TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN ĐẠM, LÂN VÀ KALI ĐẾN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TTTTT
ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN ĐẠM, LÂN
VÀ KALI ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
DỪA TA XANH (Cocos nucifera L.) TẠI VÙNG ẢNH
HƯỞNG MẶN HUYỆN CÁI NƯỚC VÀ VÙNG NGỌT HÓA HUYỆN TRẦN VĂN THỜI,
TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
TTTTT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH NÔNG HỌC
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN ĐẠM, LÂN
VÀ KALI ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
DỪA TA XANH (Cocos nucifera L.) TẠI VÙNG
ẢNH HƯỞNG MẶN HUYỆN CÁI NƯỚC VÀ
VÙNG NGỌT HÓA HUYỆN TRẦN VĂN THỜI,TỈNH CÀ MAU
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
MSSV: 3077312 Lớp: Nông Học K33
Cần Thơ - 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học với đề tài:
“ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN ĐẠM, LÂN VÀ
KALI ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DỪA
TA XANH (Cocos nucifera L.) TẠI VÙNG ẢNH
HƯỞNG MẶN HUYỆN CÁI NƯỚC VÀ VÙNG NGỌT HÓA HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU”
Do sinh viên Đào Thị Hồng Nhung thực hiện
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2011 Cán bộ hướng dẫn
PGs.TS Trần Văn Hâu
Trang 4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học đính kèm với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN ĐẠM, LÂN VÀ KALI ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT DỪA TA XANH (Cocos nucifera L.) TẠI VÙNG ẢNH HƯỞNG MẶN HUYỆN CÁI NƯỚC VÀ VÙNG NGỌT HÓA HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU” Do sinh viên Đào Thị Hồng Nhung đã thực hiện và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng:
Luận văn đã được hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức:
Duyệt Khoa Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2011
CHỦ NHIỆM KHOA NN & SHƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Đào Thị Hồng Nhung
Trang 6LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Địa chỉ: Ấp 1, Xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
Họ và tên cha: Đào Quyết Chiến
Họ và tên mẹ: Trần Kim Khoe
Quê quán: Xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
Quá trình học tập:
Năm 1993 – 1998: Học Trường Tiểu Học An Xuyên II
Năm 1998 – 2001: Học Trường Trung học cơ sở An Xuyên II
Năm 2001 – 2006: Học Trường Trung học Phổ thông chuyên Phan Ngọc Hiển Năm 2007 – 2011: sinh viên trường Đại Học Cần Thơ, ngành Nông Học, khóa
33, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng
Cha, Mẹ đã suốt đời tận tụy vì sự nghiệp tương lai của con
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báo giúp em hoàn thành bài luận văn này
Thầy CVHT Nguyễn Phước Đằng đã quan tâm và dìu dắt lớp hoàn thành tốt khóa học
Thân ái gửi về
Các bạn sinh viên lớp Nông học 1 và Nông học 2 K33 lời chúc sức khỏe và thành đạt trong tương lai
Trân trọng!
Đào Thị Hồng Nhung
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii
LỜI CẢM TẠ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH BẢNG viii
TÓM LƯỢC x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Cái Nước và huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 2
1.1.1 Vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước 2
1.1.2 Vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời 2
1.2 Đặc tính sinh học của cây dừa 3
1.2.1 Rễ 3
1.2.2 Thân 3
1.2.3 Lá 4
1.2.4 Hoa 4
1.2.5 Trái 4
1.3 Nhu cầu sinh thái cây dừa 5
1.3.1 Nhu cầu về đất đai 5
1.3.2 Nhu cầu về dinh dưỡng 7
1.3.2 1 Đạm 7
1.3.2 2 Kali 7
1.3.2.3 Lân 8
1.3.2.4 Can-xi 8
Trang 91.3.2.5 Ma-nhê 8
1.3.2.6 Các nguyên tố vi lượng 9
1.3.3 Yếu tố môi trường 9
1.3.3.1 Ánh sáng 9
1.3.3.3 Lượng mưa và nhu cầu nước 10
1.3.3.4 Nhiệt độ và ẩm độ 10
1.4 Một số thành phần năng suất dừa 11
1.4.1 Sự thụ phấn 11
1.4.2 Số buồng/cây/năm 11
1.4.3 Số hoa cái/buồng 12
1.4.4 Sự rụng trái non và biện pháp khắc phục 12
1.5 Kỹ thuật canh tác 13
1.5.1 Mùa vụ trồng 13
1.5.2 Sửa soạn đất 13
1.5.3 Khoảng cách trồng 14
1.5.4 Chăm sóc 14
1.6 Sâu bệnh hại dừa và cách phòng trị 16
1.6.1 Bọ Dừa 16
1.6.2 Kiến vương 16
1.6.3 Đuông 17
1.6.4 Chuột Đồng 17
1.7 Giống dừa Ta Xanh 18
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 2.1 Phương tiện 19
2.1.1 Thời gian thí nghiệm 19
2.1.2 Địa điểm thí nghiệm 19
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm 20
2.2 Phương pháp 20
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu 21
Trang 102.2.4 Điều kiện khí tượng thủy văn tỉnh Cà Mau 23
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ghi nhận tổng quát 26
3.2 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu 26
3.2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất .26
3.2.2 Ẩm độ khối lượng của đất 27
3.2.3 Sự biến động của pH và EC (mS/cm) của nước mương và ngoài sông 28
3.3 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá dừa của vùng nghiên cứu 30
3.3.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá dừa trước khi bón phân 30
3.3.2 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá dừa sau khi bón phân 12 tháng 31
3.4 Đặc tính nông học dừa Ta Xanh vùng nghiên cứu 32
3.4.1 Đặc điểm lá 32
3.4.2 Kích thước bẹ và mo 34
3.5 Đặc tính sinh trưởng của dừa Ta Xanh ở hai vùng sinh thái 36
3.5.1 Chiều cao cây 36
3.5.2 Tổng lá/cây 37
3.5.3 Số mo xuất hiện/cây 38
3.6 Năng suất và thành phần năng suất 41
3.7 Thành phần năng suất trái 43
3.8 Sâu bệnh gây hại 46
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận 47
4.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ CHƯƠNG 52
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau 19 2.2 Biểu đồ lượng mưa trung bình và nhiệt độ - ẩm độ trung bình
(TB)/tháng tại Đài khí tượng thủy văn tỉnh Cà Mau từ tháng
01/2010 đến 12/2010 (Đài khí tượng thủy văn Cà Mau) a) Lượng mưa; b) Nhiệt độ - Ẩm độ 24
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
1.1 Một số nguyên nhân làm giảm năng suất dừa và biện pháp khắc
phục (Tôn Thất Trình, 1974) .12 1.2 Phân hóa học N, P2O5, K2O (g/cây/năm) bón cho cây dừa thay đổi
theo độ tuổi cây (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005) 15
1.3 Lượng phân bón (kg/cây/năm) sử dụng cho dừa đang cho trái ở
vùng đất khác nhau tại Việt Nam (Trung tâm nghiên cứu dầu và
cây có dầu, 1986) 16 3.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất ở độ sâu ( 0 – 20 cm) của vườn
dừa vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau 27 3.2 Ẩm độ khối lượng của đất ở độ sâu 0 - 20 cm ở vườn dừa Ta
Xanh của vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, năm 2010 28 3.3 Giá trị trung bình của pH và EC (mS/cm) nước mương vườn và
ngoài sông của vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng
ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 29 3.4 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá dừa Ta Xanh trước khi bón phân
ở vườn dừa thí nghiệm vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và
vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, năm 2010 30 3.5 Hàm lượng dinh dưỡng trong lá dừa Ta Xanh sau khi bón phân 12
tháng ở vườn dừa thí nghiệm vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái
Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, năm
2010 32 3.6a Kích thước lá dừa của các cây dừa ở vùng ảnh hưởng mặn huyện
Cái Nước, tỉnh Cà Mau, 2010 33 3.6b Kích thước lá dừa của các cây dừa ở vùng ngọt hóa huyện Trần
Trang 133.7a Kích thước bẹ và mo của vườn dừa Ta Xanh ở vùng ảnh hưởng
mặn huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, 2010 35 3.7b Kích thước bẹ và mo của vườn dừa Ta Xanh ở vùng ngọt hóa
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 35 3.8 Chiều cao cây (m) của dừa Ta Xanh ở vùng ảnh hưởng mặn
huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà
Mau, 2010 37 3.9 Số lá xuất hiện/cây/năm và tốc độ ra lá của dừa Ta Xanh ở vùng
ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần
Văn Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 38 3.10 Tổng mo/cây/năm và tốc độ ra mo của Dừa Ta Xanh ở vùng ảnh
hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn
Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 39 3.11a Số mo xuất hiện/cây/3 tháng của dừa Ta Xanh ở vùng ảnh hưởng
mặn huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, 2010 40 3.11b Số mo xuất hiện/cây/3 tháng của dừa Ta Xanh ở vùng ngọt hóa
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 41 3.12a Năng suất và thành phần năng suất của vườn dừa vùng ảnh hưởng
mặn huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, 2010 42 3.12b Năng suất và thành phần năng suất của vườn dừa vùng ngọt hóa
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 42 3.13a Thành phần năng suất trái của dừa Ta Xanh dưới ảnh hưởng của
các biện pháp bón phân huyện Cái Nước 43 3.13b Thành phần năng suất trái của dừa Ta Xanh dưới ảnh hưởng của
các biện pháp bón phân huyện Trần Văn Thời 44 3.14a Một số phẩm chất trái của dừa Ta Xanh vùng ảnh hưởng mặn
huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, 2010 45 3.14b Một số phẩm chất trái của dừa Ta Xanh vùng ảnh hưởng mặn
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, 2010 45
Trang 14ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG 2011 “Ảnh hưởng của công thức phân đạm, lân và kali
đến sinh trưởng và năng suất dừa Ta Xanh (Cocos nucifera L.) tại vùng ảnh hưởng
mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Nông học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Hướng dẫn đề tài: PGs.Ts Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra công thức phân thích hợp để cải thiện năng suất dừa ở vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, với 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một cây Có 5 nghiệm thức: nghiệm thức 1 đối chứng không bón phân, nghiệm thức 2 sử dụng công thức phân là: 0,8 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,6 kg KCl (0,37 N – 0,32 P2O5 – 0,36 K2O); nghiệm thức 3: 0,8 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,9 kg KCl (0,37 N – 0,32 P2O5 – 0,54 K2O); nghiệm thức 4: 1,2 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,6 kg KCl (0,55 N – 0,32 P2O5 – 0,36 K2O); nghiệm thức 5: 1,2 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,9 kg KCl (0,55 N – 0,32 P2O5 – 0,54 K2O) Tất cả các nghiệm thức đều được bón làm hai lần vào đầu (tháng 5) và cuối mùa mưa (tháng 10) Tiến hành lấy mẫu đất 2 lần vào giai đoạn trước khi bón phân và 6 tháng sau khi bón phân để phân tích các chỉ tiêu EC,
pH và các chất dinh dưỡng trong đất Mẫu nước được lấy 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa để phân tích sự biến động EC và pH Mẫu lá cũng được lấy 2 lần vào trước và sau khi bón phân 6 tháng để phân tích hàm lượng dinh dưỡng N, P và K trong lá Ngoài ra, các chỉ tiêu về sinh trưởng và năng suất như: Chiều cao cây, tổng số lá/năm, tổng mo/năm, số trái/năm,… được thu thập 3 tháng/lần và thành phần năng suất trái được lấy một lần vào cuối vụ (tháng 10) Kết quả thí nghiệm cho thấy ở vùng ngọt hóa Trần Văn Thời, tất cả các nghiệm thức có bón phân đều làm tăng hàm lượng đạm trong lá Ngoài ra, các nghiệm thức này còn làm tăng tổng số lá/cây/năm và tăng tốc độ ra lá Ở vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước các nghiệm thức có bón phân đều làm tăng tổng số lá/cây/năm và cho tốc độ ra lá nhanh hơn nghiệm thức đối chứng không bón phân Tuy nhiên, sau một năm các công thức phân chưa thể hiện kết quả lên năng suất và thành phần năng suất ở hai vùng khảo sát
Trang 15MỞ ĐẦU
Cây dừa (Cocos nucifera L.) là một loại cây nhiệt đới, được phân bố ở 20o Bắc
và Nam bán cầu Quốc gia trồng dừa nhiều nhất là Philippines với diện tích 3,38 triệu
ha, kế đến là Indonesia với 2,95 triệu ha và xếp thứ ba là Ấn Độ với 1,94 triệu ha Ở Việt Nam diện tích trồng dừa đạt khoảng 200.000 ha, được trồng từ Bắc đến Nam nhưng nhiều nhất là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (FAOSTAT, 2010)
Theo Cục Trồng Trọt, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2008) thì diện tích đất trồng dừa ở ĐBSCL chiếm gần 80% diện tích trồng dừa của cả nước Trong đó, Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất, khoảng 40.000 ha và đứng thứ nhì là tỉnh Cà Mau với 9.600 ha nhưng tất cả đều là cây đang cho trái với sản lượng 24.100 tấn, năng suất 26,2 tạ/ha, thấp nhất so với các địa phương khác ở ĐBSCL Cây dừa ở Cà Mau chủ yếu tập trung nhiều nhất ở huyện Trần Văn Thời với 3.467 ha, tiếp theo là huyện Cái Nước với 1.645 ha, thứ ba là huyện Phú Tân với 948
ha (Số liệu Thống Kê tỉnh Cà Mau, 2007) Trước năm 2000 khi chưa có phong trào chuyển đổi sang nuôi tôm, cây dừa của tỉnh Cà Mau có năng suất và chất lượng cao, nhưng kể từ khi nông dân đưa nước mặn vào ruộng, vườn để nuôi tôm thì diện tích trồng dừa giảm đi đáng kể và đây cũng là nguyên nhân làm cho năng suất dừa của tỉnh
Cà Mau giảm thấp như hiện nay Chính việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế này đã làm đảo lộn cân bằng sinh thái, việc sử dụng đất, nước chắc chắn sẽ gây hệ quả tiêu cực, nước sẽ ô nhiễm nhiều hơn khi nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh, gây ảnh hưởng bất lợi cho nhiều loại cây trồng (Dương Ngọc Thành, 2005) Khi mô hình nuôi tôm không đem lại thu nhập cao như mong đợi thì phục hồi vườn dừa là cần thiết nhằm cải thiện kinh tế cho nông dân
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, đề tài “Ảnh hưởng của công thức phân
đạm, lân và kali đến sự sinh trưởng và năng suất dừa Ta Xanh (Cocos nucifera L.) tại vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn
Thời, Tỉnh Cà Mau” được thực hiện nhằm xác định hiệu quả của phân đạm và kali
lên năng suất dừa Ta Xanh ở vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN CÁI NƯỚC VÀ HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
1.1.1 Vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước
Huyện Cái Nước có diện tích 830,28 km2, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Cà Mau Lượng mưa trung bình hằng năm từ 2.000 – 2.400 mm Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình 2.100 mm (chiếm 90% tổng lượng mưa), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 với lượng mưa trung bình 200 mm Khu vực này tác động của triều biển Tây và Vịnh Thái Lan qua hệ thống sông ngòi chằn chịt Môi trường nước mùa khô bị xâm nhập mặn hơn 6 tháng Trong vùng có ba nhóm đất chính: Đất phù sa 44.234 ha chiếm 54%, đất phèn 33.309 ha chiếm 40,69% và đất mặn 4.318 ha chiếm 5,28% (Nguyễn Thọ và Nguyễn Thanh Hùng, 2007)
1.2.2 Vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời
Huyện Trần Văn Thời có khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình lên đến 2.300 mm/năm Lượng mưa phân
bố không đều, từ tháng 5 đến tháng 11 lượng mưa chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26oC đến 27oC Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4: 28,5oC, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 với 25oC Số giờ nắng từ 2.300 giờ đến 2.600 giờ/năm Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 3, số giờ chiếu nắng khoảng 315 giờ, thấp nhất tháng 9 với số giờ nắng khoảng 147 giờ Độ ẩm không khí trung bình: 84 – 85% Tháng có ẩm độ thấp 74% là tháng 3, cao nhất 91% là tháng 10
Với nhiệt độ cao, nắng quanh năm, lượng bốc hơi hàng năm là 1.003 mm Các tháng bốc hơi lớn nhất là các tháng mùa khô 3,3 đến 5,5 mm/ngày (tháng 12 đến tháng
4 năm sau) Hệ thống sông, rạch chịu ảnh hưởng của triều biển Tây Đặc trưng mực nước tại trạm cửa sông Ông Đốc với tần suất p = 10%
Trang 17+ Mực nước lớn nhất = + 1,29 m
+ Mực nước nhỏ nhất = - 0,28 m
Thời gian triều lên và thời gian triều xuống xấp xỉ nhau, kéo dài khoảng 11 giờ
30 đến 12 giờ Vào các ngày triều cường thời gian triều lên kéo dài thêm 1 giờ đến 1 giờ 30 phút
Trong một số năm mực nước cao nhất xảy ra trong các tháng 10, 11, 12, 1, 2, 3 gần trùng với mùa khô Thời kỳ có gió chướng có thể gây ra hiện tượng nước dâng; các tháng 5, 6, 7, 8 là thời kỳ mực nước thấp nhất, do gió Tây Nam gây ra hiện tượng nước rút trên toàn thềm lục địa Nam Bộ Do đặc điểm thủy triều có biên độ dao động nhỏ nên ảnh hưởng không sâu vào các kênh, rạch trong nội đồng: khả năng trao đổi nước bị hạn chế do tốc độ dòng chảy nhỏ (số liệu khí tượng thủy văn tỉnh Cà Mau,
2009)
1.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÂY DỪA
1.2.1 Rễ
Dừa không có rễ đuôi chuột và rễ mọc ở phần gốc thân khoảng 60 cm Rễ mọc
từ bầu rễ gần như suốt đời cây dừa mỗi cây có từ 5.000 – 10.000 rễ chính tùy thuộc điều kiện môi trường Rễ chính dài 5 – 10 m, đường kính ít khi lớn hơn 1 cm, khi mới mọc màu trắng, sau đó màu đỏ nâu Rễ chính ít có bộ phận hấp thụ dinh dưỡng chỉ các
rễ phụ mới hấp thụ dinh dưỡng Đặc điểm rễ dừa là không có lông hút, nhưng có những bộ phận đặc biệt để hoán chuyển khí với không khí là các phế căn Rễ có thể ăn sâu xuống 10 m, bình thường mọc tràn ở phần 0 – 90 cm đất mặt, đất sét quá nặng thì
rễ cũng không đâm sâu xuống được (Tôn Thất Trình, 1974)
1.2.2 Thân
Trong giai đoạn đầu mới trồng, chiều dài lóng trên thân dừa ngắn và chậm phát triển, đến khi chiều ngang của thân phát triển đầy đủ thì cây mới bắt đầu cao lên, tiến trình này có thể kéo dài đến 4 năm tùy thuộc vào giống (Ohler, 1984, trích dẫn bởi
Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005), dừa có thể cao đến 35 m, không có nhánh,
thân cột to chắc, đường kính phần dưới của thân có thể đạt 1 m, phần trên có đường
Trang 18kính không quá 0,3 m Thân cây có mang nhiều sẹo lá khoảng cách giữa các sẹo lá rộng chứng tỏ dừa bị thiếu ánh sáng Thân dừa không có tượng tầng (tầng phát sinh gỗ) bên ngoài, một khi thân dừa bị tổn thương thì không khôi phục được và đường kính thân cũng không lớn ra thêm theo thời gian Theo Wrigley (1969, trích dẫn bởi McGregor, 1976) cho biết nhóm dừa lùn có đời sống ngắn hơn nhóm dừa cao và có trữ lượng dầu kém hơn Cây có thể chịu được nhiệt độ lạnh nhẹ nhưng về cơ bản nó vẫn là cây nhiệt đới
1.2.3 Lá
Lá mọc hình xoắn ốc trên thân Lá này mọc cách lá kia theo một góc 140o Diệp
tự 2/5 hay là cứ hai vòng xoắn ốc thì hai lá ở cùng vị trí như lá thứ 1 và lá thứ 6 chẳng hạn, cách mọc này có thể giúp tìm đúng vị trí tàu lá ta lấy làm mẫu đem phân tích chẩn mạch lá Ở điều kiện thuận lợi trung bình mỗi tháng dừa cho ra một tàu lá, nếu bất lợi phải 2 – 3 tháng mới ra một tàu Đời sống của một tàu lá trung bình khoảng 4 – 5 năm Như vậy, khi quan sát một vườn dừa nên đếm số lá còn sống để xem ảnh hưởng tốt xấu của môi trường trên việc sinh trưởng của vườn dừa mà tìm cách cải thiện (Tôn Thất Trình, 1974)
1.2.4 Hoa
Dừa là một giống đồng chu, hoa cái và hoa đực trên cùng một hoa tự, nhưng hoa cái và hoa đực không ở cùng một bông (Tôn Thất Trình, 1974) Dừa có phát hoa sau khi trồng khoảng 3 – 8 năm (nhóm dừa cao từ 5 – 8 năm còn nhóm dừa lùn từ 3 –
4 năm) Phát hoa rất to, trổ quanh năm ở nách lá, mỗi nách lá có một phát hoa, lúc đầu phát hoa trong một lá bắc dày gọi là mo dừa (thật ra có hai mo, mo nhỏ ở ngoài và mo lớn ở trong), mo càng lớn sau này có buồng càng to Phát hoa có nhiều nhánh, mỗi
nhánh dài từ 0,6 – 1,2 m mang hoa (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
1.2.5 Trái
Trái dừa được xếp vào loại quả hạch nhân cứng, nghĩa là trái gồm một hột duy nhất được bao bọc bởi nội quả bì cứng (gáo) và một trung quả bì mềm (xơ) Xơ có nhiệm vụ bảo vệ cho hạt tránh tiếp xúc vật gây hại, phát tán đi xa (Võ Văn Long và
ctv., 2008)
Trang 19Theo Tôn Thất Trình (1974) thì dừa lấy dầu có thể thu hoạch được là khi trái đã chín (khô), nghĩa là trọng lượng đạt khoảng 1 – 2 kg, vỏ ngoài lán bóng, màu nâu hoặc đen, khi cầm lắc thì nghe kêu, nước róc rách Ở giai đoạn này thì trái đạt khoảng 11 –
12 tháng tuổi tính từ khi mo mở Ban đầu xơ dừa màu trắng sau đó mất nước dần, chuyển sang màu nâu đỏ và trở nên dai hơn Nước dừa ở bên trong gáo cũng bớt đi Trước tiên, cơm dừa còn mềm và rải rác ở gáo sau đó bao phủ đầy gáo Tiến trình phát triển này như sau:
- Tháng thứ 8: cơm chỉ 32,1% tổng trọng lượng so với cơm khi khô
- Tháng thứ 9: cơm chỉ độ 55,7% tổng trọng lượng so với cơm khi khô
- Tháng thứ 10: cơm khoảng 77,7% tổng trọng lượng so với cơm khi khô
- Tháng thứ 11: cơm chỉ độ khoảng 94,1% tổng trọng lượng so với cơm khi khô Dừa Ta Xanh có hàm lượng dầu cao (65 – 67%), dày cơm (>= 1,2 cm), có tiềm năng năng suất cao (70 – 80 trái/cây/năm), trái có kích thước từ trung bình đến to, gáo dày (3 – 4 mm) và xơ khá dày Khối lượng trái từ 1,6 – 2,0 kg/trái khô và năng suất bình quân 1 – 1,2 tấn/ha, với thời gian ra hoa đầu tiên là 5 – 7 năm sau khi trồng (Võ
Văn Long và ctv., 2008)
Theo Huỳnh Hoàng Sơn (1989) thì trọng lượng cơm biến động cùng với trọng lượng trái, do đó việc chọn giống và cả kỹ thuật canh tác để cho trái lớn là rất quan trọng Trong ba vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn thì vùng ngọt cho năng suất cơm tươi/trái cao nhất, kế đến là vùng lợ và mặn
Đối với trái dừa dùng để ăn tươi thì thu hoạch dựa vào tuổi trái và kinh nghiệm nhưng chủ yếu là kinh nghiệm Nông dân thường búng vào vỏ trái dừa và nghe tiếng kêu thanh do xơ và gáo bắt đầu cứng lại Nếu dựa vào tuổi trái thì có thể hái trái vào khoảng tháng thứ sáu hoặc thứ bảy sau khi thụ phấn
1.3 NHU CẦU SINH THÁI CÂY DỪA
1.3.1 Nhu cầu về đất đai
Cây dừa thích nghi với nhiều loại đất như đất cát, đất thịt, đất cát pha thịt, đất sét nhưng phát triển tốt trên đất phù sa và pH thích hợp từ 5,5 – 7,0 (Magat và
Margate, 1989 và Manciot và ctv., 1979) Cây dừa đòi hỏi đất thoáng khí và thoát nước
Trang 20tốt, có tầng đất mặt dày ít nhất 80 – 100 cm, độ pH từ 5,0 – 8,0 Cây dừa có thể chịu
được độ mặn từ 8 – 10o
/oo
Theo Korawis (1999), Ollagneir và ctv (1983) và Prasada (1991) trên thế giới
có rất ít loại đất có khả năng cung cấp dinh dưỡng đủ để cân bằng cho quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây dừa Đa số những vùng trồng dừa là những vùng đất
nghèo dinh dưỡng Vì vậy, bón phân cung cấp dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Nhóm dưỡng chất sau đây rất cần thiết cho vườn dừa N, P, K, Mg, Na, Cl, Ca, Fe, Mn
Bón các dưỡng chất này đúng liều lượng cây sẽ phát triển tốt, năng suất ổn định (Tôn
Thất Trình, 1974)
Năm 1968, Viện nghiên cứu Dầu thực vật của Pháp đã dựa vào lá thứ 14 trên
cây dừa trưởng thành để xác định mức khủng hoảng các yếu tố dinh dưỡng hay còn
gọi là nồng độ cực trọng để quyết định yếu tố phân bón cho cây dừa Đây là nồng độ
dưỡng liệu mà phân bón sẽ không có lợi nếu số liệu phân tích cao hơn số này Nồng độ
cực trọng xác định cho cây dừa như sau: N = 1,8 – 2,0%; P = 0,12 – 0,13%;
K = 0.8 – 1,0%; Ca = 0,5%; Mg = 0,3%; Fe = 50 ppm; Mn = 60 ppm (Tôn Thất Trình,
1947)
Ngoài ra, phèn và mặn là hai yếu tố hạn chế năng suất dừa Nếu tách riêng từng
yếu tố tác động, phèn nhiều làm giảm số trái đáng kể và ảnh hưởng nặng nề hơn mặn
(Diệp Thị Mỹ Hạnh, 1997)
Theo Nguyễn Thị Bích Hồng (2008) hàm lượng Cl- trong môi trường đất hay
nước cao đã ngăn cản việc sử dụng cacbohydrat và nitrogen để tạo thành các tế bào
mới, do đó ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của dừa Tuy nhiên cây dừa là cây
thực vật có khuynh hướng chịu mặn Người ta gắn bản chất tính chịu mặn của cây dừa
với các đại lượng áp suất thẩm thấu của dịch tế bào, sức hút của tế bào và tính thấm
của nguyên sinh chất trong tế bào
Theo Bùi Chí Bữu và Nguyễn Thị Lang (2007), thiệt hại do mặn gây ra bởi sự
mất cân bằng áp suất thẩm thấu và sự tích tụ nhiều ion Cl-, sự mất cân bằng Na – K
cũng là yếu tố làm giảm năng suất vì ion K có vai trò quan trọng làm kích hoạt enzyme
và đóng mở khí khổng tương ứng với tính chống chịu mặn của cây trồng Theo Diệp
Thị Mỹ Hạnh (2005) thì ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cây dừa có thể thích ứng trên
Trang 21vùng đất phèn mặn nhưng năng suất dừa vùng phèn mặn giảm 45% và vùng bị nhiễm phèn giảm 25% so với vùng đất phù sa
Ở đất phèn, hàm lượng lân trong lá dừa vào mùa nắng luôn luôn thấp hơn vào mùa mưa, với lý do vào mùa nắng đất chua hơn, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất giảm mạnh chỉ còn 0,096% trong lúc nồng độ cực trọng của lân trong lá 0,13% (Diệp Thị
lại, sẹo lá và lóng thân ngắn (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Các nguyên nhân gây thiếu đạm trên cây dừa có thể do đất không thoát thủy, đất quá nhiều cát hay đất san hô chứa nhiều CaCO3, cỏ hòa bản mọc ở vườn dừa quá nhiều cạnh tranh đạm với dừa, lượng mưa phân phối không đều mùa nắng kéo dài quá làm rễ ít hoạt động, đất thiếu kali hay thiếu sắt (Tôn Thất Trình, 1974)
1.3.2.2 Chất Kali
Ở dừa kali là một nguyên tố quan trọng hơn cả đạm và lân Chất kali làm tăng năng suất và chất lượng cơm dừa khô, tăng tỉ lệ đậu trái và tăng sức chống chịu một số sâu bệnh Lá dừa thiếu kali bị vàng, chóp lá và bìa lá bị cháy khô, bắt đầu từ tàu lá già
(Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Kali có tác dụng làm tăng tỉ lệ đậu trái và tăng sản lượng cơm dừa khô, tạo cơm dừa và chất béo trong cơm, làm giảm tác hại khi cung cấp đạm thái quá, tăng sức đề kháng đối với một số sâu bệnh Sự thiếu hụt của kali dẫn đến làm giảm màu xanh của
lá, cuối cùng lá bị khô sớm (Trung tâm Nghiên cứu Dầu và cây có dầu, 1986)
Theo Tôn Thất Trình (1974), kali làm tăng số buồng, số hoa, tỉ lệ thụ tinh, tổng
số trái và trọng lượng trái và như vậy làm tăng số khô dầu (copra) Ảnh hưởng của
Trang 22cả Nhu cầu về kali của dừa rất lớn Các dấu hiệu thiếu kali thường rất dễ nhận diện bằng mắt thường, các lá dưới hết chết khô nhưng không rụng, vẫn còn treo ở thân Các
lá giữa thì vàng hơn các lá ngọn Trên một tàu lá thì đuôi lá chét vàng dần lên gần sóng Khi thiếu quá nhiều kali thì cây mảnh khảnh, yếu đuối, thân nhỏ, tàn lá chứa ít
lá Bẹ lá ngắn và các lá kép cũng ngắn, lá để lược rất nhiều ánh sáng xuống đất
1.3.2.3 Chất Lân
Lân giúp cho bộ rễ phát triển nhiều, dừa có gốc to, nhiều lá nhất là ở cây con Thường thì ít thấy dấu hiệu thiếu lân ở vườn dừa Thiếu lân cây chậm phát triển, lâu cho trái và trái lâu chín Cây dừa dư lân trái có ít cơm và chất lượng khô dầu rất kém
(Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Lân có tác dụng làm tăng vòng cổ thân, tăng số lá và vận tốc lá ở cây con Khi thiếu lân cây con chậm phát triển rễ, ra hoa muộn, trái chín chậm Khi bón nhiều lân sẽ tạo ra những trái dừa không có cơm hoặc hàm lượng cơm dầu khô kém Các dấu hiệu thiếu lân ít xảy ra ở các vườn dừa chỉ có các cây dừa còn nhỏ (chưa đầy 10 năm tuổi) mới phản ứng với phân lân mà thôi (Tôn Thất Trình, 1974)
1.3.2.4 Chất Can-xi
Chất Can-xi giúp cây ổn định tế bào, giãn nở tế bào và cân bằng cation – anion trong cây Thiếu can-xi lá phụ có chóp bị vàng, sau đó trở nâu rồi cháy khô, thông thường tàu lá non bị thiệt hại trước Cây dừa thiếu can-xi dễ bị ngộ độc kim loại nặng
Tuy nhiên, triệu chứng thiếu can-xi rất hiếm thấy (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Can-xi làm tăng sự cung cấp lân dễ tiêu và làm tăng sự hấp phụ dưỡng chất Khi thiếu can-xi ngọn lá chét trở nên vàng, vàng cam tạo thành vết hình chiếc nhẫn, những vết này trở nên nâu đưa đến tình trạng lá bị khô (Trung tâm nghiên cứu dầu và cây có dầu, 1986)
1.3.2.5 Chất ma-nhê
Ma-nhê là thành phần của diệp lục tố, hoạt hóa enzyme và tổng hợp protein, giúp cây hấp thụ và vận chuyển lân tốt hơn Thiếu ma-nhê lá phụ có màu vàng lan dần
về phía sóng của tàu dừa, xuất hiện trước tiên ở tàu lá già Những tàu ngoài ánh nắng
thiệt hại nặng hơn lá trong rập (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Trang 23Bón ma-nhê cho các cây dừa con thì rất tốt và tăng thêm số buồng, số hoa cái ở buồng và tổng số trái Bón ma-nhê cho các cây con còn ở vườn ươm thì càng tốt hơn
và ma-nhê lại liên kết tốt với kali và lân ở trường hợp này (Tôn Thất Trình, 1974)
1.3.2.6 Các nguyên tố vi lượng
Trong các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Zn, Mn, Cl, B và Mo thì Cl là quan trọng nhất Dừa cần Cl với lượng lớn, nồng độ Cl- trong lá dừa rất cao từ 0,5 – 0,8%, dưới 0,5% là dừa bị thiếu Cl- (Tôn Thất Trình, 1974) Như vậy, Cl là một dưỡng chất
đa lượng chứ không phải vi lượng vì dừa cần Cl tương đương với dưỡng chất N, K, Ca
và cao hơn Mg, P, S Triệu chứng thiếu Cl dễ bị nhầm lẫn với thiếu K, chóp lá và bìa
lá của tàu lá già cũng bị cháy khô, cần thận trọng khi chuẩn đoán qua triệu chứng
Thiếu Cl, trái dừa nhỏ nhưng tổng số trái không giảm (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
1.3.3 Yếu tố môi trường
1.3.3.1 Ánh sáng
Dừa là cây ưu thích ánh sáng, khi trồng trong mát cây con chậm lớn và ra trái muộn Ở gần biển các thân dừa luôn luôn mọc nghiêng về phía biển để có nhiều ánh nắng hơn là về phía đất liền, như vậy lượng chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tán lá, nếu bị rợp mát quá thì dừa có hiện tượng bị “lép” một bên, làm tán nhỏ, cho buồng ít (Tôn Thất Trình, 1974) Thời gian chiếu sáng cần thiết cho dừa sinh trưởng là 2.000 giờ/năm hay 120 giờ/tháng (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008) Dưới mức chiếu sáng tối thiểu lượng dừa sẽ bị ảnh hưởng Nghiên cứu về các thành phần cấu tạo năng suất ở các tháng khác nhau trong năm, nhận thấy số lượng hoa cái, đậu trái và khối lượng cơm dừa khô trên trái đạt mức cao trùng vào thời kỳ tháng 3 đến tháng 8, những tháng có số giờ chiếu sáng nhiều nhất trong năm
Ngoài ra, ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây quang hợp Quang hợp là sự chuyển hóa năng lượng bằng con đường truyền năng lượng của lượng tử ánh sáng được sắc tố hấp thu và tiêu hao dần trong quá trình hình thành các liên kết hóa học Ý nghĩa của quang hợp là quá trình sử dụng năng lượng của lượng tử ánh sáng để khử
CO2 thành glucid, tích lũy hợp chất hữu cơ cho cây trồng (Banzon và Velasco, 2000)
Trang 241.3.3.2 Lượng mưa và nhu cầu nước
Lượng mưa phân phối đều trong năm thì dừa phát triển tốt, vũ lượng hằng năm thích hợp từ 1.300 đến 2.300 mm Lượng mưa là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu nước của cây dừa Để đảm bảo cho lá quang hợp cây cần có sự tiếp xúc của bề mặt lá đến không khí bên ngoài Quá trình biến dưỡng và trao đổi chất cây trồng cần hút nước từ đất Sự hút nước của cây tùy thuộc vào khả năng hoạt động của bộ rễ và thành phần sa cấu của đất Trong các yếu tố môi trường thì nước có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây và năng suất trên một đơn vị diện tích (Tôn Thất Trình, 1974)
Theo Hoàng Văn Đức và Việt Chy (1983) thì sau khi thụ phấn trong thời kỳ sinh trưởng đầu, nếu không được cung cấp đủ nước, một số quả có thể bị thui hoặc rụng Kết quả nghiên cứu của Dương Thành Nguyên (1989) cũng cho thấy nồng độ mặn 14,7o/oo cũng làm ảnh hưởng đến khả năng đậu trái dừa Theo Nguyễn Bảo Vệ và
ctv (2005) thì ẩm độ thích hợp cho dừa là 80 – 90%, nếu thấp hơn 60% thì làm cho
dừa bị rụng trái non Mưa nhiều cũng không tốt cho dừa vì sự trực di dưỡng liệu cao
và có thể làm úng vườn dừa
1.3.3.3 Nhiệt độ và ẩm độ
Dừa dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ thấp, do đó đa số giống dừa được phân bố ở vùng nhiệt đới, phát triển tốt ở vùng có khí hậu ẩm, vùng có không khí quá khô hạn, lượng bốc thoát hơi nước cao sẽ làm cây sinh trưởng phát triển kém Nhiệt độ trung bình tối hảo là 27oC – 29oC Nhiệt độ tối thiểu 20oC – 21oC Mức biến thiên nhiệt độ trong ngày không quá 7oC Nhưng nhiệt độ tối thiểu hàng ngày nhỏ hơn 15oC sẽ làm thay đổi sinh lý và phát triển cây dừa (Tôn Thất Trình, 1974)
Độ ẩm thích hợp (70 – 90%) để có thể phát triển một cách tối ưu nhất, điều này
lý giải tại sao nó rất ít khi được tìm thấy trong các khu vực có độ ẩm thấp, thậm chí cả khi các khu vực này có nhiệt độ đủ cao Cây dừa thích hợp với khí hậu nóng và ẩm,
ẩm độ trong khoảng 80 – 90%
Trang 251.4 MỘT SỐ THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT DỪA
1.4.1 Sự thụ phấn
Theo Tôn Thất Trình (1974) thì mỗi buồng dừa tốt có khoảng 50 hoa cái có thể thụ phấn như vậy tỉ lệ thụ phấn tùy thuộc một phần vào tổng số hoa cái mang trên buồng Ông đưa ra ba yếu tố chính ảnh hưởng đến sự thụ phấn là di truyền, tuổi cây và dinh dưỡng, còn Hoàng Văn Đức và Việt Chy (1983) thì cho rằng tỉ lệ này cao trong mùa khô tuy nhiên biến động không nhiều giữa các tháng
Theo Sholdt (1966 trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005) cho là nguồn
gốc phấn hoa không ảnh hưởng đến tỉ lệ đậu trái hay năng suất dừa nghĩa là phấn hoa
có thể đến từ trên cùng một phát hoa hay từ một phát hoa khác của cùng một cây hoặc của cây khác Hoa cái thụ phấn khi nướm tách ra làm ba, tiết nhờn và mật hoa Khi hoa cái trở màu nâu và hết tiết mật hoa là không còn thụ phấn nữa Thụ phấn có hiệu quả nhất là ngày đầu tiên nướm nhụy cái nở và chỉ có một hạt phấn đủ để thụ phấn cho một noãn Trung bình một phát hoa có khoảng 272 triệu hạt phấn hoa
1.4.2 Số buồng/cây/năm
Kết quả thí nghiệm của Nguyễn Hữu Hoàng (1983) trên hai giống Ta Xanh và
Ta Vàng cho thấy: ở Ta Xanh thời gian trung bình giữa hai mo mở là 24,1 ngày và ở
Ta Vàng là 24,9 ngày Như vậy cứ khoảng một tháng sẽ cho 1 buồng và 12 buồng/năm trừ trường hợp mo thui thì sẽ có sự vắng mặt của một số mo trên cây
Theo Hoàng Văn Đức và Việt Chy (1983) số buồng trong năm tùy thuộc vào số
lá mọc trong năm và phụ thuộc vào mức cung cấp nước trong giai đoạn lá vươn dài Đối với một số giống dừa thì số buồng thu hoạch trong một năm không biến động nhiều và do yếu tố di truyền quyết định Một số nguyên nhân làm giảm số buồng/cây/năm đã được Tôn Thất Trình (1974) đưa ra cùng với các biện pháp khắc phục (Bảng 1.1)
Trang 26Bảng 1.1 Một số nguyên nhân làm giảm năng suất dừa và biện pháp khắc phục
(Tôn Thất Trình, 1974)
1.4.3 Số hoa cái/buồng
Khảo sát số hoa cái trên buồng giữa hai giống Ta Xanh và Ta Vàng của Nguyễn Hữu Hoàng (1983) cho thấy:
- Ta Xanh: số hoa cái tăng từ tháng 11 đến tháng 4 là từ 16,3 đến 27,3 hoa cái
- Ta Vàng: số hoa cái biến động không đều theo các tháng từ 17,7 hoa cái (tháng 11) đến 24,2 hoa cái (tháng 3)
Điều đó chứng tỏ rằng 6 tháng trước khi trổ buồng rơi vào mùa mưa và cũng là thời gian hình thành bầu noãn hoa cái nên từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoa cái gia tăng từ tháng 11 đến tháng 5 Theo Tôn Thất Trình (1974) thì số hoa cái còn phụ thuộc vào đặc tính di truyền và điều kiện môi trường Còn theo Hoàng Văn Đức và Việt Chy (1983) thì số hoa cái/buồng phụ thuộc vào ba yếu tố là thời gian chiếu sáng, nhiệt độ
và mức thiếu nước
1.4.4 Hiện tượng rụng trái non và biện pháp khắc phục
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005) thì không phải tất cả hoa cái đều đậu thành
trái, chỉ những hoa cái có thụ phấn mới cho trái Việc rụng trái non vẫn tiếp tục xảy ra như những loại cây trồng khác và xảy ra nhiều nhất trong 6 tuần sau khi thụ phấn, có cây rụng trên 50% số hoa cái trên buồng Theo Ancado (1974, trích dẫn bởi Lê Ngọc Thạch, 1984) thì hiện tượng rụng trái non ở dừa cao nhất là 6 tuần tuổi sau khi thụ phấn và xảy ra trong suốt mùa ẩm ướt Kết quả thí nghiệm của Huỳnh Hoàng Sơn
Thiếu dưỡng liệu
Trang 27(1989) cho thấy vào mùa khô tỉ lệ đậu trái cao hơn mùa mưa, đồng thời sâu bệnh phát
triển mạnh làm số trái non rụng tăng lên Theo Phạm Văn Bé (1985) thì ở các buồng
dừa trên 6 tháng tuổi, số trái này rụng ít trừ trường hợp bị chuột, dơi cắn phá
Để khắc phục hiện tượng rụng trái non Nguyễn Hoàng Thái (1983) đã sử dụng
2,4 – D và GA3 và kết quả được ghi nhận là khi dùng 2,4 – D ở nồng độ 80 ppm cho
một tỉ lệ hạn chế rụng trái non cao nhất (67%), tiếp đến là các nồng độ 60 ppm, 300 ppm, 400 ppm, riêng ở GA3 thì dùng ở nồng độ 300 ppm, 400 ppm Thời điểm xử lý
tốt nhất là 2 tuần sau khi hoa cái thụ phấn Sử dụng 2,4 – D làm giảm hẳn tỉ lệ rụng trái
non ở các tháng tiếp theo Kết quả này cũng phù hợp với nhận định của Nguyễn Hữu
Hoàng (1983), trong đó thì 2,4 – D có hiệu quả cao hơn GA3 Theo Nguyễn Hoàng
Thái (1983) thì việc bón thêm KCl cũng có tác dụng hạn chế rụng trái non nhưng hiệu
quả chỉ thấy được sau khi bón trên 5 tháng
1.6 KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY DỪA
1.6.1 Mùa vụ trồng
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005) ở vùng đất cao, trồng dừa vào khoảng
tháng 5 hay tháng 6 dương lịch để tận dụng nước mưa và khoảng tháng 11 – 12 dương
lịch để tránh ngập úng cho dừa mới trồng Dừa thường được trồng vào vụ xuân tháng 2
– 3, vụ thu tháng 8 – 10 ở miền Bắc, còn ở miền Nam thường trồng vào đầu mùa mưa
khoảng tháng 4 – 5 (Trần Thế Tục, 2000)
1.6.2 Sửa soạn đất
Đối với những vùng đất thấp (đất phù sa, mặn, phèn) chịu ảnh hưởng bởi thủy
triều cần phải lên liếp để tránh ngập úng, còn vùng đất cao, đất cát không cần lên liếp
Trên những vùng đất này trước khi trồng một tháng cần cày sâu 30 – 40 cm, làm sạch
cỏ, rễ cây,…(Trung tâm nghiêng cứu dầu và cây có dầu, 1986)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005) đất trồng dừa có thể lên liếp đôi hoặc đơn,
liếp đơn có bề ngang khoảng 4 – 5 m trồng một hàng ở giữa, liếp đôi bề ngang khoảng
9 – 10 m trồng hai hàng hai bên bờ liếp
Trang 281.6.3 Khoảng cách trồng
Khoảng cách trồng thay đổi theo giống, độ màu mỡ của đất và vườn có trồng xen hay không Khoảng cách trồng trung bình ở Việt Nam là 5 m x 5 m (Tôn Thất Trình, 1974) Ở ĐBSCL nông dân có khuynh hướng trồng dày, cây cạnh tranh ánh sáng vươn cao, năng suất thấp Đối với giống dừa cao nên trồng khoảng cách từ 7,5 – 8 m và dừa lùn từ 6,5 – 7 m, trồng theo hình tam giác có số cây/ha nhiều hơn trồng theo hình vuông và trồng thưa hơn có thể trồng xen những loại cây trồng khác
cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
1.6.4 Chăm sóc
* Quản lý nước
Đối với cây con, ngay sau khi đặt cây con phải tưới nước cho đẫm, sao đó nếu không có mưa thì tưới nước 2 – 3 ngày/lần Khi cây trưởng thành cũng phải tiếp tục tưới nước trong mùa nắng để dừa cho năng suất cao Nếu đất cát số lần tưới nước có thể tăng thêm khi trời quá nắng thì tưới nước mỗi tuần một lần Ở những nơi thiếu
nước có thể dùng phương pháp tưới nhỏ giọt (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
* Quản lý cỏ dại
Khi cây còn nhỏ cần làm cỏ xung quanh mô hay hố, không để cỏ cạnh tranh dinh dưỡng, nước và ánh sáng làm cây chậm lớn, nhất là trong mùa mưa Khi cây lớn nên để cỏ trong vườn với mật độ vừa phải để che phủ đất, hạn chế rửa trôi, lèn mặt,
tăng thêm chất hữu cơ để giúp đất được thông thoáng (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Khi làm cỏ làm trong vùng bán kính 1 – 2 m quanh gốc, tùy theo tuổi cây Có thể trồng cây họ đậu che phủ giữa hàng dừa để hạn chế cỏ dại, điều hòa ẩm độ và nhiệt độ, giảm xói mòn (Trung tâm nghiên cứu dầu và cây có dầu, 1986)
* Bón phân
Cách bón phân thường áp dụng cho dừa là bón một vòng quanh gốc dừa Ở cây dừa còn nhỏ thì bón ở phần gốc nơi lá chiếu thẳng xuống đất Ở cây dừa lớn bón cách gốc khoảng 1,5 – 2 m, bề sâu chôn phân là 15 – 20 cm Có thể bón theo những hàng dọc giữa các hàng dừa Nên bón thêm phân chuồng, phân mục cho dừa với lượng 1,5
Trang 29tấn/ha như khuyến cáo của Tôn Thất Trình (1974); Hoàng Văn Đức và Việt Chy (1983)
Dừa cần nhiều kali hơn đạm, nên lượng phân kali bón cho dừa gần gấp hai lần phân đạm Liều lượng phân bón cho cây dừa thay đổi tùy theo đất, thời tiết, giống và giai đoạn sinh trưởng của dừa Liều lượng phân bón dùng để tham khảo được trình bày
trong Bảng 1.1 (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Bảng 1.2 Phân hóa học N, P2O5, K2O (g/cây/năm) bón cho cây dừa thay đổi theo độ tuổi
cây (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005)
Loại phân Tuổi
Trang 30Bảng 1.3 Lượng phân bón (kg/cây/năm) sử dụng cho dừa đang cho trái ở vùng đất khác nhau tại Việt Nam (Trung tâm nghiên cứu dầu và cây có dầu, 1986)
Loại phân bón Vùng đất
Kali chlorua (KCl)
Bọ dừa còn được gọi là bọ cánh cứng (Brontispa longissima Gestro) Vòng đời
bọ cánh cứng từ 130 – 135 ngày Trải qua bốn giai đoạn phát triển: trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng Thành trùng và ấu trùng của nó tấn công bề mặt của lá chét chưa
mở Chúng ăn lớp biểu bì làm lá bị héo khô, mất khả năng quang hợp Tùy thuộc vào mức độ gây hại mà hoa cái bị rụng, không đậu trái hoặc đậu rất ít, năng suất giảm Cây dừa bị bọ cánh cứng tấn công dễ dàng nhận biết bởi các lá ngọn bị cháy khô, lá chét cong queo Để phòng trừ bọ cánh cứng, về biện pháp sinh học dùng Ong ký sinh
(Asecodes hispiranum): loài Ong này có kích thước nhỏ bằng con kiến, có màu đen,
hút mật hoa và khi đẻ trứng nó cố gắng đẻ vào bên trong cơ thể nhộng của bọ cánh cứng và cuối cùng tiêu diệt nhộng Về biện pháp hóa học đối với cây con thì nhúng cây con vào dung dịch Ambush và khuấy đều dung dịch phun lên lá trước khi đem ra trồng, đối với cây trưởng thành dùng Vicarb 95 BHN dưới dạng bột đựng trong bao giấy xốp đặt lên ngọn dừa, thuốc sẽ xông hơi lưu dẫn lên đọt dừa trong nhiều tuần đạt
kết quả cao và hạn chế ô nhiễm môi trường (Phạm Thị Lan và ctv., 2005)
1.6.2 Kiến Vương
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004) thì các loại côn trùng thường
tấn công lên cây và trái dừa là: Kiến Vương một sừng (Oryctes rhinoceros Linnaeus),
Trang 31kiến Vương hai sừng ( Xylotrupes gideon Linnaeus), chúng tấn công mọi giai đoạn gây
mất sức giảm khả năng mang trái Đối với cây dừa nhỏ (dưới 1 năm tuổi) kiến vương luôn tấn công vào gốc của cây non thân còn đủ mềm Trong một vài trường hợp, kiến vương cũng chui qua đất để khoét vào thân cây Trong trường hợp này có thể phòng bằng cách rải thuốc trừ sâu trộn vào lớp đất mặt Đối với cây dừa trưởng thành kiến vương tấn công vào lá ngọn và đỉnh tăng trưởng của cây dừa vì vậy, khi lá mọc ra lá chét bị cắt có hình răng lược Nên khi liên tục bị tấn công cây sẽ mất sức phát triển do
bộ lá bị hư hại, nhưng cái nguy hiểm nhất chính là đuông và nấm sẽ xâm nhập vào qua
chổ vết thương do kiến vương gây ra (Phạm Thị Lan và ctv., 2005)
thể cứu được (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004; Phạm Thị Lan và ctv., 2005)
Có thể tiêu diệt đuông bằng phương pháp đục lỗ, đổ Basudine trộn thuốc trừ sâu vào những lổ đã khoan Ngoài ra, để ngăn cản sự tấn công của đuông cần tránh những tổn thương trên thân dừa, tạo chổ đẻ trứng cho đuông Dùng bột than để sơn lên các vết
thương của cây con (Phạm Thị Lan và ctv., 2005)
1.6.4 Chuột đồng
Chuột là một trong những loài động vật gây hại nhiều nhất cho dừa, làm giảm năng suất trái, đặc biệt có thể làm chết cây con ở giai đoạn vườn ươm Chuột đục thủng một lổ tròn gần cuống trái để uống nước và ăn cơm dừa, làm rụng trái vài ngày sau đó Dừa bị tấn công nhiều nhất là ở các trái từ 5 đến 11 tháng tuổi (Nguyễn Văn
Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004; Phạm Thị Lan và ctv., 2005) Thiệt hại năng suất dừa có
thể đạt đến 50% (Tôn Thất Trình, 1974) Để phòng diệt chuột cần vệ sinh vườn và tán dừa để phá nơi trú ẩn của chuột Đặt vòng thiết quanh thân dừa ở độ cao 2 m đối với
Trang 32kẽm, theo tỉ lệ 19 phần mồi 1 phần thuốc Làm thành bã hay bánh 200 g đặt ở gốc dừa Hoặc có thể dùng phương pháp bẫy chuột bằng ống tre, bẫy lồng
1.7 Giống Dừa Ta Xanh
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005) thì giống dừa Ta Xanh thuộc nhóm dừa cao
và mang một số đặc điểm chung của nhóm dừa cao như sau:
- Tốc độ sinh trưởng chậm và cho trái muộn (sau khi trồng 6 – 10 năm)
- Thụ phấn chéo với tỉ lệ cao nên dễ bị lai
- Có khả năng chống chiụ tốt với điều kiện khắc nghiệt như khô hạn hay ngập úng
- Có thể sống lâu từ 80 – 120 năm tuổi
- Được trồng chủ yếu để lấy khô dầu, có chứa lượng dầu cao với chất lượng tốt Dừa Ta Xanh cây cao, mọc khỏe, trái to gần như tròn, có ba khía rõ rệt Cơm dừa dày trên 1 cm Trồng khoảng 5 năm thì có trái Vỏ có màu xanh, mỗi buồng có khoảng
6 – 8 trái (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2005) Theo Tôn Thất Trình (1974) thì cơm dừa Ta
Xanh có thể dày đến 2 cm Dừa Ta Xanh dùng để lấy cơm hay hái trái non để uống nước
Trang 33CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 10/2009 đến tháng 10/2010
2.1.2 Địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm bộ môn Khoa Học Cây Trồng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng trường Đại Học Cần Thơ và vườn Dừa Ta Xanh tại hai huyện Trần Văn Thời và huyện Cái Nước thuộc tỉnh Cà Mau
Hình 2.1 – Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau
Trang 342.1.3 Vật liệu thí nghiệm
- Vườn dừa ở hai vùng sinh thái ngọt hóa và vùng bị ảnh hưởng mặn
- Giống dừa: Dừa Ta Xanh
- Tuổi cây: Cây trưởng thành từ 10 tuổi cho năng suất ổn định
- Dụng cụ gồm: Cân trọng lượng; cân điện tử chính xác đến 2 số lẻ (hiệu
STATORIUS) do Ý sản xuất; máy khúc xạ kế (hiệu ATAGO) do Nhật sản xuất đo độ Brix nước dừa; máy đo pH (hiệu WTW PH522 do Đức sản xuất); máy đo độ mặn (EC) (hiệu ORION, do Mỹ sản xuất) Bộ dụng cụ phân tích đạm: bình Kjeldal; Tủ sấy; Bếp điện vô cơ hóa mẫu và số dụng cụ cần thiết khác
- Hóa chất gồm: hỗn hợp acid sunfuric, H2O2, NaOH 12,5 mol/lit, H2SO4 chuẩn 0,1 N, thuốc thử (bromoresol green + methyred), H3BO3
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, có 5 nghiệm thức với 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một cây Thí nghiệm được thực hiện ở hai điểm tương ứng ở hai vùng sinh thái ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời
Tổng cộng có 25 cây/ thí nghiệm x 2 điểm = 50 cây Thí nghiệm được thực hiện
và theo dõi trong 1 năm Công thức phân dựa trên công thức nền khuyến cáo cho dừa ở vùng đất hơi bị nhiễm phèn cho cây bắt đầu cho trái theo công thức 0,8kg ure – 2,0kg Super lân – 0,6 kg KCl (Diệp Thị Mỹ Hạnh và ctv., 1997) Có 2 mức đạm và kali được thay đổi trong công thức này là:
1) Nghiệm thức 1: (Đối chứng) Không bón phân
2) Nghiệm thức 2: 0,8 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,6 kg KCl
3) Nghiệm thức 3: 0,8 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,9 kg KCl
4) Nghiệm thức 4: 1,2 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,6 kg KCl
5) Nghiệm thức 5: 1,2 kg ure – 2,0 kg Super lân – 0,9 kg KCl
Trang 35Công thức trên có thể được quy đổi như sau:
1) Nghiệm thức 1 : ( Đối chứng) Không bón phân
2) Nghiệm thức 2: 0,37 N – 0,32 P2O5 – 0,36 K2O
3) Nghiệm thức 3: 0,37 N – 0,32 P2O5 – 0,54 K2O
4) Nghiệm thức 4: 0,55 N – 0,32 P2O5 – 0,36 K2O
+ Cách bón: Bón làm 2 lần vào đầu mùa mưa (5/2009) và cuối mùa mưa (10/2010)
2.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu
* Khảo sát đất và nước
+ Mẫu nước
- Độ mặn của nước trong mương vườn và ngoài sông: Phân tích độ mặn của nước trong mương vườn dừa và nước ngoài sông rạch vào mùa nắng (tháng 12) và mùa mưa (tháng 6) Mỗi vùng khảo sát thu 3 mẫu nước ở các vị trí khác nhau trong vườn dừa và 3 mẫu nước sông rạch (cách vườn 500 m): 6 mẫu nước/lần/6 tháng x 2 vùng x 12 tháng = 24 mẫu nước Mẫu nước được thu, mang về phòng thí nghiệm đo độ dẫn điện EC và được quy đổi: độ mặn = EC x 0,64 (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)
- pH :Dùng máy đo pH (hiệu WTW PH522) để đo chỉ tiêu pH của nước mương vườn và ngoài sông
+ Mẫu đất
Phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất tại mỗi vùng sinh thái: Lấy mẫu đất
2 lần vào trước khi bón phân và 6 tháng sau khi bón phân, tiến hành phân tích một số chỉ tiêu cơ bản trong đất trồng dừa tại 2 vùng sinh thái ở độ sâu 10 - 30 cm Lấy mẫu theo quy tắt hình tam giác, mỗi mẫu có khối lượng ít nhất 500 g Sau đó hong khô đất
và thực hiện các thao tác lấy mẫu sau cho mẫu có khối lượng ít hơn 100 gam, đất hong khô nghiền mịn qua rây có đường kính 0,2 mm để đem đi phân tích một số chỉ tiêu nêu
trên (Đoàn Văn Cung và ctv., 1998)
Phân tích các chỉ tiêu: Ẩm độ đất; pH đất; EC (mS/cm); N tổng số (%); K2O tổng số (%); CaO (%); MgO (%)
Trang 36* Chỉ tiêu nông học:
Gồm có các chỉ tiêu sau:
- Chiều cao cây: được đo từ mặt đất tới bẹ đầu tiên; đo làm 2 lần đầu và cuối mùa vụ
- Kích thước tàu lá trước khi bón phân: dài lá, rộng lá, kích thước bẹ; đo 1 lần vào đầu mùa vụ, đo ở lá thứ 14
- Tổng lá chét: dài chét, rộng chét; đo 1 lần vào đầu vụ, đo ở giữa lá
- Kích thước mo: dài mo, rộng mo; đo 1 lần vào đầu vụ
* Chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất
Gồm có các chỉ tiêu sau:
- Tổng số lá xuất hiện/cây/năm: đếm 1 lần toàn bộ số lá đã nở hoàn toàn trên cây trong
1 năm
- Tốc độ ra lá: thời gian xuất hiện 1 lá
- Tổng số mo/cây/năm: đếm 1 lần toàn bộ số mo xuất hiện trên cây trong 1 năm
- Tốc độ ra mo: thời gian xuất hiện 1 mo
- Tổng số buồng/cây/năm: đếm 1 lần toàn bộ số buồng xuất hiện trên cây trong 1 năm
- Số trái/buồng: đếm số trái đậu trên mỗi buồng
- Tổng số trái/năm: đếm toàn bộ số trái đậu trên 1cây trong 1 năm
- Tổng số hoa cái/buồng/cây: đếm tổng số hoa cái trên buồng khi mo nở
- Tỉ lệ đậu trái: đếm số trái còn lại trên buồng thụ được sau 6 tháng, sau đó quy về phần trăm tỉ lệ đậu trái tương ứng với số hoa cái ban đầu là 100%
- Phân tích thành phần năng suất trái dừa:
+ Chiều dài trái: đo từ cuống trái đến chóp trái (đo bằng thước dây)
+ Đường kính trái: đo bằng thước dây ở giữa trái nơi to nhất
+ Cân trọng lượng trái (g/trái), cân bằng cân đồng hồ 2kg
+ Cân trọng lượng nước dừa (g/trái)
+ Độ dày vỏ dừa (cm): đo bằng thước kẹp
+ Độ dày gáo dừa (cm): đo bằng thước kẹp
+ Đường kính gáo dừa (cm): đo bằng thước dây
+ Đo độ Brix nước dừa: đo bằng máy khúc xạ kế (hiệu ATAGO)
Trang 37- Lấy mẫu Lá: Mẫu được lấy 2 lần vào trước khi bón phân và 6 tháng sau khi bón phân lần 1, ở lá thứ 14 kể từ bên trong ngọn đếm ra, lấy 5 lá phụ/cây x 25 cây/vườn x 2 vườn x 2 lần = 500 lá, cắt lấy lá phụ trên lá thứ 14 vì lá thứ 14 phản ảnh đại diện hàm lượng dinh dưỡng trong cây (Tôn Thất Trình, 1974), sau đó sấy mẫu ở trạng thái khô không khí ở nhiệt độ 50 – 600C Sau đó tiến hành phân tích hàm lượng dinh dưỡng N,
K trên lá thứ 14 tại mỗi vùng sinh thái có vườn dừa được khảo sát nhằm đánh giá dinh dưỡng cây trồng
2.2.3 Quy trình canh tác dừa
Gồm các thao tác sau:
- Quản lý cỏ dại: vệ sinh, dọn dẹp vườn sạch sẽ, làm cỏ 2 lần/năm vào tháng 10/2009 và 6/2010 để loại bỏ nơi trú ẩn, đẻ trứng của côn trùng gây hại
- Quản lý nước: không tưới nước vào mùa khô và ngăn mặn vào mùa mưa
- Bón phân: bón phân vào các lỗ được đào xung quanh gốc dừa Bón làm 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa Lượng phân bón theo công thức thí nghiệm
- Phòng trừ sâu bệnh: Đối với đuông tiến hành rải thuốc hạt Basudine 10H lên đọt dừa, bẹ lá và điểm bị tấn công Đối với chuột thì dùng bẩy, thuốc diệt chuột phospho kẽm Ngoài ra, tiến hành vệ sinh cây trung bình 2 tháng/lần không cho kiến
vương và chuột cắn phá
2.2.4 Điều kiện khí tượng thủy văn tỉnh Cà Mau
Qua Hình 2.1 cho thấy:
- Điều kiện khí tượng thủy văn tỉnh Cà Mau chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
- Lượng mưa tổng cộng cho cả năm là 1.998,3 mm
- Nhiệt độ không khí trung bình hàng tháng cho cả năm thấp nhất là 26,5oC (tháng 1) và cao nhất là 31,2oC (tháng 5)
- Ẩm độ tương đối không khí trung bình hàng tháng cho cả năm thấp nhất là 74% (tháng 3) và cao nhất là 87% (tháng 10)
Trang 38Hình 2.2 Biểu đồ lượng mưa trung bình và nhiệt độ - ẩm độ trung bình (TB)/tháng tại
Đài khí tượng thủy văn tỉnh Cà Mau từ tháng 01/2010 đến 12/2010 (Đài khí tượng thủy văn Cà Mau): a) Lượng mưa; b) Nhiệt độ - Ẩm độ
Nhìn chung, các điều kiện về khí hậu như: Nhiệt độ, ẩm độ không khí đều thuận lợi cho sinh trưởng cây dừa, riêng vũ lượng thì phân phối không đều trong năm Trong mùa khô (tháng 12 đến tháng 4) thì lượng mưa rất thấp, đặc biệt là từ tháng 1 đến tháng 3 không có mưa, ngược lại vào những tháng mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) lượng mưa lại rất lớn, hầu như 98% lượng mưa đều tập trung vào thời điểm này Vì sự phân phối không đều đó mà lượng mưa trở thành một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây dừa ở Cà Mau
Trang 392.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Các số liệu được được nhập vào máy tính bằng phần mềm Mirosoft Excel, sau
đó thống kê bằng phần mềm SPSS Phân tích phương sai (ANOVA) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức Các giá trị trung bình được so sánh bằng phép thử Duncan ở mức ý nghĩa 5%
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Khảo sát điều kiện tự nhiên ở hai vùng sinh thái vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước và vùng ngọt hóa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cho thấy mùa khô kéo dài hơn những năm trước, theo nhận định của nông dân nơi đây thì mùa mưa đến trễ, hầu như không có mưa trong mùa khô, làm cây thiếu nước trầm trọng Riêng vùng ảnh hưởng mặn huyện Cái Nước vì nắng nóng kéo dài, cây lại không được tưới nước trong mùa khô nên kéo dài thời gian nhiễm mặn cho cây, càng làm cây chậm phát triển hơn Mặt khác, cả hai vườn dừa đều chịu thiệt hại do bọ cánh cứng tấn công và chuột cắn phá vào mùa khô, làm trái rụng nhiều Mặc dù đã phòng trị nhưng thiệt hại khoảng 20% Từ đó làm ảnh hưởng đến năng suất chung cả vườn dừa trong thời gian khảo sát
3.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (2005), dừa có thể trồng trên nhiều loại đất khác
nhau, từ đất cát nghèo dinh dưỡng, tuy nhiên đất phù hợp là đất thịt pha cát và thoát nước tốt, cây dừa chịu được pH đất từ 5,2 đến 8,0 nhưng thích hợp nhất từ 6,0 – 7,0; dừa cũng cho năng suất cao trên nhiều loại đất khác nhau trừ đất phèn nặng và đất nhiễm mặn Như vậy, kết quả Bảng 3.1 cho biết giá trị pH đất vùng 1 dao động trong khoảng từ 6,34 (mùa mưa) - 6,92 (mùa khô) phù hợp cho cây dừa sinh trưởng và phát triển Trong khi đó pH đất ở vùng 2 hơi chua, mùa khô pH = 4,48 và pH = 5,10 vào mùa mưa Như vậy, kết quả trên cho thấy pH đất vùng 2 có thể không phù hợp cho cây dừa sinh trưởng và phát triển Đây có thể cũng là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng năng suất vườn dừa
Bảng 3.1 cũng cho biết giá trị EC của đất vùng 1 khá cao 4,03 mS/cm (mùa khô)
và 3,67 mS/cm (mùa mưa) Ngược lại, vùng 2 có EC đất rất thấp dao động từ 0,49 (mùa mưa) - 0,51 (mùa khô) và EC của đất mùa khô luôn cao hơn mùa mưa Như vậy, với giá trị này có thể không làm ảnh nhiều đến sinh trưởng của dừa ở hai vùng Nguyên nhân biến động có thể do vào mùa khô mực nước thủy cấp bị hạ xuống, làm