1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của mùa vụ lên các đặc TÍNH SINH TRƯỞNG và NÔNG học của 30 GIỐNG đậu NÀNH NHẬP nội vụ ĐÔNG XUÂN và hè THU 2010 tại cần THƠ

62 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 663,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất hạt đậu nành còn phụ thuộc nhiều vào giống, kỹ thuật canh tác, lượng phân bón và đặc biệt là ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng.. Xuất phát từ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Người thực hiện

Trịnh Văn Tuấn Em

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

-   -

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ LÊN CÁC ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ NÔNG HỌC CỦA 30 GIỐNG ĐẬU NÀNH (Glycine max (L.) Merrill) NHẬP NỘI VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU 2010 TẠI CẦN THƠ” Do sinh viên TRỊNH VĂN TUẤN EM thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng vào ngày … tháng… năm 2011 Luận văn tốt nghiệp đã được Hội đồng đánh giá ở mức:

Ý kiến của Hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2011 Thành viên Hội Đồng ……… ……… ………

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

Trang 4

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

…… ……

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Họ và tên: Trịnh Văn Tuấn Em Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 30/11/1987 Dân tộc: Kinh

Nơi sinh: Hà Tiên – Kiên Giang

Địa chỉ liên lạc: Số nhà 17, ấp Nha Sáp, xã Vĩnh Điều, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1 Tiểu học

Thời gian đào tạo từ năm: 1995 đến năm 2000

Trường Tiểu Học Vĩnh Điều

2 Trung học cơ sở

Thời gian đào tạo từ năm: 2000 đến năm 2004

Năm 2000 – 2001: Học Trường Tiểu Học và THCS Vĩnh Điều

Năm 2001 – 2004: Học Trường THCS Vĩnh Điều

3 Trung học phổ thông

Thời gian đào tạo từ năm 2004 đến năm 2007

Năm 2004 – 2005: Học Trường THCS Tân Khánh Hòa

Năm 2005 – 2007: Học Trường THPT Thoại Ngọc Hầu

4 Đại học

Thời gian đào tạo từ năm 2007 đến năm 2011

Trường Đại Học Cần Thơ

Ngày tháng năm 2011

Người khai ký tên

Trịnh Văn Tuấn Em

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

…… ……

Kính dâng

Cha mẹ suốt đời tân tụy không quản khó khăn chăm lo cho tương lai của con

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc

Thầy Trương Trọng Ngôn và cô Trần Thị Thanh Thủy, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và cho em những lời khuyên bổ ích giúp em hoàn thành luận văn này

Chân thành biết ơn

Thầy Nguyễn Lộc Hiền, cố vấn học tập lớp Nông Học K33 đã quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình học tại Trường Đại Học Cần Thơ

Chân thành cảm ơn

Toàn thể quý thầy cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã dìu dắt và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian theo học ở Trường

Thân thương gửi về

Các bạn sinh viên lớp Nông Học K33, Võ Thành An, Nguyễn Quang Sáng, Trịnh Xuân Trung, Trần Xuân Giang, Trần Thị Ngọc Đồng Nguyễn Thành Luân lớp Trồng Trọt K33, Trịnh Xuân Hiếu lớp Xây Dựng Cầu Đường K34, các em sinh viên lớp Nông Học K35 đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

Trịnh Văn Tuấn Em

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Bảng nhận xét hội đồng ii

Quá trình học tập iii

Cảm tạ iv

Mục lục v

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH SÁCH BẢNG vii

TÓM LƯỢC ix

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 GIỐNG NHẬP NỘI 2

1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT ĐẬU NÀNH 2

1.2.1 Đặc tính sinh trưởng 2

1.2.2 Mùa vụ 3

1.2.3 Yếu tố ngoại cảnh 3

1.2.4 Yếu tố sâu bệnh 5

1.3 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NĂNG SUẤT

VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 6

1.4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHỌN GIỐNG 7

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 9

2.1 PHƯƠNG TIỆN 9

2.2 PHƯƠNG PHÁP 9

2.2.1 Cách bố trí thí nghiệm 9

2.2.2 Kỹ thuật canh tác 10

2.2.3 Các chỉ tiêu thu thập 10

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 12

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13

3.1 NHẬN XÉT TỔNG QUAN 13

3.1.1 Tình hình thời tiết khí hậu 13

3.1.2 Tình hình cỏ dại và sâu bệnh 14

3.1.3 Đổ ngã 17

3.2 CÁC ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI 18

3.2.1 Màu trục hạ diệp và màu hoa 18

3.2.2 Màu vỏ trái 18

3.2.3 Màu vỏ hạt và màu tể 18

3.3 CÁC ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG 19

Trang 7

3.3.1 Ngày trổ hoa và thời gian kéo dài trổ 19

3.3.2 Thời gian tạo trái 21

3.3.3 Thời gian sinh trưởng 22

3.4 CÁC ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC 24

3.4.1 Chiều cao trổ 24

3.4.2 Chiều cao chín 26

3.4.3 Cành hữu hiệu 28

3.4.4 Số lóng trên thân chính 29

3.5 THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT 32

3.5.1 Thành phần năng suất 32

3.5.2 Năng suất 39

3.6 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NĂNG SUẤT

VÀ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT 41

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

4.1 KẾT LUẬN 43

4.2 ĐỀ NGHỊ 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ CHƯƠNG 46

Trang 8

3.6 Thời gian kéo dài trổ của 30 giống đậu nành nhập nội vụ

Đông Xuân và Hè Thu 2010

21

3.7 Thời gian sinh trưởng của 30 giống đậu nành nhập nội vụ

Đông Xuân và Hè Thu 2010

24

3.8 Chiều cao trổ của 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông

Xuân và Hè Thu 2010

26

3.9 Chiều cao chín của 30 giống đậu nành nhập nội trồng vụ

Đông Xuân và Hè Thu 2010

28

3.10 Số lóng trên thân chín của 30 giống đậu nành nhập nội vụ

Đông Xuân và Hè Thu 2010

31

3.11 Số trái trên cây của 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông

Xuân và Hè Thu 2010

33

3.12 Tỉ lệ % hạt lép, trái 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt và 4 hạt của 30 giống

đậu nành nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

34

3.13 Số hạt trên cây của 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông

Xuân và Hè Thu 2010

36

3.14 Trọng lượng 100 hạt của 30 giống đậu nành nhập nội vụ

Đông Xuân và Hè Thu 2010

38

3.15 Năng suất (g/cây) của 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông

Xuân và Hè Thu 2010

40

3.16 Giá trị trung bình và khoảng biến động của 6 tính trạng của

30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

41

3.17 Tóm tắt một số chỉ tiêu theo dõi của 6 giống ở vụ Đông

Xuân và Hè Thu 2010

41

3.18 Phân tích hồi quy tuyến tính thời gian tạo trái, số hạt trên

cây và năng suất vụ Đông Xuân 2010

42

Trang 9

3.3 Phân nhóm chiều cao trổ của 30 giống đậu nành nhập nội

vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

25

3.4 Phân nhóm chiều cao chín của 30 giống đậu nành nhập nội

vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

3.7 Phân nhóm trọng lượng 100 hạt của 30 giống đậu nành

nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

37

3.8 Phân nhóm năng suất (g/cây) của 30 giống đậu nành nhập

nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

39

Trang 10

TRỊNH VĂN TUẤN EM, 2011 “ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ LÊN CÁC ĐẶC TÍNH

SINH TRƯỞNG VÀ NÔNG HỌC CỦA 30 GIỐNG ĐẬU NÀNH (Glycine max (L.)

Merrill) NHẬP NỘI VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU 2010 TẠI CẦN THƠ” Luận văn

tốt nghiệp kỹ sư Nông Học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn Ths Trần Thị Thanh Thủy và Ts Trương Trọng Ngôn

TÓM LƯỢC

Đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA MÙA VỤ LÊN CÁC ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ

NÔNG HỌC CỦA 30 GIỐNG ĐẬU NÀNH (Glycine max (L.) Merrill) NHẬP NỘI VỤ

ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU 2010 TẠI CẦN THƠ” được thực hiện nhằm mục đích tìm những giống có đặc tính tốt, thích nghi với điều kiện tự nhiên ở từng vụ canh tác, tiềm năng năng suất cao và ít nhiễm sâu bệnh Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo thể thức thừa số gồm 2 nhân tố: nhân tố (A) là mùa vụ (2 mùa vụ), nhân tố (B) là giống (gồm 30 giống), thí nghiệm được tiến hành 3 lần lập lại mỗi lần lặp lại quan sát trên 3 cây mẫu ngẫu nhiên Mỗi giống gieo trên một hàng dài 5m khoảng cách gieo là 40x10cm, 2 cây/hốc

Các giống trồng ở vụ Hè Thu có thời gian sinh trưởng kéo dài hơn so với vụ Đông Xuân (trung bình 10 ngày) Có tương tác giữa giống và mùa vụ ở mức ý nghĩa 1% ở tất cả các đặc tính sinh trưởng và nông học Trong các chỉ tiêu quan sát, năng suất (g/cây) bị ảnh hưởng bởi mùa vụ nhiều (CV%=17,38) Trọng lượng 100 hạt ít bị ảnh hưởng bởi mùa vụ (CV%=2,59) Thời gian tạo trái đóng góp nhiều đến việc tăng năng suất của giống Ba giống SO3-514CR, GC 90001-1-39-3 và GC 90012-18-13-11 quang cảm mạnh qua 2 vụ khảo sát Hai giống IT 101088 và IT 102730 rất ít quang cảm Ba giống PI 566959, PI

566969 và GC 90012-18-13-11 trồng ở hai mùa vụ đều cho số hạt trên cây nhiều nhất Riêng giống PI 566959 có năng suất (g/cây) vụ Đông Xuân tương đương giống đối chứng

và vụ Hè Thu có năng suất (g/cây) cao hơn giống đối chứng

Trang 11

TGST: Thời gian sinh trưởng

CCC: Chiều cao cây

W 100 hạt: Trọng lượng 100 hạt

Trang 12

MỞ ĐẦU

Đậu nành (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao,

đồng thời là cây thực phẩm cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho con người và

gia súc Bên cạnh đó rễ cây đậu nành cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium japonicum tổng

hợp Nitơ khí trời thành đạm hữu dụng góp phần cải tạo độ màu mỡ của đất Vì thế, đậu nành là cây luân canh cải tạo đất rất tốt (Phạm Văn Biên và ctv, 1996)

Đậu nành có thể trồng được quanh năm Nhưng sự sinh trưởng, năng suất và phẩm chất hạt đậu nành còn phụ thuộc nhiều vào giống, kỹ thuật canh tác, lượng phân bón và đặc biệt là ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng Chính vì vậy việc tìm và chọn giống đậu nành

có đặc tính tốt, năng suất cao, ít nhiễm sâu bệnh, đồng thời thích ứng tốt khi điều kiện môi trường thay đổi là vấn đề cần được quan tâm

Xuất phát từ những vấn đề trên đề tài “Ảnh hưởng của mùa vụ lên các đặc tính sinh

trưởng và nông học của 30 giống đậu nành nhập nội Glycine max (L.) Merrill vụ

Đông Xuân và Hè Thu năm 2010 tại Cần Thơ” được thực hiện, nhằm mục đích: Tìm

những giống có đặc tính tốt, thích nghi với điều kiện tự nhiên ở từng vụ canh tác, tiềm năng năng suất cao và ít nhiễm sâu bệnh

Trang 13

Giống nhập nội thường đóng vai trò quan trọng như:

 Bổ sung nguồn gen quý

 Làm tăng tính đa dạng di truyền

 Làm nguồn vật liệu khởi đầu cho việc lai tạo (Nguyễn Văn Hoan, 2000)

Tác dụng to lớn của nguồn giống nhập nội thể hiện qua 3 mặt sau:

 Sử dụng trực tiếp trong sản xuất

 Cho ra giống mới trực tiếp từ nguồn vật liệu khởi đầu

 Dùng làm nguồn vật liệu để lai, gây đột biến, chuyển gen … rồi từ đó chọn ra giống mới thích hợp (Trần Thượng Tuấn, 1992)

1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT ĐẬU NÀNH

1.2.1 Đặc tính sinh trưởng

Trong sản xuất đậu nành có lẽ không yếu tố canh tác nào quan trọng hơn là thời gian trồng, nó ảnh hưởng đến sự trổ hoa, sự chín của trái, năng suất hạt, chiều cao cây, sự đỗ ngã, phẩm chất hạt, lượng protein và lượng dầu của hạt Đậu nành rất mẫn cảm với yếu tố khí hậu, nhất là lúc ra hoa, cây ngày ngắn nếu gặp điều kiện quang kỳ dài hơn quang kỳ tới hạn, đậu nành sẽ ra hoa chậm, chín chậm, đôi khi có trường hợp sinh trưởng dinh dưỡng mãi mãi mà không ra hoa Nếu gặp điều kiện ngày ngắn, đậu nành phát dục nhanh hơn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn Ngày càng dài thì số ngày ra hoa, thời gian trổ hoa

và số ngày chín cũng kéo dài Sự phát dục của cây đậu nành thông thường bắt đầu từ

28-30 NSKG, nhưng cũng có giống trổ sớm hơn hoặc muộn hơn Chính yếu tố nhiệt độ và

độ dài ngày quyết định sự ra hoa của đậu nành, thay đổi một trong hai yếu tố hay cả hai đều dẫn đến thời gian ra hoa sẽ khác nhau Thời gian ra hoa kéo dài làm kích thước hạt của giống vô hạn thường không đồng đều (Được trích dẫn bởi Ngô Kim Hoa, 1984) Chiều cao cây được xem như một hướng chọn để dự đoán một phần năng suất Những cây có chiều cao lúc trổ trên 40 cm, sau khi trổ tăng dưới 10 cm cho năng suất cao nhất, còn gia tăng hơn 30 cm cho năng suất thấp nhất, các giống khi trổ cao dưới 30 cm sau khi trổ tăng hơn 30 cm cho năng suất cao hơn giống gia tăng chiều cao ít hơn (Được trích dẫn bởi Ngô Kim Hoa, 1984)

Trang 14

1.2.2 Mùa vụ

Đậu nành mẫn cảm với điều kiện ánh sáng và nhiệt độ cũng chịu ảnh hưởng của mùa vụ

Mặt khác, mùa vụ cũng ảnh hưởng rõ rệt đối với điều kiện phát triển sâu bệnh và trong

một số trường hợp, mùa vụ khác nhau có những yêu cầu không giống nhau về biện pháp

kỹ thuật canh tác

 Vụ Đông Xuân

Vụ Đông Xuân trời ít mưa, ánh sáng dồi dào, nhưng thời gian chiếu sáng trong ngày

ngắn Trong vụ này, cây đậu nành trổ hoa sớm, thời gian sinh trưởng ngắn, thân lá phát

triển hạn chế hơn các vụ khác Sâu bệnh tương đối ít Vụ đậu nành này tận dụng được ẩm

độ của đất cuối mùa mưa có thuận lợi lớn trong việc thu hoạch và phơi hạt Hạt thu được

có phẩm chất tốt và có khả năng bảo quản được lâu (Trần Thị Kim Ba và ctv, 2008)

 Vụ Hè Thu

Vụ Hè Thu có thời gian chiếu sáng trong ngày dài nên đậu nành trổ hoa muộn, thời gian

sinh trưởng của các giống đậu nành bị kéo dài, mức độ kéo dài tùy thuộc vào đặc tính

quang cảm của giống Trong vụ này, cây đậu nành phát triển thân lá mạnh nhất, do đó

mật độ trồng cần thưa hơn các vụ khác Ít bị sâu hơn vụ Xuân Hè, thiệt hại do dòi đục

thân giảm rỏ rệt, song thiệt hại do bọ xít có phần tăng Bệnh đốm phấn và thối trái có

phần phát triển Cuối vụ do gặp mưa nhiều nên hạt dễ bị mốc và bị bệnh hạt tím Hạt thu

được có phẩm chất kém hơn các vụ khác trong năm Nhược điểm khác là đầu vụ thường

bị hạn, nên cây mọc không đều, cuối vụ thường gặp mưa nên việc thu hoạch và phơi khô

hạt khó khăn Trong vụ Hè Thu, đậu nành cũng dễ bị đỗ ngã (Trần Thị Kim Ba và ctv,

2008)

Ngô Văn Giáo và ctv (1984) giải thích rằng: do thời tiết mưa nhiều, sự chín ngoài đồng

đã khó xảy ra đồng đều Thêm vào đó khi thu hoạch lại khó phơi cho khô đập lấy hạt Tỉ

lệ trái xanh tươi khi thu hoạch khá lớn Hạt được đập ra nếu không giữ được khô rất dễ bị

nấm mốc, nên hạt thu bị mưa thường không được giữ giống qua năm Theo Howell và ctv

(1959), một trận mưa trên ruộng đậu làm gia tăng ẩm độ hạt, những hạt này độ ẩm cao

được duy trì và hô hấp kéo dài, điều này làm giảm bớt hàm lượng đường và những chất

dự trữ khác trong hạt, làm thấp phẩm chất hạt

1.2.3 Yếu tố ngoại cảnh

 Nhiệt độ

Đậu nành có thể phát triển tốt trong phạm vi rộng của nhiệt độ Garner và Allard (1930)

đã cho rằng khi nhiệt độ dưới 250C thì sự ra hoa bị cản trở Hầu như đậu nành nảy mầm

nhanh ở 300C, nhưng một số giống đậu nành nẩy mầm ở 150C cũng tốt như ở 300C, nẩy

mầm bị cản trở khi nhiệt độ thấp hơn nữa (Được trích dẫn bởi Ngô Kim Hoa, 1984)

Takeshima (1952) thì cỡ hạt được tăng trong điều kiện nhiệt độ thấp Nhiệt độ tối thích

cho sự sinh trưởng của đậu nành đối với không khí là 24-300C, đối với đất là 22-270C

Nhiệt độ dưới 170C và trên 370C làm giảm trọng lượng khô của cây Nhiệt độ tối thích để

Trang 15

hình thành mầm hoa khoảng 240C, nhiệt độ cao trên 280C có tác dụng đẩy mạnh sự trổ hoa (Được trích dẫn bởi Ngô Kim Hoa, 1984)

Đậu nành là cây ưu nhiệt, yêu cầu tổng tích ôn của cây là 2.4000C Các tỉnh phía Nam có tổng tích ôn là 3.0000C, thỏa mãn yêu cầu nhiệt độ cho cây đậu nành Theo Pandey (1987) nhiệt độ thích hợp cho cây đậu nành là 20-370C Tuy nhiên, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển khác nhau mà nhu cầu nhiệt độ của cây cũng khác nhau (Phạm Văn Biên

và ctv, 1996)

 Nước

Yêu cầu về nước thay đổi theo nhiệt độ Tần số mưa cần thiết cho năng suất cao ảnh hưởng bởi loại đất Lượng nước cần thiết là 0,76 cm/ngày trong thời kỳ sinh trưởng cực đại Phải cung cấp nước đầy đủ trong giai đoạn phát triển hạt đến chín hoàn toàn mới đảm bảo năng suất cao nhất Năng suất đậu nành giảm nghiêm trọng nhất là khi đậu nành

bị thiếu nước vào tuần cuối cùng của giai đoạn tạo nụ trái và phình to của hạt (Được trích dẫn bởi Ngô Kim Hoa, 1984)

Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2003) hàm lượng nước trong hạt giống phải đạt mức 50% mới dễ nảy mầm Trái lại, nếu lượng nước thừa thì tỉ lệ nảy mầm của hạt cũng không cao Như vậy, đất thiếu độ ẩm cần thiết hay quá ướt sẽ làm cho hạt giống bị hôi thối

 Ánh sáng

Garner và Allard (1930) cho rằng các giống trong điều kiện nhiệt độ dài ngày là 10 giờ/ngày, đều trổ hoa trong vòng 20-25 ngày sau khi nẩy mầm Sự rút ngắn thời gian từ gieo đến trổ liên quan mật thiết đến vĩ độ, tuy nhiên nếu duy trì nhiệt độ ở mức trung bình 24-250C, thì sự ra hoa không bị muộn hoặc muộn không đáng kể Một giống thích hợp cho sản xuất tại vĩ độ thấp sẽ có phạm vi vĩ độ thích hợp rộng hơn một số giống tại một vĩ

độ cao

Khi tán cây đã khép kín, cường độ quang hợp của mỗi lá hoặc của toàn tán cây đậu nành ngoài đồng ruộng không phản ứng với bức xạ ban ngày tăng trên khoảng 50-60% bức xạ tối đa của những buổi trưa hè (Sakamoto và Shaw, 1967) Giới hạn này có thể do bị thiếu nước và nó biểu hiện hiện tượng bão hòa ánh sáng (Sinclair, 1980)

Bức xạ mặt trời mạnh cũng có thể là điều bất lợi, nó làm tăng nhiệt độ lá và do đó dẫn đến tăng cường độ thoát hơi nước ở tốc độ lớn hơn tốc độ của dòng nước hút qua rễ (Được trích dẫn bởi Ngô Thế Dân và ctv, 1999) Bức xạ mạnh vào những tháng đầu mùa

hè thường làm giảm quang hợp và năng suất do nhiệt độ lá và thoát hơi nước

Đậu nành là cây ngày ngắn, có rất ít giống không nhạy cảm với quang kỳ Biến động của quang chu kỳ có ảnh hưởng tới sinh trưởng sinh thực trước và sau khi hoa nở Thường các giống chín muộn có phản ứng ánh sáng mạnh hơn các giống chín sớm Khi chuyển các giống quang cảm từ điều kiện ngày dài sang điều kiện ngày ngắn thì thời gian từ mọc đến trổ hoa bị rút ngắn lại (Đươc trích dẫn bởi Ngô Thế Dân và ctv, 1999)

Trang 16

Kết quả thí nghiệm của Lê Độ Hoàng và ctv (1977) cho thấy thời gian trổ hoa và thời gian sinh trưởng của cây đậu nành sẽ kéo dài khi xử lý chiếu sáng trong giai đoạn 30 ngày đầu của chu kỳ sinh trưởng Sau giai đoạn này hầu như cây không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ

 Đất đai

Cây đậu nành có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như phù sa cổ, phù sa mới, đất

đỏ, đất phèn nhẹ, đất hữu cơ… Tuy nhiên, cây đậu nành sẽ sinh trưởng và phát triển tốt trên đất tơi xốp, phì nhiêu, có pH trong khoảng 5,8 – 6,5 (Pandey, 1987)

Trắc nghiệm khả năng thích ứng của các giống đậu nành trên đất có pH thấp, Board và Caldwel (1991) đã kết luận rằng khi đi từ môi trường có pH=6,4 sang môi trường có pH=5,2 thì năng suất toàn phần sẽ bị giảm đến 25% Các tác giả cho rằng môi trường đất acid, hàm lượng đạm trong cây giảm 20% và khả năng hấp thu đạm của cây giảm 37% Các giống khác nhau sẽ có khả năng thích ứng với các độ pH khác nhau

Ở ĐBSCL, đa số là đất ruộng, chứa nhiều sét, nhiễm phèn nhẹ và pH thấp (khoảng 4-5);

vì vậy, để gia tăng năng suất đậu nành cần bón thêm vôi (Được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phương Quyên, 2009)

1.2.4 Yếu tố sâu bệnh

 Sâu hại

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1993), trên đậu nành có nhiều loại côn trùng tấn công nhưng gây hại chủ yếu là 3 loại sau:

Dòi đục thân (Melanagromyza sojae): chủ yếu gây hại ở giai đoạn đầu từ 7 đến 15 ngày

sau khi gieo Dòi nở ra đục thẳng vào gân xuyên qua cuống lá và đục vào thân của cây đậu, ăn thành đường hầm ngay giữa thân kéo dài từ gốc đến ngọn cây Khi đã lớn, dòi đục một lỗ xuyên qua thân để làm đường ra sau này và hóa nhộng ở gần đó Sau khi vũ hóa, thành trùng chui qua lỗ để ra ngoài Nếu tấn công với mật độ cao cây con có thể chết, nếu tấn công rễ thì cây con có thể chết, nếu tấn công trễ thì cây có thể chết từng nhánh hoặc giảm sức tăng trưởng

Sâu ăn tạp (Spodoptera litura): gây hại vào lúc cây phát triển cành lá mạnh Chúng tập

trung cắn phá lá và các phần non của cây làm cây kém phát triển

Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua): phát triển mạnh trong mùa nắng và mật độ cao

chúng ăn trụi lá, hoa, trái non và đọt non của cây đậu làm giảm năng suất Ở ĐBSCL, sâu

có khả năng gây hại lớn không những trên cây đậu nành mà cả trên nhiều loại cây trồng khác Sự bộc phát của sâu xanh da láng là do quá trình tích lũy mật độ theo thời gian có

sự hiện diện của cây ký chủ trên ruộng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 1998)

Sâu đục trái (Etiella zinckenella Treitsche): thường tấn công vào giai đoạn trổ hoa tượng

trái đến khi vỏ trái cứng Hạt mới hình thành bị sâu đục sẽ không phát triển Sâu đục trái gây hại nhiều nhất trong vụ Xuân Hè, nguyên nhân chúng có vòng đời ngắn Bướm cái đẻ trứng với mật độ cao (trung bình 246 trứng/con) và điều kiện mùa nắng thích hợp cho

Trang 17

bướm phát triển nên chúng tích lũy mật số nhanh qua vụ Đông Xuân và gây hại lại cho

vụ sau

 Bệnh hại

Theo Nguyễn Phước Đằng và ctv (2009), các bệnh gây hại phổ biến trên đậu nành ở ĐBSCL là:

Bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani): nấm gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây con từ 1-2

tuần tuổi, nhất là trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, độ ẩm không khí cao Bệnh có thể tồn tại đến khi cây ra hoa đậu trái Cây bệnh ở phần thân giáp mặt đất có màu nâu đỏ, sau đó chổ vết bệnh teo lại, cây đỗ ngã và khô héo Trên ruộng bị nhiễm bệnh phát sinh đầu tiên

từ một vài cây, về sau lan rộng ra làm cây chết từng chòm, mặt đất chỗ cây bệnh có những sợi nấm rải rác màu trắng hoặc vàng

Bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum): bệnh gây hại rải rác suốt vụ và ngay cả khi cây đã

tạo hạt Bệnh phát triển khi thời tiết nóng ẩm, trên cây con ít khi có bệnh Khi cây con bị bệnh ở chồi ngọn bị héo, lá bị rũ, diệp tiêu vàng và rụng sớm, thường nấm phát triển và xâm nhập vào hệ thống dẫn nhựa Khi rễ chính bị hư, cây thường mọc nhiều rễ con trên

cổ rễ chính tạo thành hệ thống rễ chùm, cây bị lùn, yếu ớt, tốc độ phát triển chậm Ở giai đoạn cây trưởng thành thường không làm chết cây nhưng trái lép, hạt lững hoặc lép hoàn toàn nên năng suất giảm

Bệnh rỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi): gây hại chủ yếu trên lá, đôi khi trên thân, cuống lá

và trái Trên lá, vết bệnh đầu tiên là những đốm nhỏ vàng hoặc đỏ nâu dần dần tâm vết bệnh hơi khô nhô thành cái gai rỉ (ở cả hai mặt nhưng rõ nhất là ở mặt dưới) Chung quanh vết bệnh thường có quầng vàng Bệnh nặng làm lá rụng sớm, trái ít, hạt lững Bệnh phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25-280C và thời gian ẩm ướt kéo dài Giai đoạn đậu ra hoa tạo trái là thời kỳ dễ nhiễm bệnh Nấm bệnh tồn tại trên tàn dư cây bệnh và trong đất

Bệnh đốm phấn (Peronospora manshurica): ở điều kiện ẩm độ cao, sáng sớm có sương

mù, ngày nắng nóng bệnh dễ phát triển Vết bệnh tấn công chủ yếu trên lá, mặt dưới lá màu trắng, lúc đầu xuất hiện những đốm màu tro hình tròn, về sau vết bệnh có hình tròn hoặc hình không rõ rệt, màu nâu vàng, xung quanh viền nâu thẫm, có ranh giới với phần xanh còn lại của lá Bệnh nặng lá bị vàng và rụng sớm làm ảnh hưởng đến năng suất

Bệnh hạt tím (Cercospora kikuchii): thường xuất hiện trong mùa mưa Bệnh tuy không

trực tiếp làm giảm năng suất đậu nành nhưng làm giảm chất lượng hạt giống Triệu chứng đặc trưng dễ nhận thấy nhất là vỏ hạt đậu nành biến sang màu nâu tím

1.3 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT

Trong chọn giống năng suất cao, người ta thường chú ý đến mối tương quan giữa năng suất với các yếu tố cấu thành năng suất hoặc yếu tố sinh lý Bởi vì nếu một yếu tố nào đó

có hệ số di truyền lớn hơn so với năng suất, người ta có thể chọn lọc gián tiếp năng suất cao qua nó Ở trong 2 quần thể Johnson và ctv (1955b) thấy rằng mối tương quan di truyền giữa năng suất và số quả là 0,28 và 0,14 Tương quan giữa năng suất và kích thước hạt là 0,66 và 0,48 ở trong một quần thể phân ly, mối tương quan di truyền giữa năng suất

Trang 18

hạt và số hạt là 0,95, giữa năng suất với kích thước hạt là 0,25 (Được trích dẫn từ Cây Đậu Tương, Ngô Thế Dân, 1999)

Trong các giai đoạn sinh trưởng của cây thì năng suất có tương quan chặt chẽ với thời gian kéo dài tạo hạt Chìa khóa để tăng năng suất hạt là kéo dài thời gian tạo hạt, năng suất có thể tăng 25% nếu thời gian tạo hạt kéo dài thêm 5 ngày Các giống ngắn ngày sẽ cho năng suất thấp hơn giống dài ngày (Được trích dẫn bởi Ngô Kim Hoa, 1984)

1.4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHỌN GIỐNG

Đào Thế Tuấn (1975) để chọn tạo giống có năng suất cao và ổn định thì giống cần có một

số phẩm chất sau:

 Giống có khả năng sử dụng năng lượng bức xạ mặt trời với hiệu suất cao

 Giống chín sớm, thích nghi rộng nhằm trồng được nhiều vụ trong một năm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau

 Giống có tính kháng lại sâu, bệnh cao và ổn định

 Giống có khả năng chống chịu các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như: úng, mặn, hạn…

Trong chương trình lai tạo và thanh lọc giống đậu nành tại trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Á Châu (AVRDC), có 7 tiểu chuẩn đã được đề nghị chọn giống đậu nành:

 Tiềm năng năng suất cao

 Dạng cây thích hợp: lóng ngắn, nhiều trái trên cây, kháng đỗ ngã

Trần Thượng Tuấn và ctv (1983) một giống đậu nành tốt cần phải có những đặc tính sau:

 Có khả năng cho năng suất cao và ổn định

 Có thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 80 ngày trở lại tùy theo vụ

 Có khả năng kháng các loại sâu bệnh chính trong vùng

 Có khả năng tạo nốt sần với các dòng vi khuẩn Rhizobium japonicum

 Có hàm lượng protein cao

 Có khả năng thích nghi rộng, ít quang cảm để có thể trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau

 Hạt giống chậm nẩy mầm trong quá trình bảo quản

Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về chọn tạo giống đậu nành nhưng mục đích chung vẫn là tạo được giống có:

 Năng suất cao, thời gian chín phù hợp cho từng vùng, khác nhau

Trang 19

 Khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đỗ ngã, chống nổ trái, chống chịu được với điều kiện môi trường không thuận lợi

 Khả năng tổng hợp đạm, thành phần năng suất và chất lượng hạt

Theo sở thích của nông dân trồng đậu nành ở ĐBSCL thì giống đậu nành có thời gian sinh trưởng ngắn (không quá 90 ngày), hoa màu tím, phân cành mạnh, có nhiều trái trên cây, nhất là trái 3 hạt, hạt to, vỏ màu vàng sáng, không đỗ ngã và chín tập trung

Trang 20

Địa điểm: khu vực V, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ

Giống: gồm 30 giống có nguồn gốc từ: Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, AVRDC

Bảng 2.1 Danh sách 30 giống đậu nành nhập nội trồng thí nghiệm

15 IT 101088 Hàn Quốc 30 MTĐ 176 (ĐC) Việt Nam

Phân bón: sử dụng các loại phân đơn: Urê (46% N), Super Lân (16% P2O5) và KCl (60%

K2O) Bón theo công thức 60 – 60 – 40

Thuốc phòng trừ sâu bệnh và cỏ: sử dụng các loại thuốc trừ sâu bệnh phổ biến trên đậu

nành như: Turbo 890D, Basudin, Peran 50EC, Kitazin 50ND, Captan

Các thiết bị khác: cân phân tích (g), máy đo ẩm độ (PFEUFFER-H50)

2.2 PHƯƠNG PHÁP

2.2.1 Cách bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo thể thức thừa số gồm 2 nhân tố: nhân

tố (A) là mùa vụ (gồm 2 mùa vụ), nhân tố (B) là giống (gồm 30 giống), thí nghiệm được tiến hành 3 lần lập lại mỗi lần lặp lại quan sát trên 3 cây mẫu ngẫu nhiên Mỗi giống gieo trên một hàng dài 5m khoảng cách gieo là 40x10cm, 2 cây/hốc

Trang 21

2.2.2 Kỹ thuật canh tác

Làm đất: đất được cày bừa kỹ, bang bằng phẳng và dọn sạch cỏ trước khi gieo

Áp dụng công thức phân NPK: 60 – 60 – 40 và chia 3 lần bón

- Lần 1: bón lót toàn bộ lượng phân lân và kali trước khi gieo từ 2-4 ngày

- Lần 2: bón ½ lượng phân đạm ở giai đoạn 7-10 NSKG

- Lần 3: bón ½ lượng phân đạm còn lại ở giai đoạn 45 NSKG

 Chăm sóc

Tưới nước: 10 ngày đầu tưới ngày hai lần, sau đó tưới ngày một lần ngưng tưới nước

10-15 ngày trước khi thu hoạch

Làm cỏ, vun gốc: cỏ được diệt bằng bằng tay vào 2 lần

- Lần 1: 28-30 NSKG Kết hợp với vun gốc

- Lần 2: 50-55 NSKG

Thu hoạch: tùy theo mỗi giống thời gian thu hoạch khi 90-95% số cây chín

2.2.3 Các chỉ tiêu thu thập

 Chỉ tiêu sinh trưởng

 Ngày trổ: được ghi nhận khi có 50% số cây trong hàng bắt đầu trổ hoa đầu tiên

 Ngày dứt trổ: được ghi nhận khi có 50% số cây trong hàng dứt trổ

 Thời gian tạo trái: tính từ ngày dứt trổ đến ngày chín

 Ngày chín: khi có 90-95% số cây mang trái chín (vỏ trái chuyển sang màu đặc trưng của giống)

 Thời gian sinh trưởng (ngày): tính từ ngày gieo đến ngày chín

 Chỉ tiêu hình thái

 Màu thân cây con: ghi nhận khoảng 7-10 NSKG

 Màu hoa: ghi nhận lúc trổ

 Màu vỏ trái, màu vỏ hạt và màu tể: ghi nhận lúc thu hoạch

 Chỉ tiêu nông học

 Chiều cao trổ (cm): đo lúc ghi nhận ngày trổ, đo từ mặt đất đến chóp ngọn thân chính

 Chiều cao lúc chín (cm): đo lúc thu hoạch, đo từ cổ rễ đến chóp ngọn thân chính

 Số lóng/thân chính: đếm số lóng lúc thu hoạch, (trục hạ diệp được kể 1 lóng)

 Số cành mang trái: đếm số cành mang trái (không kể thân chính) Cành mang trái

là cành có hơn 1 lóng

Các chỉ tiêu đều được đo trên 3 cây mẫu ngẫu nhiên cho mỗi lần lặp lại có ghi dấu cho từng giống

 Năng suất và thành phần năng suất

 Tổng số trái trên cây: đếm trên 3 cây mẫu của mỗi lần lặp lại và lấy bình quân

Trang 22

 Số trái lép, số trái 1 hạt, số trái 2 hạt, số trái 3 hạt và số trái 4 hạt (nếu có): được đếm trên 3 cây mẫu của mỗi lần lặp lại lúc thu hoạch

 Trọng lượng 100 hạt (gram): lấy ngẫu nhiên 100 hạt bình thường, cân rồi quy về

Các loại sâu hại chính

Các loại sâu hại phổ biến trên đậu như: Sâu đục trái (Etiella zinckenella Treitsche), dòi đục thân (Melanagromyza sojae), sâu xanh da láng (Spodoptera exigua), sâu ăn tạp (Spodoptera litura) Mức độ gây hại của các loại sâu gây hại được đánh giá theo 5 cấp

của AVRDC:

- Cấp 1: không có sâu gây hại

- Cấp 2: nhẹ khi có 1 – 10% tổng số cây bị sâu phá hoại

- Cấp 3: vừa khi có 11 – 50% tổng số cây bị sâu phá hoại

- Cấp 4: nặng khi có 51 – 75% tổng số cây bị sâu phá hoại

- Cấp 5: rất nặng khi có 76 – 100% tổng số cây bị sâu phá hoại

- Cấp 2: nhẹ, có từ 1 – 10% diện tích lá bị thiệt hại

- Cấp 3: vừa, có từ 11 – 50% diện tích lá bị thiệt hại

- Cấp 4: nặng, có từ 51 – 75% diện tích lá bị thiệt hại

- Cấp 5: rất nặng, có hơn 76% diện tích lá bị thiệt hại

Đối với bệnh hạt tím (Cercospora kikuchii)được ghi nhận sau khi thu hoạch theo 3 cấp:

- Cấp 1: không có hạt bị bệnh

- Cấp 2: có nhiều nhất 30% hạt bị bệnh

- Cấp 3: có hơn 30% hạt bị bệnh

Trang 23

 Tính kháng đỗ ngã

Đánh giá lúc thu hoạch theo 5 cấp của AVRDC:

- Cấp 1: tất cả các cây đứng thẳng

- Cấp 2: tất cả các cây ngã nhẹ hay có vài cây nằm

- Cấp 3: tất cả các cây ngã trung bình hay có khoảng 25 – 30% số cây nằm

- Cấp 4: tất cả các cây ngã nhiều hay có từ 50 – 70% số cây nằm

- Cấp 5: tất cả các cây ngã nằm

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu nhận được xử lý bởi các phần mềm:

- Microsoft Excel: xử lý số liệu thô, vẽ biểu đồ, tính độ lệch chuẩn và phân tích hồi quy

- Phần mềm MSTATC phân tích phương sai

Công thức độ lệch chuẩn:

s =

)1(

)(

n

i

i

n: mẫu

Độ lệch chuẩn dùng để đo độ lệch chuẩn để đo lường độ phân tán của tổng thể hay mẫu

Số đo này có ưu điểm là cùng đơn với số liệu đo

ưu điểm là so sánh độ phân tán của hai tập hợp số liệu có trung bình khác nhau và có đơn

vị đo lường khác nhau

Trang 24

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 NHẬN XÉT TỔNG QUAN

3.1.1 Tình hình thời tiết khí hậu

Quận Cái Răng nằm ở tọa độ: 1001’20” Bắc 105047’30” Đông, thuộc thành phố Cần Thơ,

là khu vực khí hậu gió mùa có đặc điểm nóng ẩm và mưa theo mùa, nhiệt độ cao và ổn định, số giờ nắng trong năm rất lớn và sự chênh lệch nhiệt độ trong năm tương đối nhỏ

Bảng 3.1 Ghi nhận thời tiết từ tháng 1/2010 đến 10/2010 tại Cần Thơ

( 0 C)

Ẩm độ (%)

Tổng giờ nắng (giờ)

Lượng mưa (mm)

Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn thành phố Cần Thơ, 2010

Bảng 3.1 cho thấy vào vụ Đông Xuân 2010 tại Cần Thơ nhiệt độ và ẩm độ giữa các tháng không chệnh lệch nhau nhiều, nhiệt độ trung bình mỗi tháng là 270C, cao nhất là tháng 04/2010 (290C), thấp nhất là tháng 01/2010 (260C) và biên độ dao động nhiệt độ trong khoảng 30C Ẩm độ và giờ nắng trung bình trong 4 tháng là 77,3% và 266 giờ

Vụ Hè Thu nhiệt độ trung bình của 4 tháng là 280C thấp hơn vụ Đông Xuân 0,10C, biên

độ giao động khoảng 10C Số giờ nắng trung bình là 193 giờ thấp hơn vụ Đông Xuân 73,3 giờ, ẩm độ trung bình là 85,5% cao hơn vụ Đông Xuân 8,2% Lượng mưa trung bình của các tháng trong vụ Hè Thu là 191,2 mm cao hơn Đông Xuân 187,3 mm

Nhìn chung thời tiết vụ Đông Xuân thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của đậu nành Trong vụ này sâu bệnh cũng tương đối ít hơn so với việc canh tác vụ Hè Thu Bên cạnh đó nhiệt độ cao nên đậu nành cũng cần được tưới nước thường xuyên để cung cấp

đủ nước cho cây đậu nành, làm tốn chi phí tưới tiêu Vụ Đông Xuân hạt đậu thu hoạch được có phẩm chất tốt nên có khả năng bảo quản được lâu hơn Ngược lại, vụ Hè Thu lượng mưa tương đối lớn vào giai đoạn giữa và cuối vụ nên cung cấp đầy đủ nước cho

Trang 25

đậu nành phát triển Nhưng do mưa nhiều nên gây khó khăn trong thu hoạch, hạt đậu nành thu được phẩm chất hạt thấp không bảo quản được lâu

3.1.2 Tình hình cỏ dại và sâu bệnh

 Cỏ dại

Khu đất trồng thí nghiệm là đất trồng rẫy quanh năm Trước khi trồng đậu nành đất này được sử dụng trồng đậu cove và đậu bắp Đất đã được đào mương lên líp mỗi líp rộng 6m rất bằng phẳng dễ chăm sóc và thuận tiện cho việc tưới tiêu vào vụ Đông Xuân và thoát nước vào vụ Hè Thu

Mặt dù đất được trồng trọt quanh năm nhưng lượng hạt cỏ tồn tại trong đất vẫn nhiều Vì vậy, khi xới xáo làm đất và tưới nước cho cây đậu nành đã giúp cho cỏ dại xuất hiện, phát triển nhanh, nhiều nhất là lúc cây con được 7 ngày sau khi gieo Làm tốn chi phí và công sức để diệt cỏ Cỏ luôn cạnh tranh dinh dưỡng với cây và là nơi trú ẩn của sâu cũng như

là ký chủ của nhiều loại bệnh

Trong ruộng thí nghiệm, các loài cỏ dại thường xuất hiện là:

- Cỏ lác: Cyperus sp

- Cỏ lông tây: Brachiaria mutica

- Cỏ mực: Eclipta alba (L.) Hassk

- Cây chó đẻ: Phyllanthus nirur L

- Cỏ chỉ: Cynodon dactylon (L.) Pers

- Cỏ mần trầu: Eleusine india (L.) Gaertn

Trong các loại cỏ kể trên có một loại cỏ xuất hiện nhiều nhất trong khu đất thí nghiệm là

gây hại không đáng kể (Bảng 3.2)

Dòi đục thân (Melanagromyza sojae): xuất hiện từ cây đậu còn nhỏ khoảng 7-15 NSKG

rãi rác một số giống và hiện diện trên ruộng thí nghiệm cho đến khi gần thu hoạch trong

vụ Đông Xuân (Bảng 3.2)

Sâu đục trái (Etiella zinckenella Treitsche): xuất hiện từ lúc tạo trái non đến lúc thu

hoạch Sâu non đục vỏ trái vào ăn rỗng hạt từ khi phình to đến khi vào chắc Chúng tấn công tất cả các giống chủ yếu ở vụ Đông Xuân (Bảng 3.2)

Trang 26

Bảng 3.2 Đánh giá sâu ở 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

Dòi đục thân (cấp)

Sâu đục trái (cấp)

Sâu ăn tạp (cấp) STT Tên giống

Đông xuân

Trang 27

Bảng 3.3 Đánh giá bệnh ở 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

Héo cây con (cấp)

Đốm phấn (cấp)

Hạt tím (cấp)

xuân

Hè thu

Đông xuân

Hè thu

Đông xuân

Hè thu

Bệnh héo cây con (Rhizoctonia solani): nấm tấn công rãi rác một số giống trong giai đoạn

từ 7-14 NSKG, mức độ thiệt hại không đáng kể (Bảng 3.3)

Bệnh đốm phấn (Peronospora manshurica): hầu hết tất cả các giống đều bị bệnh đốm

phấn ở cấp độ 2 Tuy nhiên, do phát hiện và phun thuốc kịp thời nấm ngừng phát triển (Bảng 3.3)

Trang 28

Bệnh hạt tím (Cercospora kikuchii): bệnh không làm giảm năng suất mà làm giảm phẩm

chất hạt đậu nành Bệnh xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa nên vụ Hè Thu bị bệnh nhiều hơn vụ Đông Xuân (Bảng 3.3)

3.1.3 Đỗ ngã

Các giống trồng ở vụ Đông Xuân chủ yếu bị đỗ ngã ở cấp độ 1 và 2 Tuy nhiên, sang vụ

Hè Thu các giống bị đỗ ngã nặng hơn ở các cấp độ 2, 3 và 4, do bị ảnh hưởng của quang

kỳ và mưa nhiều, làm ảnh hưởng đến năng suất (Bảng 3.4)

Bảng 3.4 Đánh giá đổ ngã ở 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

Đổ ngã STT Tên giống

Trang 29

3.2 CÁC ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI

3.2.1 Màu trục hạ diệp và màu hoa

Ở đậu nành trục hạ thường thể hiện 2 màu rõ rệt: tím và xanh Trong thí nghiệm này giống với trục hạ diệp màu xanh và hoa màu trắng có tỉ lệ 56,7% (17 giống) các giống SN98-3905, IT 100804, IT 101088…, còn giống với trục hạ diệp màu tím và màu hoa cũng màu tím cùng tỉ lệ 43,3% đó là các giống IT 105689, SS02-12419, PI 566959… Takahashi và Fukuyama, 1919 cho rằng hoa tím do alen (WI) kiểm soát và nó có tính đa hiệu, nó cũng quyết định màu trục hạ diệp màu tím Hoa trắng do alen (w1) kiểm soát và

nó cũng quyết định màu trục hạ diệp màu xanh

100804, IT 102773…, còn lại là tể có màu đen và màu vàng các giống như IT 104411, PI 566956… (13,3%) và SS01-3769 (3,4%)

40 43,3

93,3

53,3 56,7

56,7

6,7

43,3 43,3

Trang 30

3.3 CÁC ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG

3.3.1 Ngày trổ hoa và thời gian kéo dài trổ

Ngày trổ hoa là đặc tính di truyền của giống nhưng chịu sự chi phối rất lớn của các yếu tố quang kỳ Ở vụ Đông Xuân 2010 thời gian trổ hoa dao động trong khoảng 28 ngày (IT 161402) đến 58 ngày (PI 566959) Có 6 giống (PI 566959, GC 90012-18-13-11, IT 105689…) có thời gian trổ chậm hơn giống đối chứng MTĐ 176, 3 giống (IT 101088, IT

102757 và IT 162182) thời gian trổ tương đương với giống đối chứng MTĐ 176 (33 ngày), các giống còn lại thấp hơn giống đối chứng MTĐ 176 (Bảng 3.5) Sang vụ Hè Thu

2010 thời gian trổ hoa biến thiên từ 25 ngày (IT 162049) đến 51 ngày (PI 566959), các giống trổ tập trung từ 25 đến 37 ngày và có 4 giống PI 566956, PI 566959, PI 566969 và

GC 90012-18-13-11 trổ muộn nhất dao động từ 45-51 ngày Có 7 giống (SO3-514CR,

GC 90001-1-39-3, PI 566959…) thời gian trổ chậm hơn giống đối chứng MTĐ 176, 9 giống (IT 162580, 100804, IT 162182…) thời gian trổ tương đương giống đối chứng MTĐ 176 (30 ngày) và còn lại các giống có thời gian trổ sớm hơn giống đối chứng MTĐ

176 (Bảng 3.5)

Nhìn chung thời gian trổ giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu ít biến động, mức độ khác biệt từ 0-7 ngày (Bảng 3.5) phần lớn các giống có thời gian trổ vụ Đông Xuân dài hơn so với vụ Hè Thu Hai giống IT 100804 và IT 162580 trồng vụ Đông Xuân và Hè Thu có thời gian trổ tương đương nhau (30 ngày) Có sự tương tác giữa giống và mùa vụ ở mức

ý nghĩa 1% qua phân tích thống kê (Phụ lục 4) Điều này chứng tỏ thời gian trổ của mỗi giống sẽ khác nhau qua từng thời vụ gieo trồng Tuy nhiên, có 4 giống PI 566959 có thời gian trổ dài nhất ở hai mùa vụ

Vụ Đông Xuân thời gian kéo dài trổ ở các giống biến thiên từ 4 ngày (SS02-12419, IT 162042) đến 9 ngày (SN98-3905) Sang vụ Hè Thu thời gian kéo dài trổ của 30 giống biến thiên từ 4 ngày (SO3-514CR) đến 8 ngày (IT 161453 và PI 566969) Nhìn chung, thời gian kéo dài trổ ở hai vụ tương đối tập trung, khoảng khác biệt trong hai vụ là rất thấp (Bảng 3.6)

Thời gian trổ hoa kéo dài sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất sau này vì các hoa trổ muộn dễ

bị rụng hơn những hoa trổ trong giai đoạn rộ (Trần Thượng Tuấn và ctv, 1983) Mặt khác, thời gian trổ hoa kéo dài làm trái chín không tập trung nên dễ bị tác động của môi trường cũng như sâu bệnh phá hại, đồng thời còn gây khó khăn cho việc thu hoạch (Mộng Hùng, 1962)

Trang 31

Bảng 3.5 Thời gian trổ của 30 giống đậu nành nhập nội vụ Đông Xuân và Hè Thu 2010

Thời gian trổ (ngày) STT Tên giống

Đông Xuân (a) Hè Thu (b)

Khác biệt (a-b)

Ngày đăng: 12/04/2018, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm