TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG HỒ THỊ NGÂN BÌNH TUYỂN CÂY CA CAO ĐẦU DÒNG CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ KỸ THUẬT GHÉP CA CAO Theobroma cacao L... TRƯỜNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HỒ THỊ NGÂN
BÌNH TUYỂN CÂY CA CAO ĐẦU DÒNG CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ KỸ THUẬT
GHÉP CA CAO (Theobroma cacao L.)
CẢI TIẾN TẠI CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Cần thơ - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Nghành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
BÌNH TUYỂN CÂY CA CAO ĐẦU DÒNG CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ KỸ THUẬT
GHÉP CA CAO (Theobroma cacao L.)
CẢI TIẾN TẠI CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn:
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:
BÌNH TUYỂN CÂY CA CAO ĐẦU DÒNG CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ KỸ THUẬT
GHÉP CA CAO (Theobroma cacao L.)
CẢI TIẾN TẠI CẦN THƠ
Do sinh viên HỒ THỊ NGÂN thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần thơ, ngày……tháng.… năm 2010
Cán bộ hướng dẫn
PGS TS TRẦN VĂN HÂU
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“BÌNH TUYỂN CÂY CA CAO ĐẦU DÒNG CÓ NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CAO VÀ KỸ THUẬT GHÉP CA CAO (Theobroma
cacao L.) CẢI TIẾN TẠI CẦN THƠ”
Do sinh viên: HỒ THỊ NGÂN thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày……
tháng ….năm 2010 Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:………
Ý kiến hội đồng:……… ………
………
………
DUYỆT KHOA Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Cần thơ, ngày… tháng… năm 2010
Chủ tịch hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
(ký tên)
Hồ Thị Ngân
Trang 6LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Sinh viên: Hồ Thị Ngân
Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1988
Tại xã Hưng Phú, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
Con ông: Hồ Văn Đàng
Và Bà: Phan Thị Hằng
Đã tốt nghiệp tại trường Trung Học Phổ Thông Lê Văn Tám, xã Mỷ Quới, huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, năm 2006
Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2007, theo ngành Nông Học, khóa 33
Tốt nghiệp Kỹ sư Nông nghiệp chuyên ngành Nông Học năm 2010
Trang 7và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm tạ thầy cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức mà thầy cô
đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời
Gởi lời cảm ơn đến các anh chị và các bạn sinh viên làm đề tài ở Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, cùng các bạn Nông Học khóa 33 đã đóng góp, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Lý lịch cá nhân……… iv
Lời cảm tạ……… v
Mục lục……… vi
Danh sách hình ……… x
Danh sách bảng………xiii
Tóm lược……… xv
GIỚI THIỆU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG I Error! Bookmark not defined LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Error! Bookmark not defined 1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CA CAO TRÊN THẾ GIỚI Error! Bookmark not defined
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CA CAO Ở VIỆT NAM Error! Bookmark not defined
1.3 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CÂY CA CAO Error! Bookmark not defined 1.3.1 Hạt Error! Bookmark not defined 1.3.2 Bộ rễ Error! Bookmark not defined 1.3.3 Lá Error! Bookmark not defined 1.3.4 Sự ra hoa Error! Bookmark not defined 1.3.5 Trái Error! Bookmark not defined 1.4 ĐẶC ĐIỂM CÁC GIỐNG CA CAO Error! Bookmark not defined 1.4.1 Nhóm Criollo Error! Bookmark not defined 1.4.2 Nhóm Forastero Error! Bookmark not defined 1.4.3 Nhóm lai Trinitario Error! Bookmark not defined 1.5 YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG Error! Bookmark not defined 1.5.1 Nhiệt độ Error! Bookmark not defined 1.5.2 Lượng mưa Error! Bookmark not defined 1.5.3 Ánh sáng Error! Bookmark not defined 1.5.4 Ẩm độ Error! Bookmark not defined 1.5.5 Đất đai Error! Bookmark not defined 1.6 CÁCH NHÂN GIỐNG Error! Bookmark not defined
Trang 9* Nhân giống vô tính Error! Bookmark not defined
* Kỹ thuật ghép ca cao Error! Bookmark not defined 1.7 CÁCH TÍNH NĂNG SUẤT CA CAO THƯƠNG PHẨM Error! Bookmark not defined
1.8 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HẠT CA CAO Error! Bookmark not defined 1.9 SÂU BỆNH Error! Bookmark not defined 1.9.1 Bọ xít ca cao Error! Bookmark not defined
1.9.2 Rệp sáp phấn (Planococcus citri) Error! Bookmark not defined 1.9.3 Mối (Odontotermes sp.) Error! Bookmark not defined
1.9.4 Bệnh thối thân, cháy lá, thối trái Error! Bookmark not defined 1.9.5 Bệnh thối khô quả Error! Bookmark not defined CHƯƠNG II Error! Bookmark not defined PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP Error! Bookmark not defined 2.1 PHƯƠNG TIỆN Error! Bookmark not defined 2.1.1 Địa điểm: Error! Bookmark not defined 2.1.2 Thời gian: Error! Bookmark not defined 2.1.3 Dụng cụ: Error! Bookmark not defined 2.1.4 Hóa chất: Error! Bookmark not defined 2.2 PHƯƠNG PHÁP Error! Bookmark not defined Nội dung 1: Bình tuyển cây đầu dòng ca cao có năng suất và chất lượng cao tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ.Error! Bookmark not defined
* Cách bình tuyển: Error! Bookmark not defined
* Các chỉ tiêu theo dõi: Error! Bookmark not defined + Đặc tính nông học: Error! Bookmark not defined + Sinh trưởng: .Error! Bookmark not defined + Ra hoa, đậu trái: Error! Bookmark not defined + Năng suất và thành phần năng suất: Error! Bookmark not defined + Hàm lượng chất béo: Error! Bookmark not defined + Đánh giá cảm quan: Error! Bookmark not defined + Sâu bệnh: .Error! Bookmark not defined
* Phương pháp phân tích hàm lượng chất béo trong hạt.Error! Bookmark not
defined
Phương pháp xác định hàm lượng vật chất khôError! Bookmark not defined Phương pháp phân tích béo thô (AOAC, 1990) Error! Bookmark not defined Nội dung 2: Thí nghiệm phương pháp ghép cải tiến Error! Bookmark not defined
Trang 10* Mục đích: Error! Bookmark not defined
* Phương pháp: Error! Bookmark not defined
* Các chỉ tiêu theo dõi: Error! Bookmark not defined
- Sự sinh trưởng của cây ghép: Error! Bookmark not defined
- Sự phát triển của gốc ghép: Error! Bookmark not defined 2.3 Xử lý số liệu: Error! Bookmark not defined CHƯƠNG III Error! Bookmark not defined KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Error! Bookmark not defined 3.1 Nội dung 1 Bình tuyển cây đầu dòng Error! Bookmark not defined 3.1.1 Đặc tính nông học Error! Bookmark not defined 3.1.1.1 Chiều cao cây Error! Bookmark not defined 3.1.1.2 Đường kính tán Error! Bookmark not defined 3.1.1.3 Chu vi gốc thân Error! Bookmark not defined 3.1.1.4 Sinh trưởng chồi (cơi đọt) Error! Bookmark not defined 3.1.2 Đặc tính ra hoa Error! Bookmark not defined 3.1.3 Sâu bệnh gây hại Error! Bookmark not defined 3.1.4 Đặc điểm các nhóm ca cao ở Cần thơ Error! Bookmark not defined
v CT1 Error! Bookmark not defined
v CT2 Error! Bookmark not defined
v CT3 Error! Bookmark not defined
v CT4 Error! Bookmark not defined
v CT5 Error! Bookmark not defined
v CT6 Error! Bookmark not defined
v CT7 Error! Bookmark not defined
v CT8 Error! Bookmark not defined
v CT9 Error! Bookmark not defined
v CT21 Error! Bookmark not defined
v CT22 Error! Bookmark not defined
v CT23 Error! Bookmark not defined
v CT24 Error! Bookmark not defined
3.1.5 Trọng lượng và kích thước trái Error! Bookmark not defined 3.1.6 Kích thước hạt Error! Bookmark not defined 3.1.7 Hàm lượng chất béo trong hạt Error! Bookmark not defined 3.1.8 Đánh giá cảm quan chất lượng hạt Error! Bookmark not defined
Trang 113.1.9 Giá trị pH của hạt Error! Bookmark not defined 3.1.10 Năng suất và thành phần năng suất Error! Bookmark not defined 3.2 Nội dung 2: Ghép cải tiến Error! Bookmark not defined 3.2.1 Tốc độ tăng trưởng trước khi ghép Error! Bookmark not defined
*Chiều cao cây Error! Bookmark not defined
*Đường kính thân Error! Bookmark not defined 3.2.2 Tỷ lệ cây sống sau ghép Error! Bookmark not defined 3.2.3 Tốc độ tăng trưởng sau khi ghép Error! Bookmark not defined
*Chiều cao cây Error! Bookmark not defined
*Đường kính thân Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……….63 4.1 Kết luận 63 4.2 Đề nghị……… 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ CHƯƠNG
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ lấy mẫu ca cao để phân tích chất béo ở quận Cái Răng và
Hình 3.1 Số gói hoa/m thân của các dòng ca cao được bình tuyển tại quận
Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm 2009 -
Hình 3.2 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT1 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 41
Hình 3.3 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT2 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 41
Hình 3.4 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT3 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 42
Hình 3.5 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT4 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 42
Hình 3.6 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT5 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 43
Hình 3.7 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT6 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 43
Hình 3.8 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT7 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 44
Hình 3.9 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT8 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 44
Hình 3.10 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT9 tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ 45
Hình 3.11 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
Trang 13cắt ngang) của dòng CT21 tại huyện Phong Điền, thành phố
Cần Thơ
45
Hình 3.12 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT22 tại huyện Phong Điền, thành phố
Hình 3.13 Đặc điểm trái (trái nguyên và cắt ngang) và hạt (hạt nguyên và
cắt ngang) của dòng CT24 tại huyện Phong Điền, thành phố
Hình 3.14 Hàm lượng chất béo (%) trong hạt của các dòng ca cao ở Cần
Thơ
50 Hình 3.15 Giá trị pH (%) của các dòng ca cao được bình tuyển tại quận
Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm
2009-2010
51
Hình 3.16 Sự tăng trưởng chiều cao (cm) của cây con từ 5-50 ngày sau khi
gieo tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng, trường Đại Học
Cần Thơ năm 2009-2010
54
Hình 3.17 Phương trình tăng trưởng cực đại chiều cao (cm) của cây con từ
5 - 50 ngày sau khi gieo tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học Cây
Hình 3.18 Sự tăng trưởng đường kính thân (cm) của cây con từ 5 - 50 ngày
sau khi gieo tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng, trường
Hình 3.19 Phương trình tăng trưởng cực đại đường kính thân (cm) của cây
con từ 5 - 50 ngày sau khi gieo tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học
Cây Trồng, trường Đại Học Cần Thơ năm 2009-2010 57
Hình 3.20 Tỉ lệ sống (%) sau khi ghép của gốc ghép từ 20-50 ngày tuổi sau
Trang 14khi gieo tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng, trường Đại
Hình 3.21 Sự tăng trưởng chiều cao cây sau khi ghép đến thời điểm có 3
cơi đọt của ca cao tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng,
Hình 3.22 Phương trình tăng trưởng cực đại chiều cao (cm) cây sau khi
ghép đến thời điểm có 3 cơi đọt của ca cao tại nhà lưới Bộ Môn
Khoa Học Cây Trồng, trường Đại Học Cần Thơ năm 2009-2010 60
Hình 3.23 Tăng trưởng đường kính thân của cây ghép đến thời điểm có 3
cơi đọt của ca cao tại nhà lưới Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng,
Hình 3.24 Phương trình tăng trưởng cực đại đường kính thân của cây ghép
đến thời điểm có 3 cơi đọt của ca cao tại nhà lưới Bộ Môn Khoa
Học Cây Trồng, trường Đại Học Cần Thơ năm 2009-2010 62
Trang 15DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1 Sản lượng ca cao trên thế giới (ngàn tấn) từ năm 2000 – 2008 3 Bảng 1.2 Sản lượng ca cao ở một số tỉnh có diện tích ca cao chủ yếu ở
Bảng 3.1 Chiều cao (m) cây của các dòng ca cao được bình tuyển tại
quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm
Bảng 3.2 Đường kính tán (m) cây của các dòng ca cao được bình tuyển
tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
Bảng 3.3 Chu vi gốc thân (m) của các dòng ca cao được bình tuyển tại
quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm
Bảng 3.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng chồi của các dòng ca cao được bình
tuyển tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần
Bảng 3.5 Các loại sâu bệnh gây hại trên các dòng ca cao được bình tuyển
tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
Bảng 3.6 Trọng lượng (g) và kích thước (cm) trái của các dòng ca cao
được bình tuyển tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành
Bảng 3.7 Kích thước hạt (cm) của các dòng ca cao được bình tuyển tại
quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm
Bảng 3.8 Chất lượng hạt (cảm quan) khi ủ lên men trong điều kiện tự
nhiên của các dòng dòng ca cao được bình tuyển tại quận Cái
Trang 16Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm
Bảng 3.9 Năng suất và một số chỉ tiêu hạt của các dòng ca cao được bình
tuyển tại quận Cái Răng và huyện Phong Điền, thành phố Cần
Trang 17Hồ Thị Ngân 2010 Bình tuyển cây đầu dòng có năng suất, chất lượng cao và kỹ
thuật ghép ca cao (Theobroma cacao L.) cải tiến tại Cần Thơ Luận văn tốt nghiệp
kỹ sư Nông học Giáo viên hướng dẫn PGS TS Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Bình tuyển cây ca cao đầu dòng có năng suất, chất lượng cao và
kỹ thuật ghép ca cao (Theobroma cacao L.) cải tiến tại Cần Thơ” được thực hiện
nhằm mục tiêu: chọn ra cây đầu dòng có năng suất, chất lượng cao, ít sâu bệnh, và cải tiến kỹ thuật ghép gốc ca cao để rút ngắn thời gian nhân giống bằng cách sử dụng gốc ghép còn non Bình tuyển được thực hiện tại vườn nông dân ở Cái Răng
và Phong Điền (Cần Thơ) Vườn nông dân tại Cái Răng (Cần Thơ) theo dõi 9 cây được ký hiệu như sau: CT1, CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7, CT8, CT9 và vườn nông dân tại Phong Điền (Cần Thơ) theo dõi 4 cây được ký hiệu là CT21, CT22, CT23, CT24 Để theo dõi đặc tính nông học, sinh trưởng, ra hoa, đậu trái, sâu bệnh, năng suất và thành phần năng suất Ghép ca cao được thực hiện tại nhà lưới Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Đại Học Cần Thơ để tìm ra tuổi cây nhỏ nhất mà có tỉ lệ sống cao nhất
Kết quả ghi nhận như sau: Trong 13 dòng khảo sát, dòng CT3, CT5 và CT6 trội hơn các dòng còn lại trong cùng điều kiện khảo sát Đây là các dòng có tương lai phát triển trong thời gian tới Tỉ lệ cây sống sau khi ghép giữa các nghiệm thức thí nghiệm từ 20 đến 50 ngày tuổi khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê Nghiệm thức ghép gốc 40 ngày có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây sau khi ghép mạnh hơn các nghiệm thức còn lại
Cần tiếp tục theo dõi về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh của những dòng ca cao có triển vọng thêm 2 -3 năm nữa và tiếp tục theo dõi về tỉ lệ sống của cây ghép ở các độ tuổi khác nhau để có kết luận chính xác hơn
Trang 18GIỚI THIỆU
Cây ca cao (Theobroma cacao L.) thuộc họ Sterculiaceae, bộ Malvales có nguồn
gốc là loài hoang dại trong rừng già Amazon (Nam Mỹ) được thuần hoá trồng từ thế
kỷ 16 Ca cao là cây công nghiệp có nhiều triển vọng kinh tế, thị trường trên thế giới luôn có sẵn đầu ra ổn định (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
Hạt ca cao có hàm lượng bơ cao, từ 56 – 58%, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực
Ca cao là nguyên liệu để sản xuất chocolate, ca cao bột, bánh kẹo, dược phẩm, xà phòng Vỏ ca cao dùng làm thức ăn cho gia súc và phân bón
Hiện nay, mô hình ca cao xen canh trong vườn dừa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đang có xu hướng phát triển mạnh Ca cao có thể chịu đựng điều kiện có bóng râm rất tốt nên việc trồng xen ca cao trong vườn dừa rất thích hợp, đồng thời
lá ca cao khi rụng là nguồn cung cấp phân hữu cơ cho đất Chính vì vậy, mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, việc chọn giống không đúng sẽ gây thiệt hại rất lớn và lâu dài cho nông dân Trước đây ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trồng ca cao chủ yếu bằng hạt dẫn đến sự phân ly giữa các giống rất lớn Việc bình tuyển chọn ra những giống có năng suất, chất lượng cao và phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương là nhu cầu rất cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả từ mô hình trồng ca cao
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, đề tài: “Bình tuyển cây ca cao đầu dòng có
năng suất, chất lượng cao và kỹ thuật ghép ca cao (Theobroma cacao L.) cải
tiến tại Cần Thơ” được thực hiện nhằm mục đích:
- Chọn ra cây đầu dòng ca cao có năng suất và chất lượng cao, ít sâu bệnh và thích nghi được với điều kiện sinh thái tại địa phương
- Cải tiến kỹ thuật ghép gốc ca cao bằng cách sử dụng gốc ghép còn non (từ 20 – 50 ngày tuổi)
Trang 19CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CA CAO TRÊN THẾ GIỚI
Cây ca cao (Theobroma ca cao L.) họ Sterculiaceae là cây công nghiệp dài
ngày sống ở vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ vùng rừng già Amazon, đây là loài thực vật có khả năng phát triển trong điều kiện râm mát và độ ẩm cao Trước đây,
ca cao sử dụng đầu tiên ở vùng Aztecs chủ yếu dưới dạng sản phẩm gọi là
“chocolate” được sản xuất bằng cách rang và nghiền hạt ca cao với nước, bột bắp và một số chất gia vị Họ cũng đã sử dụng ca cao trong các loại nước uống (Nguyễn Minh Thuỷ, 2000)
Theo Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum (1996) ở Nicaragua, hạt ca cao
có lúc được dùng như một thứ tiền tệ trong trao đổi mua bán và đã được sử dụng rộng rãi từ thế kỷ thứ 6 ở các bộ tộc Maya và đến thế kỷ 16 lưu hành rộng rãi ở Trung Mỹ Đến đầu thế kỷ 19 ca cao bắt đầu được xuất khẩu với qui mô 2.000 – 5.000 tấn từ các nước Nam Mỹ
Từ năm 1985 trở lại đây, các nước Châu Á bắt đầu phát triển mạnh ca cao, trước hết ở các nước Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Srilanka Ở Indonesia, ca cao được trồng từ thế kỷ 20 nhưng chỉ từ sau năm 1960 mới mở rộng diện tích nhanh, chủ yếu với loài phụ Forastero Ở Malaysia, sau một thời gian phát triển mạnh hiện diện tích đang có xu hướng giảm vì phải cạnh tranh với nhiều cây công nghiệp khác
có hiệu quả kinh tế cao hơn như cọ dầu và cao su
Trang 20Bảng 1.1 Sản lượng ca cao trên thế giới (ngàn tấn) từ năm 2000 – 2008
Quốc gia 2000/2001 2001/2002 2002/2003 2003/2004 2005/2006 2006/2007 2007/2008 Tây Phi 1.949 1.967 2.142 2.090 2.643 2.334 2.578
Trang 21Hiện nay Tây Phi sản suất 70% tổng sản lượng ca cao trên thế giới, trong đó đứng đầu là 4 quốc gia gồm Bờ Biển Ngà, Ghana, Nigeria và Cameroon Châu Mĩ sản suất khoảng 12% sản lượng ca cao toàn cầu hàng năm, đứng đầu là Brazil và Ecuador Châu Á và Châu Đại Dương sản suất khoảng 18% sản lượng ca cao toàn cầu hàng năm Indonesia là nhà sản suất ca cao chính trong khu vực, tiếp theo là Papua New Guinea và Malaysia (Nguyễn Văn Hoà và Nguyễn Thị Thanh Mai, 2010)
Theo Đinh Hải Lâm (2010), sản lượng ca cao trên thế giới niên vụ 08/09 dự kiến đạt 3.500 ngàn tấn, 80% sản lượng này được sản suất từ các nông hộ nhỏ có diện tích từ 1,0 – 5,0 ha Giá ca cao đang đạt mức cao nhất trong 40 năm và đang giao dịch tại New York với mức giá dao động ổn định từ 3.000 – 3.300 USD Đây chính là cơ hội vàng “trăm năm có một” để Việt Nam đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp của mình dựa trên việc thúc đẩy và gia tăng thu nhập trong khu vực nông thôn bằng cách hình thành và phát triển các vườn trồng ca cao
Nhìn chung, việc trồng, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm của cây ca cao đang theo chiều hướng tăng lên trên toàn thế giới Mức sống của hàng tỷ người Châu Á đang tăng lên nhanh chóng, các sản phẩm ca cao, trước đây coi như mặt hàng của những người giàu, nay dần dần sẽ được tiêu thụ phổ biến hơn (Lê Thị Thanh Thuỷ
và Phan Thanh Trúc, 2006)
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÂY CA CAO Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, ngay sau khi thực dân pháp xâm chiếm nước ta đã thử nghiệm trồng cây ca cao ở các tỉnh phía Nam Năm 1878, ở Cái Mơn – Bến Tre đã trồng hơn 4.000 gốc, khoảng trên 6 hecta Những năm sau đó, cây mọc tốt nhưng không
ai thu mua, chế biến, người trồng cũng không thu được lợi nhuận nhiều, cây ca cao lại trồng rãi rác mỗi nơi một ít, khó tập trung chế biến và cũng không ai biết chế biến, sử dụng, nên không khuyến khích được việc trồng cây ca cao Đến năm 1981, trường Trung Học Tây Nguyên ở Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã trồng thực nghiệm giống
ca cao Trinitario trên đất Bazan Từ đó đến nay cây ca cao phát triển tốt và có thể là
Trang 22nguồn cung cấp hạt giống Trinitario để phát triển trồng ở vùng Tây Nguyên (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
Năm 1889, cố đạo Garnet đã trồng ở địa phận Cái Mơn hơn 4.000 gốc trên 6 hecta trong làng Vĩnh Thành Chiều cao của cây đạt đến 5 m và cho quả nhiều, mỗi cây cho khoảng 30 - 40 quả, tuy quả không to bằng ca cao Trung Mỹ nhưng chất
lượng khá tốt (Neil Hollywood và ctv., 2010)
Vào thập niên 80 của thế kỉ XX, chính phủ Việt Nam đã nổ lực đưa cây ca cao trở thành một ngành hàng thương mại thông qua việc phát triển trồng chủ yếu trong các nông trường quốc doanh Ca cao được trồng tại hàng chục tỉnh từ Quảng Ngãi thuộc miền trung đến Cần thơ thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long Chỉ riêng tỉnh Quảng Ngãi đã có khoảng 3.000 ha ca cao được trồng trong thời kỳ này (Đinh Hải Lâm, 2010)
Bảng 1.2 Sản lượng ca cao ở một số tỉnh có diện tích ca cao chủ yếu ở Việt Nam
Tỉnh
Tiền Giang
Đồng Nai
Bà Rịa Vũng Tàu
Bình Phước Nông Đắc Đắc Lắc 2007/2008
2008/2009
Nguồn: công ty Cargill tháng 8 – 2009 (trích dẫn bởi Đinh Hải Lâm, 2010)
Đến nay, nước ta đã có cây ca cao giống trên 20 năm vẫn cho trái và trung bình năng suất của các vườn ca cao mỗi cây cho từ 300 trái trở lên Đây là những con số vô cùng khích lệ cho việc phát triển cây ca cao, đưa cây ca cao lên thành một mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao (Phạm Hồng Đức Phước, 2004)
1.3 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CÂY CA CAO
Ca cao là loài cây thân gỗ tầm vóc nhỏ, cao chừng 5 - 7 m, có khi cao hơn nếu là cây mọc tự nhiên trong rừng (Braudeau, 1984) Ca cao sinh trưởng tốt dưới
Trang 23bóng che, do đó có thể trồng xen với một số loại cây kinh tế khác Thời kỳ kinh doanh hiệu quả có thể kéo dài từ 25 - 40 năm (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
1.3.1 Hạt
Hạt cacao là hạt không có nhân, mập dài 2 - 3 cm và có cùi nhớt, màu trắng
vị ngọt và hơi chua Dùng mạt cưa sát cho sạch cùi, hạt sẽ xuất hiện và nằm trong một cái bao mỏng nhưng chắc, màu hồng và có nhiều đường gân do sự phát triển của vỏ noản châu sinh ra Cái bao này là vỏ của hạt ca cao, hai phôi nhủ của phôi màu sắc có thể thay đổi từ trắng của Criollo sang tím đậm của Forastero qua các màu trung gian của các giống lai Trinitario, chiếm toàn bộ thể tích của hạt
(Braudeau, 1984)
* Đặc tính hạt
Kích thước và hình thể: Theo Braudeau (1984), chiều dài hạt có thể thay đổi
từ 20 - 30 mm đối với Amelonado Châu Phi, trung bình ở vào khoãng 25 mm Chiều rộng từ 10 – 17 mm, trung bình đối với Amelonado gần 12,5 mm Chiều dày
từ 7 – 12 mm, trung bình là 8 – 8,5 mm đối với Amelonado, còn dày hơn nhiều loại thuộc vào giống Criollo Còn theo Duke (1983), chiều dài hạt ca cao có thể thay đổi
từ 20 – 40 mm, chiều rộng 12 – 20 mm
Trọng lượng hạt: Theo Braudeau (1984), hạt ca cao được xem là có giá trị cao khi có trọng lượng 100 hạt lớn hơn hoặc bằng 100 gam Trọng lượng hạt là một trong những đặc tính rất quan trọng và thay đổi tuỳ theo chủng hoặc dòng và điều kiện sinh thái (Lê Thị Thanh Thuỷ và Phan Thanh Trúc, 2006)
Màu sắc phôi nhủ: Đây là đặc tính quan trọng dùng để phân biệt các giống với nhau Ca cao Criollo có phôi nhũ màu trắng, Forastero có phôi nhũ màu tím đậm, Tinitario có phôi nhũ thường + màu tím nhạt có thể thay đổi từ màu trắng hồng đến màu tím đậm (Braudeau, 1984)
Trang 24Thành phần hoá học của hạt: Theo Knapp (1937), thành phần của phôi nhũ khô của một loại ca cao như sau (trích dẫn bởi Braudeau, 1984)
1.3.2 Bộ rễ
Bộ rễ ca cao gồm một rễ trụ chính có thể dài 2 m, kèm theo một hệ thống rễ phụ chủ yếu nằm ở tầng đất mặt 20 cm Bộ rễ phụ đan dày đặc giúp ca cao hút chất dinh dưỡng và rễ trụ có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng ở tầng sâu (Nguyễn Văn Uyễn và Nguyễn Tài Sum, 1996) Trên suốt chiều dài của rễ trụ có nhiều rễ ngang mọc ra mà chủ yếu ở phần trên, khoảng 20 cm phía dưới cổ rễ (Braudeau, 1984)
Hạt sau khi nảy mầm rễ mọc rất nhanh và có nhiều rễ ngang mọc thẳng góc quanh rễ trụ, ba tháng đầu rễ phát triển đạt đến trên 25 cm Rễ trụ tiếp tục phát triển
Trang 25khi bị cắt ngang Đối với cành giâm lúc đầu chỉ xuất hiện những rễ ngang Trong số các rễ ngang sẽ có vài rễ phát triển theo hướng thẳng đứng hình thành trụ (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
1.3.3 Lá
Theo Trần Văn Hâu và ctv (2004), phiến lá nguyên, có hình mũi giáo, gân
hình lông chim, chiều dài trung bình 30 – 40 cm, ngang 10 – 15 cm Màu sắc của lá non có liên quan đến màu của tử diệp và đây là đặc tính dùng để phân biệt các giống với nhau Còn theo Phạm Hồng Đức Phước (2003), màu sắc lá non thay đổi tuỳ theo giống từ màu xanh nhạt đến vàng, từ màu hồng đến đỏ đậm Khi trưởng thành
lá có màu xanh thẩm, cứng cáp hơn và nằm ngang Lá trên thân chính hoặc cành vượt có cuống dài từ 7 – 9 cm, dễ bị gió lay làm hư và mọc theo hình xoắn ốc Còn
lá trên cành ngang có cuống ngắn 2 – 3 cm, mọc đối cách trên cành Lá non phát triển theo từng đợt, sau mỗi đợt ra lá đỉnh cành vào trạng thái ngủ Thời gian ngủ tuỳ theo điều kiện môi trường nhưng thường khoảng 4 – 6 tuần lễ
7 sẽ thu hoạch từ tháng 9 đến tháng 1 và thời kỳ 2 từ tháng 11 đến tháng 1 sẽ thu hoạch từ tháng 4 đến tháng 7 (Trần Văn Hòa và Nguyễn Ngọc Thành, 1988)
Thụ phấn: Hoa ca cao thụ phấn nhờ côn trùng thuộc họ Ceratopogonidae, loài
Forcipomyia là loài phổ biến nhất tham gia thụ phấn Thuốc sâu không ảnh hưởng
nhiều đến quần thể loài côn trùng này Hoa ca cao ra nhiều nhưng chỉ thụ phấn và
Trang 26đậu trái 1 - 5% Hoa không được thụ phấn sẽ rụng sau 48 giờ (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
1.3.5 Trái
Quả ca cao khi chín vỏ không mở và giống một trái nạc Quả có một cái vỏ nạc chia thành 3 phần rõ ràng: ngoại bì nạc và dày, lớp ngoài cùng có thể có sắc tố, trung bì mỏng và cứng, ít nhiều được gỗ hóa, nội bì nạc và dày Mỗi quả thường chứa 30 - 40 hạt (Braudeau, 1984)
Thời gian phát triển của quả: Theo Trần Văn Hâu và ctv (2004), tùy theo
giống và mùa vụ, từ khi hoa thụ phấn đến lúc trái chín khoảng 5-7 tháng
Sự phát triển của quả: Theo Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum (1996), trong 40 ngày đầu quả ca cao phát triển chậm nhưng sau đó nhanh dần Quả đạt kích thước lớn nhất sau thụ phấn độ 75 ngày Sau 85 ngày phôi hạt bắt đầu lớn nhanh, noãn sào được lấp đầy các chất nội nhủ nhày Sau 140 ngày phôi hạt đã tiêu thụ gần hết số chất nhày này để phát triển, trọng lượng hạt tích luỹ một lượng lớn dầu béo Khi phôi hạt ngừng phát triển là lúc quả chín
Hình dạng và kích thước quả: Theo Phạm Hồng Đức Phước (2003), màu sắc của quả khá đa dạng Trái chưa chín có màu xanh, đỏ tím hoặc xanh điểm đỏ tím tuỳ theo giống Khi trái chín màu xanh chuyển sang màu vàng, màu đỏ chuyển sang màu da cam Hình dạng trái thay đổi từ hình cầu đến dài nhọn hay hình trứng Số lượng khía và độ sâu của khía cũng thay đổi từ 5 – 10 khía, sâu nhiều đến ít hoặc trơn nhẵn Vỏ trái có thể dày từ 1 – 3 cm Trọng lượng trái 0,2 – 1 kg
Theo Braudeau (1984), những đặc tính về màu sắc, kích thước và hình dạng của quả thay đổi rất nhiều tuỳ theo các genotype Sự thay đổi ấy tất nhiên rõ nét hơn đối với cây ca cao thuộc nhóm giao tạp Trinitario Những đặc tính dùng để nhận dạng hoặc mô tả các dòng và chủng ca cao như sau:
· Màu sắc: Forastero Amazon khi nào quả cũng xanh, còn màu đỏ thấy ở Criollo và Tinitario Khi chín màu xanh chuyển qua màu vàng, màu đỏ chuyển
Trang 27thành da cam, mặc dù sắc tố vẫn được tồn tại trong một số trường hợp sau khi quả đã chín
· Kích thước: Quả dài từ 7 - 30 cm, rộng 7 - 9 cm
· Hình dạng: Đầu trên có thể có hoặc không thắt cổ trai, đầu cuối thì ít hoặc nhiều nhọn Đi từ hình cầu của “Calabacillo” đến hình dài và nhọn của
“Cundeamor”
· Số lượng và chiều sâu của các khía: 5 hoặc 10 khía, sâu nhiều hay sâu ít
· Cấu tạo vỏ: Vỏ xù xì hoặc trơn lán, chiều dày của vỏ thay đổi tuỳ theo nguồn gốc di truyền của cây Thường rất mỏng ở Criollo (6 – 10 mm), dày ở Forastero (18 – 20 mm)
· Trọng lượng quả và trọng lượng hạt: Tuỳ theo kích thước và hình dạng, có thể nặng từ 200 – 1000 gam Ở Forastero trọng lượng trung bình của một quả từ
400 – 500 gam, trọng lượng trung bình tươi của một quả thay đổi từ 100 – 200 gam
1.4 ĐẶC ĐIỂM CÁC GIỐNG CA CAO
1.4.1 Nhóm Criollo
Theo Trần Văn Hòa và Nguyễn Ngọc Thành (1988), nhóm Criollo có đặc
điểm như sau:
· Nhị lép có màu hồng nhạt
· Trái màu đỏ hoặc xanh trước khi chín
· Dạng trái dài và có đỉnh nhọn rất rỏ ở phía cuối trái (dạng Cundeamor)
· Mang 10 rãnh đều nhau hay đôi khi phân hai nhóm xen kẽ, trong đó một trong
số năm rãnh không rõ nét
· Hạt có tiết diện gần tròn, tử diệp màu trắng, ít đắng
Trang 28
1.4.2 Nhóm Forastero
Theo Lê Thị Thanh Thủy và Phan Thanh Trúc (2006), nhóm Forastero có đặc điểm như sau:
· Nhị lép có màu tím
· Trái màu xanh hay màu ôliu khi chín trở thành vàng
· Dạng trái đi từ Calabacillo đến Amolonado
· Vỏ dày và khó cắt vì lớp trong có nhiều chất gỗ
· Hạt hơi lép tử diệp có màu tím đậm
1.4.3 Nhóm lai Trinitario
Theo Trần Văn Hâu và ctv (2004), Trinitario là dạng lai giữa hai nhóm
Foastero và Criollo Hạt có phẩm chất trung gian giữa Foastero và Criollo, nhóm Trinitario có năng suất khá cao, kháng bệnh tốt nên cũng được trồng khá phổ biến
C, bình quân của nhiệt
độ tối thiểu hàng ngày phải trên 15oC, tối thiểu tuyệt đối không thấp hơn 10oC
Còn theo Phạm Hồng Đức Phước (2003), cây ca cao thích nghi tốt ở nhiệt độ tối đa khoảng 30 – 32oC và tối thiểu trung bình khoảng 18 – 21oC Cây bị thiệt hại nghiêm trọng ở nhiệt độ dưới 10oC
Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Hoà và Nguyễn Ngọc Thành (1988), khi nhiệt
độ hàng tháng cao hơn mức độ đòi hỏi thường hạn chế sự ra lá và ra hoa của ca cao Nhiệt độ bình quân hàng tháng không thay đổi nhiều suốt năm Do đó, nhiệt độ của Đồng Bằng Sông Cửu Long rất thích hợp cho việc trồng ca cao
Trang 291.5.2 Lượng mưa
Lượng mưa hàng năm khoảng 1.250 mm là rất thích hợp nhưng lượng mưa cần thiết nói chung khoảng 1.500 – 2.000 mm (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 2006) Lượng mưa là yếu tố quan trọng nhất đối với sự sinh trưởng và năng suất của cây ca cao, ca cao rất mẫn cảm với sự thiếu nước Tuy nhiên theo Braudeau (1984), yếu tố mưa chỉ có thể được coi là một mặt trong toàn bộ vấn đề cung cấp nước cho cây ca cao Chính vì vậy, ở những vùng có lượng mưa thấp vẫn có thể trồng được ca cao nhờ việc bổ sung nước bằng phương pháp hợp lý
Theo Nguyễn Văn Uyễn (1999), ba điều kiện tối hảo cho cây ca cao là:
· Lượng mưa 1.500 – 2.000 mm/năm Mùa khô (dưới 100 mm/tháng) không kéo dài quá ba tháng
· Nhiệt độ trung bình tối đa 30 – 320
Còn theo Trần Văn Hoà và ctv (2004), cây ca cao không phải là cây ưa bóng
râm tiêu biểu, trong điều kiện tự nhiên cây ca cao cho năng suất thấp và cho năng suất cao hơn trong điều kiện bóng râm thưa hơn Thực tế cây ca cao có thể trồng không cần che mát khi cây đã lớn và cho năng suất cao hơn nhưng đòi hỏi việc đầu
tư phân bón cao (Thuỷ Triều, 1988)
1.5.4 Ẩm độ
Theo Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum (1996), cây ca cao có thể sống trong thời tiết khí hậu có độ ẩm thường xuyên cao, nhưng cây ca cao thích hợp nhất với độ ẩm 85%, không khí nóng và ẩm hoàn toàn phù hợp cho cây ca cao Ở Đồng
Trang 30Bằng Sông Cửu Long, có ẩm độ bình quân từ 71 – 89% nên đáp ứng khá tốt cho đòi hỏi của ca cao về ẩm độ (Trần Văn Hoà và Nguyễn Ngọc Thành, 1988)
1.5.5 Đất đai
Đất cần sâu, xốp, không phèn (pH trên 5,5), im mát nhưng không được úng
nước (Thuỷ Triều, 1988) Theo Trần Văn Hâu và ctv (2004), khi lượng mưa nhiều
và phân bố cả năm, đất phải thoát nước tốt, do đó tỉ lệ sét trong đất phải thấp Khi lượng mưa thấp và thường bị hạn hán như ở Châu Phi thì đất phải có khả năng giử nước, trong điều kiện này đất phải có tỉ lệ sét từ 30 – 50% Thực tế ở Việt Nam, cây
ca cao được trồng ở vùng đất bằng hoặc dốc nhẹ, tầng đất sâu, cát pha hoặc đất rừng thoáng khí, giữ nước tốt và thoát nước tốt, hơi chua pH từ 5 – 8, tỷ lệ mùn cao (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
Theo Trần Văn Hoà và Nguyễn Ngọc Thành (1988), trong điều kiện của Đồng Bằng Sông cửu Long cần có các điều kiện sau:
· Bề dày tầng mặt trong vòng 1 m trở lại không có tầng phèn hay lớp đá cứng
· Đất không bị nhiễm mặn trong mùa nắng
· Mực thuỷ cấp dao động trong khoảng 0,5 – 0,8 m
· Đất có pH 4,5 – 6,5
1.6 CÁCH NHÂN GIỐNG
* Nhân giống vô tính
Hạt ca cao được thu không dùng để làm giống, dù lấy từ các cây có năng suất cao, vì chúng đều là sản phẩm của quá trình thụ phấn tự do Muốn có nhiều giống từ một cá thể năng suất cao được chọn lọc trong vườn, con đường duy nhất là phải nhân giống vô tính (Nguyễn Văn Uyển, 1999) Để đảm bảo giữ được các đặc tính tốt của những cây đã chọn lọc cần nhân giống cây bằng phương pháp vô tính Trong
đó ghép được sử dụng phổ biến hiện nay (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
Trang 31Cành ghép: là những cành có đường kính nhỏ, các lá đã thành thục (không có
lá non) được chọn từ những dòng thương mại đã chọn lọc (Phạm Hồng Đức Phước, 2003) Các cành ngang, tuổi bánh tẻ, mặt trên cành có màu nâu, mặt dưới có màu xanh, có từ 6 - 8 lá màu xanh đậm, đỉnh sinh trưởng đầu cành đang ở trạng thái ngủ nghỉ, cành không bị sâu bệnh hoặc có hiện tượng thiếu dinh dưỡng Cắt cành vào lúc râm mát (trước 10 giờ sáng và sau 15 giờ chiều) Tuyệt đối không để cành ghép
ở ngoài nắng (Đào Thị Lam Hương, 2010)
Gốc ghép: Hạt ca cao gieo trong bầu, sau khi hạt nẩy mầm, cây con phát triển 15 - 17 ngày (cao khoảng 15cm, đã bung 2 lá sò) có thể tiến hành ghép (Nguyễn Văn Uyển, 1999)
Kỹ thuật ghép: Để ghép thành công cần tạo gốc ghép sung sức, giữ ẩm tốt (Nguyễn Văn Uyển, 1999) Cành ghép được cắt vát hai phía và gắn vào dưới vỏ ở phần dưới tử diệp của gốc ghép Cố định cành ghép bằng dây và bao bọc cây đã ghép bằng nylon để khi tưới tránh nước bắn vào và giữ cho ẩm độ không khí cao Sau 2 – 3 tuần lễ, chồi ghép sống và phát triển có thể tháo dây buộc, cắt bỏ phần trên của gốc ghép để chồi phát triển mạnh (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
Chăm sóc sau khi ghép: sau khi cành ghép đã “dính” với gốc ghép (thường là
10 ngày) chồi ngủ bắt đầu sinh trưởng thành chồi mới ngay dưới lá sò (Nguyễn Văn Uyễn, 1999) Khi cành ghép đã phát triển cắt bỏ phần đọt gốc ghép để rễ tập chung nuôi cành ghép Sau khi ghép cây cần được tưới nước đầy đủ, tránh mặt bầu bị khô Thường xuyên tỉa bỏ các chồi vượt mọc từ gốc ghép và chồi nách Sau ghép 40 - 45 ngày thì cắt bỏ dây ghép (Đào Thị Lam Hương, 2010)
Trang 32Phòng trừ sâu bệnh: sau khi ghép 20 ngày trở lên dùng Validamycin 0,1% phun định kỳ 15 - 20 ngày/lần để phòng trừ bệnh do nấm Nếu trên vườn ươm có
triệu chứng nhiễm bệnh do nấm Phytophthora thì sử dụng các loại thuốc Alliet và
Ridomil nồng độ 0,2% để phun Khi phát hiện sâu rầy dùng các loại thuốc Basudin,
Bi 58 (Đào Thị Lam Hương, 2010)
1.7 CÁCH TÍNH NĂNG SUẤT CA CAO THƯƠNG PHẨM
Theo Braudeau (1984), năng suất ca cao thương phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, độ chín của trái, phương pháp ủ và phơi, điều kiện thu hoạch Còn theo Lê Thị Thanh Thuỷ và Phan Thanh Trúc (2006), năng suất ca cao thương phẩm được tính bằng tỷ số giữa trọng lượng ca cao khô thu được sau khi ủ và phơi khô trên trọng lượng hạt tươi khi bóc vỏ
1.8 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HẠT CA CAO
Để đánh giá phẩm chất hột ca cao thường dựa vào các tiêu chuẩn sau (Trần
Văn Hâu và ctv., 2004):
· Ẩm độ phải nhỏ hơn 8%
· Không có mùi vị lạ không hôi thối
· Hột lên men không đều, phôi nhủ khi cắt đôi không có “da lợn”
· Không lẫn tạp chất hoặc bị sâu bệnh, mọt
· Không có hột bị mốc, hột xám, hột bị các khuyết điểm khác
Tiêu chuẩn Việt nam về “Hạt ca cao – Yêu cầu kỹ thuật” (TCVN 7519:
2005) xác định các yêu cầu đối với hạt ca cao như sau (Neil Hollywood và ctv.,
2008):
· Không được có tạp chất lạ
· Không được có mùi khói, không có mùi hoặc vị lạ
· Không được chứa côn trùng sống
· Đồng đều về kích cở hạt
· Không có hạt dính đôi, dính ba
· Khô đều
Trang 33· Được lên men hoàn toàn
Bảng 1.3 Phân loại hạt ca cao theo TCVN 7519 : 2005
Hạt bị hư hại do côn trùng, hạt
Còn gọi bọ xít muỗi ca cao (giống Helopeltis) còn có giống gọi rệp hay rận
ca cao, chúng đều có kích thước trung bình từ 8 – 10 mm, đều có da mềm hay cứng, một bộ phận chân rất phát triển, cánh màu khói (Nguyễn Văn Uyễn và Nguyễn Tài Sum, 1996)
Hình thái: Bọ trưởng thành giống con muỗi lớn, màu xanh, con cái dài 4 – 5
mm, con đực nhỏ hơn Bọ tuổi nhỏ màu vàng nhạt (Đỗ Quốc Tấn, 2010)
Triệu trứng gây hại: hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, ngày âm u hoạt
động cả ngày Đẻ trứng rải rác hoặc từng cụm 2 – 4 quả trên búp hoặc trên gân lá, trứng đẻ sâu trong biểu bì để lộ ra hai sợi lông dài Bọ trưởng thành và bọ non chích hút chồi non, cành non và trái, các vết chích bị thâm đen Bị hại nặng búp và lá non xoăn lại, khô héo, trái non kém phát triển bị héo khô, trái lớn phát triển dị dạng, ít hạt và dễ bị nấm hại xâm nhập Bọ xít muỗi thường gây hại nặng trong mùa mưa, vườn rợp bóng, ẩm thấp bị hại nặng hơn (Đỗ Quốc Tấn, 2010)
Phòng trừ: Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bớt cành nhánh không cần thiết Có thể
phun các loại thuốc có hoạt chất như Fenobucard, Diazinon, Dimethoate Phun
Trang 34thuốc vào lúc sáng sớm lúc côn trùng di chuyển chậm chạp Bọ xít muỗi có thể
phòng trị rất hữu hiệu bằng cách nuôi kiến đen loài Dolichoderus thoracicus trong
vườn ca cao (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
1.9.2 Rệp sáp phấn (Planococcus citri)
Triệu chứng và tác hại: Rệp sáp sống bám vào cuốn, lá, trái, thân, quả non
hay cổ rễ để hút nhựa làm cây, trái chậm phát triển và còi cọc Rệp tiết ra chất hơi dính như mật ong nên thường có nhiều loài kiến sống cộng sinh với rệp (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
Phòng trừ: Cần phun thuốc kỹ để thuốc bám và thấm qua lớp sáp, phải phun
thuốc 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày để diệt tiếp lứa rệp non mới nở từ trứng được che
ở dưới bụng rệp mẹ Có thể dùng nước xà bông rửa chén pha 15 – 20 ml/bình 8 lít phun ướt đều nơi rệp đeo bám, ngày hôm sau phun thuốc (Đỗ Quốc Tấn, 2010)
1.9.3 Mối (Odontotermes sp.)
Triệu trứng gây hại: Mối gặm rễ cây và biểu bì thân cây làm cây sinh
trưởng kém, lá vàng úa, cây nhỏ có thể bị chết (Đỗ Quốc Tấn, 2010)
Phòng trừ: Dùng thuốc trừ sâu có hoạt chất Imidacloprid hoặc Chlorpyrifos
Thuốc cần phun dưới đáy và quanh thành hố trồng trước khi đặt cây vào (Phạm Hồng Đức Phước, 2003)
1.9.4 Bệnh thối thân, cháy lá, thối trái
Bệnh do nấm Phytophthora palmivora gây ra Bệnh thường xảy ra vào
những tháng trời ẩm ướt và tàn cây bóng mát quá dày Đây là loại bệnh phổ biến ở khắp các nước trồng ca cao và là bệnh quan trọng nhất Làm giảm sản lượng đến 80% (Nguyễn Văn Uyễn và Nguyễn Tài Sum, 1996) Còn theo Đỗ Quốc Tấn
(2010), nấm Phytophthora palmivora có nguồn gốc thuỷ sinh nên chúng ưa thích
và rất cần sự ẩm ướt để sinh sản, phát triển và gây hại Bệnh phát triển, lây lan mạnh trong mùa mưa, nhiệt độ không khí trên dưới 30oC ở những vườn ẩm thấp, đọng nước
Trang 351.9.5 Bệnh thối khô quả
Do nấm Diplodia theobromae Bệnh phát sinh quanh năm, phát triển mạnh
trong điều kiện nóng và ẩm Vết bệnh lúc đầu là những đốm màu nâu hơi ướt, sau vết bệnh lan rộng rất nhanh trên bề mặt và ăn sâu vào bên trong trái, làm trái bị đen
và khô cứng lại, có thể rụng hoặc dính lại trên cành một thời gian (Đỗ Quốc Tấn, 2010)
Trang 36CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
· Thước kẹp 2.000 mm (Trung Quốc sản suất)
· Cân điện tử (Statorius), bộ soxhlet (Đức sản xuất)
* Cách bình tuyển: Điều tra, hỏi người nông dân Qua đó chọn cây được ghi nhận
là sinh trưởng tốt, có năng suất cao, chất lượng, không sâu bệnh Đánh dấu và theo
dõi các cây được ghi nhận Các cây (13 cây) được đánh mã số như sau:
- Vườn ông Huỳnh Kim Vinh ở quận Cái Răng theo dõi 9 cây, không rỏ nguồn gốc Chỉ biết vào thời bao cấp nhà nước đem giống ca cao về ương, phát cho
Trang 37dân trồng và các cây này được ông huỳnh Kim Vinh tuyển chọn từ những cây tốt
trong vườn, các cây được ký hiệu như sau:
· CT1: Cây ghép, 26 năm tuổi.Trái có kích thước trung bình, da lán, trái
có màu xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng khi chín, đầu không
· CT4: Cây trồng từ hột, 26 năm tuổi Trái có màu xanh khi chưa chín
và chuyển sang màu vàng khi chín, có cổ chai, da lán
· CT5: Cây trồng từ hột, 26 năm tuổi Trái có kích thước trung bình, có
cổ chai, có màu xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng khi chín
· CT6: Cây trồng từ hột, 26 năm tuổi Trái có kích thước lớn, có màu xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng khi chín, có cổ chai, đuôi nhọn
· CT7: Cây trồng từ hột, 26 năm tuổi Trái có màu tím pha lẫn xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng cam khi chín, không có cổ chai, da sần
· CT8: Cây trồng từ hột, 26 năm tuổi Trái có kích thước trung bình, da sần, có cổ chai, có màu tím pha lẫn xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng cam khi chín
· CT9: Cây trồng từ hột, 26 năm tuổi Trái có màu tím pha lẫn xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng cam khi chín
Trang 38- Vườn ông Lâm Thế Cương ở Phong Điền theo dõi 3 cây, được ký hiệu như sau:
· CT21: Cây trồng từ hột của giống ca cao nhập từ Mã Lai, 30 năm tuổi Trái mang 10 khía đều nhau, da sần, có màu tím pha lẫn xanh lúc chưa chín và chuyển sang màu vàng cam khi chín, đầu thắt cổ chai
· CT22: Cây trồng từ hột không rỏ nguồn gốc, cây mẹ 60 năm tuổi đã cưa bỏ, đang theo dõi là chồi con 20 năm tuổi Trái có màu xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vàng khi chín, có cổ chai, đuôi nhọn
· CT24: Cây trồng từ hột (lấy hột từ những cây tốt trong vườn, không
rõ là giống nào), 7 năm tuổi Trái dạng dài, có cổ chai, đuôi nhọn, có màu xanh khi chưa chín và chuyển sang màu vagdf khi chín
- Vườn ông Lê Văn Hào ở huyện Phong Điền theo dõi 1 cây, được đánh dấu
là cây CT23: Cây giống do nhà nước nhập từ Mã Lai về phát cho dân trồng, cây được 60 năm tuổi Trái có màu tím khi chưa chín và chuyển sang màu vàng cam khi chín, mang 10 khía đều nhau, đầu thắt cổ chai, da sần
* Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Đặc tính nông học: chiều cao cây, đường kính tán, chu vi gốc thân Đo
các chỉ tiêu (sáu tháng đo một lần):
· Chiều cao cây
· Đường kính tán: chiếu bóng cây xuống mặt đất bằng cách dùng một cây trụ dài và thẳng, chiếu vuông gốc xuống đất, sau đó làm dấu và dùng thước dây đo lấy chỉ tiêu
· Chu vi gốc thân: dùng thước dây 150 cm đo chu vi thân ở vị trí có chu
vi lớn nhất
+ Sinh trưởng: ghi nhận thời gian ra lá, màu sắc lá non (thời điểm ghi nhận
phải đồng nhất) Đo các chỉ tiêu: các chỉ tiêu được lặp lại 5 lần mỗi lần tương ứng với một chồi
Trang 39· Chiều dài chồi: đo chiều dài khi chồi ngừng tăng trưởng (bỏ từ đỉnh đọt vào 20 cm trước khi xuất hiện chồi non)
· Đường kính chồi: đo đường kính chồi tại điểm đã được dánh dấu (cách 20 cm từ đỉnh đọt trở vào) bằng thước kẹp 2.000 mm
· Tổng số lá trên chồi: đếm tổng số lá trên chồi
· Kích thước lá khi đạt kích thước tối đa: lấy chỉ tiêu khi chồi đã ngừng tăng trưởng, dùng cây thước 20 cm để đo chiều dài và chiều rộng lá ở vị trí
có đường kính lớn nhất (3 lá /chồi)
· Số đợt lá trên năm: quan sát các đợt ra lá trong năm và ghi nhận lại tỉ
lệ ra lá ở mỗi đợt
+ Ra hoa, đậu trái: đặc tính ra hoa, đậu trái, tỉ lệ ra hoa, tỉ lệ đậu trái
- Đặc tính ra hoa: Ghi nhận thời gian ra hoa trong năm, thời gian ra hoa tập trung (mấy vụ/năm hay quanh năm), tỉ lệ ra hoa của từng đợt
Cách ghi nhận: khảo sát sự ra hoa trên một số đoạn thân, cành chính (m/đoạn, cách mặt đất 40 cm) Đếm số gối hoa/m thân, cành
- Thời gian từ khi hoa nhú mầm đến khi hoa nở, thời gian từ khi hoa nở đến khi đậu trái
- Sự ra hoa: mỗi cành (3 cành/cây) đánh dấu 10 mầm hoa bằng cách treo nhãn và tiến hành ghi nhận các khoảng thời gian Ghi nhận ngày bắt đầu nhú mầm hoa (NM), ngày hoa nở (HN), ngày đậu trái (ĐT)
(HN) – (NM) = thời gian từ khi nhú mầm đến nở hoa
(ĐT) – (HN) = thời gian từ khi hoa nở đến đậu trái
- Sự phát triển của trái: trong các cành đã chọn, mỗi cây thu 3 trái (mỗi cành thu 1 trái), đo chiều rộng, chiều dài trái, cân trọng lượng trái, trọng lượng hạt,
số hạt/trái, thu mẫu ở thời điểm thu hoạch
Trang 40
· Bề dày vỏ trái: đo độ dầy ở 4 điểm trên trái và lấy trung bình
· Tỉ lệ trọng lượng hạt/trọng lượng trái
· Màu sắc phôi nhũ
· Tỉ lệ ngót hạt: cân trọng lượng hạt tươi trước khi ủ (1), trọng lượng hạt sau khi ủ, phơi khô (2)
Tỷ lệ ngót hạt (%) = (2)/(1)*100
+ Năng suất và thành phần năng suất:
· Tổng số trái/cây: hỏi người nông dân thời điểm thu hoạch trái để ghi nhận số lượng trái thu hoạch được ở mỗi đợt trái chín, ghi lại chi tiết mỗi đợt trái chín mỗi cây thu hoạch bao nhiêu trái sau đó tổng kết
số liệu của mỗi lần thu hoạch lại
· Số hạt/trái: chọn 6 trái ca cao đều nhau, sau đó đếm hạt của mỗi trái và chia lấy trung bình
· Trọng lượng mỗi 1 hạt, tỉ lệ trung bình của 100 hạt
· Trọng lượng 100 hạt: hạt sau khi ủ và phơi khô, chọn ngẩu nhiên