thống kê (Hình 3.8 và Phụ chương 2), cao nhất là bón 15 tấn hữu cơ+60-
(Vụ 1)
(Vụ 2) 63,3% 74,7% 68,7% 73,5%
Trang 4060-20 (24,98 tấn/ha), thấp nhất là 120-120-40 (10,43 tấn/ha) Năng suất thươngphẩm cao nhất khi bón 15 tấn hữu cơ kết hợp với 60-60-20 (13,62 tấn/ha), thấp nhấtkhi bón đơn thuần phân vô cơ (6,45 tấn/ha) Tỉ lệ thương phẩm không có sự khácbiệt thống kê dao động từ 54,3-64,1%.
Năng suất của rau cần nước khi bón 15 tấn hữu cơ kết hợp 60-60-20 cao hơncác nghiệm thức khác có thể do việc bón phối hợp thêm phân hữu cơ đã làm chocây sử dụng hiệu quả lượng phân vô cơ bón vào thông qua cơ chế acid hóa vàchelate hóa (Võ Thị Gương, 2006) Nghiệm thức 30 tấn hữu cơ cho năng suất chỉđứng thứ 3 có thể do canh tác rau cần nước trong thời gian ngắn nên phân hữu cơchưa khoáng hóa hết Thấp nhất là nghiệm thức bón hoàn toàn phân vô cơ, đây cóthể là nguyên nhân làm cho lượng phân bón vào bị cố định một phần trong đất (ĐỗThị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004)
3.5 CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG 3.5.1 Độ Brix
Trong vụ 1, độ Brix thân lá của cây rau cần nước không có sự khác biệt ýnghĩa thống kê, dao động 2,8-4,0% (Bảng 3.7) Tuy nhiên, độ Brix của cây rau cầnnước trong vụ 2 có khác biệt ý nghĩa thống kê, bón phân với công thức 120-120-40
có độ Brix (4,4%) cao hơn các nghiệm thức còn lại (dao động 3,0-3,4%) Sự khácbiệt này do vào thời điểm thu hoạch, nghiệm thức sử dụng đơn thuần phân vô cơ cócây cứng và già hơn các nghiệm thức khác nên đây có thể là nguyên nhân làm cho
độ Brix của nghiệm thức này lớn hơn các nghiệm thức khác