TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ KHẢO SÁT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN THANH DỰ
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CỦA CÁC
GIỐNG ĐU ĐỦ (Carica papaya L.) TẠI
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CỦA CÁC
GIỐNG ĐU ĐỦ (Carica papaya L.) TẠI
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS TS Trần Văn Hâu Trần Thanh Dự
MSSV: 3077246
Lớp: Nông học 2 K33
Cần Thơ, 2010
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CỦA CÁC
GIỐNG ĐU ĐỦ (Carica papaya L.) TẠI
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Do sinh viên Trần Thanh Dự thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011 Cán bộ hướng dẫn
PGS TS Trần Văn Hâu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học với đề tài: ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CỦA CÁC GIỐNG ĐU ĐỦ (Carica papaya L.) TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG Do sinh viên Trần Thanh Dự thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá:
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011 Trưởng Khoa Nông Nghiệp SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trần Thanh Dự
Trang 6TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Trần Thanh Dự Giới tính: Nam Sinh ngày: 29/04/1989 Dân tộc: Hoa Nơi sinh: Phú Lộc - Thạnh Trị - Sóc Trăng
Họ và tên cha: Trần Hảo Võ Năm sinh: 1961
Họ và tên mẹ: Trần Thị Ánh Hồng Năm sinh: 1965 Quê quán: Thị Trấn Phú Lộc, Huyện Thạnh Trị, Tỉnh Sóc Trăng
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Từ năm 1995 đến năm 2000: học sinh trường Tiểu học Phú Lộc 1
Năm 2000 đến năm 2004: học sinh trường Trung học cơ sở Phú Lộc
Năm 2004 đến năm 2007: học sinh trường Trung học phổ thông Trần Văn Bảy Năm 2007 đến năm 2011: Là sinh viên ngành Nông học 2 K33, Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011 Người khai ký tên
Trần Thanh Dự
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng,
Cha mẹ đã suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của con
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến,
Thầy Trần Văn Hâu, người đã hết lòng hướng dẫn truyền đạt kiến thức và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn
Thầy cố vấn Nguyễn Phước Đằng đã quan tâm, động viên và giúp đỡ em trong suốt khóa học
Quý thầy cô và cán bộ thuộc Khoa Nông nghiệp và SHƯD đã tận tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian em học tại trường
Chân thành cảm ơn,
Anh Phan Xuân Hà và anh Phan Văn Trọng Tính đã luôn tận tình giúp đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm
Bạn Đỗ Thái Nguyên, Trần Thị Phơ Lin, Cao Sến và bạn Nguyễn Đức Mạnh
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thân ái gửi về,
Các bạn sinh viên lớp Nông học 1 và 2 khóa 33 những tình cảm thân thương nhất, lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai
Trần Thanh Dự
Trang 8Trần Thanh Dự 2010 Điều tra kỹ thuật canh tác và khảo sát một số đặc tính
nông học của các giống đu đủ (Carica papaya L.) tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền
Giang Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học Khoa Nông Nghiệp và Sinh
học Ứng Dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: PGs Ts Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Nhằm đánh giá về hiện trạng canh tác đu đủ, đồng thời tìm ra những giống
có khả năng sinh trưởng tốt và cho phẩm chất năng suất cao, đề tài “Điều tra kỹ
thuật canh tác và khảo sát một số đặc tính nông học của các giống đu đủ (Carica
papaya L.) tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang” được thực hiện từ tháng 8/2009 đến
tháng 6/2010 tại 3 xã: An Hữu, Mỹ Lương và An Thái Trung Tổng số hộ điều tra
là 30 hộ Mỗi hộ thu ngẫu nhiên 3 trái để chín tự nhiên và phân tích phẩm chất trái
tại phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông nghiệp và Sinh
học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ Tổng số trái đu đủ phân tích là 90 trái
Kết quả điều tra cho thấy: diện tích trồng đu đủ của các hộ nông dân nhỏ, phân tán
trung bình là 1.700 1.056 m2; tuổi cây trung bình là 8 1,5 tháng; 83,3% số hộ
trồng đu đủ với mô hình xen canh; có năm giống đu đủ được điều tra, trong đó
giống Đài Loan tím chiếm tỷ lệ cao nhất (40%); 80% số hộ mua giống tại cơ sở
sản xuất giống và chủ yếu là trồng từ hột (100%); kích thước mương phù hợp với
chiều rộng (2,7 0,7 m) và sâu (0,7 0,2 m); kích thước liếp phù hợp với chiều
rộng (3,8 1,1 m), sâu so với mực nước lúc cao nhất (0,6 0,2 m); Đa số người
dân sử dụng bờ bao tập thể (100%), trong đó có 26,7% số hộ có bờ bao riêng;
100% số hộ không trồng cây chắn gió; có 63,3% số hộ dùng cống bọng bằng xi
măng; kích thước mô hợp lý với chiều cao (31 8,2 cm), rộng (78,3 16,6 cm);
có 60% số hộ không xử lý mô trước khi trồng; Mật độ trồng (114 31,4 cây/1000
m2); có 73,3% số hộ tưới nước bằng máy với 2 ngày/lần (76,7%); cỏ được phát
bằng máy (76,7%) với 3 - 4 lần/năm (73,3%); Không bón phân hữu cơ cho cây
(100%); liều lượng bón phân hóa học không phù hợp so với khuyến cáo Số lần
bón trung bình là 15,2 8,6 lần/năm; côn trùng gây hại nặng nhất là nhện đỏ
(100%), rệp sáp (20%) và bệnh hại nặng là bệnh khảm (100%), thối rễ (23,3%);
thu hoạch chủ yếu dựa vào vỏ trái (93,3%); năng suất trung bình 4,0 1,5
tấn/1000 m2; chủ yếu là bán cho thương lái (70%) Về kết quả khảo sát năm giống
Trang 9đu đủ thì giống Cuống tím là giống có nhiều ưu điểm với chiều cao cây thấp (1,57 m), trọng lượng trái nhỏ (0,52 kg), số lượng hột/trái ít (340,80 hột), độ Brix cao (11,77%) phù hợp cho xuất khẩu nhưng do màu sắc vỏ trái không sáng (57,63),
mà lại có vỏ mỏng (0,07 cm) nên khó vận chuyển đi xa; Giống Da vàng có chiều cao cây thấp (1,67 m), trọng lượng trái nhỏ (0,59 kg), số hột/trái ít (210,50 hột), vỏ dày (0,11 cm), độ Brix thấp (9,27%) nên ít được người tiêu dùng ưa chuộng nhưng
do có da vàng sáng đẹp nên phù hợp chưng vào các dịp lễ tết Còn đối với các giống Đài Loan tím, Đài Loan F1 và Mã Lai thì sinh trưởng khá, số lượng hột/trái nhiều (450,71 - 522,12 hột), độ Brix cao (10,03 - 11,37%), vỏ dày (0,12 cm), màu sắc vỏ trái khi chín vàng sáng đẹp nhưng do có trọng lượng trái lớn (1,15 - 1,21 kg) nên không phù hợp cho việc xuất khẩu, chỉ tiêu thụ được trong nước Như vậy,
để trồng đu đủ có năng suất cao nên trồng những giống có chất lượng và phẩm chất tốt như giống Đài Loan tím hoặc Đài Loan F1 hoặc Mã Lai
Trang 10MỤC LỤC
Chương Nội dung Trang
Tóm lược vii
Mục lục ix
Danh sách bảng xiv
Danh sách hình xvi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CÁI BÈ 2
1.1.1 Vị trí địa lý 2
1.1.2 Đất đai 2
1.1.3 Khí hậu 2
1.2 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY ĐU ĐỦ 2
1.2.1 Nguồn gốc 2
1.2.2 Phân bố 3
1.3 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ SỬ DỤNG CỦA ĐU ĐỦ 4
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng 4
1.3.2 Giá trị sử dụng 5
1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ 5
1.4.1 Tình hình sản xuất 5
1.4.2 Tình hình tiêu thụ 6
1.5 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA CÂY ĐU ĐỦ 7
1.5.1 Rễ 7
1.5.2 Thân, cành 7
1.5.3 Lá 7
1.5.4 Hoa 8
Trang 111.5.5 Trái 10
1.5.6 Hột 10
1.6 YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CỦA CÂY ĐU ĐỦ 11
1.6.1 Khí hậu 11
1.6.1.1 Nhiệt độ 11
1.6.1.2 Ẩm độ và lượng mưa 11
1.6.1.3 Gió 11
1.6.1.4 Ánh sáng 12
1.6.2 Đất 12
1.6.3 Nước 12
1.6.4 Yêu cầu về dinh dưỡng 12
1.6.4.1 Đạm 12
1.6.4.2 Lân 13
1.6.4.3 Kali 13
1.7 MỘT SỐ GIỐNG ĐU ĐỦ TRỒNG PHỔ BIẾN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG 13
1.7.1 Đu đủ Đài Loan tím 13
1.7.2 Đu đủ Mã Lai 14
1.7.3 Đu đủ Hồng Kông Da Bông 14
1.7.4 Đu đủ Eksotika 14
1.7.5 Đu đủ Vỏ vàng 15
1.7.6 Đu đủ Solo 15
1.8 KỸ THUẬT CANH TÁC 15
1.8.1 Chuẩn bị đất trồng 15
1.8.2 Đào mương lên liếp 16
1.8.3 Bờ bao 16
1.8.4 Chọn giống và ương cây con 17
Trang 121.8.5 Kỹ thuật trồng 17
1.8.5.1 Thời vụ trồng 17
1.8.5.2 Mô trồng 18
1.8.5.3 Cách đặt cây con 18
1.8.5.4 Khoảng cách và kiểu trồng 18
1.8.6 Chăm sóc 19
1.8.6.1 Làm cỏ, che phủ liếp, xới đất 19
1.8.6.2 Tưới tiêu nước 19
1.8.6.3 Bón phân 19
1.9 SÂU BỆNH HẠI ĐU ĐỦ 20
1.9.1 Côn trùng 20
1.9.1.1 Rệp sáp 20
1.9.1.2 Nhện đỏ 20
1.9.1.3 Ruồi đục trái 21
1.9.2 Bệnh 21
1.9.2.1 Bệnh thối rễ 21
1.9.2.2 Bệnh thán thư 21
1.9.2.3 Bệnh cháy lá 21
1.9.2.4 Bệnh thối trái 22
1.9.2.5 Bệnh khảm 22
1.9.2.6 Bệnh đốm vòng 22
1.10 THU HOẠCH 23
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 24
2.1 PHƯƠNG TIỆN 24
2.1.1 Thời gian và địa điểm điều tra 24
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 25
2.2 PHƯƠNG PHÁP 25
Trang 132.2.1 Phương pháp và nội dung điều tra 25
2.2.1.1 Phương pháp điều tra 25
2.2.1.2 Nội dung điều tra 25
2.2.2 Phương pháp khảo sát một số đặc tính nông học 25
2.2.2.1 Chỉ tiêu về tăng trưởng 25
2.2.2.2 Chỉ tiêu về phẩm chất trái 26
2.2.3 Phân tích số liệu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29
3.1 ĐẶC ĐIỂM VƯỜN 29
3.1.1 Diện tích canh tác 29
3.1.2 Tuổi cây 29
3.1.3 Mô hình canh tác 30
3.2 GIỐNG CÂY TRỒNG 31
3.2.1 Giống trồng 31
3.2.2 Nguồn gốc giống 32
3.2.3 Phương pháp nhân giống 32
3.3 KỸ THUẬT CHUẨN BỊ VƯỜN 32
3.3.1 Kích thước mương 32
3.3.2 Kích thước liếp 33
3.3.3 Bờ bao và cống bọng 34
3.3.4 Cây chắn gió 35
3.4 KỸ THUẬT TRỒNG 36
3.4.1 Kích thước mô 36
3.4.2 Xử lý mô trước khi trồng 37
3.4.3 Mật độ trồng 37
3.5 CHĂM SÓC 38
3.5.1 Tưới nước 38
Trang 143.5.2 Làm cỏ 39
3.5.3 Bón phân 40
3.5.3.1 Loại phân 40
3.5.3.2 Liều lượng phân hóa học 41
3.5.3.3 Cách bón phân 42
3.5.3.4 Số lần bón 43
3.6 CÔN TRÙNG VÀ BỆNH GÂY HẠI 43
3.6.1 Côn trùng 43
3.6.2 Bệnh 44
3.7 THU HOẠCH 45
3.8 KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC CỦA ĐU ĐỦ 47
3.8.1 Đặc điểm cây 47
3.8.1.1 Chiều cao cây 47
3.8.1.2 Đường kính tán 48
3.8.1.3 Đường kính thân 48
3.8.1.4 Kích thước lá 49
3.8.2 Đặc tính về phẩm chất trái 50
3.8.2.1 Đặc điểm trái 50
3.8.2.2 Đặc điểm hột trong trái 51
3.8.2.3 Đặc điểm phẩm chất trái 53
3.8.2.4 Màu sắc vỏ trái và màu sắc dịch trái ( E) 55
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
4.1 KẾT LUẬN 58
4.2 ĐỀ NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ CHƯƠNG
Trang 15Giá trị dinh dưỡng trong trái đu đủ (Chỉ tính trên 100 g thịt trái)*
Sản lượng đu đủ ở một số quốc gia trên thế giới từ năm 2002 -
Phần trăm (%) số hộ với các mô hình canh tác đu đủ khác nhau
được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các nguồn gốc giống khác nhau được
điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Kích thước mương được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền
Giang, 2010
Kích thước liếp (m) được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh tiền
Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ có và không có bờ bao riêng và vật liệu làm
cống bọng khác nhau trong vườn đu đủ được điều tra tại huyện Cái
Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các kích thước mô khác nhau được điều
tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ có và không có xử lý mô trước khi trồng
được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các mật độ trồng đu đủ khác nhau được
điều tra tại huyện cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các biện pháp tưới nước và số lần tưới
khác nhau được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Trang 16Liều lượng phân bón (g/cây/năm) cho cây đu đủ trong một năm
được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các số lần bón phân khác nhau trong năm
được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các loại côn trùng gây hại khác nhau
được điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Phần trăm (%) số hộ với các chỉ tiêu thu hoạch trái, năng suất trái
và các hình thức tiêu thụ trái khác nhau được điều tra tại huyện
Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Một số đặc tính về sinh trưởng của 5 giống đu đủ lúc 10 tháng tuổi
được khảo sát tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Kích thước lá (cm) của 5 giống đu đủ lúc 10 tháng tuổi được khảo
sát tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Một số đặc điểm về trái của 5 giống đu đủ thu tại huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang, 2010
Một số đặc điểm về hột trong trái của 5 giống đu đủ thu tại huyện
Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010
Một số đặc điểm về phẩm chấtcủa 5 giống đu đủ thu tại huyện Cái
Trang 17Các dạng hoa đu đủ (a) Hoa đu đủ đực; (b) Hoa đu đủ cái; (c)
Hoa đu đủ lưỡng tính
Bản đồ địa bàn điều tra kỹ thuật canh tác đu đủ tại huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang, 2010
Kích thước lá đu đủ được khảo sát tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền
Giang, 2010 (a) Chiều dài lá đu đủ; (b) Chiều rộng lá đu đủ
Đường kính và độ dày thịt trái đu đủ được khảo sát tại huyện Cái
Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010 (a) Đường kính trái; (b) Độ dày thịt
trái
Phần trăm (%) số hộ trồng các giống đu đủ khác nhau được điều
tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010 (n = 30)
Phần trăm (%) số hộ với các loại bệnh gây hại khác nhau được
điều tra tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010 (n = 30)
Các loại bệnh thường gây hại trên đu đủ được điều tra tại huyện
Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010 (a) Bệnh khảm; (b) Bệnh đốm
vòng trái; (c) Bệnh thán thư trên trái
Sự khác nhau về hình thái bên ngoài của trái đu đủ (a) Trái đu đủ
chưa có mỏ vịt; (b) Trái đu đủ có mỏ vịt
Màu sắc vỏ trái của 5 giống đu đủ khi chín thu tại huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang, 2010 (a) Giống Đài Loan tím; (b) Giống Đài
Loan F1; (c) Giống Mã Lai; (d) Giống Cuống tím; (e) Giống Da
vàng
Màu sắc thịt trái của các giống đu đủ khi chín thu tại huyện Cái
Bè, tỉnh Tiền Giang, 2010 (a) Giống Đài Loan tím; (b) Giống Đài
Loan F1; (c) Giống Mã Lai; (d) Giống Cuống tím; (e) Giống Da
Trang 18MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, nhu cầu về trái cây của toàn xã hội ngày một tăng cao Trong khi đó, các mặt hàng nông sản trong nước thì không đa dạng về chủng loại, ổn định về chất lượng Do đó, các mặt hàng trong nước khó mà đáp ứng được với các yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Trong
xu thế hội nhập kinh tế của các nước Đông Nam Á, với việc gia nhập AFTA, ngành nông nghiệp nước ta nói chung và lĩnh vực cây ăn trái nói riêng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn từ những nước thành viên khác trong môi trường tự do thương mại (Phạm Ngọc Liễu và Đào Thị Bé Bảy, 2003) Như vậy, cần có chiến lược để phát triển trái cây trong nước
Với sự đa dạng của các loại cây ăn trái đặc sản của vùng như: Xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, Sầu riêng hạt lép Ri-6, Vú sữa lò rèn Vĩnh Kim,… thì cây đu đủ hiện nay cũng là một trong các loại cây ăn trái có tiềm năng phát triển Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Châu cho biết Bộ Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn đã xác định 11 loại cây ăn trái có lợi thế cạnh tranh với các nước trong
khu vực để tập trung quy hoạch, phát triển trong thời gian tới gồm: Thanh long, vú sữa, măng cụt, các loại cây có múi, xoài, sầu riêng, dứa, vải, nhãn xuồng cơm vàng, dừa và đu đủ (Quang Thuần, 2004)
Ở Tiền Giang, đặc biệt là ở huyện Cái Bè cùng với xoài, bưởi, cam, quýt, chuối,… thì cây đu đủ là một trong những loại cây được người dân trồng phổ biến
vì đây là cây dễ trồng, thời gian cho trái nhanh mà lại có năng suất cao Mặt khác,
đu đủ tươi và các sản phẩm chế biến nước quả cũng là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, một số nơi còn trồng đu đủ để lấy nhựa (papain) dùng nhiều trong kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất vì vậy các vùng chuyên canh đu đủ ngày càng được mở rộng Tuy nhiên, giống đu đủ là rào cản đầu tiên trong việc canh tác đu đủ hiện nay Do
đu đủ là cây có khả năng giao phấn rất lớn và việc nhân giống bằng hột nên các giống đã bị phân ly rất mạnh, biến động nhiều về khả năng nhiễm bệnh, sản lượng
và chất lượng cũng như hình dạng trái và thời gian thu hoạch, không kiểm soát được giới tính (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Chính vì vậy mà đề tài “Điều tra kỹ thuật canh tác và khảo sát một số
đặc tính nông học của các giống đu đu (Carica papaya L ) tại huyện Cái Bè,
tỉnh Tiền Giang” nhằm mục đích đánh giá hiện trạng canh tác đu đủ của người
dân, đồng thời tìm ra những giống có khả năng sinh trưởng tốt, cho phẩm chất và năng suất cao để góp phần cải thiện tình hình sản xuất đu đủ tại địa phương
Trang 19CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CÁI BÈ
1.1.1 Vị trí địa lý
Theo phòng Nông nghiệp huyện Cái Bè (2010), Cái Bè là huyện thuộc tỉnh Tiền Giang, có một thị trấn và 24 xã Cái Bè là huyện Nông nghiệp nằm về phía Tây, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho 50 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 113
km Phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Đông giáp huyện Cai Lậy Diện tích tự nhiên là 420,9 km2chiếm 17,23% diện tích toàn tỉnh Dân số theo thống kê năm 2004 có 287.481 người, mật độ 683 người/km2
1.1.2 Đất đai
Cái Bè là huyện có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh, có địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi Đất không bị mặn, phần lớn có diện tích nước ngọt quanh năm, pH khoảng 5 Hằng năm nơi này đã tiếp nhận một lượng phù sa rất lớn do sông Tiền bồi đắp, tạo nên dãy đất màu mỡ, tốt tươi để sản xuất
ra nhiều loại trái cây có giá trị kinh tế cao, nổi tiếng nhất là xoài cát Hòa Lộc và bưởi Lông Cổ Cò Huyện có mạng lưới giao thông thủy bộ rất thuận lợi tạo điều kiện cho việc vận chuyển, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm trong sản xuất
1.1.3 Khí hậu
Do nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt
độ bình quân cao và nóng quanh năm và được chia ra làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa
và mùa khô Lượng mưa trung bình 1.210 - 1.424 mm/năm và phân bố ít dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Độ ẩm trung bình 80 - 85%, nhiệt độ bình quân trong năm là 27 - 27,90C Gió có 2 hướng chính là Đông Bắc (mùa khô) và Tây Nam (mùa mưa); tốc độ trung bình 2,5 - 6 m/s
1.2 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ CÂY ĐU ĐỦ
1.2.1 Nguồn gốc
Theo Morton (1987), đu đủ có nguồn gốc từ miền Nam Mexico và các nước láng giềng Trung Mỹ Từ năm 1525, hột đu đủ đã được người Tây Ban Nha
Trang 20Oviedo đưa đến vùng bờ biển Panama sau đó đến Cộng hòa Dominican, dần dần lan sang các nước Tây Ấn, Bahamas, Bermuda vào năm 1616 Người Tây Ban Nha gọi những hột này là “papaya” và mang đến trồng tại Philippines, từ đó lan
rộng đến các nước Ấn Độ và Malacca Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), có
thể cây đu đủ vào Việt Nam qua đường Philippines
Đu đủ có tên khoa học là Carica papaya L thuộc họ Caricacea, tên tiếng Anh là papaya hoặc pawpaw Đu đủ được ghi nhận ở vùng Mexico trước năm
1492, sau đó được phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới trong phạm vi
vĩ độ 300 Nam, nơi có nhiệt độ bình quân trên 150C (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
1.2.2 Phân bố
Hiện nay, đu đủ được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới trong phạm vi 320 Bắc - 320 Nam, ở những nơi có nhiệt độ bình quân trong năm không thấp hơn 150C Các nước trồng đu đủ nhiều có thể kể đến là Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Myanma, Malaysia (Châu Á); Tazania, Uganda (Châu phi); Brazil, Hoa Kỳ (Châu Mỹ); Úc, Newzeland (Châu Đại Dương) Sản lượng đu đủ trên thế giới theo FAO (2007) là khoảng 7 triệu tấn Xu hướng của thị trường thế giới về các loại trái cây tươi và sản phẩm chế biến các loại trái cây nhiệt đới ngày càng tăng, trong đó có đu đủ Nhập khẩu đu đủ tươi toàn cầu tăng 46% đạt 118 nghìn tấn vào năm 2005 Trong số các nước phát triển, Mỹ là nước nhập khẩu đu
đủ nhiều nhất khoảng 40 nghìn tấn vào năm 2005 (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Ở Việt Nam, đu đủ được trồng hầu hết ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam Tuy nhiên, chúng được trồng nhiều nhất ở các tỉnh đồng bằng, dọc theo các con sông, trên các loại đất phù sa, dốc tụ, phù sa cổ và các loại đất khác Những vùng trồng nhiều đu đủ có thể kể đến là Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc (miền Bắc); Lái Thiêu, Tiền Giang, Sông Bé, các tỉnh Tây Nguyên,… (miền Nam) Diện tích trồng đu đủ của cả nước khoảng 10.000 - 17.000 ha, với sản lượng khoảng 200 - 350 nghìn tấn đu đủ (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Trang 211.3 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ SỬ DỤNG CỦA ĐU ĐỦ
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Theo Australian Government Office of the Gene Technology (2008), giá trị dinh dưỡng tính trên 100 g phần thịt trái đu đủ như sau:
Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng trong trái đu đủ (Chỉ tính trên 100 g phần thịt trái)*
Thành phần dinh dưỡng Tại Úc Thống kê của USDA-Mỹ
* Dữ liệu dinh dưỡng được lấy từ website của Papaya Australia (2007) và Cơ sở dữ liệu dinh
dưỡng quốc gia của USDA-United Stale Deparment of Agriculture (2006)
Trang 22Theo Chu Thị Thơm và Phan Thị Lài (2005) thì trong trái đu đủ có chứa hàm lượng vitamin rất phong phú nên đu đủ rất được mọi người ưa thích Người ta
ăn đu đủ có thể làm cho cơ thể mau hồi sức, mịn da, trẻ lâu và cho sáng mắt
1.3.2 Giá trị sử dụng
Nhựa đu đủ có chứa một loại enzyme phân hủy prôtein mang tên là
“papain” rất tốt cho quá trình tiêu hóa Ngoài ra, papain còn được sử dụng trong ngành công nghiệp sản xuất rượu bia Tại Haiti đu đủ được dùng để chữa viêm khớp, thấp khớp; còn tại Mauritius, Mexico và Philippines thì người ta dùng đu đủ
để chữa trị heng suyễn (Larson, 2007)
Bởi lý do này, nước ép của trái đu đủ xanh đã được sử dụng trong việc bào chế ra các loại thuốc với mục đích chữa trị và hỗ trợ hệ thống tiêu hóa Một số nghiên cứu ghi nhận trong trái đu đủ có chứa chất chống ung thư và giúp ngăn ngừa sỏi mật Chính vì vậy, cây đu đủ rất có giá trị về mặt kinh tế cũng như giá trị
y học, giúp cải thiện đời sống người nghèo trong vùng nông thôn (Phan Đình Kim
Thư và ctv., 2009) Tổ chức UNICEF (1999), cũng đã chọn đu đủ là một trong
những cây quan trọng nhất để khuyến khích trồng trong vườn gia đình (Vũ Công Hậu, 2000)
1.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
1.4.1 Tình hình sản xuất
Theo CBI Market Information Database (2009), trên thế giới sản lượng đu
đủ có khoảng 6.937.000 tấn, trong đó Brazil chiếm 1.898.000 tấn đứng ở vị trí thứ nhất, sau đó đến Mexico chiếm 800.000 tấn, Nigeria chiếm 765.000 tấn vào năm
2007
Trang 23Bảng 1.2 Sản lượng đu đủ ở một số quốc gia trên thế giới từ năm 2002 - 2007
Ngoài cung cấp ăn tươi, đu đủ còn phù hợp cho chế biến, sau dứa, xoài thì
đu đủ chiếm vị trí thứ ba trên thế giới về sản lượng đóng hộp xuất khẩu Những năm gần đây, Việt Nam cũng đã có dây truyền đóng hộp đu đủ xuất khẩu nhưng không đủ nguyên liệu, ngay cả đu đủ ăn tươi cũng phải nhập một phần từ Thái Lan
về để cung cấp đủ cho nhu cầu tiêu thụ ở thành phố (Phan Đình Kim Thư và ctv.,
2009)
Theo CIRAD (2006), Mexico là nước có xuất khẩu đu đủ đứng ở vị trí thứ nhất với 96.500 tấn, tiếp đến là Malaysia với 58.100 tấn rồi tới Brazil 35.900 tấn Trong số các quốc gia nhập khẩu đu đủ thì Mỹ chiếm 41% thị phần nhập khẩu đu
đủ trên toàn cầu, tiếp theo là các nước châu Âu chiếm 20%, trong đó Netherlands
có mức tiêu thụ đu đủ cao nhất chiếm 35% thị phần nhập khẩu toàn châu Âu, tiếp đến là Hồng Kông chiếm 11%, Singapo chiếm 11%
Trang 241.5 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT CỦA CÂY ĐU ĐỦ
1.5.1 Rễ
Hầu hết rễ đu đủ mọc ra là rễ bàng, đâm nhánh ngang mạnh khi gặp điều kiện thuận lợi nhưng mọc xuống sâu kém, rễ mềm và rất sợ đọng hoặc úng nước Cần tạo lớp đất mặt tơi xốp, dễ thoát nước, giàu dinh dưỡng để giúp rễ phát triển
tốt (Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997)
Theo Vũ Công Hậu (2000), rễ đu đủ mềm phần lớn tập trung ở tầng đất
0 - 30 cm và không có lớp bảo vệ bên ngoài nên rất dễ bị tổn thương do cơ giới
Do đó để bộ rễ phát triển mạnh cần tạo cho cây có một tầng đất hoạt động thích hợp
Rễ đu đủ phân bố rộng tương đương với độ rộng của tán lá trên mặt đất Trong đất rễ hoạt động rất mạnh do vậy chúng rất cần oxy, rễ cũng rất mẫn cảm với nước trong đất cũng như thành phần cơ giới của đất Ở Quảng Châu - Trung Quốc người ta thấy rễ đu đủ bắt đầu hoạt động khi nhiệt độ đất đạt 17,90C và hoạt động yếu trong các tháng mùa đông (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
1.5.2 Thân, cành
Đu đủ thuộc loại thân mềm, bán mộc, thân già có màu xám xanh hay nâu
đỏ Thân mang nhiều sẹo lá và dễ bị bọng ruột, độ bọng ruột càng lớn khi cây càng già, do đó dù thân có đường kính khá lớn (đôi khi đường kính đạt 15 - 20 cm) nhưng thân cây khá giòn và mọng nước nên dễ bị gió mạnh làm gãy cây (Nguyễn
Thành Hối và ctv., 1997)
1.5.3 Lá
Lá đu đủ là lá đơn, mọc thành chùm ở ngọn thân Lá lớn có cuống dài từ
70 - 90 cm, phiến rộng 30 - 60 cm, mỏng, mềm, chia 7 - 11 thùy và đôi khi các thùy này chia ra làm nhiều thùy nhỏ Gân lá nổi rõ ở mặt dưới, trung bình sau 3 - 5 ngày cây sẽ mọc một lá từ ngọn thân Lá đu đủ dễ bị gãy, rách Cần chú ý bảo vệ
bộ lá vì số lá tỷ lệ thuận với số phát hoa mọc ra ở nách lá, khả năng đậu trái, độ
lớn trái và năng suất thu hoạch (Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997)
Theo Trần Thế Tục (2002), cây đu đủ từ khi mọc cho đến lúc lá thành thục khoảng 20 ngày, nếu mùa đông thì khoảng 30 ngày Trong một năm đu đủ có thể mọc được 60 lá, tuổi thọ của lá khoảng trên dưới 4 tháng Cũng như rễ, lá đu đủ rất mẫn cảm với điều kiện không thuận lợi như sương muối, nhiệt độ thấp, úng,
Trang 25hạn,… biểu hiện bằng các phản ứng như ra lá chậm, héo rũ, rụng sớm Vì vậy, để
đảm bảo năng suất cao cần giữ cho bộ lá xanh tốt, không bị rụng sớm
Theo Takkalaki (2008), việc cắt tỉa bỏ bớt những lá già và những lá mọc
dưới thấp sẽ hạn chế sự tổn thương của trái do trái ma sát với cuống lá và mặt
khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phun thuốc trừ sâu Khi cắt bỏ những lá
này nên dùng tay bẻ cuống lá chứ không nên dùng dao kéo để cắt vì có thể truyền
bệnh từ cây này sang cây khác
1.5.4 Hoa
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), đu đủ có ba loại hoa: hoa đực, hoa
cái và hoa lưỡng tính Dựa vào đặc điểm mang hoa, thông thường có ba loại cây
Theo Ray (2002), hoa đực nhỏ, dài khoảng 2 - 3 cm, có 5 cánh dính lại với
nhau thành một hình ống, chỉ có nhị đực không có nhụy cái Hoa đực màu trắng
vàng thường có mùi thơm, mọc thành chùm trên phát hoa dài Dạng hoa đực
thường phát triển từ cây đực và cây lưỡng tính
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), hoa đực không cuống, nhỏ, đường
kính 0,4 - 0,5 cm, dài 4 - 5 cm, không bầu noãn, có 10 nhị đực với hai túi phấn
trên mỗi nhị, nhụy cái không phát triển nên không cho trái, sẽ rụng sau khi nở
Trong sản xuất thì cây đực không có ý nghĩa về năng suất, song lại là cây cung cấp
phấn cho cây cái và cây lưỡng tính, giúp tăng sự đậu trái cho cây trong vườn
Trang 26* Cây cái
Đa số hoa trên cây là hoa cái, hoa rất to gấp 4 - 5 lần hoa đực Hoa cái có 5 cánh màu trắng vàng rời nhau Nướm của nhụy cái lớn và chia thành 5 mảnh, không có nhị đực (Vũ Công Hậu, 2000)
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), hoa cái dài 3 - 5 cm, đường kính
4 - 6 cm, cuống to và mập Hoa có bầu noãn lớn 2 - 3 cm, nướm nhụy cái lớn, không có nhị đực Hoa cái ít có khả năng tạo trái, chỉ cho một vài trái trên cây do bầu noãn tự phát triển, nhưng các trái này thường nhỏ và không có hột Cây sẽ cho nhiều trái hơn khi hoa cái được nhận phấn từ các loại hoa ở cây khác bay tới
* Cây lưỡng tính
Hoa lưỡng tính có kích thước trung gian to hơn hoa đực và nhỏ hơn hoa cái,
có 5 cánh dính với nhau ở phần dưới cánh hoa tạo thành ống Hoa có 5 - 10 nhị đực, bầu noãn phát triển có 2 - 5 lá noãn giúp hoa đậu trái cao Đặc tính nổi bật nhất của cây lưỡng tính là tính di truyền không ổn định, ở các đời sau thường lẫn lộn có cây lưỡng tính, cây đực và cây cái,… với tỷ lệ khác nhau (Vũ Công Hậu, 2000) Hoa có khả năng tự thụ và thụ phấn chéo để hình thành trái Trái có hình dạng thon dài hay dạng quả lê, thịt trái dày, nhiều hột tùy thuộc vào giống (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), cây đu đủ lưỡng tính thường mang
cả hoa lưỡng tính và hoa đực Các hoa đực ở đây gần giống như hoa đực ở cây đu
đủ đực nhưng có cuống hoa ngắn và mọc xen kẽ với hoa lưỡng tính trên cùng phát hoa Trong điều kiện cây sinh trưởng mạnh, đủ Auxin thì số hoa đực sẽ ít đi và thế vào đó là hoa lưỡng tính Hoa lưỡng tính có nhị đực với bao phấn vàng và hoạt động Vòi nhụy cái của hoa cao hơn nhị đực và sẵn sàng nhận phấn, cùng lúc bầu noãn hoa hoạt động tốt cũng giúp hoa đậu trái cao Trong sản xuất nên chọn các cây đu đủ loại này trồng để đạt năng suất cao và sản lượng trái cao vì hoa lưỡng tính vừa có khả năng thụ phấn chéo vừa tự thụ phấn Thông thường, hoa lưỡng tính thụ tinh cho dạng trái dài, dày cơm, hột nhiều, ngon ngọt, năng suất cao Người ta thường chọn hột trên các trái này để làm giống
Chính vì vậy việc xác định giới tính của cây đu đủ trong giai đoạn đầu trước khi đem ra trồng là rất quan trong vì sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức, cây đực rất khó cho trái còn cây cái năng suất có thể bị ảnh hưởng khi hoa không
được thụ phấn (Nishina và ctv., 2000)
Trang 271.5.5 Trái
Thời gian trái sinh trưởng và phát triển kéo dài 3 - 4 tháng tùy thuộc vào mùa vụ và giống Khác với các cây trồng khác, phẩm chất trái đu đủ phụ thuộc rất nhiều vào thời gian chín, mức độ thụ phấn, thụ tinh hình thành hột trong trái nhiều hay ít Nhìn chung khi trái chín trong thời gian ít mưa, nhiệt độ cao và trái càng có nhiều hột thì phẩm chất trái càng tốt (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002)
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), dạng trái đu đủ thường tùy thuộc
vào loại hoa đã thụ tinh:
- Hình trứng hay hình cầu: Do hoa cái phát triển, mỏng cơm, bọng ruột, trái lớn và tròn
- Hình thon dài: Do hoa lưỡng tính tạo thành, dày cơm, nhiều hột và ngon ngọt Loại trái này thường dài 20 - 40 cm, đường kính 5 - 15 cm, trọng lượng 0,5 - 4,0 kg
Theo Chan (2009), trái đu đủ có thể nặng khoảng 0,2 - 10 kg Trái được cho
là trung bình khi nặng khoảng 0,5 - 1,0 kg Nếu lớn hơn 1 kg được xem là trái có kích cỡ lớn Đu đủ được thị trường Mỹ ưa chuộng là trái của các cây lưỡng tính (trái dạng thon dài), có kích thước và trọng lượng trung bình
1.5.6 Hột
Trái đu đủ mang trung bình 300 - 500 hột, trái đủ độ già có khoảng 60 - 70% hột sẽ mọc thành cây Hột già có màu xám hoặc đen và thường chìm trong nước, bên ngoài hột có lớp vỏ lụa mỏng cản thấm nước nên cần chà tróc bỏ trước khi gieo Hột đu đủ có chứa dầu, trọng lượng 1.000 hột khô nặng khoảng 20 g
(Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997) Trong mỗi trái đu đủ lượng hột nhiều hay ít
phụ thuộc vào việc thụ phấn và tác động của điều kiện ngoại cảnh Nếu được thụ phấn tốt thì mỗi trái có trên 1000 hột (Trần Thế Tục, 2002)
Nishina và ctv (2000) cho rằng cây đu đủ trồng từ hột có thể phát triển
thành cây cái hoặc cây lưỡng tính Tuy chất lượng trái của 2 loại này không có gì khác biệt nhưng thị trường thường ưa chuộng trái dài của cây lưỡng tính hơn là trái tròn của cây cái
Trang 281.6 YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CỦA CÂY ĐU ĐỦ
1.6.1 Khí hậu
1.6.1.1 Nhiệt độ
Do có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên nhiệt độ là yếu tố giới hạn, hạn chế
sự phân bố cũng như sự sinh trưởng và phát triển của cây đu đủ Nhiệt độ thích hợp nhất cho đu đủ phát triển là 25 - 300C Nhiệt độ cao hay thấp quá đều làm giảm khả năng đậu trái của đu đủ (Trần Thế Tục, 2002)
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vào các tháng quá khô (tháng 2 - 4 dl), nhiệt
độ 30 - 350C và các tháng mưa dầm (tháng 7 9 dl), thiếu nắng, mưa nhiều (250
-300 mm/tháng) gây úng rễ, đều làm đu đủ sinh trưởng kém, ít đậu trái và giảm
năng suất (Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997) Nếu nhiệt độ lạnh quá không đủ
nóng thì khi trái chín sẽ bị lạt (Tôn Thất Trình, 2000)
1.6.1.2 Ẩm độ và lượng mưa
Theo Chu Thị Thơm và Phan Thị Lài (2005), hàm lượng nước trong thân,
rễ, lá và trái đu đủ chín đều rất cao, khoảng 80 - 90% cho nên đu đủ thích sống ở những nơi ẩm ướt, đất phải đạt độ ẩm tối đa từ 60 - 70% Độ ẩm không khí 85 -90%
Cây đu đủ thích hợp với những vùng có lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.000 mm, nhưng phải phân bố đều trong năm, nếu trong một tháng lượng mưa thấp dưới 100 mm, kèm theo nắng nóng thì phải tưới nước bổ sung Ở các tỉnh phía Nam vào các tháng mùa khô phải tưới nước thường xuyên
để đảm bảo đủ nước theo yêu cầu của cây Nếu thiếu nước lại gặp nhiệt độ cao hoa
sẽ ít đậu trái, trái non bị rụng (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.6.1.3 Gió
Theo Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư (2002), do bộ rễ đu đủ ăn nông và là cây thân thảo nên đu đủ rất kém chịu gió, bão nhất là thời kỳ cây đang cho trái Vì vậy, nên trồng đu đủ nơi kín gió hoặc có hàng cây chắn gió Gió mạnh làm lá cây
bị rách ảnh hưởng đến sự sinh trường và phát triển của cây, gió mạnh làm ngã cây gây xây xát thân, làm chảy nhựa tạo điều kiện cho nấm bệnh tấn công và phát triển
Trang 291.6.1.4 Ánh sáng
Đu đủ là cây ưa sáng, ánh sáng không đủ sẽ làm cho các đốt của thân vươn dài, cuống lá nhỏ, phiến lá mỏng và rất dễ bị sâu bệnh phá hoại như là các loại rệp, bệnh khảm lá, thối cổ rễ,… Tuy nhiên yêu cầu về chiếu sáng của cây không như nhau trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Nhìn chung, cây đu đủ yêu cầu cường độ chiếu sáng không cao trong thời kỳ cây còn nhỏ và đặc biệt là trong vườn ươm, chúng có yêu cầu ánh sáng cao trong thời kỳ sinh trưởng mạnh, ra hoa
và đậu trái (Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư, 2002) Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), đu đủ có thể tiếp nhận được ánh sáng có cường độ khoảng 30.000 - 50.000 Lux
1.6.2 Đất
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), đất phù sa ven sông, đất cồn pha
cát giàu dinh dưỡng trồng đu đủ cho trái to và nhiều trái; tuổi thọ vườn cao Cây
đu đủ không chịu phèn, rễ mọc cạn và chịu úng kém, do đó cần chọn đất không phèn (pH = 5,5 - 6,5), tơi xốp, dễ thoát nước (giữ nước trong mương sâu 50 - 60
cm cách mặt liếp và ổn định) Đất phải tơi xốp, chứa nhiều dinh dưỡng ở lớp đất mặt 40 - 50 cm
Theo Nishina và ctv (2000), cây đu đủ rất thích hợp với đất thoát nước tốt,
thoáng khí và màu mỡ, độ pH từ 5,5 - 6,7 Trong điều kiện đất bị ngập úng thì cây rất dễ bị nhiễm các loại bệnh trên rễ, thậm chí cây có thể bị chết nếu bị ngập vài giờ
1.6.3 Nước
Theo Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư (2002), đu đủ là cây yêu cầu nước cao
do diện tích lá lớn song rất sợ úng, ngập làm ngạt rễ Lượng nước mà đu đủ yêu cầu từ 1.300 - 1.500 mm trong năm phân bố đều hoặc hàng tháng lượng nước cung cấp đạt khoảng 100 mm Trong quá trình sinh trưởng đu đủ cần nhiều nước trong
giai đoạn vươn cao (sau trồng 4 - 5 tháng), giai đoạn ra hoa và giai đoạn đậu trái
1.6.4 Yêu cầu về dinh dưỡng
1.6.4.1 Đạm
Theo Trần Thế Tục (2002), trong mùa đông lá đu đủ ít phát triển hoặc không phát triển như vậy lúc này cây cần rất ít đạm, lượng đạm thừa sẽ được tích lũy vào trái dưới dạng nitrat Vì vậy, muốn dùng đu đủ để đóng hộp thì phải giảm lượng đạm bón và chỉ bón vào thời kì cây sinh trưởng nhanh Đạm là nguyên tố
Trang 30không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của trái (Đường Hồng Dật, 2000) Bón đạm đầy đủ cho cây, lá sẽ
xanh tươi và cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt (Tôn Thất Trình, 2000)
1.6.4.2 Lân
Theo Nguyễn Xuân Hiển và ctv (1984), cây con cần cung cấp đủ lân dễ
tiêu, vì vậy nên trộn đều khoảng 500 g phân lân với đất trong hố trồng Thiếu lân làm cho bộ lá có màu lục sẫm nhưng gân lá và dọc lá lại ngả sang màu đỏ tía Lân cũng rất cần cho cây trong quá trình phân hóa mầm hoa Thiếu lân cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ không phát triển được Bón phân lân đầy đủ sẽ làm cho cây mọc mạnh và kháng bệnh tốt (Tôn Thất Trình, 2000)
1.6.4.3 Kali
Mặc dù đất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có chứa nhiều kali nhưng để cây
có năng suất cao, phẩm chất tốt và môi trường đất được bền vững cần phải bón thêm kali Nông dân thường ít bón kali cho vườn cây ăn trái Nguồn kali thích hợp cho trái cây sạch hữu cơ gồm có tro, củi, đá Feldspar, rơm rạ,… (Nguyễn Bảo Vệ, 2003) Bón phân kali cho cây, trái đu đủ sẽ giòn, ngọt và năng suất cao hơn (Tôn
Thất Trình, 2000)
1.7 MỘT SỐ GIỐNG ĐU ĐỦ TRỒNG PHỔ BIẾN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.7.1 Đu đủ Đài Loan tím
Đây là giống địa phương và là giống được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Cây sinh trưởng và phát triển mạnh vào giai đoạn đầu sau khi trồng Cây cao trung bình từ 170 - 200 cm Từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ 10 - 12 tuần Vị trí mang trái đầu tiên
cách mặt đất 75 - 80 cm (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
Trái phát triền từ hoa lưỡng tính có hình trụ dài, hơi thon về phía cuống trái Trái phát triển từ hoa cái có dạng hình tròn, hơi nhọn về phía đầu trái, thịt trái mỏng hơn so với trái lưỡng tính Trọng lượng trái trung bình 1.100 - 1.300 g Vỏ trái khi chín có màu vàng, thịt trái màu đỏ tía, màu đỏ nhạt hơn về phía gần vỏ trái, vị ngọt ngon (độ Brix từ 11,0 - 12,5%, độ chắc thịt trái từ 1,1 - 1,5 kg/cm2) Thông thường trái được thu hoạch khi trái xanh có những vệt màu vàng và trái có màu xanh nhiều xen lẫn màu vàng vì trái sẽ chín sau vài ngày ở điều kiện phòng
Cây cho năng suất từ 18 - 20 kg/cây/năm, nếu được chăm sóc tốt có thể đạt năng
Trang 31suất trên 30 kg/cây/năm Giống nhiễm bệnh đốm vòng ở mức trung bình (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009) Vỏ trái đu đủ cứng nên dễ vận chuyển đi xa Ngoài ra, còn có một số giống Đài Loan bình thường có ruột chín màu đỏ nhạt
(Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997)
1.7.2 Đu đủ Mã Lai
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), giống đu đủ Mã Lai cho trái to
2,5 - 3 kg/trái, ruột đỏ, ngọt Tuy nhiên, khi chín trái rất mau mềm nên hơi khó khăn trong quá trình vận chuyển đi xa Giống Mã Lai cũng thường thấy có hai dạng, một dạng có đầu mặt trái nơi tiếp giáp cuống có dạng phẳng và một dạng thì lõm hẳn xuống
1.7.3 Đu đủ Hồng Kông Da bông
Theo Viện Cây Ăn Quả Miền Nam (2009), đây là giống địa phương được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam, cây sinh trưởng và phát triển khá mạnh vào giai đoạn đầu sau khi trồng Cây cao trung bình từ 160 - 200 cm Từ khi trồng ngoài đồng đến khi ra hoa đầu tiên từ 10 - 12 tuần Vị trí mang trái đầu tiên cách mặt đất
75 - 80 cm
Trái phát triển từ hoa lưỡng tính có dạng trái hình trụ dài, thon nhọn về phía đầu trái Trái phát triển từ hoa cái có dạng hình tròn, thịt trái mỏng hơn trái lưỡng tính Trọng lượng trái trung bình 1.100 - 1.600 g Vỏ trái khi chín có màu vàng, thịt trái dày và có màu vàng tươi, vị ngọt ngon (độ Brix từ 9 - 10%) nhưng thịt mềm khi chín (độ chắc thịt trái từ 0,8 - 0,9 kg/cm2) Cây cho năng suất từ 15 - 18 kg/cây/năm, tuy nhiên trong điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt trên 25 kg/cây/năm Giống nhiễm bệnh đốm vòng ở mức trung bình
1.7.4 Đu đủ Eksotika
Giống có nguồn gốc ở Malaysia, do Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (MARDI) lai tạo và phóng thích Giống này là một trong những giống đu đủ xuất khẩu trái tươi của Malaysia Cây sinh trưởng và phát triển mạnh,
ra hoa sớm và mang nhiều trái Cây cao trung bình từ 150 - 160 cm Từ khi trồng đến khi mang trái đầu tiên từ 10 - 12 tuần Vị trí mang trái cách mặt đất từ 60 - 80
cm
Trái từ hoa lưỡng tính có dạng hình quả lê Trọng lượng trái trung bình
600 - 800 g, vỏ trái khi chín có màu vàng cam Khi trái chín chuyển màu 3/4 vỏ trái có màu vàng là dùng để ăn tươi ngon nhất Thịt trái màu đỏ cam đồng đều, độ
Trang 32Brix từ 10 - 13%, độ chắc thịt trái từ 1,0 - 1,0 kg/cm2 Cây cho năng suất cao, mỗi cây mang trung bình từ 50 - 80 trái/cây/năm Nếu được chăm sóc tốt có thể đạt năng suất 30 - 40 tấn/ha/năm(Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)
1.7.5 Đu đủ Vỏ vàng
Đây là giống đu đủ địa phương, được trồng nhiều ở huyện Cái Bè và Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Trái có vỏ màu vàng sáng khi còn tươi cũng như khi chín Phẩm chất thịt trái kém nhưng vỏ trái có màu vàng đẹp nên được dùng để trưng bày vào các dịp lễ và ngày Tết (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009) Theo
Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), giống đu đủ này có thân lá hơi vàng, trái nhỏ,
đặc biệt da trái màu vàng tươi rất đẹp
Theo Yon (1994), đu đủ từ khi ra hoa đến khi đậu trái khoảng 4 - 6 tháng, còn từ khi đậu trái đến thu hoạch là khoảng 5 tháng sau Trái đầu tiên cách mặt đất
khoảng 80cm Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), thời gian sinh trưởng trung
bình của các giống đu đủ là 8 - 9 tháng, có thể hái lứa trái đầu Thông thường, thời gian ở vườn ươm cây con khoảng 1 tháng, từ khi trồng đến trổ hoa khoảng 4 - 4,5 tháng, từ trổ hoa đến thu trái được là 4 - 4,5 tháng
1.8 KỸ THUẬT CANH TÁC
1.8.1 Chuẩn bị đất trồng
Theo Nguyễn Thành hối và ctv (1997), các vùng đất thấp phải lên liếp cao
trước khi trồng Nên lên liếp theo kiểu kê đất (tức là lớp đất mặt để ở trên) để tránh tình trạng đất bị “xì phèn” Sau khi lên liếp, lấy đất mặt khô đắp thành mô (theo mật độ trồng), rộng 50 - 60 cm, cao 20 - 30 cm, để đặt cây con tránh nước đọng gốc làm chết cây Mô nên đắp sớm ít nhất 20 - 30 ngày trước khi trồng Tránh dùng đất ướt, đậy rơm cỏ khô quá dày sẽ gây ngẹt rễ, có thể cây bị vàng lá và chết
Trang 331.8.2 Đào mương lên liếp
Kích thước mương thường được quyết định tùy theo các yếu tố như địa hình cao hay thấp, độ sâu tầng sinh phèn, giống cây trồng và chế độ trồng xen trong vườn Bề mặt và bề sâu của mương thường phụ thuộc chặt vào chiều cao của liếp Tỉ lệ mương/liếp thường là 1/2 Chiều sâu mương từ 1,0 - 1,5 m tùy theo địa hình, tầng sinh phèn,… Chú ý, khi đào mương lên liếp không nên đào mương quá sâu vì sẽ đưa phèn lên bề mặt đất gây ngộ độc cho cây (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Đối với kỹ thuật lên liếp thì thông thường có các kiểu lên liếp sau:
- Lên liếp theo lối cuốn chiếu: áp dụng cho những vùng có lớp đất mặt tốt và lớp đất dưới không xấu lắm
- Lên liếp theo lối kê đất: áp dụng cho những vùng có lớp mặt mỏng, lớp đất dưới không tốt, có phèn
- Lên liếp theo băng: tức là lấy lớp đất mặt ở mương trải ra thành một băng ở giữa chạy dọc theo liếp, sau đó đào lớp đất sâu của mương ốp vào hai bên băng
- Lên liếp theo kiểu đắp mô: tức là lấy lớp đất mặt đắp thành các mô để trồng cây, phần đất xấu của mương được đắp vào phần còn lại của liếp và thấp hơn mặt
mô
Ngoài ra, theo kết quả điều tra ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp và An Giang của Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Cần Thơ thì hầu hết nông dân áp dụng kỹ thuật đào mương lên liếp theo lối thông thường, tức là lấy lớp đất mặt làm chân liếp và lớp đất sâu làm mặt liếp Sau đó phơi đất khoảng 3 - 6 tháng rồi mới tiến hành trồng (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.8.3 Bờ bao
Hàng năm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thường có lũ về từ tháng 8 - 11 dương lịch, vì vậy các vườn cần xây dựng bờ bao để bảo vệ cây trồng tránh khỏi
sự thiệt hại của lũ (Võ Hữu Thoại và ctv., 2002) Ngoài ra, bờ bao còn nhiều chức
năng khác như (a) Là đường giao thông vận chuyển trong vườn, (b) là nơi xây dựng các cống bọng đầu mối để điều tiết nước, (c) là nơi trồng các hàng cây chắn gió và (d) hạn chế ngập lũ trong mùa mưa,… (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Do đó, bờ bao cần phải chắc chắn và đảm bảo được độ cao so với mực nước lũ hàng năm
Trang 341.8.4 Chọn giống và ương cây con
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), việc chọn hột giống trồng có ảnh
hưởng lớn đến năng suất và thu nhập kinh tế gia đình Nên chọn các trái từ cây lưỡng tính (dạng trái dài), phát triển tốt để lấy hột gieo Trái chọn lấy hột để gieo phải để đủ độ già trên cây, có thể hái khi da trái thẳng hơi bóng hoặc bấm trái có nhựa trong chảy ra Khi trái vừa chín thì mổ lấy hạt, loại bỏ hột lững, lép nổi lên mặt nước, các hột chín đầy đủ sẽ chìm trong nước và chọn hột này để gieo Dùng tay hoặc rỗ dày chà nhẹ cho tróc lớp vỏ lụa mỏng bao bên ngoài hột để giúp hột hút nước dễ mọc mầm nhanh khi gieo Không nên để trái quá chín cây hoặc trái dú quá chín, hột dễ bị nảy mầm trong trái Hột sau khi xử lý sạch có thể gieo ngay hoặc đem hong gió trong mát, không nên phơi hột trực tiếp giữa nắng vì dễ làm hư hột Hột hong khô có thể trữ trong keo, lọ đậy kín, để nơi mát và có thể trữ được trên một năm
- Gieo thẳng trên liếp ương đã chuẩn bị sẵn: Đất liếp được trộn với một ít tro trấu và phân rơm mục Cây mọc được 1,5 - 2,0 tháng (cao 15 cm, có khoảng 6 cặp
lá thật), bứng đem trồng Nên chọn cây con mập mạnh, rễ chùm nhiều và khỏe đem trồng
- Ương bầu cây con: Hột giống đu đủ cần được ngâm nước vài giờ trước khi gieo để hột hút no nước, sau đó ủ trong bao vải hoặc tro trấu 3 - 4 ngày cho nảy mầm và đem gieo Cần tưới nước thường xuyên, khi cây con được khoảng 6 cặp lá thật có thể đem trồng Có thể làm bầu bằng bao nylon hoặc vật liệu sẵn có như: lá dừa, lá chuối,… Kích thước bầu 6 x 10 cm Đất làm bầu: 1/3 đất mặt xốp + 1/3 phân bò hoai Ngoài việc chọn hột giống trồng để được nhiều cây lưỡng tính, có thể trồng 2 - 3 cây/hốc, khi cây trổ bông sẽ tỉa bỏ bớt chỉ chừa lại một cây lưỡng tính mong muốn
Trang 354 - 5 hàng năm) vì có mùa khô hạn kéo dài Đối với miền Tây Nam Bộ thời vụ trồng vào sau mùa nước rút (tháng1 - 2 hàng năm)
1.8.5.2 Mô trồng
Đối với điều kiện đất như ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thì cần làm mô trồng để nâng cao tầng đất canh tác, tiết kiệm phân bón Đất làm mô thường là đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông phơi khô Mô thường rộng 0,6 - 0,8 m, cao 0,3 - 0,5 m tùy theo từng loại địa hình (Nguyễn bảo vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Phần giữa mô nên trộn với 100 - 200 g phân lân và 5 - 10 kg phân chuồng hoặc rơm rác
ủ mục để tạo điều kiện cho rễ cây phát triển trong giai đoạn đầu (Đường Hồng Dật, 2000)
1.8.5.3 Cách đặt cây con
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), khi đặt cây con nên đặt thân cây
nằm nghiêng xuôi theo chiều gió mạnh để hạn chế bộ rễ ăn sâu Phương pháp này còn giúp chống gió bão gây hại, tránh nước đọng quá nhiều ngay cổ rễ và giúp dễ thu hoạch (do cây thấp)
1.8.5.4 Khoảng cách và kiểu trồng
Tùy theo từng loại đất, giống, kỹ thuật canh tác, phương pháp nhân giống
mà khoảng cách trồng có thể thay đổi cho phù hợp Đối với đu đủ thì khoảng cách trồng được khuyến cáo là cây cách cây 1,5 - 2,0 m và hàng cách hàng 2,5 - 3,0 m Thường đu đủ được trồng theo kiểu hình chữ nhật, nên trồng thưa giữa hai hàng để
tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch (Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997) Nếu trồng
với mật độ dày thì năng suất sẽ giảm và tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển Cần kết hợp giữa khoảng cách trồng và kiểu trồng để có thể tiết kiệm được diện tích đất
- Kiểu trồng hình vuông và hình chữ nhật: đây là hai kiểu trồng khá phổ biến, trên liếp trồng hai hàng theo dạng hình vuông hay hình chữ nhật Kiểu trồng này thuận lợi cho việc cơ giới hóa về sau
- Kiểu trồng nanh sấu: đây là kiểu trồng được rất nhiều người dân lựa chọn hiện nay Trồng hai hàng so le trên cùng một liếp, kiểu trồng này thích hợp cho trồng dày (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Trang 361.8.6 Chăm sóc
1.8.6.1 Làm cỏ, che phủ liếp, xới đất
Cỏ dại nhiều trong vườn sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Cỏ nhiều sẽ cạnh tranh dinh dưỡng, nước với cây trồng và đây cũng là nơi trú
ẩn cho các loài côn trùng gây hại (Trần Vũ Phến, 2003)
Thường thì ở giai đoạn cây còn nhỏ cỏ dại phát triển nhiều hơn khi cây đã trưởng thành, do đó việc kiểm soát và quản lý cỏ dại cần phải chú trọng nhiều hơn (Trần Vũ Phến và Phan Văn Dũng, 2000) Tuy nhiên, cũng không cần diệt hết cỏ trong vườn mà cần có biện pháp quản lý hợp lý để có lợi cho cây trồng hơn bởi vì
cỏ dại cũng là nơi ẩn náo của các loài thiên địch, có tác dụng che mát mặt đất, chống xói mòn rất có lợi cho sự sinh trưởng của cây Cỏ dại có thể được tiêu diệt bằng cơ giới, dụng cụ thủ công hoặc bằng kỹ thuật canh tác, nhưng thường việc làm cỏ chỉ diễn ra khi có sự canh tranh nước và ánh sáng (Nguyễn Bảo Vệ, 2003)
1.8.6.2 Tưới tiêu nước
Nước cùng với phân bón là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây ăn trái, nói cách khác chủ động tưới hoặc tháo nước để đất có độ ẩm thích hợp là một biện pháp rất cơ bản để tăng sản lượng và chất lượng trái (Vũ Công Hậu, 2000)
Theo Nguyễn Bảo Vệ (2003), tưới nước phải được áp dụng đúng thời điểm,
đúng lưu lượng và liều lượng để cây trồng đạt sinh trưởng tối hảo và cũng để tiết
kiệm nước Để giảm sự xuất hiện của sâu bệnh, nước chỉ được tưới bắt đầu từ sáng sớm và chấm dứt giữa buổi chiều để đảm bảo lá không bị ướt hoặc làm thay đổi tiểu khí hậu trong vườn vào ban đêm Nên che phủ đất để tiết kiệm nước và tránh
bị khô hạn Nước phải có chất lượng tốt, không phèn, mặn và đặc biệt không chứa những kim loại nặng
1.8.6.3 Bón phân
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), tùy loại đất, giống, tình hình sinh trưởng của cây và năng suất mong muốn mà quyết định lượng phân bón cho thích hợp Về cơ bản các loại phân đạm, lân và kali cần được cung cấp cho cây đầy đủ, bên cạnh đó phân hữu cơ và các nguyên tố vi lượng cũng cần được bón bổ sung để đạt được năng suất cao
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), mỗi năm có thể bón cho một cây
đu đủ như sau: Urê (46% N) là 300 g/cây, Super lân (20% P2O5) là 500 g/cây,
Trang 37Clorua kali (60% K2O) là 350 g/cây Cũng có thể sử dụng các dạng phân đơn hoặc phân hỗn hợp khác (lân Văn điển, DAP,…) để bón cho đu đủ Lượng phân này được chia ra các lần bón như sau:
- 2/3 tổng số lượng phân bón trong 4 tháng đầu sau khi trồng: 1 - 2 tháng đầu có thể hòa nước tưới cách 5 - 7 ngày một lần, liều lượng 50 g/10 lít nước Tháng thứ 3 - 4 bón gốc, xới nhẹ (sâu 2 - 3 cm) xung quanh cách gốc 15 - 20 cm, 1/2 tháng một lần, chia đều số phân bón còn lại
- 1/3 tổng lượng phân còn lại, chia ra bón 3 kỳ hàng tháng vào tháng thứ 5,6,7 xới cách gốc xa 30 - 40 cm và rộng hơn
Đối với phân hữu cơ hoai mục: có thể bón lót vào đất trước khi trồng từ 10 kg/cây trở lên; nếu số lượng ít có thể bón lót vào hốc lúc đặt cây con; Nên sử dụng phân trâu bò hoai hay rơm mục
Đối với bón vôi: Ở những đất ít được bồi đắp phù sa, hàng năm có thể bón
100 - 200 g vôi/cây, bằng cách rải đều trong đất Phân vôi cũng có khả năng giúp hạn chế bệnh vàng bạc trên đu đủ
Đối với bón phân vi lượng: Mg, Bo đặc biệt cần thiết cho sự sinh trưởng và tạo trái, nếu thiếu cây kém phát triển, lá nhỏ và hơi nhăn, ngọn chùn lại có khi bị thui, đặc biệt thiếu Bo trầm trọng trái sẽ bị dị dạng méo mó sần sùi
1.9 SÂU BỆNH HẠI ĐU ĐỦ
1.9.1 Côn trùng
1.9.1.1 Rệp sáp
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), rệp sáp do Pseudococcus spp gây
ra, thường là loại rệp có màu trắng xám phát triển nhiều trong mùa nắng Rệp có kích thước 2 - 3 mm, bám sát vào ngọn thân, lá, trái, bông,… chích hút nhựa cây,
lá, làm trái kém phát triển và dễ bị nấm bò hóng Có thể phun các loại thuốc trừ sâu như Dimecron 50 SWC, Admire 50 EC, Confidor 100 SL, Suppracide 40 ND,… theo nồng độ khuyến cáo Phun sớm khi rệp còn ở tuổi nhỏ (còn non) và mật số còn thấp thường mới có hiệu quả
1.9.1.2 Nhện đỏ
Nhện đỏ (rầy lửa) do Tetrenychus sp gây ra, nhện có màu hồng lợt đến đỏ
sậm, rất nhỏ (dưới 1 mm) nên phải quan sát kỹ mới phát hiện được, thường bám ở dưới mặt lá và trên trái Nơi bị chích hút nặng lá bị vàng loang lỗ từng đốm nhỏ,
Trang 38sau đó bị cháy đi, khi bị nặng cả lá có thể cháy Nhện thường gây hại vào mùa
nắng do mật số tăng cao và nhanh (Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997)
1.9.1.3 Ruồi đục trái
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), ruồi thường chỉ gây hại nặng khi
trái để chín cây Ruồi đục vào trái để đẻ trứng, giòi nở ra gây thối trái Để ngăn ngừa nên thu hoạch sớm khi trái đã đủ độ già
1.9.2 Bệnh
1.9.2.1 Bệnh thối rễ
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), bệnh thối rễ do nấm Pythium spp
gây ra, đây là bệnh phổ biến trên đu đủ và thường phát triển nặng vào đầu mùa mưa Cây bệnh có lá màu vàng, rũ và rụng đi, trái cũng bị rụng; gốc thân nơi tiếp giáp mặt đất bị ứng thành mảng rồi lan dần ra khắp chu vi thân và đổi sang màu nâu hoặc đen và thối đi Bệnh phát triển nặng nhất khi trời nóng ẩm, ẩm độ quanh gốc cây càng cao bệnh phát triển càng mạnh
Theo Trần Thế Tục và Đoàn Thế Lư (2002), phòng trị bằng cách trước khi gieo nên xử lý hột trong nước nóng khoảng 80 - 850C trong 30 phút, xử lý đất trước khi gieo khoảng một tuần và khi cây lớn 2 - 3 tháng tuổi thì đất trồng phải
cao ráo thoát nước tốt
1.9.2.2 Bệnh thán thư
Bệnh được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới như Hawaii, vùng Caribbean, Đông và Tây Phi, Ấn Độ, Đài Loan, Singapore và Úc (Snowdon, 1990)
Triệu chứng xuất hiện trên lá và trái, đặc biệt trên trái chín sau thu hoạch và
do nhiều loài nấm Colletotrichum spp gây ra Triệu chứng trên trái là những đốm
nâu lõm, nhũn nước, có nhiều vòng đồng tâm và hiện diện nhiều khuẩn ty màu hồng, đôi khi các đốm bệnh liên kết lại tạo thành những đốm bệnh lớn (Snowdon, 1990;Yon, 1994)
1.9.2.3 Bệnh cháy lá
Do nấm Helminthosporium rostratum làm cho các lá bên dưới có các đốm
úng nước, lan dần vào bên trong lá làm lá bị nâu và khô Nếu nặng cuống lá bị héo, mềm và lá bị rụng Để phòng trị dùng Kitazin 50 ND, hoặc Hinosan 40 ND với nồng độ 2‰ (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2001)
Trang 391.9.2.4 Bệnh thối trái
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng (1997), bệnh thối trái do
nấm Fusarium spp gây ra, đây là bệnh khá phổ biến và gây thối trái đáng kể trong
quá trình tồn trữ trái Đốm bệnh úng nước, bất dạng, lan dần ra và có tơ nấm trắng hay bào tử trong các hạt bụi nâu đen phát triển trên đó Trái bị mềm nhũn, chảy
nước và có mùi thối
Để hạn chế bệnh cần cẩn thận khi thu hoạch và tránh tồn trữ ở nhiệt độ lạnh trong một thời gian dài Xử lý nước nóng có thể kiểm soát được bệnh (Snowdon,
1990) Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), phòng bằng cách thu hoạch tránh
làm xây xác trái, ngâm trái vào nước nóng 500C trong 20 phút sau khi thu hoạch Phun ngừa lên trái hoặc nhúng trái sau thu hoạch bằng Maneb (0,2 - 0,3%) hay Thiabendazol hoặc Benomyl (0,02 - 0,10%)
1.9.2.5 Bệnh khảm
Bệnh khảm do siêu vi khuẩn Papaya Mosaic Virus (PMV) gây ra, bệnh là
một trong những bệnh hại phổ biến và nghiêm trọng cho tất cả các vườn trồng đu
đủ trên thế giới như Hoa Kỳ, Hawaii, Cuba, Brazil, Venezuella, Puerto Rico và Phi Châu Trên lá xuất hiện nhiều vết khảm xanh vàng lẫn lộn, bệnh nặng làm lá bị vàng và rụng nhiều, chỉ chừa lại một chùm lá non bị khảm ở ngọn Lá bệnh ít bị biến dạng nhưng lá có thể nhỏ lại và cây trở nên còi cọc Cuống lá và phần thân bên dưới thon nhỏ và có màu xanh đen, có nhiều sọc nhũn nước Trái non bị biến dạng, chai sượng, thường có nhiều vùng xanh sáng tương phản với màu xanh đậm bình thường Bệnh thường xuất hiện trên cây đu đủ từ 6 tháng đến 1 hoặc 2 năm tuổi do nhện đỏ chích hút và truyền bệnh cho cây (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân,
1999; Nguyễn Thành Hối và ctv., 1997)
1.9.2.6 Bệnh đốm vòng
Bệnh Đốm vòng do siêu vi khuẩn Papaya Ringspot Virus (PRSV), bệnh
khá phổ biến và gây hại nặng ở những vùng trồng đu đủ trên thế giới như Ấn Độ, Venezuella, Hawaii, đảo Oahu, Phi Châu và hầu hết vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới Ngoài ra, bệnh còn phân bố ở Trung Đông, Nam Trung Mỹ, Trung Quốc,
Pháp, Đức, Ấn Độ, Ý, Mexico, Đài Loan và Mỹ (Brunt và ctv., 1996)
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), bệnh làm lùn cây, sản lượng trái bị
giảm, lá bị khảm và biến dạng; tạo đốm có dạng như một cái vòng màu xanh mờ trên trái, cuống lá hay tạo các sọc xanh trên ngọn thân và cuống lá Ở trái khi chín,
Trang 40các vòng lộ rõ có màu vàng Trái bệnh bị lạt, do siêu vi khuẩn đã làm giảm lượng đường trong trái Ở mặt trên của các lá đọt, vùng mô lá ở giữa gân phụ và gân
nhánh bị nhăn phồng, bìa lá non bị cuốn cong vào theo mặt dưới lá
1.10 THU HOẠCH
Theo Nguyễn Thành Hối và ctv (1997), khi trái đạt kích thước tối đa và bắt
đầu chín thì có thể thu hoạch Để đạt độ ngon ngọt người ta thường thu lúc vỏ trái bóng lên, hơi ửng vàng ở chóp trái (gọi là đu đủ lên da), lúc này nhựa mủ trong trái chảy ra hơi trong, nếu sử dụng làm rau thì có thể thu trái sớm hơn tùy ý Do vỏ trái mềm dễ bị xây xác, cần chú ý thu trái lúc trời nắng ráo, hạn chế bầm dập để cho nấm bệnh không có khả năng tấn công trái Không nên thu trái quá trễ, chậm nhất là lúc trái chín vàng 1/3 đến 1/2 trái Trái quá chín sẽ khó vận chuyển đi xa
Vườn đu đủ tốt có thể cho năng suất 50 - 60 tấn trái/ha Tuy nhiên, hiện nay
do bệnh hại và thời tiết kém thuận lợi đã làm giảm năng suất đu đủ, trung bình đạt khoảng 20 tấn trái/ha Các giống đu đủ thịt trái đỏ và chắc, vỏ cứng, ít nhựa chảy khi thu hoạch thường được ưa chuộng hơn