1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của vật LIỆU PHỦ LIẾP và LIỀU LƯỢNG PHÂN đạm đến sâu BỆNH và NĂNG SUẤT GIỐNG dưa hấu hắc mỹ NHÂN tại xã AN BÌNH THÀNH PHỐ cần THƠ và HIỆU QUẢ HAI LOÀI nấm ký SINH

71 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 337,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÊN SÂU ĂN TẠP TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu... MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng với

Trang 1

CẦN THƠ, VỤ THU ĐÔNG 2003 VÀ

HIỆU QUẢ HAI LOÀI NẤM KÝ SINH Metarhizium anisopliae (Metschn.) Sorok & Beauveria bassiana (Bals.) Vuill TRÊN SÂU

ĂN TẠP TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

Nguyễn Thị Hoàng Oanh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

Metarhizium anisopliae (Metschn.) Sorok & Beauveria bassiana (Bals.) Vuill

trên sâu ăn tạp trong phòng thí nghiệm Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông Học,

Khoa Nông Nghiệp, Đại Học Cần Thơ

phòng thí nghiệm” được thực hiện nhằm tìm ra mức phân đạm phù hợp và vật liệu

phủ liếp tốt nhất, để hạn chế sâu bệnh gây hại trên dưa hấu, góp phần tăng năng suất mang lại hiệu quả kinh tế cao và bước đầu tìm ra dòng nấm có khả năng ký sinh tốt trên sâu ăn tạp

+ Thí nghiệm ngoài đồng được bố trí theo thể thức lô phụ với ba lần lặp lại, gồm 3 biện pháp phủ liếp (không phủ, phủ rơm, phủ plastic) và 4 mức phân đạm (0

kg N, 100 kg N, 150 kg N và 200 kg N/ha)

Kết quả thí nghiệm cho thấy:

- Ở các mức phân đạm, các chỉ tiêu về mật số bù lạch, bọ dưa, sâu ăn tạp, ốc xoắn gần như tương đương nhau Ngoại trừ thời điểm 41 ngày sau khi gieo (NSKG)

có sự khác biệt, mật số bù lạch đạt cao ở nghiệm thức 150 N (0,48 con/đọt) và 200 N (0,57 con/đọt) so với 0 N (0,06 con/đọt) và 100 N (0,11 con/đọt); mật số sâu ăn tạp ở

100 N (0,14 con/đọt) cao hơn so với các nghiệm thức khác Đối với bệnh đốm lá có bón thêm phân đạm thiệt hại sẽ nặng hơn so với không bón

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

- Năng suất tổng đạt cao ở nghiệm thức 100 N - phủ plastic (14,72 tấn/ha), 150

N - phủ plastic (13,78 tấn/ha) so với nghiệm thức 0 N - phủ plastic (7,09 tấn/ha) và

200 N (11,27 tấn/ha) Tương tự đối với năng suất thương phẩm đạt (12,5 tấn/ha) ở

100 N - phủ plastic và đạt (13,58 tấn/ ha) ở 150 N - phủ plastic

- Hiệu quả kinh tế cao nhất ở biện pháp sử dụng màng phủ kết hợp với bón 100

N với tỉ suất lợi nhuận từ 1,03 - 1,04, tất cả các nghiệm thức khác đều cho tỉ suất lợi nhuận thấp hơn 0,86 Đặc biệt ở nghiệm thức không phủ - không bón đạm cho tỉ suất lợi nhuận thấp nhất

+ Thí nghiệm trong phòng được bố trí hoàn toàn ngẩu nhiên, ba lần lặp lại, thí nghiệm 1 gồm 5 nghiệm thức (Ma - BD, Ma - SCL, Ma3, Bb1, KC) và thí nghiệm 2 gồm 6 nghiệm thức (Ma1, Ma2, Ma3, Ma4, Ma5, KC)

- Kết quả cho thấy trong bốn loài nấm ký sinh (Ma - BD, Ma - SCL, Ma3, Bb1) thì Ma - BD có hiệu quả ký sinh tốt (27,75 %) vào 11 ngày sau khi xử lý (NSXL)

Đối với 5 dòng nấm Metarhizium anisopliae (Ma1, Ma2, Ma3, Ma4, Ma5) phân lập từ sâu ăn tạp thì dòng Ma5 có hiệu quả ký sinh tốt nhất đạt (35,55 %) vào 13 NSXL

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

1.1 Nguồn gốc và đặc điểm chung của dưa hấu 2 1.1.1 Nguồn gốc phân bố và giá trị dinh dưỡng 2 1.1.2 Tính hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và trong nước 3 1.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây dưa hấu 3

1.5 Các vật liệu phủ liếp trong sản xuất rau 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

viii

DANH SÁCH HÌNH

Trang Hình 3.1 Biến động mật số bù lạch trên ruộng dưa hấu theo các mức phân

đạm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

32

Hình 3.2 Biến động mật số bù lạch trên ruộng dưa hấu theo biện pháp

phủ liếp tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

32

Hình 3.3 Biến động tỉ lệ thiệt hại do bọ dưa trên ruộng dưa hấu theo mức

phân đạm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

34

Hình 3.4 Biến động tỉ lệ thiệt hại do bọ dưa trên ruộng dưa hấu theo biện

pháp phủ liếp tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

34

Hình 3.5 Biến động chỉ số thiệt hại do bọ dưa trên ruộng dưa hấu theo

mức phân đạm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

36

Hình 3.6 Biến động chỉ số thiệt hại do bọ dưa trên ruộng dưa hấu theo

biện pháp phủ liếp tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

36

Hình 3.7 Biến động mật số sâu ăn tạp trên ruộng dưa hấu theo mức phân

đạm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

38

Hình 3.8 Biến động mật số sâu ăn tạp trên ruộng dưa hấu theo biện pháp

phủ liếp tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

38

Hình 3.9 Biến động tỉ lệ bệnh đốm lá trên ruộng dưa hấu theo các mức

phân đạm, tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

40

Hình 3.10 Biến động tỉ lệ bệnh đốm lá trên ruộng dưa hấu theo biện pháp

phủ liếp tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

40

Hình 3.11 Biến động chỉ số bệnh đốm lá trên ruộng dưa hấu theo mức 42

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

Hình 3.13 Biến động mật số ốc xoắn trên ruộng dưa hấu theo biện pháp

phủ liếp tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

44

Hình 3.14 Tác động của một số loài nấm ký sinh trên sâu ăn tạp trong điều

kiện phòng thí nghiệm, Bm BVTV, KNN, ĐHCT, thời gian từ 19/11 – 29/12/2003

53

Hình 3.15 Tác động của một số dòng nấm Metarhizium anisopliae ký sinh

trên sâu ăn tạp trong điều kiện phòng thí nghiệm, Bm BVTV, KNN, ĐHCT, thời gian từ 19/11 – 29/12/2003

Trang 10

Bảng 3.1 Biến động mật số bù lạch trên ruộng dưa hấu thí nghiệm tại xã

An Bình, TP Cần Thơ, Tháng 7-9/2003

31

Bảng 3.2 Biến động tỉ lệ thiệt hại do bọ dưa trên ruộng dưa hấu thí

nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

33

Bảng 3.3 Biến động chỉ số thiệt hại do bọ dưa trên ruộng dưa hấu thí

nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

Bảng 3.8 Tổng năng suất dưa hấu (tấn/ha) theo mức phân đạm, thí

nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

45

Bảng 3.9 Tổng năng suất dưa hấu (tấn/ha) theo vật liệu phủ liếp, thí

nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7 - 9/2003

46

Bảng 3.10 Năng suất thương phẩm dưa hấu (tấn/ha) theo mức phân đạm,

thí nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

47

Bảng 3.11 Năng suất thương phẩm dưa hấu (tấn/ha) theo vật liệu phủ liếp

thí nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

48

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế trồng dưa hấu theo vật liệu phủ liếp tại xã An

Bình, TP Cần Thơ, 7-9/2003

50

Bảng 3.14 Tác động của một số loài nấm ký sinh trên sâu ăn tạp trong

điều kiện phòng thí nghiệm ĐHCT, 2004

51

Bảng 3.15 Tác động của một số dòng nấm Metarhizium anisopliae trên

sâu ăn tạp trong điều kiện phòng thí nghiệm ĐHCT, 2004

Trang 12

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, cùng với sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng dưa hấu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tăng lên rất nhanh, đặc biệt là trong mùa mưa đang gặp nhiều khó khăn vì sâu bệnh tấn công, kỹ thuật canh tác và sử dụng phân bón chưa cân đối, làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất dưa hấu Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế sự tấn công của sâu bệnh hại, sử dụng phân bón hợp lý mà vẫn đảm bảo năng suất và lợi nhuận cho người trồng dưa hấu trong mùa mưa

Nhằm góp phần tìm ra biện pháp kỹ thuật và mức phân đạm hợp lý để trồng dưa hấu trong mùa mưa, đề tài “Ảnh hưởng của biện pháp phủ liếp và liều lượng phân đạm đến sâu bệnh, năng suất giống dưa hấu Hắc Mỹ Nhân” được thực hiện trong vụ Thu Đông 2003, tại xã An Bình, thành phố Cần Thơ

Trong canh tác rau màu, sâu bệnh là vấn đề cần quan tâm đối phó hàng đầu, trong đó sâu ăn tạp là một trong những đối tượng có tiềm năng gây hại quan trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nên thường được nông dân áp dụng nhiều loại thuốc hoá học để phòng trừ, tốn nhiều chi phí đồng thời ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường sinh thái Trong khi, ngoài tự nhiên có rất nhiều thiên địch ký sinh có thể giết chết sâu ăn tạp, trong đó nấm ký sinh là một trong những thiên địch quan trọng Vì vậy, việc thực hiện một vài thí nghiệm thử nấm ký sinh trên sâu ăn tạp nhằm bước đầu tìm ra dòng nấm có khả năng diệt sâu cao, để có thể ứng dụng trong việc phòng trừ sâu ăn tạp bằng biện pháp sinh học, an toàn sinh thái đồng ruộng, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Nguồn gốc và đặc điểm chung của dưa hấu

Dưa hấu citrullus lanatus (Thunberg) có tên tiếng Anh Water melon, thuộc

họ bầu bí dưa cucurbitaceae

1.1.1 Nguồn gốc phân bố và giá trị dinh dưỡng

Nguồn gốc: dưa hấu được phát hiện từ vùng nhiệt đới Trung Phi, một phần

phía Bắc sa mạc Sahara (Trần khắc Thi, 1996)

Dưa hấu có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng của Châu Phi và được trồng rộng rãi ở Địa Trung Hải cách đây hơn 3000 năm (Phạm Hồng Cúc, 1999) Ở Châu

Âu, dưa hấu được trồng phổ biến thế kỷ thứ 6 (Mai Thị Phương Anh, 1996) Hiện nay, dưa hấu được trồng hầu hết các nước trên thế giới

Ở nước ta, dưa hấu được trồng từ thời Hùng Vương thứ 18, dưa hấu được xem là loại trái cây không thể thiếu được vào ngày Tết cổ truyền của nhân dân ta (Trần Thị Ba, 1999)

Giá trị dinh dưỡng: dưa hấu có giá trị dinh dưỡng khá cao Theo Mai Thị

Phương Anh (1996) thịt trái dưa hấu có chứa 0,22 % kali, 0,016 % natri, 0,022 % canxi lượng đường tổng số dao động từ 5 - 10 % Phân tích 1 kg chất khô trái dưa hấu có 12,1 g N, 2,9 g P, 17,9 g K (Trần Khắc Thi, 1999) Trong 100 g phần ăn được cho 15 kcal, 1,2 g protein, 780 g vitamin A và 7 mg vitamin C (Trần Thế Tục, 1994) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

1.1.2 Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và trong nước

- Tình hình sản xuất dưa hấu trong nước và trên thế giới FAOSTAT (2004)

Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) Năm Thế giới Việt Nam Thế giới Việt Nam Thế giới Việt Nam

1.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây dưa hấu

Nhiệt độ: trong suốt quá trình sinh trưởng dưa hấu có yêu cầu cao về nhiệt

độ Nhiệt độ thích hợp nhất cho hạt nẩy mầm là 35 - 40o

C, còn các giai đoạn sinh trưởng sau là 20 - 30oC Ở nhiệt độ dưới 20oC cây sinh trưởng và phát triển kém, tỉ

lệ đậu trái thấp và trái lớn chậm ảnh hưởng tới năng suất (Trần Thị Ba, 1999 và Mai Thị Phương Anh, 1996)

Ánh sáng: do dưa hấu xuất phát từ vùng sa mạc nhiều nắng nên chúng cần

nhiều ánh sáng từ khi xuất hiện lá mầm đến khi kết thúc sinh trưởng Nắng nhiều cùng với nhiệt độ thích hợp là hai yếu tố làm tăng năng suất và chất lượng trái (Trần Thị Ba, 1999) Độ dài ngày có ảnh hưởng tới thời gian sinh trưởng của cây, số giờ chiếu sáng trong ngày từ 8 - 10 giờ sẽ làm cây ra hoa tốt và số lượng trái nhiều hơn (Mai Thị Phương Anh, 1996)

Ẩm độ: dưa hấu là cây chịu hạn nên khí hậu khô ráo và đất đai khô, thuận lợi

cho dưa sinh trưởng Bộ rễ phát triển trung bình hơn 1 m chiều sâu và rộng 1 m Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

đường kính Tuy nhiên, hệ số thoát nước cao (gần 600) nên nhu cầu giữ ẩm đất cho cây thường xuyên rất cần thiết nhất là giai đoạn đầu (Trần Thị Ba, 1999) Nhưng nếu mưa nhiều làm cho mặt đất ẩm ướt sinh ra nhiều rễ bất định trên thân và hấp thụ nhiều dinh dưỡng, nước làm thân lá phát triển quá mức ảnh hưởng đến ra hoa đậu trái Theo Phạm Hồng Cúc (1996) nếu ẩm độ cao (hơn 65 %) rễ bị nứt, thân, lá và trái dễ bị thán thư

Đất: dưa hấu yêu cầu đất không nghiêm khắc lắm nên có thể trồng trên nhiều

loại đất khác nhau từ đất cát đến đất sét nặng, thích hợp trên đất cơ cấu nhẹ, tầng canh tác dầy, không chua (pH = 5,5 - 7 là phù hợp) Đất phù sa ven sông, đất thịt hay đất cát pha,…, đều rất lý tưởng để trồng dưa, chỉ cần chú ý đến nước và phân bón hợp lý Theo Mai Văn Quyền (1995) đất tốt nhất là đất thịt nhẹ, pH = 5 - 7%,

ẩm độ thích hợp khoảng 70 - 80%

1.1.4 Kỹ thuật canh tác

Giống: giống yếu tố quyết định đến năng suất, phẩm chất và thời gian thu

hoạch của dưa hấu Sự lựa chọn giống theo nhu cầu thị trường và thời vụ Các giống dưa hấu trồng phổ biến ở Việt Nam trong dịp Tết như: Sugar Baby, An Tiêm 95,…, cho trái to, năng suất cao Hiện nay, một số giống có phẩm chất cao được trồng quanh năm như: Hắc Mỹ Nhân, Thanh Mỹ Nhân, Xuân Lan 130, Hắc Long (Trần Thị Ba, 2001)

Thời vụ: với điều kiện nước ta hiện nay thì dưa hấu có thể được trồng quanh

năm nhưng tốt nhất là vụ Đông Xuân vì thời tiết mát mẻ và khô ráo, dưa sinh trưởng thuận lợi cho năng suất cao (Mai Văn Quyền, 1999 ; Phạm Hồng Cúc, 2000) Tuy nhiên, tùy theo điều kiện thời tiết của từng vụ mà lựa chọn mùa vụ cho phù hợp Vụ sớm (dưa Noel) gieo tháng 10 dl- thu hoạch dịp Noel (20-30/12 dl), vụ chính (dưa Tết) gieo tháng 11 dl- thu hoạch dịp Tết Nguyên Đán, vụ Xuân Hè (dưa lạc hậu) gieo tháng 1-2 dl- thu hoạch vào tháng 4 - 5 dl (Phạm Hồng Cúc, 1999

và Trần Thị Ba, 1999)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

Ngày nay, một số nơi ở ĐBSCL có thể trồng dưa hấu vụ hè thu (trong suốt mùa mưa) nhờ sử dụng màng phủ plastic nên được nông dân chấp nhận (Trần Thị

Ba, 1999)

Chuẩn bị đất trồng: để trồng dưa hấu đạt hiệu quả tốt nên chọn đất ruộng

có tầng canh tác dầy, tơi xốp không nhiễm phèn mặn, dễ thoát nước, mực nước trong mương thấp hơn mặt liếp ít nhất 15 cm Kiểu liếp đôi là phổ biến hiện nay, khoảng cách giữa 2 tim mương 5,5 - 7 m, bề rộng liếp 1 m, cao liếp 20 - 30 cm Ngoài ra có thể trồng dưa hấu trên đất giồng cát, đất liếp hay đất dọc bờ kênh Tốt nhất nên chọn đất mới, trồng 1 - 2 vụ nên luân canh, cách 2 - 3 năm sau mới trồng lại (Trần Thị Ba, 2001) Đất nên xử lý bằng vôi bột 50 kg/1000 m2 trước khi lên liếp

2 - 7 ngày (Trần Văn Hoà và ctv., 2000)

Xử lý hạt giống, gieo hạt, trồng cây: để phòng ngừa nấm, vi khuẩn tấn

công làm ảnh hưởng đến sự nẩy mầm thì trước khi gieo hạt cần xử lý hạt giống, có thể dùng Thiram 80 WP trộn vào hạt giống hoặc Benlate - C 50 WP pha nước 0,066

% ngâm giống từ 1-2 giờ (Công ty giống Trang Nông, 1999) Trước khi gieo hạt giống nên ủ cho nẩy mầm bằng cách đem hạt giống phơi ngoài nắng nhẹ vài giờ rồi ngâm trong nước ấm, trong 5 - 7 giờ, sau đó rửa sạch, ủ với tro trấu hoặc cát, giữ

ẩm thường xuyên cho đến khi hột nhú mầm đem gieo (Trần Thị Ba, 1999)

Hạt đã nhú mầm có thể đem gieo trực tiếp trên luống trồng hoặc trong bầu đất Bầu có thể làm bằng lá chuối hoặc túi nylon đường kính 5 cm, cao 7 cm, đục lỗ thoát nước Vật liệu làm bầu bằng đất mịn, phân chuồng oai, tro trấu với tỉ lệ bằng nhau, không nén bầu quá chặt (Trần Thị Ba, 1999)

Mỗi bầu gieo 1-2 hạt, nếu gieo thẳng để rễ mầm quay xuống dưới độ sâu 1 - 1.5 cm Sau khi phủ đất cần phủ thêm một lớp tro trấu mõng (Mai Thị Phương Anh, 1996) Trường hợp gieo vào bầu khi cây con 7 - 10 ngày tuổi (nhú lá nhám) thì đem trồng, đào hốc sâu 5-7 cm, rộng 10 cm, pha Copper B (4 %) tưới lên gốc ngừa bệnh trước khi đặt cây con Cần rãi Basudin 10 H 1 - 2 kg/1000 m xung quanh gốc ngừa

dế, sâu cắn phá cây con Trung bình khoảng cách trồng là 50-60 cm (mật độ Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

600-720 cây/1000 m2), nhưng đối với dưa tết trái lớn nên trồng thưa hơn (cây cách cây

70 cm, mật độ 400 cây/1000 m2) Đối với dưa ăn trái nhỏ thì khoảng cách trồng

40-50 cm và liếp hẹp hơn, khoảng cách giữa hai tim mương 4 - 5 m, mật độ 1200 cây/1000 m2 (Trần Thị Ba, 1999)

Phân bón: theo Trấn Khắc Thi (1996) sự cân đối 3 yếu tố N - P - K là yêu

cầu quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, chất lượng trái Trần Thị Ba (2001) cho rằng lượng phân bón thay đổi tuỳ theo loại đất, trung bình 1000 m2 có thể bón:

Đối với dưa Noel và dưa lạc hậu: 5 kg Ure + 8 kg DAP + 4 kg KCL + 50 kg NPK (16 -6-8)

Còn dưa hấu Tết: 5 kg Ure + 5 kg DAP + 3 kg KCL + 80 kg NPK (16-16-8) Ngoài ra, còn kết hợp thêm phân hữu cơ từ 1 - 2 tấn phân chuồng oai (hoặc 20 - 30

kg phân tôm, cá hay phân dơi) Nếu đất nhiễm phèn thì rãi 50 - 100 kg vôi/1000 m2trước khi bón lót Có thể sử dụng phân bón lá như: Bayfolan, HVP, Supermes, Komix … để bổ sung chất dinh dưỡng cho cây dưa hấu

Tưới nước: dưa hấu cần đất ẩm để sinh trưởng nhưng đất úng thủy thì không

thích hợp Việc tưới nước còn phụ thuộc vào tính chất của đất, thời tiết và từng thời

kỳ phát triển của cây Chỉ nên tưới nước lên mặt liếp, tránh tưới lên mặt lá vì dễ làm cây bị bệnh (Trần Thị Ba, 2000)

Tỉa nhánh: nhằm giúp cây khoẻ mạnh, dễ chăm sóc, tránh được một số sâu

bệnh do bộ lá sum xuê gây ra và tập trung dinh dưỡng để nuôi trái Nhánh vừa ra khoảng 5 - 10 cm là tỉa ngay, mỗi cây nên tỉa chừa tối đa 1 thân chính và 2 dây phụ Tuy nhiên, đối với các giống lai ngắn ngày (60 ngày) trồng trong mùa nắng nên tỉa chừa 1 thân chính và một thân phụ là tốt nhất (Trần Thị Ba, 2000)

Thụ phấn (úp nụ): là biện pháp rất cần thiết trong canh tác dưa nhằm giúp cho trái có độ đồng đều cao, dễ chăm sóc Theo Trần Thị Ba (2000) thì việc thụ

phấn được thực hiện tập trung trong 4 - 7 ngày, thời gian thụ phấn càng ngắn càng tốt, tiến hành từ 7 - 9 giờ sáng lúc hoa nở rộ nên chọn những hoa đực vừa nở, hoa to Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

nở rộ, bật cánh hoa ngược lên cuống hoa, quét nhị đực lên nướm nhụy cái, một hoa đực có thể úp lên vài hoa cái (Trần Văn Hoà và ctv., 2000)

Tuyễn trái: tiến hành khi trái to bằng quả chanh, để trái to tròn đều mỗi cây

nên để 1 trái (Phạm Hồng Cúc, 2000) Nên chọn trái có bầu noãn đầy đặn, cuốn to

dài, có nhiều lông tơ trắng, không sâu bệnh lớn nhanh sau khi thụ phấn (Trần Thị

Ba, 2000) Khi chọn trái xong cắm que làm dấu đồng thời tỉa bỏ tất cả các trái còn lại và các trái đậu sau đó

Thu hoạch: thời gian thu hoạch tuỳ thuộc vào giống thời vụ và kỹ thuật canh

tác Dưa thương phẩm thu hoạch khi có độ chín 80 - 90 % ( 25 - 30 ngày sau khi thụ phấn hay 60 - 70 ngày sau khi gieo) (Trần Thị Ba, 2001).

1.2 Một số côn trùng và bệnh hại trên dưa hấu

1.2.1 Bù Lạch

Tên khoa học Thrips palmi (Karny), họ Thripidae, bộ Thysanoptera

Ký chủ: theo Lê Thị Sen (1998) bù lạch phân bố rộng, tấn công trên nhiều

loại cây trồng, chủ yếu là họ bầu bí dưa, họ cà

Đặc điểm hình thái và sinh học: bù lạch có cơ thể nhỏ, thon dài khoảng 1

mm, màu nâu nhạt, miệng có cấu tạo chuyên biệt với chức năng chích hút, và hai cặp cánh có tua viền xung quanh được gắn trên lưng và bao phủ hết chiều dài của lưng Trứng có hình quả thận được đẻ ở mặt dưới lá, trứng nở trong thời gian 3 - 5 ngày Ấu trùng rất giống thành trùng nhưng có màu nhạt hơn, phát triển trong thời gian từ 4 - 7 ngày Thời gian hoàn thành nhộng 3 ngày Vòng đời kéo dài 30 ngày

Bù lạch thích hợp phát triển ở ngoài trời trong suốt mùa hè (Lê Thị Sen, 1998)

Tập quán sinh sống và cách gây hại: theo Lê Thị Sen (1998) ấu trùng và

thành trùng thường trú ngụ ở đỉnh sinh trưởng và mặt dưới lá non gần đọt, hay chui vào gần gân lá để trốn Chúng có khả năng sinh sản rất dữ dội trên phạm vi lớn của cây ký chủ Từ thói quen đó nên bù lạch còn là vectơ truyền bệnh cho cây trồng Theo Lewis (1997) bù lạch gây hại trên bề mặt lá bởi vết dài hút nhựa lá để Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

sống (trích dẫn bởi Lê Ngọc Hoa, 2003) Lá bị hút nhựa sẽ quăn queo, lá non xoăn đọt hay bị biến dạng và cong xuống phía dưới, làm hạn chế sự quang hợp

Biện pháp phòng trị: vệ sinh đồng ruộng, kiểm tra ruộng dưa thật kỹ để

phát hiện sớm ấu trùng (Trần Thị Ba, 2000) Bù lạch có thể kháng thuốc nhanh vì vậy cần luân phiên các loại thuốc có gốc hoá học khác nhau (Nguyễn Thị Thu

Cúc, 2000)

1.2.2 Bọ dưa

Tên khoa học Aulacophora similis (Oliver) thuộc họ ánh kim

(Chrysomelidae), bộ cánh cứng (Coleoptera)

Ký chủ: bọ dưa là loài côn trùng đa ký chủ, gây hại trên nhiều loại cây

trồng, chủ yếu trên họ bầu bí dưa (Lê Thị Sen, 2001)

Đặc điểm hình thái và sinh học: theo Lê Thi Sen (2001), thành trùng có

chiều dài thân từ 6 - 8 mm, cánh màu vàng nâu, mắt đen, râu dài linh động Một thành trùng cái đẻ khoảng 200 trứng Trứng rất nhỏ, màu vàng xanh khi mới đẻ và màu vàng nâu khi sắp nở Thời gian ủ trứng từ 8 - 15 ngày Ấu trùng mới nở màu trắng sau thành màu vàng nâu, đặc biệt có một đôi chân giả Ấu trùng có 3 tuổi với thời gian phát triển từ 18 - 25 ngày Nhộng màu nâu nhạt được hình thành trong đất, bên ngoài bao phủ bằng lớp kén tơ rất dày Nhộng phát triển trong thời gian từ

4 - 14 ngày, vòng đời bọ dưa từ 80 - 130 ngày

Tập quán sinh sống và cách gây hại: thành trùng hoạt động tích cực vào

lúc sáng sớm hay chiều tối, cắn phá lá non đứt thành vòng tròn trên lá Bọ dưa gây hại nặng khi dưa còn nhỏ, lúc dưa có 4 - 5 lá thật Khi dưa lớn lá có nhiều lông cứng, chúng không thích cắn phá nửa Đến lúc cây ra hoa, kết trái, trứng dưới đất

nở thành dòi, chúng có thể đục vào gốc dưa làm cây héo chết (Lê Thị Sen, 2001; Phạm Hồng Cúc, 2002)

Biện pháp phòng trị: sau khi thu hoạch, gom dây dưa lại để thu hút thành

trùng, dùng thuốc trừ sâu để diệt Khi thấy có thành trùng bay trong ruộng dưa với Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

mật số còn ít, sáng sớm hay chiều tối nên soi đèn bắt

1.2.3 Sâu ăn tạp

Tên khoa học: Spodoptera litura (Fabricius), họ Noctuidae, bộ Lepidoptera

Ký chủ: sâu hiện diện trên nhiều loại cây họ đậu, họ cà ớt và họ bầu bí dưa

nên được gọi là sâu ăn tạp (Lê Thị Sen, 1999)

Đặc điểm hình thái và sinh học: trứng hình bán cầu, đường kính 0,4 – 0,5

mm, trứng mới đẻ có màu trắng vàng sau chuyển thành vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm Theo Phạm Thị Nhất (2000) thì sau khi đẻ khoảng 2 - 6 ngày trứng

nở Ấu trùng có 5 hoặc 6 tuổi tùy điều kiện môi trường kéo dài từ 20 - 25 ngày sâu

non hình ống tròn tuổi nhỏ có màu lục càng lớn sâu càng chuyển dần sang màu đậm Trên cơ thể có một sọc vàng chạy ở 2 bên hông từ đốt thứ nhất đến đốt cuối của bụng Dọc đường ấy có những điểm hình bán nguyệt, từ đốt thứ nhất đến đốt thứ 8 của bụng mỗi đốt có chấm đen nhỏ nhưng 2 chấm đen ở đốt thứ nhất là rõ nhất Nhộng có màu nâu hoặc nâu tối, cuối bụng có gai, thời gian phát triển kéo dài 7 - 10 ngày Thành trùng là bướm đêm rất to, dài khoảng 16 - 21 mm, cánh trước xoè rộng 37 - 42 mm, màu nâu vàng trên cánh có nhiều đường vân hẹp Cánh trước hình bầu dục, giữa cánh màu sẫm, xung quanh có màu vàng Cánh sau màu trắng xám Ngài hoạt động về ban đêm đẻ trứng ở lá, một con bướm có thể đẻ trên 1000 trứng Thời gian sống trung bình 1 - 2 tuần (Phạm Thị Nhất, 2000)

Tập quán sinh sống và cách gây hại: theo Lê Thị Sen (1999) sâu non trú

ẩn tập trung dưới phiến lá, lớn lên phân tán dần Bướm đêm hấp dẫn bởi ánh sáng đèn, ưa thích các mùi vị chua ngọt, có khả năng di chuyển theo từng đàn rất mạnh Trần Thị Ba (1999) cho rằng sâu ăn tạp ăn các bộ phận của lá gây thủng lá, hoặc cắn đứt ngang thân cây con Sau đó, chúng chui vào ẩn náo trong đất hay rơm rạ phủ trên mặt liếp, làm nhộng ở trong đất

Biện pháp phòng trị: làm đất kỷ để diệt sâu và nhộng trong đất, xử lý đất

bằng thuốc hạt, ngắt bỏ ổ trứng hoặc sâu non đang sống tập trung Luân phiên thay đổi thuốc phòng trị (Trần Văn Hai và ctv., 1999)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

1.2.4 Bệnh đốm lá (bệnh chảy nhựa thân)

Bệnh do nấm Mycosphaerella melonis (Passerini) (Nguyễn Thị Nghiêm,

2001) Bệnh gây hại trên lá và trái Trên lá, đốm bệnh không đều đặn và lan rộng dần, kích thước khoảng 1 - 2 cm hoặc lớn hơn, lúc đầu đốm lá úng nước, sau đó khô lại và nâu nhạt Bệnh thường xuất hiện từ bìa lá lan vào theo những mãng hình vòng cung bên trong có các vòng đồng tâm nâu sậm Sau đó, đốm có màu nâu đen với các vòng đen đồng tâm, lá bị cháy

Phòng trừ bệnh bằng cách tiêu huỷ các cây bệnh và sau mỗi vụ nên huỷ bỏ các dư thừa thực vật Khử khô hạt giống, có thể dùng các loại thuốc Copper- B hoặc Dithane M 45 phun cả cây (Nguyễn Thị Nghiêm, 2001)

1.3 Ảnh hưởng của một số nguyên tố dinh dưỡng đối với cây trồng

Ngoài ba nguyên tố chính C, H, O, mà cây trồng lấy được từ nước và không khí Chúng còn cần thêm 13 nguyên tố thiết yếu khác, những nguyên tố này cây trồng lấy từ đất hoặc được cung cấp từ phân bón Với 13 nguyên tố đó là : N, P, K,

Ca, Mg, S, Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, Cl Và B (Hoàng Minh Châu, 1998)

1.3.1 Đạm (N )

Đạm là nguyên tố quan trọng hàng đầu đối với sự sống tế bào Bón phân N thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, giúp cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra nhiều lá, lá có kích thước to, giúp cây quang hợp mạnh do đó bón phân N làm tăng năng suất cây trồng (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Thiếu và thừa N đều làm giảm sự tích lũy Cacbohydrate do đó làm ảnh hưởng đến sự thành lập và phát triển trái (Trần Thị Ba, 1999) Thiếu N trầm trọng thì số lượng hoa bị giảm nhiều và hàm lượng protein giảm (Lê Văn Tri, 2002) Thừa N lá cây có màu xanh thẩm, lá nhiều nhưng rễ kém phát triển Thừa NO3-làm cho bề mặt ngoài rễ bị cháy, dễ đổ ngã, thân lá mềm, dễ nhiễm sâu bệnh, kéo dài quá trình sinh trưởng, phẩm chất nông sản kém, khó bảo quản (Vũ Hữu Yêm, 1995) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Lượng đạm dư thừa có khả năng tích luỷ dưới dạng NO3- gây độc mãn tính cho người tiêu dùng (Trần Thị Ba, 1998) Dưa hấu bón N nhiều làm tăng bệnh cháy

lá, đốm nhựa lá, làm giảm phẩm chất (Dương Văn Hưởng, 1990) (được trích dẫn từ Nhâm Thanh Tòng, 1998)

1.3.2 Lân (P)

Lân là nguyên tố quan trọng thứ hai sau N Theo Hoàng Đức Phương (2002) lân chứa nhiều trong mô phân sinh, do đó lân kích thích đẻ nhánh, đâm chồi, thúc đẩy cây ra hoa, đậu trái sớm Lân giúp cây tăng tính chống chịu đối với điều kiện bất lợi của môi trường như chịu lạnh, chịu rét (Nguyễn Thị Quí Mùi, 1995 và Đường Hồng Dật, 2002) Thiếu lân còn ảnh hưởng đến phấn hoa, sự hình thành hạt

và trái, rụng hoa, không đậu trái và rụng trái non trầm trọng (Lê Văn Căn, 1995)

1.3.3 Kali (K)

Kali là nguyên tố quan trọng thứ 3 sau N và P K giúp tăng tính chống chịu, tạo cây vững chắc, ít đổ ngã tăng tính chịu hạn, chịu úng và chịu rét (Lê Văn Tri, 2002) Kali góp phần gia tăng chất lượng nông sản, làm tăng hàm lượng đường trong rau quả, làm cho màu sắc quả đẹp, hương vị quả thơm và làm tăng thời gian bảo quản (Nguyễn Thị Quí Mùi, 1995; Đường Hồng Dật, 2002) Bón K giúp cây hút và sử dụng P, N và Fe tốt hơn Kali còn có tác dụng tăng khả năng chín sớm của trái (Mai Thị Phương Anh, 1996; Trần Khắc Thi, 1999)

Giống N và P, K di động từ lá già sang lá non, do đó triệu trứng thiếu K thường xảy ra trên lá già (Trần Thị Ba, 1999) Cây thiếu K, lá nhăn nheo, mép lá quăn xuống, lá vàng nâu và mô chết (Trần Khắc Thi, 1996 và Hoàng Đức Phương, 2002) Ngoài ra, thiếu K cây không thể sử dụng nước và các dưỡng chất khác từ đất hay từ phân một cách hữu hiệu Cây trồng thiếu K làm hàm lượng N phi protein tăng, trong khi đó N-protid trong cây giảm, do đó cây trồng dễ bị nhiễm bệnh (Nguyễn Công Vinh, 2002)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

1.4 Nghiên cứu về phân bón trên thế giới và trong nước

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới

Nhằm góp phần bổ sung thêm các yếu tố dinh dưỡng thiếu hụt trong đất để đáp ứng được nhu cầu sinh lý của cây trồng Theo G De Gues (1984) ở Pêru, sử dụng phân theo công thức 80-100 N, 40-60 P2O5 và 0-60 K2O kg/ha Trong khi ở Philippin lượng phân bón vào mùa khô cho mỗi ha là 120 kg N, 120 kg P2O5 và

120 kg K2O kg/ha (Hoàng Minh Châu, 1998) Theo IFA (1992) đề nghị công thức phân cho 1ha: đối với xứ lạnh: (50 - 100) N - (150 - 200) P2O5 - (100 - 150) K2O kg/ha Nhưng đối với vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới: 56 N - 16 P2O5 - 100 K2O Theo Ito (1994) lượng phân bón cho dưa hấu ở Nhật theo tỉ lệ N:P:K là 100 -150,

150 - 200 và 100 -150 kg/ha

1.4.2 Trong nước

Ở nước ta, nông dân trồng dưa hấu có thói quen sử dụng lượng phân bón rất cao và không cân đối làm ảnh hưởng đến tình hình sâu bệnh, phẩm chất trái,… và cuối cùng là hiệu quả kinh tế không cao

Theo Trần Thị Ba và ctv (1998) thí nghiệm khảo sát hiệu quả của các công thức phân bón trên dưa hấu cho vùng Tiền Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng cho thấy năng suất dưa hấu đạt tối đa, phẩm chất tốt và tồn trữ được lâu khi

áp dụng tổ hợp phân bón 100 - 120 - 60 kg NPK/ha Lê Trúc Linh (2001) đề nghị công thức phân 150 N - 120 P2O5 - 120 K2O (kg/ha) cùng với bổ sung Ca(NO3)2 cho năng suất cao nhất và phẩm chất trái tốt Theo Trần Thị Ba và ctv (1999) khuyến cáo công thức phân cho 1ha: 10 - 20 tấn phân chuồng (hoai) hoặc 200 - 300 kg phân tôm cá hoặc phân dơi, 500 - 1000 kg vôi cùng với (120 -160) N - (120 - 160) P2O5 - (60 - 80) K2O (kg/ha) Thực tế sản xuất, lượng phân bón sử dụng khác nhau tuỳ theo vùng Trên đất cát ở Trà Vinh, khi trồng dưa hấu người dân đã bón lượng lân rất cao với 150 kg N, 220 kg P2O5 và 90 kg K2O (Sơn Dư và ctv., 2000) Tuy nhiên Nhâm Thanh Tòng (1998) khuyến cáo tổ hợp phân 150-120-60 kg NPK/ha là tối Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

hảo cho dưa hấu tại Nông Trường Sông Hậu, Ô Môn, Cần Thơ và khi tăng lượng phân lên thì không phát huy hiệu quả phân bón

1.5 Các vật liệu phủ liếp trong sản xuất rau

1.5.1 Sử dụng rơm

Việc sử dụng rơm rạ để làm vật liệu phủ liếp trong sản xuất rau đã có từ lâu đời, và được nhiều nông dân ưa chuộng Bởi vì tính tiện lợi của nó, dễ áp dụng, ít tốn kém, giử ẩm cho đất, hạn chế sự lèn mặt đất, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Mân, 1984) Tuy nhiên, ở những vùng chuyên sản xuất rau quanh năm,

số lượng rơm không đủ cung cấp cho sản xuất Mặt khác sử dụng rơm phủ liếp là nơi lưu tồn của nhiều sâu bệnh tấn công cây trồng khi gặp điều kiện thích hợp làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Trần Thị Ba, 1999)

1.5.2 Sử dụng màng phủ nông nghiệp

Vấn đề sử dụng màng phủ nông nghiệp trên thế giới và trong nước

Sử dụng màng phủ nông nghiệp trong sản xuất rau là một bước tiến nhảy vọt trong sản xuất nông nghiệp thế giới Ngày nay, màng phủ nông nghiệp được sử dụng phổ biến ở nhiều nước như: Mỹ, Hàn Quốc, Do Thái, Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan… Ở Nhật, bắt đầu sử dụng từ năm 1951 và chỉ áp dụng cho vùng khí hậu lạnh, dần dần nghiên cứu ứng dụng rộng rãi ở vùng có khí hậu nóng Kết quả là màng phủ làm tăng năng suất trong sản xuất rau (được trích dẫn bởi Lê Ngọc Hoa, 2003)

Ở Việt Nam, ứng dụng màng phủ trong sản xuất rau vào năm 1994 nhưng chỉ phổ biến ở những vùng chuyên canh rau như: miền Trung, Đà Lạt, Đồng Nai, Sông

Bé và các công ty giống cây trồng sử dụng Diện tích sử dụng màng phủ nông nghiệp ngày càng tăng nhanh ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (Trần Thị Ba, 2001) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Màng phủ nông nghiệp bằng plastic, gồm 2 mặt có màu khác nhau, mặt trên màu xám bạc và mặt dưới màu đen (công ty SAPACO, 1999) (được trích dẫn bởi Trình Văn Trí, 1999)

Tác dụng của màng phủ nông nghiệp

Theo Trình Văn Trí (1999) màng phủ plastic góp phần làm hạn chế sự tán công của ruồi đục lòn, bù lạch và bệnh đốm phấn trên dưa leo Theo Nông Thị Minh Hiếu (2002) và Lê Ngọc Hoa (2003) màu xám bạc của màng phủ có tác dụng làm giảm mật số bù lạch, sâu xanh và giảm thiệt hại do rầy mềm, bệnh đốm phấn, bệnh thối đọt Ngoài ra còn hạn chế được bệnh khảm trong suốt vụ Màng phủ plastic còn hạn chế được cỏ dại (Nguyễn Đức Độ và Nguyễn Văn Được, 2002) Theo Lamont (1991) màng phủ hấp thu lượng ánh sáng mặt trời và giử lại sức nóng không cho bốc hơi ra ngoài làm gia tăng nhiệt độ đất; Theo Nishitaki (1979) ẩm độ không khí trên màng phủ luôn thấp hơn so với phủ rơm (trích dẫn bởi Lê Ngọc Hoa, 2003)

Ngoài ra, phủ plastic còn có tác dụng khác như: hạn chế chuột, hạn chế ốc xoắn, giảm độ phèn, mặn, điều hoà ẩm độ và giử cấu trúc đất, làm tăng khả năng quang hợp và rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây

1.6 Các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong thí nghiệm

1.6.1 DC- Tron plus 98.8 EC

Tính chất Petrolium Spray Oil (PSO) là loại dầu phun thế hệ mới, được sản xuất từ dầu thô, thuộc nhóm dầu bôi trơn trong sản phẩm của nhà máy lọc dầu, là Arafin vòng PSO gây ngạt thở cho sâu, ngoài ra còn có tính xua đuổi An toàn với người và thiên địch Thời gian cách ly 2 ngày, phổ tác dụng tương đối rộng D-C-Trons Plus có chất bảo vệ chống tia cực tím để tránh gây hại cho cây dưới ánh nắng

Sử dụng phòng trừ rệp muội, rệp sáp, nhện đỏ, bù lạch rầy chổng cách, sâu vẽ bùa, trên cam, chanh và nhiều loại cây trồng khác Ngăn chặn đẻ trứng của sâu vẻ bùa phun khi cây mới ra lá non Pha với nồng độ 0,3-0,5% (Phạm Văn Biên, 2000 và công ty thuốc sát trùng Việt Nam, 2000)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

1.6.2 Vibasu 50ND

Tên gọi khác Agrozinon 60EC, Azinon 50EC, Basudin 40 EC… hoạt chất là Diazinon Nhóm lân hữu cơ Thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 1,25 mg/kg, LD50qua da 2,15 mg/kg Độc đối với cá và ong, thời gian cách ly 14 ngày Tác động tiếp xúc và vị độc, có khả năng thấm sâu và một phần xông hơi, phổ tác dụng rộng Phòng trừ nhiều loại sâu đục thân, ăn lá, sâu vẽ bùa, bù lạch, rệp sáp và tuyến trùng cho nhiều loại cây trồng Dùng 1-2 lít/ha cho lúa, rau màu, pha 16-32 ml/8 lít (Phạm Văn Biên, 2000 và công ty thuốc sát trùng Việt Nam, 2000)

độ 0,08-0,1% (Phạm Văn Biên, 2000)

1.6.4 Regent 800 WG

Tên hoạt chất Fipronil, thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 77-95 mg/kg, qua

da 354-2000 mg/kg Độc đối với cá, rất độc với ong mật Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc và có khả năng nội hấp Có thể diệt được nhiều loại sâu Thuốc có phổ tác dụng rộng Trên rau, phòng trừ sâu tơ, sâu xanh, sâu ăn lá, sâu vẽ bùa Liều lượng sử dụng 0,2-0,3 kg/ha, pha nồng độ 0,05 % (Phạm văn Biên, 2000)

1.6.5 Vilaxyl 35 BTN

Tên hoạt chất Metalaxyl, thuốc có tác dụng nội hấp mạnh Phòng trừ tốt bệnh thối rữa cành lá, làm rụng hoa, chết rủ cây con gây ra bởi các nấm phytophtora, pythium…Thời gian cách ly là 7 ngày, có thể tưới gốc hoặc xử lý hạt giống Liều lượng sử dụng 1,0 - 1,2 kg/400 - 500lít nước/ha, phun khi bệnh chớm xuất hiện, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

phun vài lần trong mùa bệnh, cách nhau 10 - 14 ngày (công ty Thuốc Sát Trùng Việt Nam, 2000)

1.6.6 Score 250 ND

Tên hoạt chất Difenoconazole, thuộc nhóm độc II Thuốc phòng trừ các loại bệnh đốm lá, phấn trắng, rỉ sắt, thán thư trên rau, cải, dưa,… Liều lượng sử dụng 0,3 - 0,5 lít/ha, khi bệnh vừa chớm xuất hiện, thời gian phun 7 - 14 ngày/lần (công

ty dịch vụ Bảo Vệ Thực Vật An Giang,1998)

1.6.7 Bonanza 100 DD

Tên hoạt chất Cyproconazol Thuộc nhóm độc III, thuốc có tác dụng nội hấp, tiếp xúc Thuốc trừ bệnh phổ rộng, trừ được nhiều loại bệnh trên nhiều loại cây trồng, trên dưa phòng trừ bệnh rỉ, đốm vòng, phấn trắng Thuốc ít độc đối với môi trường, cá và người, không độc đối với ong mật và trùn đất (công ty Dịch Vụ Bảo

Vệ Thực Vật An Giang, 1998)

1.6.8 Copper – B 75 WP

Hoạt chất Bordeaux, Zineb, Benomyl Thuộc nhóm độc III, có tác dụng phòng trừ tốt các bệnh như: Bệnh chạy dây, thối nhũn trên dưa hấu, dưa leo…, bệnh ghẻ lõm trên cam quít Liều lượng sử dụng 40 - 65 g/8 lít, phun 4-6 bình/1000 m2, phun cách nhau 7 - 15 ngày/lần Ngưng phun thuốc 15 ngày trước khi thu hoạch (công ty Nông Sản Nông Dược Đại Học Cần Thơ)

1.6.9 Deadline Bullets 4%

Tên hoạt chất Metaldehyde Deadline có tác dụng diệt ốc qua đường ruột và tiếp xúc Thuốc ít độc cho người, cá và động vật khác, ít ảnh hưởng đến môi trường Thuốc tan rất chậm trong nước và kéo dài 3 - 4 tuần, thuốc dể dàng phân hủy trong cây trồng khi xâm nhập vào cây qua đường rễ Deadline được sử dụng ở nhiều vị trí khác nhau: Ao, ruộng lúa, cây đậu, rau màu và cây ăn trái… Liều lượng sử dụng tuỳ theo mật độ ốc có trên đồng ruộng mà điều chỉnh lượng thuốc sau cho thích hợp Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

Khi mật độ ốc từ 10 con/m2 có thể dùng từ 400 - 800 g/công (Nguyễn Xuân Thành, 2000)

1.7 Một số loài nấm ký sinh

Ngoài côn trùng ký sinh, Sâu ăn tạp còn bị chết bởi các tác nhân khác, trong

đó vi sinh vật ký sinh là nguyên nhân làm sâu chết nhiều ngoài tự nhiên Những tác nhân này khi tấn công sẽ gây rối loạn trong cơ thể ký chủ làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển vào giai đoạn ấu trùng (Theo Rao và ctv., 1993), (trích dẫn bởi Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Thuỳ Minh, 2001)

Các dạng nấm

Theo Nguyễn Lân Dũng (1981) nấm Metarhizium sp còn gọi là nấm lục

cương Khibào tử nấm rơi trên bề mặt côn trùng trong khoảng 24 giờ, bào tử sẽ nẩy mầm tạo thành ống mầm xuyên qua lớp vỏ côn trùng sau đó tiếp tục phân nhánh tạo thành một mạng lưới sợi nấm bên trong cơ thể côn trùng Sợi nấm trên bề mặt côn trùng có màu trắng đến hồng Cuống sinh bào tử ngắn mọc toả tròn trên khối sợi nấm, bào tử hình que, kích thước 3,5 x 6,4 x 7,2 µm, màu lục xám Bào tử xếp thành chuổi khá chặt chẽ, nhìn bằng mắt thường thấy bào tử tạo ra trên bề mặt côn trùng một lớp phấn khá rõ Sợi nấm khi phát triển bên trong cơ thể côn trùng có chiều rộng khoảng 3 - 4 µm, dài khoảng 20 µm, chia thành nhiều tế bào ngắn Trong tế bào có thể nhìn thấy rõ nhiều hạt mỡ

Nấm lục cương có thể phát triển ở pH từ 3,3 - 10 nhưng thích hợp nhất từ 6,9 - 7,2 Nhiệt độ thích hợp là 24 - 25oC, khi nhiệt độ vượt quá 28oC sợi nấm bị già đi và không sinh ra bào tử trần Nấm phát triển tốt trong môi trường có chứa glycogen

hay lipit Nấm Metarhizium muốn tạo bào tử cần phải có ẩm độ không khí cao Độc

tố diệt côn trùng của nấm lục cương là một số ngoại chất có tên là destruxin A, B,

C, D, E Theo Tulloch (1976) thì nấm Metarhizium sp có hình trụ tròn và khuẩn lạc

có nhiều màu khác nhau từ xanh nhạt đến xanh đậm, hay nâu đỏ đến hồng vỏ quế Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Nấm này phát triển chậm khoảng 10 ngày sợi nấm mới vươn dài 2 cm ở 20oC trong môi trường lòng trắng trứng (được trích dẫn bởi Domish K.H., G.V Gams, 1980)

Theo Nguyễn Lân Dũng (1981), nấm Beauveria (nấm bạch cương) có đặc

điểm như sau: sợi nấm có cấu tạo xốp rất mảnh, màu trắng do đó nấm còn gọi là nấm bạch cương Nấm này sinh ra những bào tử trần, không màu hình cầu hoặc hình trứng Những bào tử này bay trong không khí, rơi trên cơ thể côn trùng, nó sẽ mộc mầm thành sợi nấm xuyên qua vỏ kitin của côn trùng và phát triển bên trong của chúng Như đối với Tằm, ngay sau khi xuất hiện các tế bào nấm đầu tiên, cơ thể côn trùng xuất hiện nhiều tế bào bạch huyết để ngăn chặn Nhưng nấm Beauveria đã

sử dụng vủ khí hoá học lợi hại đó là độc tố Tế bào bạch huyết không chống chịu nổi nên lần lượt bị loại bỏ, khi nấm tiêu diệt được hầu hết các tế bào bạch huyết cũng là lúc Tằm chết

Trong môi trường nuôi cấy, sợi nấm có màu trắng hay màu kem có pha ít đỏ hoặc da cam, đôi khi có ít màu lục Sợi nấm phân nhánh có vách ngăn Cuống bào

tử trần đứng riêng lẻ hay tụ lại thành đám, không phân nhánh hoặc phân nhánh hình ống hay thể bình (Plialides) với chiều dày không đều nhau Trên cuống có những cuống nhỏ mang bào tử trần Bào tử hình cầu hay hình trứng không màu

Theo Mac Leod (1994) nấm Beauveria có hai loài:

Beauveria bassiana: bào tử trần, hình cầu, đường kính (1 - 4 µm) hay hình trứng (1,5 - 5,5 x 1,3 µm) sợi nấm có chiều ngang khoảng 3 - 5 µm, phát triển dầy đặc trong môi trường nuôi cấy, về sau mang chi chít các nấm sinh bào tử và bào tử Trên côn trùng ban đầu sợi nấm có màu trắng, khi khô biến dần thành màu vàng sữa

Beauveria tenella: khác với loài Beauveria bassiana sợi nấm có dạng lông tơ,

mọc rất dầy trên môi trường nuôi cấy, bào tử phần lớn hình trứng, chỉ trong trường hợp đặc biệt mới có hình cầu (2,5 - 3 µm)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

* Thí nghiệm ngoài đồng 2.1 Phương tiện

2.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm

+ Giống: giống dưa hấu F1 “Hắc Mỹ Nhân” của công ty giống cây trồng Trang

Nông Dạng trái hình bầu dục, võ màu xanh đen có sọc mờ, ruột đỏ rất ngọt Trọng lượng trái trung bình 2,5 - 3 kg, thời gian sinh trưởng 28 - 60 ngày

+ Vật liệu phủ liếp

Màng phủ nông nghiệp khổ rộng 1,6 m gồm một mặt đen và một mặt màu xám bạc Rơm lúa được rãi đều trên mặt liếp (1kg/m2)

+ Phân bón: gồm các loại phân như: phân vi sinh (15%) Urea (46% N), Super

lân (18% P2O5), Kali (60% k20 ), phân cá , phân dơi, tro trấu và vôi bột

+ Nông dược: tuỳ theo đối tương gây hại, sử dụng các loại thuốc sau

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

Bù lạch, Sâu ăn tạp: Confidor100 SL, Regent 800 WP 0.8g/8lít nước, DC Tron plus 98.8 EC…

-Bọ dưa: Sevin 85 WP, Basudin 40 EC, DC -Tron plus…

Bệnh hại: Score 250 EC, Copper - B 75 WP, nồng độ theo khuyến cáo

Ốc xoắn: dealine bullets 4%

Dụng cụ thí nghiệm

Len dùng đào rãnh lên liếp

Thùng có vòi sen, thao, để tưới nước

Bình phun thuốc với thể tích 16 lít

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

2.2 Phương pháp

2.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức lô phụ, với 3 lần lập lại Lô phụ gồm 4 mức phân đạm (0 kgN/ha, 100kgN/ha, 150kgN/ha, 200kgN/ha) và lô chính gồm ba cách phủ liếp (đất trần không phủ, phủ rơm, phủ plastic)

Diện tích mỗi lô 50 m2 (10 x 5 m), tổng diện tích thí nghiệm (50 m2 x 36 = 1800

m2) kèm theo sơ đồ bố trí thí nghiệm

+Biện pháp bón phân

Với 4 mức đạm khác nhau, nhưng cùng mức phân lân (120kg P2O5/ha) và kali (100kg K2O/ha) + phân cá (Super fish) 1 lít, phân hữu cơ sinh học 400kg + 500kg vôi bột cho 1 ha Lượng phân hoá học được chia ra các lần bón như trên, phân hữu cơ sinh học và vôi bột tưới và rãi trước khi trồng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

- Liều lượng và cách bón phân cho dưa hấu thí nghiệm tại xã An Bình, TP Cần Thơ, tháng 7-9/2003

CÁC MỨC PHÂN ĐẠM

321 g Ure Phân cá

Rơm được phủ đều trên mặt liếp với số lượng 1kg/m2 mặt liếp

Đối với nghiệm thức không phủ để mặt đất trần

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

Đậy rơm và màng phủ trên mặt liếp theo sơ đồ thí nghiệm, dùng đục lỗ màng phủ, khoảng cách 40 cm

+ Cách gieo hạt, đặt bầu

Hạt giống được ngâm trong nước ấm (2 sôi : 3 lạnh) khoảng 35 - 40oC khoảng 5 giờ, sau đó ủ ấm khoảng 24 - 36 giờ khi vừa nhú mầm thì đem gieo vô bầu đất, gieo thêm khoảng 30% để sau trồng giậm Cây con 5 ngày tuổi đem trồng ra ruộng

Cây con trong bầu đem trồng lúc chiều mát, khoảng cách trồng 40 cm, mỗi hốc trồng 1 cây (mật độ 50 cây trên lô 50 m2)

+ Chăm sóc

Trồng giậm: Cây con được trồng dậm giai đoạn từ 3 - 5 ngày sau khi đặt bầu Tưới nước: Giai đoạn 15 NSKG tưới bằng thùng vòi có búp sen, 2 - 3 lần/ngày, sau đó giảm xuống còn 1 lần/ngày, những ngày mưa nhiều không tưới, Khi cây đã bò ra khỏi màng phủ thì vén màng phủ lên tưới

Làm cỏ: trên các nghiệm thức không phủ liếp và phủ rơm làm cỏ 2 lần / vụ Kết hợp với các lần bón phân thúc

Tỉa nhánh: mỗi cây chừa 1 thân chính và 2 nhánh chèo, bắt đầu tỉa khi chồi non 10 –20 cm cho đến lúc trái đã lớn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

Thụ phấn: khoảng 30 NSKG vào mỗi buổi sáng (6 - 9 giờ) thụ phấn bổ sung cho hoa cái thứ 3

Tuyển trái: khoảng 35 - 40 NSKG tiến hành tuyển chọn 1 trái duy nhất (trên thân chính chọn trái thứ 3), nếu thân chính chọn không được thì chọn trên dây chèo ở

Bọ dưa: tính tỉ lệ thiệt hại và chỉ số thiệt hại của tất cả các lá trên cây

Phân cấp thiệt hại

Cấp 0: lá không bị hại Cấp 1: < 10% diện tích lá bị hại Cấp 2: 10 - 20% diện tích lá bị hại Cấp 3: 21 - 30% diện tích lá bị hại Cấp 4: 31 - 50% diện tích lá bị hại Cấp 5: > 50% diện tích lá bị hại

Ngày đăng: 12/04/2018, 07:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w