DANH SÁCH BẢNG1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng mía ở Việt Nam giai đoạn 3.1 Chiều dài lá mía cm và chiều rộng lá mía cm lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức phủ lên hom mía SKXG tại h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
--NGUYỄN THỊ NGỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TỦ LÊN HOM ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
MÍA (Saccharum officinarum L) TẠI HUYỆN
PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
Luận văn tốt nghiệp Ngành : NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
MÍA (Saccharum officinarum L) TẠI HUYỆN
PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
Lớp: TT0719A2
Cần Thơ, 2011
Trang 3Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TỦ LÊN HOM ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MÍA
(Saccharum officinarum L) TẠI HUYỆN
PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
Do sinh viên Nguyễn Thị Ngọc thực hiện
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Cán bộ hướng dẫn
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
(Saccharum officinarum L) TẠI HUYỆN
PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
Do sinh viên Nguyễn Thị Ngọc thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch hội đồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản than Các số liệu, kếtquả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 6LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Giới tính: Nữ
Sinh ngày: 03/05/1988 Dân tộc: kinh
Nơi sinh: Thới Thuận, Thốt Nốt, Cần Thơ
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Tạo Sinh năm: 1963
Họ và tên mẹ: Lê Thị Kiều Sinh năm: 1961
Quê quán: Thốt Nốt, Cần Thơ
Quá trình học tập:
+ Tốt nghiệp Phổ thông trung học năm 2007 tại trường THPT Thốt Nốt
+ 2007 – 2011: sinh viên ngành Nông học khóa 33 thuộc khoa Nông Nghiệp vàSinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011
Người khai
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha, Mẹ đã suốt đời tận tụy, vất vả vì tương lai của con
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Nguyễn Bảo Vệ và cô Bùi Thị Cẩm Hường đã tận tình hướng dẫn, truyềnđạt những kiến thức quí báu và những lời gợi ý, lời khuyên bổ ích để giúp em hoànthành bài luận văn này
Thầy Nguyễn Phước Đằng, cố vấn học tập của lớp đã quan tâm và dìu dắt emhoàn thành tốt khóa học
Chân thành cảm ơn
Tập thể quí thầy cô ở khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng đã hết lòng dạy
dỗ, truyền dặt những kiến thức quí báu trong quá trình học tập tại trường
Chân thành biết ơn
Chị Lê Thị Thanh Xuân, học viên cao học ngành trồng trọt khóa 16 đã nhiệt tìnhgiúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Gia đình Chú Trương Văn Hiền ở ấp Quyết Thắng, xã Hiệp Hưng, huyện PhụngHiệp, tỉnh Hậu Giang đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành thí nghiệm
Các bạn Loan, Quang, Hải, Khánh, Năm, Uôi, Nam đã giúp đỡ tôi trong quátrình làm đề tài
Thân ái gửi về
Các bạn sinh viên ngành Nông học khóa 33 lời chúc sức khỏe và thành đạt trongtương lai
Xin nhớ mãi những năm tháng thời sinh viên cùng các bạn
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN - iii
LÝ LỊCH CÁ NHÂN - iv
LỜI CẢM TẠ - v
MỤC LỤC - vi
DANH SÁCH HÌNH - ix
DANH SÁCH BẢNG - xi
TÓM LƯỢC -xii
MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU - 2
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG - 2
1.1.1 Đất đai - 2
1.1.2 Khí hậu - 2
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ĐƯỜNG - 2
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường trên thế giới - 2
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường ở Việt Nam - 3
1.3 PHÂN LOẠI MÍA VÀ ĐẶC ĐIỂM GIỐNG MÍA SUPHANBURI 7 - 4
1.3.1 Phân loại mía - 4
1.3.2 Đặc điểm giống mía Suphanburi 7 - 5
1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DINH DƯỠNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÍA - 5
1.4.1 Nhiệt độ - 5
1.4.2 Ánh sáng - 5
1.4.3 Ẩm độ - 6
1.4.4 Đất đai - 6
1.4.5 Dinh dưỡng - 7
Trang 91.5 CÁC THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CHÍNH VÀ YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA
CÂY MÍA TRONG TỪNG THỜI KỲ -10
1.5.1 Thời kỳ nảy mầm -10
1.5.2 Thời kỳ đẻ nhánh -11
1.5.3 Thời kỳ vươn lóng (thời kỳ vươn cao) -11
1.5.4 Thời kỳ chính công nghiệp (thời kỳ tích lũy đường) -12
1.5.5 Thời kỳ chính sinh lý (thời kỳ ra hoa kết quả) -12
1.6 MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP TỦ LÊN CÂY TRỒNG NÓI CHUNG VÀ CÂY MÍA NÓI RIÊNG -12
1.6.1 Sử dụng rơm rạ và tàn dư thực vật -12
1.6.2 Sử dụng màng phủ nông nghiệp -14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP -16
2.1 PHƯƠNG TIỆN -16
2.1.1 Thời gian và địa điểm -16
2.1.2 Phương tiện -16
2.2 PHƯƠNG PHÁP -17
2.2.1 Bố trí thí nghiệm -17
2.2.2 Kỹ thuật canh tác -18
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi -20
2.2.4 Xử lí số liệu -22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN -23
3.1 GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG -23
3.1.1 Tỷ lệ mọc mầm -23
3.1.2 Số cây -24
3.1.3 Chiều cao thân lóng -25
3.1.4 Chiều cao cây -25
3.2 GIAI ĐOẠN THU HOẠCH -26
Trang 10CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ -37
4.1 KẾT LUẬN -37
4.2 ĐỀ NGHỊ -37
TÀI LIỆU THAM KHẢO -38 PHỤ CHƯƠNG
Trang 11Giống mía suphanburi 7
Tỷ lệ mọc mầm (%) giữa các nghiệm thức phủ lên hom mía SKXG
tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)
Số cây theo thời gian tăng trưởng giữa các nghiệm thức phủ lên
hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-2011)
Chiều cao thân lóng (cm) theo thời gian tăng trưởng giữa các
nghiệm thức phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh
Hậu Giang (2010-2011)
Chiều cao cây mía (cm) theo thời gian tăng trưởng giữa các nghiệm
thức phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu
Giang (2010-2011)
Chiều cao cây mía (cm) thời điểm thu hoạch giữa các nghiệm thức
phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-2011)
Chiều cao thân lóng (cm) thời điểm thu hoạch giữa các nghiệm thức
phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-2011)
Đường kính cây mía (cm) lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức phủ
lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-2011)
Số lóng trên cây mía lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức phủ lên
hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-1723
Trang 123.10
3.11
Số lá lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức phủ lên hom mía SKXG
tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (2010-2011)
Mật độ cây (ngàn cây/ha) lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức phủ
lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-2011)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha) lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức
phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang
(2010-2011)
3134
35
Trang 13DANH SÁCH BẢNG
1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng mía ở Việt Nam giai đoạn
3.1 Chiều dài lá mía (cm) và chiều rộng lá mía (cm) lúc thu hoạch
giữa các nghiệm thức phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng
3.2 Trọng lượng cây mía lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức phủ lên
3.3 Chữ đường (CCS%) của mía lúc thu hoạch giữa các nghiệm thức
phủ lên hom mía SKXG tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang 36
Trang 14Nguyễn Thị Ngọc, 2011 Ảnh hưởng của các phương pháp tủ lên hom đến năng suất
và chất lượng mía (saccharum officinarum L) tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,trường Đại Học Cần Thơ 39 trang
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bảo Vệ.
_
TÓM LƯỢC
Đề tài “ảnh hưởng của các phương pháp tủ lên hom đến năng suất và chất lượng
mía (saccharum officinarum L) tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện
nhằm xác định vật liệu tủ lên hom mía thích hợp góp phần làm gia tăng năng suất vàchất lượng mía Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 11/2010 tạihuyện Phụng hiệp, tỉnh Hậu Giang Giống mía được sử dụng trong thí nghiệm là giốngSuphanburi 7 Các vật liệu phủ được sử dụng là lá mía, rơm, trấu, màng phủ và đất Thínghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức (đốichứng, phủ lá mía, phủ rơm, phủ trấu, phủ màng phủ và phủ đất) và 3 lần lập lại
Kết quả thí nghiệm cho thấy, ở giai đoạn tăng trưởng các vật liệu phủ như lá mía,rơm, trấu, màng phủ và đất không làm gia tăng tỷ lệ mọc mầm của hom mía so với đốichứng (không phủ) Các nghiệm thức phủ cũng không làm gia tăng số cây và chiều caothân lóng giai đoạn tăng trưởng Nhưng đến thời điểm thu hoạch thì nghiệm thức phủ
lá mía lại có chữ đường cao nhất (đạt 9,13%), nghiệm thức phủ trấu có trọng lượng cây(2,42 kg/cây) và chiều rộng lá (6,10 cm) cao hơn các nghiệm thức còn lại; Trong khichiều cao cây, chiều cao thân lóng, đường kính lóng thân, số lống/cây, số lá/cây, chiềudài lá, mật độ và năng suất mía lại không có sự khác biệt nhau giữa các nghiệm thức
Trang 15MỞ ĐẦU
Cây mía (Saccharum officinarum L) là nguyên liệu quan trọng của ngành công
nghiệp chế biến đường ăn trên thế giới và là nguồn nguyên liệu duy nhất của nước
ta So sánh với một số cây công nghiệp ngắn ngày khác thì cây mía là cây trồng có
ưu điểm và giá trị kinh tế cao Cây mía ngoài vai trò chính là nguyên liệu để chếbiến đường, cây mía còn có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều ngành côngnghiệp như: rượu cồn, bột giấy, gỗ ép, dược phẩm, thức ăn gia súc, phân bón…Mía là một loại cây trồng nhiệt đới, phát triển tốt trong phạm vi từ 350vĩ tuyếnBắc đến 350 vĩ tuyến Nam (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997), có khảnăng thích ứng rộng Tuy nhiên để cây sinh trưởng và phát triển tốt, mía cũng cónhững yêu cầu nhất định về khí hậu và đất đai Ở nước ta đã xuất hiện nghề trồngmía và sản xuất đường từ lâu đời, tuy nhiên qua phân tích hiện trạng sản xuất míađường ở nước ta còn nhiều mặt yếu kém, năng suất và chất lượng còn thấp Để nghềtrồng mía ngày càng phát triển với năng suất và chất lượng cao cần phải chú ý nhiềuvấn đề về kinh tế và kỹ thuật Đặc biệt việc tận dụng phụ phẩm hữu cơ và phân hữu
cơ chưa được quan tâm mặc dù chất hữu cơ rất có ích trong việc cải tạo đất, giúpgiữ được cơ cấu trên đất thâm canh mía làm tăng năng suất Ngoài ra, cùng vớimàng tủ nông nghiệp các phụ phẩm, tàn dư thực vật (cỏ, lá, rơm, trấu…) cũng cótác dụng ổn định nhiệt độ, giữ ẩm mặt đất giúp cây trồng hấp thu chất dinh dưỡngtốt hơn, năng suất và chất lượng được nâng cao Ở Đồng bằng sông Cửu Long hằngnăm đã lãng phí rất nhiều lượng phân hữu cơ tự nhiên từ phụ phẩm,tàn dư thực vậtsau khi thu hoạch qua việc đốt bỏ nó Thực tế hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào
về việc tận dụng màng tủ nông nghiệp và tàn dư thực vật trong sản xuất mía Vìvậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của các phương pháp tủ lên hom míasau khi xuống giống đến năng suất và chất lượng mía tại huyện Phụng Hiệp, tỉnhHậu Giang” nhằm xác định vật liệu tủ phù hợp góp phần làm tăng năng suất và chấtlượng của cây mía
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG 1.1.1 Đất đai
Phụng Hiệp có tính chất lý hóa đất gồm tỉ lệ sét 45,1%, đất thịt là 52,3%, dungtrọng 0,86%, ẩm độ điểm héo 0,21%, thủy dung ngoài đồng 0,52%, ẩm độ bảo hòa0,54%, độ dẫn nước là 4,08 cm/h, pHH20 3,38, chất hữu cơ 4,04%, CEC 14,4meq/100g, đạm tổng số 0,27%, tầng đất canh tác 0-50 cm, có thành phần thịt phasét, độ phì biến động từ thấp đến trung bình
1.1.2 Khí hậu
Huyện nằm ở vị trí có nhiệt độ trung bình là 270C không có sự chênh lệch quálớn qua các năm Tháng có nhiệt độ cao nhất (370C) là tháng 4 và thấp nhất vàotháng 12 (20,30C) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, chiếm từ 92-97%lượng mưa cả năm Lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, khoảng 1800mm/năm, lượng mưa cao nhất vào khoảng tháng 9 (250,1 mm) Ẩm độ tương đốitrung bình trong năm phân hoá theo mùa một cách rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trungbình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ ẩm trung bình thấpnhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và giá trị độ ẩm trung bình trong năm là 82%(Cổng thông tin điện tử tỉnh Hậu Giang, 2010)
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ĐƯỜNG
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường trên thế giới
Sản xuất đường nói chung cũng như đường mía nói riêng tăng lên khôngngừng Theo Lê Hồng Sơn và Vũ Năng Dũng (2000), trên thế giới có khoảng 100nước sản xuất đường, đường được chế biến chủ yếu từ cây mía và củ cải đường.Nhưng hiện nay có trên 121 quốc gia sản xuất đường Diện tích và sản lượng đườngthì không đều giữa các quốc gia cũng như các châu lục trên thế giới Trong đó, cókhoảng 15 quốc gia chiếm 86% diện tích và 87,1% sản lượng đường của cả thế giới
Trang 17Quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới là Brazil (5,343 triệu ha) nhưng năng suấtmía cao nhất lại là Australia (85,1 tấn/ha) (Cao Anh Đương, 2007) Khu vực Châu
Á sản xuất khoảng 36,9 triệu tấn đường, chiếm 31% sản lượng đường thế giới.Những nước có tốc độ sản xuất mạnh là Ấn độ, Pakistan, Thái Lan (Lê Song Dự vàNguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
Mức tiêu thụ đường của các nước trên thế giới thay đổi tùy điều kiện khí hậu(xứ lạnh cần nhiều calo hơn xứ nóng), tập quán ăn uống (dân Anh uống nước chèđường, mỗi năm tiêu thụ 55 kg/người), giá đường và sức mua của người dân(Nguyễn Văn Bình và ctv., 1996) Ngoài ra, ngày nay do có nhiều nguồn chất ngọtnhư trái cây, cỏ ngọt và ảnh hưởng của việc ăn đường quá mức đến sức khoẻ conngười, nên mức tiêu thụ đường bình quân trên đầu người ở các khu vực trên thế giới
có sự gia tăng hoặc giảm khác nhau (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997).Châu Á cũng là nơi tiêu thụ đường lớn nhất thế giới với mức xấp xỉ 40 triệu tấn.Tuy nhiên, mức tiêu thụ đường bình quân đầu người ở Châu Á thấp hơn nhiều sovới các nước Châu Âu (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ đường ở Việt Nam
Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997), ở nước ta mía là nguyênliệu duy nhất để sản xuất đường Trong những năm gần đây nhờ những chính sáchkhuyến khích và các tiến bộ kỹ thuật, cây mía đã có những bước tiến ổn định vềnăng suất (Bảng 1.1)
Trang 18Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng mía ở Việt Nam giai đoạn 1995-2008
(Tổng cục thống kê, 2009)
(X 1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
47,6548,2346,3848,9251,6049,7750,4253,5053,8154,7056,1358,0359,2959,49
10,71111,43011,92113,84417,76015,04414,65717,12016,85515,64914,94916,72017,39716,128
Hiện nay giá đường sản xuất trong nước vẫn còn cao nên đường Việt Nam khócạnh tranh được với đường Thái Lan và các nước khác Chính vì thế đường nhậplậu ồ ạc vào thị trường Việt Nam gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành míađường trong nước
1.3 PHÂN LOẠI MÍA VÀ ĐẶC ĐIỂM GIỐNG MÍA SUPHANBURI 7
1.3.1 Phân loại mía
Mía thuộc ngành có hạt (Spermatophyta), lớp một lá mầm (Monocotyledneae),
họ hoà thảo (Gramineae), loại Saccharum, tên khoa học thường gọi của cây mía là
Saccharum officinarum L Trên thế giới đã phát hiện hơn 30 loài mía, phần lớn ở
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
Việc phân loại mía rất phức tạp vì có tới hàng vạn giống Theo phương phápcủa Jeswiet, căn cứ để phân loại dựa vào hoa tự, hoa, mầm, sự phân bố lông ở lá (LêSong Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997) Trong loại Saccharum có 5 loài mía
Trang 19trồng trọt và mía dại (loài nhiệt đới, loài mía Trung Quốc, loài mía Ấn Độ, loài dạithân nhỏ, loài dại thân to) có tầm quan trọng trong sản xuất và lai tạo giống (ChuThị Thơm và ctv., 2005).
1.3.2 Đặc điểm giống mía Suphanburi 7
Giống mía có các đặc điểm: thân to không đều cây, lóng hình chùy xuôi, nốithẳng, màu xanh ẩn vàng, không vết nứt Mầm hình tròn có cánh mầm, đỉnh mầmkhông có chùm lông, không có rãnh mầm Đai sinh trưởng rộng trung bình và lồi.Đai rễ có ba đến bốn hàng điểm rễ, xếp không đều, điểm rễ rõ Bẹ lá màu xanh ửngvàng, có sáp tủ không có lông Có hai tai lá, tai lá trong dài hình mác, tai lá ngoàingắn, to hình tam giác Cổ lá hình tam giác, màu tím Phiến lá dài, rộng trung bình,
lá mỏng, mềm, không sắc, màu xanh, dáng ngọn xòe cong Về đặc tính sinh trưởngmía mọc mầm khá, đẻ nhánh mạnh, tốc độ vươn lóng nhanh, có khả năng chốngchịu sâu đục thân, bệnh than, có khả năng chịu hạn, ít đổ ngã, lưu gốc tốt, trổ cờtrung bình vào cuối tháng 11, năng suất trên 150 tấn/ha và CCS đạt 11-13 khi míachín trung bình (Đoàn Lệ Thủy, 2010)
1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DINH DƯỠNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY MÍA
1.4.1 Nhiệt độ
Mỗi giống mía đều cần một lượng nhiệt độ nhất định trong suốt cả chu kỳ sinhtrưởng của nó, nhưng trong mỗi thời kỳ sinh trưởng khác nhau cây mía cũng cầnmột nhiệt độ thích hợp riêng (Chu Thị Thơm và ctv., 2005) Nhiệt độ bình quânthích hợp nhất cho sinh trưởng của cây mía là 25-260C Giống nhiệt đới sinh trưởngchậm khi nhiệt độ thấp hơn 210C và ngừng sinh trưởng ở 130C, dưới 50C cây bị hại(Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
1.4.2 Ánh sáng
Mía là cây ưa sáng Quang hợp của mía tỷ lệ thuận với cường độ và độ dàichiếu sáng Sự hút nước, hút phân của bộ rễ cũng chịu ảnh hưởng của ánh sáng (LêSong Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997) Trong suốt chu kỳ sinh trưởng của cây
Trang 20(Trần Thùy, 1996) Ngày dài có tác động tích cực đối với thời kỳ sinh trưởng vươncao của cây mía, vì vậy ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới mía vươn cao mạnh nhất khibắt đầu mùa hè có độ dài ngày tăng lên (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi,1997) Trong canh tác mía, việc bố trí thời vụ rất quan trọng vì nó liên quan đến khảnăng trổ cờ của một số giống mía Bố trí thời vụ sao cho thời kỳ tạo thân rơi vào cáctháng có ánh sáng dồi dào để có thể đạt chiều cao và trọng lượng cây tối đa, nhằmcho năng suất cao nhất, và vận dụng kiến thức này để bố trí thời vụ trồng mía trốntrổ cờ (Trần Văn Sỏi, 2001).
1.4.3 Ẩm độ
Mía là cây cần nhiều nước nhưng sợ úng nước Trong thân mía chứa 70% khốilượng là nước, vì vậy vào mùa khô hạn phải cung cấp đầy đủ nước tuy nhiên nếuquá thừa nước thì mía sẽ sinh trưởng và phát triển kém làm giảm năng suất và chấtlượng mía (Lê Song Dự, 1997) Đất đủ độ ẩm trong suốt quá trình sinh trưởng vàphát triển là rất quan trọng để đạt được sản lượng tối đa vì sự tăng trưởng sinhdưỡng mía là tỷ lệ thuận với sự thoát hơi nước (Ilivered, 2009) Khô hạn làm ảnhhưởng đến sự phát triển của mía ở bất cứ giai đoạn nào Thiếu nước giai đoạn 60-
150 ngày sẽ làm giảm số chồi, giảm chồi hữu hiệu sau này dẫn đến giảm chiều caocây, số lóng, giảm trọng lượng cây dẫn đến giảm năng suất trầm trọng (Madadevas,2000) Mía cần lượng nước tưới lớn để phát huy hiệu quả của phân bón Số lần tướiphụ thuộc vào mùa mưa hay mùa khô (Khushk, 2002)
Mía yêu cầu lượng mưa hữu hiệu trong năm là 1500 mm, tức tổng lượng mưaphải từ 2000-2500 mm Khi mía bị úng bộ rễ thối không hút được nước và phân,cây sinh trưởng kém dẫn đến giảm năng suất, ngoài ra trên thân mọc rễ ảnh hưởngxấu đến phẩm chất nước mía (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
1.4.4 Đất đai
Mía là loại cây trồng rất chịu đựng với điều kiện đất đai, có thể thích ứng vớinhiều loại đất khác nhau (từ 70% sét đến 75% cát) (Lê Song Dự và Nguyễn ThịQuý Mùi, 1997) Có thể trồng mía có kết quả trên cả những nơi đất sét rất nặngcũng như trên đất than bùn, đất hoàn toàn cát, đất chua mặn, đất đồi, khô hạn ít màu
mỡ Những yêu cầu tối thiểu về lý tính đất trồng mía là có độ sâu, độ thoáng nhất
Trang 21định, độ thấm nước, khả năng giữ nước khá và pH không vượt quá giới hạn quá lớn(mía có thể chịu được pH từ 4 đến 10) (Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi,1997) Nhưng để thỏa mãn các yêu cầu sinh lý của cây mía, để cây mía sinh trưởngtốt cho năng suất cao nhất, thì nó cần một số điều kiện như sau: Đất có thành phần
cơ giới trung bình hoặc hơi nhẹ, có khoảng 20% sét, 5 đến 10% chất hữu cơ, phầncòn lại là limon và cát Thường xuyên điều hòa được chế độ nước và chế độ khôngkhí trong đất Đất có điều kiện thoát nước triệt để, không bao giờ bị úng thuỷ Đất
có tầng dày từ 80 cm trở lên Đất trung tính, độ pH từ 6 đến 7 (Trần Văn Sỏi, 2001)
1.4.5 Dinh dưỡng
Mía là cây trồng có sinh khối lớn, riêng sản phẩm thu hoạch đã đạt 70-80 tấnđến 100 tấn mía cây trên một hecta trong một năm, nên cần nhiều chất dinh dưỡnghơn cây trồng hằng năm khác Ở mỗi thời kỳ sinh trưởng yêu cầu về chất dinhdưỡng có khác nhau Giai đoạn đầu ở thời kỳ nảy mầm cây con sống nhờ chất dinhdưỡng chứa trong hom mía Khi rễ cây (rễ chính thức) phát triển, cây hút chất dinhdưỡng từ đất, nhu cầu dinh dưỡng tăng dần Khi cây mía bước vào thời kỳ vươnlóng cây hút dinh dưỡng mạnh nhất, cho đến thời kỳ mía chín, tích luỹ đường, câyvẫn hấp thu các chất dinh dưỡng (Nguyễn Huy Ước, 2001) Theo Cục Khuyếnnông và Khuyến lâm (1998), trung bình với năng suất 80 tấn mía cây/ha cây mía lấy
đi từ đất và phân bón 96 kg N, 37 kg P2O5 và 115 kg K2O, đó là chưa kể đến mộtlượng khá lớn canxi và magiê
Các chất khoáng chứa trong mía với một tỷ lệ rất nhỏ nhưng lại giữ vai trò hếtsức quan trọng đối với đời sống của cây như các nguyên tố lượng lớn: N, P, K, Ca
và các nguyên tố vi lượng… Các chất này một phần có sẵn trong đất, phần chủ yếucòn lại được cung cấp dưới các dạng phân bón: phân hữu cơ, phân vô cơ, phân vilượng, phân vi sinh… Chính vì vậy, bón phân đầy đủ, cân đối và đúng lúc sẽ giúpcho mía sinh trưởng và phát triển tốt, làm tăng năng suất mía cây và hàm lượngđường trên mía, đồng thời còn giúp cho khâu chế luyện ở các nhà máy đường đượcthuận lợi (lắng trong, kết tinh…) (Nguyễn Huy Ước, 2001)
Trang 22Theo Cục Khuyến nông và Khuyến lâm (1998), phân hữu cơ là loại phân cóhiệu quả rất cao với mía Tác dụng của phân hữu cơ là một mặt cung cấp chất dinhdưỡng cho cây trồng, mặt khác cải thiện đặc tính vật lý của đất, làm cho đất tơi xốp,thông thoáng, giữ ẩm tốt, nhờ vậy cây hấp thụ dinh dưỡng trong đất thuận lợi, chonăng suất mía cao hơn Ở những đất nghèo chất hữu cơ dù có bón tăng lượng phânkhoáng năng suất mía cũng không nâng cao lên được (Nguyễn Huy Ước, 2001).Một nghiên cứu của Trần Công Hạnh (1998) cho thấy vùi ngọn lá mía kết hợp vớiNPK giúp mía nảy mầm, đẻ nhánh sớm hơn, so với bón đơn thuần NPK thì vừa tiếtkiệm phân hoá học vừa tăng năng suất, chất lượng mía Thông thường phân hữu cơbón lót khi trồng với lượng từ 10-20 tấn/ha (Nguyễn Huy Ước, 2001).
1.4.5.2 Phân đạm
Phân đạm là loại phân bón giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu đượctrong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mía Đạm là yếu tố dinh dưỡng câymía có nhu cầu cao, có tác động rất mạnh đến sinh khối của cây mía Đạm làm chocây mía mọc nhanh, có nhiều lá, lá to dài, quang hợp tốt, tạo được nhiều nhánh Câymía được cung cấp đủ đạm và kịp thời đẻ nhánh mạnh và sớm, tạo được nhiều thân
to và dài, tích lũy được nhiều đường đơn nên cho năng suất cao và phẩm chất tốt.(Nguyễn Như Hà, 2006) Theo Nguyễn Như Hà (2006), thiếu đạm cây mía có lá bịvàng, lá non nhỏ và ngắn Cây mọc yếu, đẻ nhánh kém, sinh trưởng chậm, thân nhỏ
và thấp Nhưng khi cây mía được cung cấp thừa đạm hay không cân đối với các yếu
tố dinh dưỡng khác, kết hợp với ẩm độ đầy đủ sẽ có ảnh hưởng xấu đến phẩm chấtnước mía Tính trung bình, để có một tấn mía, cây cần1,25 kg N đối với mía tơ vàsang vụ gốc lượng đạm cần tăng hơn 15-20 % so với vụ tơ (Nguyễn Huy Ước,2001)
1.4.5.3 Phân lân
Lân là một trong ba nguyên tố lớn chủ yếu tham gia quá trình sinh trưởng vàphát triển của cây mía Lân có tác dụng quan trọng thúc đẩy bộ rễ cây mía pháttriển, tạo điều kiện cho cây mía hút nước và dinh dưỡng tốt hơn, đẻ nhánh sớm vànhiều cây hữu hiệu, đồng thời cũng ảnh hưởng tốt đến chiều cao và đường kính thâncủa cây mía nên có ảnh hưởng rõ đến năng suất Lân còn làm cây mía chín sinh lý
Trang 23sớm, tăng khả năng chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, tăng hiệu quả sử dụng đạm nên
có tác dụng cải thiện chất lượng mía (Nguyễn Như Hà, 2006) Lân cần thiết trongsuốt quá trình sinh trưởng của cây mía, trong đó đặc biệt quan trọng là giai đoạnphát triển rễ (thời kỳ cây con) và thời kỳ đẻ nhánh Thiếu lân bộ rễ cây phát triểnkém, đẻ nhánh ít, thân lá nhỏ lại, cằn cõi Để có một tấn mía, cây cần 0,46 kg P2O5
(Nguyễn Huy Ước, 2001) Theo Trần Thuỳ (1996) lượng phân lân cần bón cho 1hecta từ 100 đến 200 kg P2O5 (tương đương 600-700 kg phân lân có chứa 16,5%
P2O5)
1.4.5.4 Phân kali
Theo Nguyễn Như Hà (2006), kali là chất dinh dưỡng mà cây mía hút với sốlượng lớn nhất do có nhiều vai trò đối với cây mía, đặc biệt trong quang hợp, tổnghợp đường và vận chuyển đường từ lá về thân cây mía Tỷ lệ K/N cân đối trong câymía đảm bảo cho mía cho năng suất cây cao với tỷ lệ đường cao, đồng thời tạo khảnăng chịu hạn và chống chịu sâu bệnh hại tốt cho cây mía Vì vậy tình trạng dinhdưỡng kali có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng câymía Để tạo ra một tấn mía cây cần khoảng 2,75 kg K2O (Nguyễn Huy Ước, 2001).Cây thiếu kali biểu hiện ở lá xuất hiện vệt đỏ hoặc khô từ chóp xuống và từ mép vàotrong (thiếu kali nặng), thân cây nhỏ, yếu, dễ bị bệnh, năng suất thấp, tỷ lệ đườngthấp Nhu cầu của kali tăng dần trong suốt quá trình sinh trưởng của cây và đặc biệtcao trong thời kỳ cây mía chín công nghiệp- tích luỹ đường Mía gốc có nhu cầukali cao hơn mía tơ, do cần nhiều kali để làm tăng số chồi tái sinh (Nguyễn Như Hà,2006) Theo Trần Thuỳ (1996) lượng phân cần bón cho một hecta là 150-180 kg
K2O (tương đương 250-300 kg KCl loại chứa 60% K2O)
1.4.5.5 Phân vi lượng
Các chất vi lượng tham gia vào thành phần dinh dưỡng của cây trồng với mộtlượng rất nhỏ nhưng thực tế lại là tác nhân quan trọng tham gia vào các quá trìnhsinh lý, sinh hoá của cây trồng nói chung và cây mía nói riêng Thường thì trong đất
đã có sẵn các nguyên tố vi lượng để đáp ứng yêu cầu của cây trồng, nhưng do quá
Trang 24vi lượng bón cho mía thường được phối hợp dưới hình thức một loại phân bón hỗnhợp (Nguyễn Huy Ước, 2001) Theo Trần Thùy (1996), khi bón phân hữu cơ, phânlân nung chảy, phân phosphat nghiền đã cung cấp thêm một số phân vi lượng cầnthiết cho cây mía như Mg, S, Fe, Mn, B, Cu, Mo Theo Rice và ctv (2004), khi đất
có pH > 6 nhu cầu Mn là 4 kg/ha đối với đất thịt và đất thị pha cát, còn đối với đấtcát pha và đất cát thì cần 2,5 kg/ha, khi bón phân có Mn thì nên bón theo luống khitrồng
1.4.5.6 Vôi
Tác dụng chính của vôi là khử chua, làm tăng độ pH trong đất, giúp cho míahấp thu tốt các chất dinh dưỡng Mặt khác vôi còn có tác dụng cải thiện đặc tính vật
lý của đất, làm cho các hoạt động của vi sinh vật trong đất và phân giải các chất hữu
cơ được tốt hơn Theo Nguyễn Huy Ước (2001), đất trồng mía ở các vùng của nước
ta hầu hết là đất chua, độ pH trong khoảng 4-5, thậm chí có nơi dưới 4 Do đó bónvôi khử chua ở những đất này là hết sức cần thiết nhằm nâng cao độ pH lên ngưỡngthích hợp với yêu cầu sinh lý của cây trồng Tuy nhiên, việc bón vôi để nâng cao pHtrong đất không đơn giản cần phải phân tích đất và xác định cách bón hợp lý Lượngvôi bón tuỳ theo độ chua của đất có thể từ 500 đến 1000 kg/ha (Nguyễn Như Hà,2006) Nên bón liên tục trong vài ba vụ cho đến khi đạt độ pH thích hợp, không nênbón cùng một lúc với số lượng vôi lớn Cách bón phổ biến là rải đều vôi trên mặtruộng trước lần bừa cuối cùng trong khâu chuẩn bị đất, cũng có thể dùng vôi bột ủchung với chất hữu cơ hoặc phân chuồng sau đó bón cho mía dưới dạng phân lót khitrồng cũng rất tốt (Nguyễn Huy Ước, 2001)
1.5 CÁC THỜI KỲ SINH TRƯỞNG CHÍNH VÀ YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY MÍA TRONG TỪNG THỜI KỲ
Mía có 5 thời kỳ sinh trưởng chính
1.5.1 Thời kỳ nảy mầm
Tính từ thời điểm bắt đầu đặt hom đến khi kết thúc nảy mầm (lúc mía có 4-5
lá thật), thường từ 30 đến 60 ngày
Trang 25Trong giai đoạn này, nhiệt độ từ 160C trở lên mía bắt đầu ra rễ và cương mầm,nhưng nhiệt độ tối thích là 260C đến 300C Về nhu cầu nước, mía chỉ cần khoảng65% độ ẩm tối đa trong đất (Trần Văn Sỏi, 2001)
và Nguyễn Thị Quý Mùi, 1997)
Chế độ nước và không khí: đủ nước và đủ không khí mía sẽ đẻ tốt, nếu thiếuhay thừa một trong hai yếu tố trên sẽ hạn chế sự đẻ nhánh (Trần Văn Sỏi, 2001).Phân bón: bón đủ và cân đối các chất đạm, lân, kali là rất cần thiết cho sự đẻnhánh Bón đạm sớm thúc đẩy mía đẻ nhánh sớm (Lê Song Dự và Nguyễn Thị QuýMùi, 1997)
Độ dày lớp đất tủ trên mặt hom: lớp tủ càng mỏng càng thuận lợi cho sự đẻnhánh (Trần Văn Sỏi, 2001)
1.5.3 Thời kỳ vươn lóng (thời kỳ vươn cao)
Đây là thời kỳ dài nhất và quan trọng nhất vì nó là thời kỳ quyết định năngsuất Thời kỳ này bắt đầu từ khi kết thúc đẻ nhánh và phần gốc xuất hiện một vàilóng đầu tiên cho đến khi mía hình thành hoa hoặc bắt đầu giảm tốc độ tăng trưởngchiều cao, chuyển sang tích lũy đường Thời kỳ này kéo dài từ 7 đến 9 tháng Ở thời
kỳ này đường kính thân, diện tích lá và tốc độ vươn cao đều đạt đến mức tối đa
Trang 26Nhiệt độ: đây là thời kỳ mía đòi hỏi nhiệt độ cao nhất, nhiệt độ thích hợp nhất
là từ 250C đến 340C (Trần Văn Sỏi, 2001)
1.5.4 Thời kỳ chín công nghiệp (thời kỳ tích lũy đường)
Thời kỳ này bắt đầu từ cuối thời kỳ vươn lóng cho đến khi thu hoạch, hoặcđến khi hàm lượng đường trong thân bắt đầu suy giảm
Biểu hiện đặc trưng của thời kỳ này là hàm lượng saccaroza ở ngọn tăngnhanh cho đến khi xấp xỉ bằng phần gốc là mía đã chín hoàn toàn Trong giai đoạnnày tốc độ tăng trưởng chiều cao thân giảm dần, chiều dài lá và khoảng cách giữacác vai lá điều rút ngắn lại, lóng ngắn dần và nhỏ dần so với đoạn giữa, màu lá nhạtdần
Thời kỳ này đòi hỏi điều kiện thời tiết khô hanh, độ ẩm đất giảm (dưới 60%
độ ẩm tối đa), nhiệt độ thấp (thích hợp vào khoảng từ 140C đến 250C), biên độ nhiệtgiữa ngày và đêm càng lớn càng tốt (Trần Văn Sỏi, 2001)
1.5.5 Thời kỳ chín sinh lý (thời kỳ ra hoa kết quả)
Thời kỳ này có thể trùng với thời kỳ tích luỹ đường, cũng có thể xuất hiệnsớm hơn hoặc muộn hơn Thời kỳ này thường kéo dài khoảng 50-60 ngày, yếu tốchi phối chính thời kỳ này là vĩ độ và độ dài ngày (Trần Văn Sỏi, 2001)
1.6 MỘT SỐ TÁC DỤNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP TỦ LÊN CÂY
TRỒNG NÓI CHUNG VÀ CÂY MÍA NÓI RIÊNG
1.6.1 Sử dụng rơm rạ và tàn dư thực vật
1.6.1.1 Lợi ích
Việc sử dụng rơm rạ và tàn dư thực vật (cỏ, thân, lá…) trong canh tác câytrồng có một số thuận lợi: nguồn nguyên liệu sẵn có, không phải mua, kỹ thuật ápdụng đơn giản, mang lại hiệu quả cao Theo Nguyễn Mân (1984), dùng rơm rạ tủmặt líp và gốc giữ ẩm cho mặt đất hạn chế một phần sự phát triển của cỏ dại Trongtrường hợp trồng các loại cây thân bò không làm giàn thì dây bò được dễ dàng, tráikhông tiếp xúc trực tiếp với nền đất ẩm vào mùa mưa hạn chế phần nào sự tấn công
Trang 27của sâu bệnh Tủ rơm rạ và tàn dư thực vật có vai trò trong việc giúp mặt đất chốnglại các cơn mưa lớn, giảm nhiệt độ đất, gia tăng hàm lượng K, P hữu dụng trong đất.Theo Nguyễn Minh Toại (1986) thì việc che phủ đất ngoài tác dụng chống cỏmọc, giữ trái cây xanh, giữ đất mát hơn, nó còn chống được sự xói mòn đất, giúpnước mưa thấm vào đất Phủ đất giữ ẩm bao gồm việc phủ đất bằng rơm rạ, bằngtàn dư thực vật, bằng giấy dầu, hay các tấm mỏng bằng chất dẻo lên mặt đất làmgiảm sự bốc hơi trên mặt đất một cách đáng kể Nó làm cho việc cung cấp nước vàmuối khoáng cho cây trồng thuận lợi hơn Việc tiết kiệm nước bằng cách tủ đất giữ
ẩm có thể có giá trị ngang với lượng mưa 150-200 mm nước trong một năm trongcác vùng mưa trung bình
Verplanoke và ctv (1985) ghi nhận tủ rơm 3 tấn/ha cải thiện năng suất của tất
cả các cây trồng được kiểm tra và hiệu quả sử dụng nước gia tăng nhiều đến 90%.Che tủ đất còn cải tạo được cơ lý đất Theo Nguyễn Minh Toại (1986), che đấtgóp phần cải thiện cơ cấu đất nhờ chất hữu cơ do vật liệu che đất cung cấp Hơn thếnữa, những vật liệu che đất còn cung cấp một số dưỡng chất quan trọng
Phùng Đăng Chinh (1975) cho biết che phủ đất có thể phòng trừ cỏ dại ở bất
kỳ loại cây trồng nào Ngoài tác dụng phòng trừ cỏ dại còn ảnh hưởng tốt đến đất:giữ cho nước trong đất khỏi bị bốc hơi nhiều, độ ẩm đất cao hơn, nhiệt độ đất caohơn, ổn định hơn so với đất không che tủ, đất đỡ mất nhiệt do bay hơi nước, lớp che
tủ xốp truyền nhiệt ít, lúc trời lạnh lớp đất dưới lớp che tủ mất nhiệt ít Một số vậtliệu sau khi che tủ bị hoai mục lại trở thành phân bón, làm tăng hàm lượng dinhdưỡng và độ xốp đất Che tủ đất làm giảm sự trao đổi giữa không khí đất và khôngkhí ngoài trời nên hoạt động của vi sinh vật vẫn tiến hành đầy đủ
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, tủ rơm để giữ ẩm làm giảm hiện tượng nứt đất,
xì phèn, làm giảm thấp chi phí tưới và thiệt hại khi gặp hạn đầu vụ
1.6.1.2 Hạn chế
Tuy nhiên ở những vùng chuyên trồng dưa với diện tích lớn và trồng liên tụcquanh năm thì số lượng chất hữu cơ này có thể không đủ để đáp ứng yêu cầu Mặt
Trang 28dưa, mầm bệnh đốm vằn…) gây điều kiện bất lợi cho cây trồng khi gặp điều kiệnthích hợp như ẩm độ cao (Trần Thị Ba, 1999) Ngày nay, khoa học đã chứng minhmôi trường tiểu khí hậu xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tấn công của sâubệnh hại, tăng trưởng và năng suất Vì thế phương pháp trồng cây có sử dụng màng
tủ nông nghiệp (plastic) đang được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp
1.6.2 Sử dụng màng phủ nông nghiệp
Màng phủ nông nghiệp còn gọi là màng bạc một loại nhựa dẻo mỏng, chuyêndùng để phủ líp trồng rau mà các nhà khoa học đã nghiên cứu sản xuất và mang lạihiệu quả cao Màng phủ có hai mặt khác nhau, mặt trên có màu xám bạc, mặt dưới
có màu đen
1.6.2.1 Giữ phân bón
Phủ plastic ngăn cản sự thấm lậu và rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặckhi mưa to giúp cây trồng hấp thu các dưỡng chất N, P, K, Ca, Mg cao hơn đất đểtrần 1,4-1,5 lần bởi vì tác động của màng phủ như là một hàng rào cản lượng mưarơi (Toshio, 1991) Theo Toshio (1991), ở đất nhiễm mặn, có phủ plastic sẽ làmgiảm độ mặn vì làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên tăng năng suất cây trồng.Ngoài ra, plastic còn có tác dụng ngăn cản sự di chuyển của muối trong đất, khảnăng sống của cây con cao và cải thiện năng suất của dưa hấu, củ cải đường Nồng
độ muối trong đất thấp hơn 41,7%; 28,3%; 16,4% ở độ sâu 0-20, 20-40 và 40-60 cmtương ứng (Yang, 1984) Ở đất phèn có phủ nilon sẽ có độ pH cao hơn mặt đất trần0,2-0,5 lần (Toshio, 1991)
1.6.2.2 Hạn chế sâu bệnh
Màng phủ plastic có nhiều màu khác nhau, tác dụng mỗi màu cũng khác nhau.Màu trắng bạc của màng phủ có tác dụng xua đuổi một số loại côn trùng gây hạinhư rầy mềm truyền bệnh virus (Toshio, 1991) Còn đối với ớt, năng suất ớt trong
lô tủ plastic có nhôm cao gấp bốn lần và plastic đen cao gấp ba lần so với khôngphủ líp, màng phủ có nhôm giảm được virus sinh ra bởi rầy như Tobacco etch,Potato years, Cucumber mosaic (Black, 1980)
Trang 291.6.2.3 Hạn chế cỏ dại
Tùy màu sắc màng phủ mà mức độ hạn chế cỏ dại khác nhau, plastic đen chohiệu quả phòng trừ cỏ dại tốt vì cắt đứt hơn 90% tia sáng mặt trời chiếu vào mặt đất,nên cỏ dại không tăng trưởng được, plastic trong suốt không hạn chế được cỏ dạingoại trừ nó được áo thuốc diệt cỏ Chính vì thế màng phủ được chế tạo thường cómột mặt đen (Toshio, 1991)
1.6.2.4 Điều hoà ẩm độ và giữ cấu trúc mặt đất
Phủ plastic giữ ẩm độ trong đất ổn định Vào mùa mưa lớp đất mặt không bịxói mòn và đóng ván, đất được thông thoáng giúp cây sinh trưởng tốt Nắng nhiềuphủ líp bằng mành phủ phần nào hạn chế sự bốc thoát hơi nước, giữ mặt líp không
bị khô nhanh Vì vậy phủ líp giúp điều hòa ẩm độ đất và bộ rễ phát triển tốt, rộnghơn trên cả mặt líp giúp cây phát triển tốt hơn (Trần Thị Ba, 1999)
1.6.2.5 Tăng nhiệt độ đất
Phủ líp bằng plastic làm tăng nhiệt độ đất Tuỳ vào màu sắc màng phủ vàcường độ mặt trời mà có sự chênh lệch khác nhau Nhiệt độ trong đất có phủ plastic
và không phủ chênh lệch 70C đối với plastic trong suốt và 50C đối với plastic đen
Sự chênh lệch nhiệt độ giảm dần khi cây giáp tán Nhưng plastic màu bạc có tácdụng ngăn cản sự gia tăng nhiệt độ đất (Toshio, 1991) Ở nơi nhiệt độ quá thấpmàng phủ nông nghiệp màu đen có tác dụng làm đất ấm hơn vào ban đêm còn màng
tủ nông nghiệp màu bạc che phủ đất, phản chiếu ánh sáng mặt trời làm cho vườntrồng rau tương đối mát mẻ (Tôn Thất Trình, 1999)
1.6.2.6 Rút ngắn thời gian
Thuận lợi lớn nhất của sử dụng màng phủ là nhiệt độ đất phía dưới màng phủtăng làm cây trồng phát triển nhanh hơn rút ngắn chu kỳ sinh trưởng làm cho sảnphẩm được thu hoạch sớm hơn Thí nghiệm cho thấy màng phủ đen có thể cho thuhoạch sớm hơn từ 7-14 ngày trong khi màng phủ trong suốt thì có thể sớm hơn 21ngày so với không tủ (Toshio, 1991)
Trang 30CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: được thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 11/2010
Địa điểm: Câu Lạc Bộ Trồng Mía, Ấp Quyết Thắng, Xã Hiệp Hưng, HuyệnPhụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang
2.1.2 Phương tiện
Vật liệu:
- Giống mía Suphanburi 7 (85-2-352 x K84-200) (Hình 2.1)
- Vật liệu tủ: lá mía khô (đã bắt đầu mục), rơm khô (rơm mới, sợi rơm vẫn còntươi), trấu khô (trấu khô chưa hoai mục), màng phủ trắng, đất tơi xốp (đất ẩm lấy tạiruộng)
Dụng cụ và máy móc:
- Thước dây, thước kẹp (hiệu Vernier Caliper)
- Khúc xạ kế đo độ Brix (Hiệu ATAGO N-1E)
- Những vật liệu khác dùng để phục vụ cho thí nghiệm: kiềm, dao, viết, sổ ghichép