1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của các DẠNG CALCIUM PHUN lá đến NĂNG SUẤT và PHẨM CHẤT TRÁI mận AN PHƯỚC(Syzygium samarangense) tại HUYỆN BÌNH tân, TỈNH VĨNH LONG

67 246 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ -oOo- NGUYỄN THỊ NGỌC MAI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DẠNG CALCIUM PHUN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI MẬN AN PHƯỚC Syzygium samarangense TẠI HUY

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-oOo-

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DẠNG CALCIUM PHUN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense) TẠI HUYỆN BÌNH

TÂN, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC

Cần Thơ, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-oOo-

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DẠNG CALCIUM PHUN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense) TẠI HUYỆN BÌNH

TÂN, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.Ts Nguyễn Bảo Vệ

Cần Thơ, 2012

Trang 3

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG – NÔNG NGHIỆP

Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DẠNG CALCIUM PHUN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ

PHẨM CHẤT TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense) TẠI HUYỆN

BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

Do sinh viên NGUYỄN THỊ NGỌC MAI thực hiện

Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày …… tháng ……năm 2012

Cán bộ hướng dẫn

PGs Ts NGUYỄN BẢO VỆ

Trang 4

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DẠNG CALCIUM PHUN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT TRÁI MẬN AN PHƯỚC (Syzygium samarangense) TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG Do sinh viên: NGUYỄN THỊ NGỌC MAI thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày .tháng năm 2012 Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………

Ý kiến hội đồng: ………

……… …

………

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Trường khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch Hội Đồng

Trang 5

Tôi xin cam đoan là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI

Trang 6

Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc Mai Giới tính: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 26/06/1990 Nơi sinh: Cần Thơ

Quê quán: Gia Tiến - Gia Viễn - Ninh Bình Dân tộc: Kinh

Con Ông: Nguyễn Văn Chú

Trang 7

Thầy cố vấn học tập Nguyễn Ngọc Du, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp

& Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho em những kiến thức quý báo trong suốt thời gian học tập tại trường

Chân thành biết ơn

Gia đình bạn Nguyễn Văn Minh Vương đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Trang 8

suất và phẩm chất trái mận An Phước (Syzygium samarangense) tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học, trường Đại Học Cần

Thơ

Giáo viên hướng dẫn: PGs Ts Nguyễn Bảo Vệ

TÓM LƯỢC

Đề tài “Ảnh hưởng của các dạng Calcium phun lá đến năng suất và phẩm chất

trái mận An Phước (Syzygium samarangense), tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long”,

được thực hiện nhằm mục tiêu xác định dạng calcium phun lá ở giai đoạn trước thu hoạch có hiệu quả làm tăng năng suất và phẩm chất trái mận An Phước

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2012, được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức: CaO, CaCl2, Ca(NO3)2, CaSO4

và nghiệm thức đối chứng phun nước, 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một cây, mỗi nghiệm thức có 10 chùm trái Thí nghiệm xử lý trước thu hoạch tại xã Tân

An Thạnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, sau đó thu mẫu về phân tích tại phòng thí nghiệm bộ môn Khoa học cây trồng, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Các chỉ tiêu được đánh giá 7 ngày 1 lần tại vườn mận: số trái trên chùm, đường kính trái, chiều cao trái và năng suất Các chỉ tiêu phân tích trong phòng thí nghiệm là Brix, pH, độ cứng, độ khác màu vỏ trái, hàm lượng nước và trọng lượng trái

Kết quả được ghi nhận như sau, khi xử lý các dạng calcium phun lá ở giai đoạn trước thu hoạch đều có tác dụng làm gia tăng năng suất, phẩm chất và sự tăng trưởng

về đường kính trái mận An Phước Trong đó, CaO và CaCl2 có hiệu quả hơn hẳn trong việc làm gia tăng đường kính và trọng lượng trái Bên cạnh đó CaO và CaCl2 còn có tác dụng hạn chế sự gia tăng độ Brix của trái Đặc biệt là CaCl2 có hiệu quả tốt nhất giúp tăng số trái/phát hoa và năng suất trái trên cây, CaO lại có hiệu quả tốt nhất giúp tăng độ cứng trái

Trang 9

Nội dung Trang

1.4 VAI TRÒ CỦA CALCIUM ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CHÍN CỦA

TRÁI

9

1.6 CÁC BIẾN ĐỔI LÝ HÓA XẢY RA TRONG QUÁ TRÌNH CHÍN

VÀ BẢO QUẢN TRÁI CÂY

13

Trang 10

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 24

3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA

3.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CALCIUM ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH

PHẦN NĂNG SUẤT CỦA TRÁI MẬN AN PHƯỚC

Trang 11

Bảng Tên bảng Trang

2.1 Thang đánh giá cảm quan của trái mận An Phước tại huyện Bình

Tân, tỉnh Vĩnh Long (Đào Hoa Huyền, 2010)

22

3.1 Chiều cao (cm) của trái mận An Phước từ tuần 1 đến tuần 6 sau khi

đậu trái ở những dạng calcium phun lá trước thu hoạch tại huyện

Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

27

3.2 Đường kính (cm) của trái mận An Phước từ tuần 1 đến tuần 6 sau

khi đậu trái ở những dạng calcium phun lá trước thu hoạch tại

huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

28

3.3 Chiều cao của trái mận An Phước ở những dạng calcium phun lá

trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

30

3.4 Độ pH của trái mận An Phước ở những dạng calcium phun lá trước

thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

35

3.5 Hàm lượng nước của trái mận An Phước ở những dạng calcium

phun lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm

2012

36

3.6 Độ khác màu vỏ trái của trái mận An Phước ở những dạng calcium

phun lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm

2012

37

Trang 12

Hình Tên hình Trang

2.1 Vườn mận An Phước 5 năm tuổi tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Long, năm 2012

18

3.1 Số trái/phát hoa của mận An Phước từ tuần 1 đến tuần 6 sau khi

đậu trái ở những dạng calcium phun lá trước thu hoạch tại huyện

Bình tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

25

3.2 Năng suất trái trên cây của trái mận An Phước ở những dạng

calcium phun lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Long, năm 2012

29

3.3 Đường kính của trái mận An Phước ở những dạng calcium phun

lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm

2012

31

3.4 Trọng lượng của trái mận An Phước ở những dạng calcium phun

lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm

2012

32

3.5 Độ Brix của trái mận An Phước ở những dạng calcium phun lá

trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

33

3.6 Độ cứng của trái mận An Phước ở những dạng calcium phun lá

trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

33

3.7 Tương quan giữa Brix và độ cứng của trái mận An Phước ở

những dạng calcium phun lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân,

tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

34

3.8 Đánh giá cảm quan của trái mận An Phước ở những dạng

calcium phun lá trước thu hoạch tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

long, năm 2012

38

Trang 13

MỞ ĐẦU

Mận An Phước (Syzygium samarangense) được trồng đầu tiên tại xã An

Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên có tên là mận An Phước (Viện Cây

Ăn Quả Miền Nam, 2009), là giống mận mới xuất hiện tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như: Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long,… Giống có đặc tính sai trái, cây sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh và có chất lượng trái ngon: đặc ruột, ngọt và không hạt

Mận An Phước có hàm lượng nước lớn và vỏ trái mỏng nên khi thu hoạch,

do quá trình vận chuyển dễ làm tổn thương vỏ trái, nấm bệnh tấn công và quá trình trao đổi chất bên trong trái xảy ra làm mất giá trị thương phẩm Calcium có vai trò

là thành phần xây dựng và làm vững chắc vách tế bào thực vật Calcium ở một lượng thích hợp có thể giúp duy trì sự vững chắc và làm giảm những rối loạn sinh lý

học (Conway et al., 1983; trích dẫn bởi Đặng Minh Khánh, 2010) Vì vậy, việc

phun calcium qua lá trước thu hoạch là một bước quan trọng trong quá trình cải thiện phẩm chất và năng suất của trái và làm giảm sự tấn công của nấm bệnh ở giai

đoạn sau thu hoạch (Conway et al., 1994)

Việc xử lý Calcium ở giai đoạn trước thu hoạch đã được nghiên cứu trên xoài cát Hòa Lộc (Lê Bảo Long, 2000), quýt Đường (Đặng Minh Khánh, 2010), Măng cụt (Nguyễn Thị Cẩm Tú, 2009), quýt Hồng (Nguyễn Văn Năm, 2011),… nhưng chưa được nghiên cứu trên mận An Phước Do đó, đề tài: “Ảnh hưởng của các dạng Calcium phun lá đến năng suất và phẩm chất trái mận An Phước

(Syzygium samarangense) tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” được tiến hành

nhằm mục tiêu xác định dạng calcium phun lá ở giai đoạn trước thu hoạch có hiệu quả làm tăng năng suất và phẩm chất trái mận An Phước

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ MẬN AN PHƯỚC

1.1.1 Nguồn gốc

Cây mận An Phước thuộc họ Sim Giống mận An Phước được công ty VACDONA nhập từ Thái Lan (tên Thái Lan là Thongsamsri) vào năm 1999 và được trồng đầu tiên tại An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Giống mận này được Cục sở hữu công nghiệp cấp chứng nhận thương hiệu năm 2003 Giống mận An Phước được ghép từ mắt của giống Thongsamsri Thái Lan trên gốc mận Xanh Đường hoặc mận Hồng Đào Đá Việt Nam

1.1.2 Giá trị dinh dưỡng của mận

Theo Trần Thị Mai (2001), mận có giá trị dinh dưỡng khá, ăn dễ tiêu, nhuận trường Mận chứa 82% nước, 8 - 10% đường bột, 1,5% acid Như vậy, mận là loại quả chua hơi ít đường Vitamin A chỉ thua có mơ, bí đỏ và hơn nhiều quả khác, chất khoáng chiếm 0,6% gồm: Fe, Ca, Mg, K, Mn,… (Tủ sách kiến thức nhà nông, 2005)

Đối với những giống mận ngon, 100 g thịt trái có: 3 g gluxit, 0,6 g protit, 1,3

g axit, 28 mg canxi, 20 mg P, 0,1 mg carotene, 3 mg vitamin C đồng thời còn có vitamin B1, B2 và PP (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2002)

1.1.3 Đặc điểm thực vật

Rễ

Theo Trần Thế Tục (2000), bộ rễ mận thường ăn cạn ở tầng đất mặn 20 – 40

cm, rễ có thể lan ra gấp 1 – 2 lần tán Trên rễ chính và các vùng lân cận có khả năng bật mầm nên có thể lợi dụng tính chất này để nhân giống Rễ mận ăn cạn nên có thể trồng ở tầng đất có tầng canh tác mỏng Rễ cạn thì chống chịu yếu, cho nên phải làm cỏ sạch và sớm (Vũ Công Hậu, 1996)

Trang 15

Thân và cành

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2008), mận là cây thân

gỗ có kích thước trung bình, cao nhất không vượt quá 15 m, vỏ thân màu nâu nhạt, nhẵn Cành nhiều và phân bố tự nhiên tương đối dài Cây mận phân tán cành thấp

và nhiều tán xòe rộng từ 2 – 2,5 cm Sau khi thu trái thì chồi ngọn của cành trái năm trước vương dài thành cành trái mới và kéo dài liên tục trong 4 – 5 năm liền (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2002)

Theo Vũ Công Hậu (1996), cây con một năm có thể ra 3 – 4 đợt cành Trên một cành có rất nhiều mắt hoa và mắt lá Cành khỏe ở trên ngọn cây, cành non mới

ra tháng 6, tháng 7 gỗ chưa cứng, chủ yếu chỉ ra mầm lá

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2008), lá mận hình bầu dục, lá đơn, hơi dài và nhọn, màu xanh và nhẵn cả hai mặt Trên cây lá mọc đối nhau, lá có chiều dài 10 – 15 cm, chiều rộng 5 -12 cm, cuống lá dày với chiều dài từ

3 -5 mm Lá có hạt tinh dầu nên khi vò nát tỏa ra mùi thơm nhẹ dễ chịu ( Merr và L.M Perry, 2009)

Hoa

Hoa mận thuộc hoa lưỡng tính, mọc thành chùm, mỗi chùm 3 - 5 hoa nở kẽ

lá Cánh hoa màu trắng hoặc vàng nhạt Bầu noãn phía dưới, nhiều nhị, tự thụ phấn

là chính (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008)

Theo Phạm Hoàng Hộ (2003), hoa mận mọc thành chùm, ở nách lá trên nhánh non, cao 3 - 5 mm, hoa có màu trắng, có 4 cánh với nhiều tiểu nhụy màu trắng, vòi nhụy xanh Cánh hoa 4 – 5 cánh và ở sát nhau thành hình chén, có 4 – 5 lớp cánh khi hoa nở, cánh hoa sẽ rụng lộ diện trái như cái mũ (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2000)

Trái

Mận An Phước có trái to trung bình 100 – 150 g/trái (có thể đến 200 g/trái), trái dạng hình chuông, vỏ màu đỏ sậm đẹp, bề mặt vỏ láng và có nổi gân dọc từ

Trang 16

đỉnh trái đến đích trái Thịt có màu trắng xanh, rất giòn, ngọt và không hạt (Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009)

1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC RA HOA VÀ ĐẬU TRÁI

1.2.1 Sự ra hoa và đậu trái

Theo Phạm Văn Côn (2003), sự ra hoa là một bước ngoặc chuyển từ giai đoạn sinh trưởng, các cơ quan dinh dưỡng sang giai đoạn mới hình thành các cơ quan sinh sản Đây là kết quả của một quá trình biến đổi về chất liên tục và lâu dài

để có được những cơ quan sinh sản với chức năng hoàn toàn thay đổi

Theo Nguyễn Minh Chơn (2010), cơ chế của sự chuyển tiếp từ sinh trưởng sang sinh sản được tóm tắt theo 3 giai đoạn sau:

- Giai đoạn tượng hoa: là một sự thay đổi sinh lý nội tại trong mô phân sinh kéo theo sự thay đổi về hình thái

- Giai đoạn thành lập hoa: là sự khởi đầu của những thành phần hoa có thể nhìn thấy được

- Giai đoạn phát triển hoa: là sự phân hóa cấu trúc hoa từ sự thành lập hoa đến trổ hoa và tung phấn

Theo Vũ Công Hậu (2000), mận miền Bắc thường nở hoa vào tháng 1 đến tháng 2 Đối với giống mận chua, giống địa phương thì ra hoa trước khoảng cuối tháng 12 đầu tháng giêng Giống mận Tam Hoa thường ra hoa vào đầu tháng 2 Đối với mận Trung Quốc nhiều giống không thụ phấn được do đó ngoại thụ phấn sẽ trở nên có lợi Do đó, trong thực tế nên trồng vài ba giống để giống này thụ phấn giống kia

Mận ra hoa ở nách lá, mầm hoa sau khi được hình thành gặp điều kiện thích hợp hay kích thích ra hoa bằng cách cắt tỉa và xử lý bằng hóa chất thì mầm hoa sẽ

xuất hiện (Shu et al., 2007; trích dẫn bởi Đặng Thị Thu Thảo và Ngyễn Thị Bích

Phượng, 2011) Mận An Phước có mùa vụ thu hoạch: vụ thuận từ tháng 2 - 6 dương lịch và vụ nghịch từ tháng 8 - 1 dương lịch Cây chiết hay ghép cho quả đầu tiên từ

12 - 18 tháng sau khi trồng với tỷ lệ đậu trái tự nhiên cao Từ khi hình thành nụ hoa

Trang 17

đến hoa nở khoảng 30 ngày và từ hoa nở đến thu hoạch khoảng 60 ngày (Viện Cây

Ăn Quả Miền Nam, 2009)

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa mận

Giống

Các giống khác nhau có đặc tính ra hoa cũng khác nhau khi đáp ứng với điều kiện môi trường Sự ra hoa khác nhau của các giống còn được thể hiện qua giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây, đến độ tuổi xác định của giống thì sẽ xuất hiện sự tương quan giữa các hoocmon, hình thành trạng thái trưởng thành trong mô phân sinh, kiểm tra sự phân hóa các tế bào theo sự tạo mầm hoa hay mầm lá (Nguyễn Như Khanh, 2006)

Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thị Bích Tuyền (2010), tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thì trong thực tế, giống mận

An Phước được nhân giống bằng nhiều cách như: chiết, ghép và tháp với cây có sẵn tại nhà và cả những giống không rõ nguồn gốc Nhìn chung, các nhà vườn trồng mận thành công với phương pháp chiết cành cây mận An Phước sẽ cho năng suất cao, ổn định và chất lượng trái tốt Ngoài ra, phương pháp ghép bo của cây mận An Phước trên gốc Hồng Đào Đá cũng phát triển và cho thu hoạch cao

Ngoài ra, lá thuần thục rất cần thiết cho sự ra hoa, sự hiện diện của những tán

lá non ngăn chặn sự hình thành mầm hoa (Lê Thanh Phong và ctv., 1994) Theo

khuyến cáo ở Thái Lan, người ta dùng Monoptassium phosphate phun 1 hoặc 2 tháng trước khi ra mầm hoa để tăng độ chín sinh lý của lá, giảm lá non, tăng mầm hoa

Trang 18

chín đỏ (Shu et al., 2007; trích dẫn bởi Đặng Thị Thu Thảo và Nguyễn Thị Bích

Phượng, 2011)

Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến màu sắc trái, những trái mọc ngoài tán khi chín có màu đỏ lợt hơn những trái mọc trong tán Điều này là do sắc tố Anthocyanies tạo màu vỏ trái mẫn cảm với cường độ ánh sang (Trần Thượng Tuấn

và ctv., 1992)

Cây cần được cung cấp một lượng nước nhất định thì mới đạt năng suất cao, chất lượng tốt để ra hoa Cây mận cũng nên được tưới nước thường xuyên trong giai đoạn thời tiết khô hạn kéo dài Thời kỳ cây ra hoa nên để gốc khô ráo, thời kỳ cây mang trái cần tưới đủ nước để cây nuôi trái cho trái to, ít chua (Nguyễn Mạnh Chinh

và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008)

1.2.3 Sự đậu trái mận

Sự đậu trái bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ và sự khô hạn Thời tiết lý tưởng cho cây thụ phấn: nắng, nhiệt độ vừa phải, không có gió lớn điều kiện để bao phấn nảy nở, nảy mầm thuận lợi, côn trùng môi giới hoạt động tốt, số lượng hạt

phấn mang đến đầu nhụy nhiều Còn theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), tỉ lệ

đậu trái bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: chất dinh dưỡng, lượng nước cung cấp, sâu bệnh…

Theo Morton (1987), giống mận Wax Jambu tại Thái Lan thì sau khi nở hoa, nhị hoa rụng, bầu noãn sẽ phát triển tạo thành trái có hình chuông trắng hoặc màu trắng có những vệt đỏ Trái sẽ chín từ 30 - 40 ngày sau khi hoa nở và cây mận 5 năm tuổi có thể mang 700 trái

Trang 19

1.2.4 Sự phát triển của trái

Theo Phan Yến Sơn (2010), sự phát triển trái của cây gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn phân chia tế bào, (2) Sự phát triển kích thước trái, (3) Giai đoạn trưởng thành

Một số đặc tính của trái như kích thước, hình dạng trái, cấu trúc và bề dày được xác định trong 2 tháng đầu sau khi ra hoa Cây mang nhiều trái ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ phát triển của trái (Trần Văn Hâu, 2008)

1.2.5 Sự rụng trái non

Hoàng Việt (2010) cho rằng cây ăn trái ở miền Nam như: nhãn, xoài, táo, mận, chôm chôm, chanh, sơ ri… sau khi đã đậu trái thường có hiện tượng rụng trái non (rụng sinh lý) Hiện tượng này, có thể do một trong các nguyên nhân như: thiếu nước, thiếu dinh dưỡng, nhiệt độ không khí cao, ẩm độ không khí cao và đặc biệt là

sự hình thành tầng rời ở cuống trái Sự đậu trái và rụng trái non được ghi nhận từ khi bắt đầu đậu trái (tính từ lúc hoa rụng hết chỉ nhị) đến khi thu họach, khoảng thời gian từ khi đậu trái đến khi thu họach kéo dài 44,1 ± 0,4 ngày Số trái còn lại trên cây bị ảnh hưởng tình trạng dinh dưỡng của cây và điều kiện thời tiết (Trần Văn Hâu, 2009) Mận An Phước có hai giai đoạn rụng trái non là giai đoạn rụng hoa ở thời kỳ đầu và giai đoạn rụng trái non 28 ngày sau khi đậu trái là 39,22% giai đoạn trái từ màu vàng lợt chuyển sang màu đỏ lợt càng về sau tỷ lệ rụng trái càng giảm vì trong giai đoạn này trái bắt đầu chuyển sang giai đoạn chín (Đoàn Thị Mến, 2010)

Để giảm bớt tỉ lệ rụng, tăng năng suất, phẩm chất trái, tại trung tâm nghiên cứu rau quả Station Fengshan đã sử dụng bao bì bằng túi giấy hay nilon để ngăn

chặn sự tấn công từ ruồi đục trái làm rụng trái (Shu et al., 2007; trích dẫn bởi Đặng

Thị Thu Thảo và Nguyễn Thị Bích Phượng, 2011)

Trang 20

1.3 Vai trò của Calcium đối với tế bào thực vật

1.3.1 Cấu trúc vách tế bào thực vật

Một trong những sự khác nhau giữa tế bào động vật và tế bào thực vật là sự cấu tạo của vách tế bào thực vật Vách tế bào thực vật tạo nên sự cứng chắc cho tế bào, có chức năng bảo vệ cho tế bào và như là một hàng rào chắn của tế bào Tuy nhiên, nước và các ion có thể khuếch tán ra vào trong vách tế bào Các nhà giải phẫu thực vật đã công nhận rằng có hai loại vách tế bào thực vật Vách sơ lập, vách hậu lập và lớp chung (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Vách sơ lập được thành lập trong quá trình phát triển trong khi vách hậu lập được tích lũy sau khi tế bào ngừng sinh trưởng Cấu tạo của vách sơ lập gồm 2 pha: một pha gồm các vi sợi cellulose và một pha khác gồm các vật liệu nền Vật liệu nền của vách sơ lập có thể chia thành hai phần chính: pectin và hemicellulose

Vách hậu lập thường dầy hơn vách sơ lập Thành lập sau khi mở rộng tế bào được hoàn tất, rất cứng chắc Cấu tạo của vách hậu lập gồm cellulose, pectin và lignin

Lớp chung là lớp đầu tiên được hình thành trong quá trình phân chia tế bào

Nó tạo thành bức tường ngoài của tế bào và được chia sẻ bởi các tế bào lân cận Thành phần chủ yếu là pectin

1.3.2 Vai trò của calcium trong vách tế bào

Theo Lê Văn Hòa và ctv (1999), calcium là nguyên tố rất cần thiết cho

những chức năng bình thường trong tất cả các tế bào thực vật, nếu thiếu calcium sẽ làm cho mô bị biến dạng và hình thù vặn vẹo

Ở thực vật, một phần calcium liên kết chặt chẽ với cấu trúc vách tế bào, một phần khác có khả năng trao đổi tại vách và mặt ngoài của màng tế bào Calcium liên kết với pectin tạo thành calcium pectate trong lớp chung cần thiết cho sự vững chắc của vách tế bào và mô thực vật (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005)

Sự phân bố của Ca2+ trong tế bào của các mô giãn nở hoàn toàn, vách tế bào

có hai vùng riêng biệt có hàm lượng Ca2+ cao ở lớp chung và vùng bề mặt ngoài của màng nguyên sinh chất Sự phân hủy pectates qua trung gian bởi enzyme

Trang 21

polygalacturonase và enzym này ức chế mạnh ở nồng độ cao Ca2+ Ở mô thiếu Ca cho thấy hoạt động của enzym polygalacturonase gia tăng làm phân hủy vách tế bào

và các mô bị phá vỡ, điển hình ở cuống và các phần trên của thân (Konno et al.,

1984; Bussler, 1963)

Calcium kết hợp với pectin tạo thành calcium pectate trong lớp chung cần thiết cho sự vững chắc vách tế bào và mô thực vật Sự phân giải các muối pectate được trung gian bởi enzyme polygalacturonase, mà hoạt động của enzym này lại bị

ức chế bởi nồng độ calcium cao Do đó, trong các mô thiếu calcium, hoạt tính của enzyme polygalacturonase gia tăng, một triệu chứng thiếu calcium tiêu biểu là sự phân rã của vách tế bào và sự mềm nhũng của mô Tỷ lệ của calcium pectate trong vách tế bào cũng quan trọng cho sự mẫn cảm của mô thực vật cho sự xâm nhiễm của nấm và vi khuẩn cũng như cho sự chín của trái (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005)

Calcium được cây hấp thu dưới dạng Ca2+ và sau đó sẽ cố định thành các muối như: calcium pectate, calcium oxalate… Mô bị biến dạng và hình thù vặn vẹo

là do hậu quả của sự thiếu calcium và các vùng sẽ chết rất sớm Calcium cũng là nguyên tố cần thiết cho những chức năng bình thường trong tất cả tế bào, có thể như

là một chất kết dính của các phospholipid lại với nhau hoặc với protein của màng tế bào

Hầu hết calcium hiện diện trong không bào trung tâm và liên kết trong vách

tế bào với các đường đa pectate Nồng độ calcium trong tế bào chất phải được duy trì ở mức thấp để ngăn ngừa sự thành lập những muối calcium không hòa tan của ATP và các photphate hữu cơ khác Nhiều enzyme trong tế bào chất cũng bị ức chế hoạt động bởi Ca2+

1.4 Vai trò của calcium đối với quá trình chín của trái

Trước thu hoạch calcium được xem là chất dinh dưỡng của nhiều loại trái cây như đu đủ và cà chua Nó liên quan đến chất lượng của trái và sự biến đổi của trái sau thu hoạch Ở đu đủ, sự hiện diện hàm lượng calcium với nồng độ thấp ở

phiến giữa thì có liên quan đến sự mềm quả (Qui et al., 1995) và ở trái cà chua, sự

Trang 22

thối rữa có liên quan với nồng độ calcium thấp và kali cao khi bón phân cho cây cà

chua (Ho et al., 1993)

Theo Conway et al (1997), calcium vó vai trò quan trọng trong việc ngăn

cản sự mềm trái táo và duy trì độ cứng trái vì calcium là thành phần cần thiết trong cấu trúc vách tế bào sơ cấp được ổn định

Calcium là cation có hóa trị 2 dễ dàng đi vào con đường apoplast và giới hạn

có thể trao đổi từ vách tế bào với bề mặt ngoài của màng không bào Không gây độc

ở nồng độ cao, thậm chí còn như là một tác nhân giải độc Người ta đang đặc biệt chú ý tới vai trò của calcium trong những năm gần đây bởi những ảnh hưởng bởi vai trò của nó, đặc biệt nó có thể trì hoãn sự chín và sự lão hóa, giảm sự hô hấp, kéo

dài chu kỳ sống và giảm những rối loạn sinh lý học (Sharma et al., 1996; trích dẫn

bởi Nguyễn Thị Mỹ An, 2010)

Sự cung cấp calcium sau thu hoạch có thể có hiệu quả trong việc duy trì tình trạng nguyên vẹn và chức năng của màng tế bào, với việc mất phospholipids và protein thấp hơn (Lester và Grusak, 1999), nó có vai trò trong việc làm giảm hao hụt trọng lượng ở những trái có xử lý calcium

Sự xuất hiện calcium trước và sau thu hoạch được sử dụng để trì hoãn sự lão hóa hoặc sự chín, để giảm những tổn thất trước và sau thu hoạch và quản lý sự phát triển của nhiều sự rối loạn trên rau củ và trái cây (Poovaiah, 1998; Conway,1994)

Sự vững chắc và sự kháng lại sự mềm do việc thêm calcium tạo ra được cho là sự

ổn định, vững chắc của hệ thống màng và sự hình thành Ca - pectates, nó làm gia

tăng sự cứng chắc của phần giữa và vách tế bào trái cây (Grant et al., 1973;

Jackman và Stanley, 1995; trích dẫn bởi Nguyễn Thị Mỹ An, 2010) Điều này ngăn chặn, kiềm chế sự thoái hóa phần giữa và vách tế bào và cải thiện phẩm chất của lớp

da bên ngoài (Buescher và Hobson, 1982; Mignani et al., 1993)

Ngoài ra, calcium còn làm tăng tính ngọt của trái Một biểu hiện rõ rệt của tác động điều tiết các quá trình trao đổi chất của calcium là mối tương quan phức tạp giữa calcium và nhiều ion khác trong môi trường Clacium có tác dụng đối kháng rõ rệt với H+ và do đó nó có nhân tố chủ yếu điều hòa độ chua của tế bào, bảo đảm cho hoạt động bình thường của hệ men Như ta đã biết từ lâu, đặc biệt trong

Trang 23

các cơ thể giàu acid hữu cơ trong tế bào thường thấy các tinh thể muối oxalate calcium đặc trưng (Phạm Đình Thái, 1978)

Khi phun dung dịch calcium nitrate (1 - 2%) trên quýt Fortune ở thời điểm 4 tuần trước khi thu hoạch có hiệu quả làm giảm tổn thất trong quá trình bảo quản ở 5

và 8oC (El - hilali et al., 2003) Phun dung dịch calcium chloride (1%) ở thời điểm 2

tháng trước thu hoạch có tác dụng duy trì phẩm chất và kéo dài thời gian tồn trữ sau

4 tuần của trái cam Soàn (Phan Thị Xuân Thủy, 2008)

Calcium chloride 2% được phun 3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày ở giai đoạn 6 - 8 tuần trước khi thu hoạch có khả năng ngăn chặn sự biến đổi màu sắc vỏ trái và kéo dài quá trình chín của xoài Tommy Atkins, Maya và Haden sau thu hoạch (Resnizky và Sive, 1985; trích dẫn bởi Võ Thị Xuân Tuyền, 2001)

Phun calcium nitrate ở nồng độ 1000 ppm 2 tháng trước khi thu hoạch có tác dụng kiềm hãm quá trình chín của xoài Cát Hòa Lộc trong vòng 6 ngày (Lê Bảo Long, 2000)

1.5 Sự hấp thu dinh dưỡng qua lá

Việc hấp thu dinh dưỡng của cây được thực hiện chủ yếu từ rễ Tuy nhiên, cung cấp dinh dưỡng qua lá cho cây trồng là phương pháp cung cấp dinh dưỡng nhanh hơn so với phương pháp cung cấp qua rễ Phun dinh dưỡng qua lá có hiệu quả nhanh, tiết kiệm phân bón, thường dùng để khắc phục các triệu chứng thiếu dinh dưỡng Phần lớn, hiện tượng thiếu dinh dưỡng không phải do đất thiếu mà là

do điều kiện sinh thái cây trồng không sử dụng được (Nguyễn Như Hà, 2005)

- Ở đất đá vôi, đất có lượng Fe hữu dụng thấp và thiếu Fe rất phổ biến do hiện tượng “lime chlorosis” Do đó, việc phun dinh dưỡng qua lá có hiệu quả hơn bón vào đất dù ở dạng chelate Fe đắt tiền (Horesh và Levy, 1981; trích dẫn bởi Trần Quốc Nhân, 2005)

- Đất có lớp đất mặt bị khô, ở những vùng đất bán khô hạn, lớp đất mặt bị thiếu nước kéo theo làm giảm hữu dụng của các dưỡng chất trong suốt thời gian sinh trưởng của cây (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2003)

Trang 24

- Rễ giảm hoạt động ở giai đoạn sinh sản do có sự cạnh tranh carbohydrate giữa rễ và bông (Trobish và Schilling, 1970; trích dẫn bởi Trần Quốc Nhân, 2005)

Bên cạnh đó, việc cung cấp dinh dưỡng qua lá chỉ mang tính chất nhất thời

và có một số trở ngại như:

 Vận tốc hấp thu chậm, đặc biệt với những lá có lớp cutin dày (cây họ cam, quýt, cafe)

 Dưỡng chất bị trôi đi ở những lá không thấm nước

 Bị rửa trôi do mưa

 Dinh dưỡng phun lá bị khô nhanh

 Sự chuyển vị của một vài dưỡng chất khoáng nào đó từ nơi được cung cấp đến bộ phận khác của cây bị hạn chế

 Đối với khoáng đa lượng thì số lượng cung cấp bị hạn chế qua một lần phun

 Gây tổn thương lá (lá bị hoại tử và “cháy”)

Các con đường hấp thu chất khoáng qua lá

Sự hấp thu chất khoáng qua lá dựa theo các con đường: hấp thu qua lớp cutin, thông qua khí khẩu và thông qua vi rãnh estodesmata

 Hấp thu qua lớp cutin

Ở bề mặt ngoài của lá được phủ một lớp cutin không thấm nước Do đó, sự hấp thu các chất hòa tan qua lá bị hạn chế Lớp cutin không thấm nước chủ yếu là nhóm lipid và polyeste của acid béo có chứa nhóm OH Sự không thấm nước ở mặt ngoài lá là để bảo vệ không cho lá mất đi quá nhiều nước do thoát hơi, đồng thời chống lại sự rửa trôi quá mức của các chất hữu cơ và vô cơ từ lá do mưa (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2004)

Cấu trúc của lớp cutin ở thực vật không đồng nhất, không có đặc tính, hình thái và cấu trúc tiêu biểu nào của các loài thực vật Vì vậy, khả năng bám dính và giữ lại các chất khoáng trên bề mặt lá thì phụ thuộc rất nhiều vào tính chất hóa học của lớp cutin (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

Trang 25

 Thông qua khí khẩu

Tế bào khẩu trên hai mặt lá là nơi thông thương giữa bên trong lá và bên ngoài môi trường Khi tế bào khẩu trương nước, khẩu sẽ mở ra, nước sẽ bốc thoát ra ngoài và CO2 xâm nhập vào khí khẩu Đồng thời các dưỡng chất ở dạng khí như:

NH3, NO2, SO2 cũng được hấp thu qua khí khẩu Trong khi đó, nếu trên mặt lá có dung dịch khoáng thì sự chênh lệch nồng độ chất tan bên trong và bên ngoài lá khá lớn nên chất tan sẽ xuyên thấm vào bên trong tế bào khẩu theo quy luật khuếch tán Tốc độ xuyên thấm qua lớp cutin bên trong tế bào khẩu thì nhanh hơn khu vực chung quanh (Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài, 2003)

 Thông qua vi rãnh Estodesmata

Sự di chuyển của các chất hòa tan ngang qua lớp cutin còn xảy ra ở những khe nhỏ gọi là vi rãnh estodesmata Estodesmata là một thành phần không thuộc về

tế bào chất và được xem như con đường thoát hơi nước đặc biệt Khe này bắt đầu từ

tế bào chất kéo dài và xuyên qua vách tế bào Khe nhỏ này nằm giữa tế bào kèm và

tế bào phụ cận

Như vậy, khe estodesmata có tương quan tỷ lệ thuận với số lượng tế bào khẩu Bình thường, những thực vật sống ngoài trảng (ưa nắng), số tế bào khẩu ở mặt trên ít hơn ở mặt dưới Do đó, số lượng khe estodesmata ở mặt dưới nhiều hơn

ở mặt trên Khi phun dinh dưỡng khoáng lên bề mặt lá thì dinh dưỡng khoáng sẽ bám dính lên bề mặt lá Nước và chất tan sẽ được cây hấp thu qua khe estodesmata (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004)

1.6 Các biến đổi lý hóa xảy ra trong quá trình chín và bảo quản trái cây 1.6.1 Các biến đổi vật lý

Các biến đổi vật lý sau thu hoạch có thể làm giảm phẩm chất trái Các biến đổi đó là sự thoát hơi nước, giảm khối lượng tự nhiên và sinh nhiệt do hô hấp

Trang 26

Sự thoát hơi nước

Sự thoát hơi nước là sự bốc hơi của nước từ mô thực vật Khi tách rời khỏi cây mẹ, trái ngừng được cung cấp các dưỡng chất như trước Trong khi đó, các hoạt động trao đổi chất vẫn còn diễn ra, do đó thường sẽ dẫn tới sự thoát hơi nước của trái Sự thoát hơi nước gây hư hại các sảm phẩm sau thu hoạch, đầu tiên là sự héo gây ảnh hưởng xấu đến hình dạng bên ngoài của trái Ngoài ra, sự thoát hơi nước còn ảnh hưởng đến chất lượng của trái như: giảm độ cứng và độ giòn Sự thoát hơi nước của sản phẩm sau thu hoạch phụ thuộc vào thời điểm thu hoạch trong ngày Bên cạnh đó, sự thoát hơi nước cũng thay đổi trong quá trình bảo quản trái sau thu hoạch, vào giai đoạn ngay sau thu hoạch, giai đoạn chuyển sang giai đoạn chín và

hư hỏng thì có sự thoát hơi nước rất mạnh nhưng ở giai đoạn giữa thì quá trình này giảm đi (Trần Văn Hòa và Trương Trọng Ngôn, 2002)

Để hạn chế quá trình này, ta có thể chọn thời điểm thu hoạch thích hợp Do tốc độ thoát hơi nước sẽ tăng khi nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm và tốc độ chuyển động của không khí cao Vì vậy, trong quá trình bảo quản để giảm sự thoát hơi nước làm héo trái nên hạ thấp nhiệt độ, tăng độ ẩm và giảm tốc độ không khí trong kho bảo

quản (Nguyễn Mạnh Khải và ctv., 2005)

Sự giảm khối lượng tự nhiên

Theo Quách Đĩnh và ctv (1996), sự giảm khối lượng tự nhiên của trái

thường do quá trình thoát hơi nước và tổn hao các chất hữu cơ trong quá trình hô hấp Trong đó, khoảng 75 - 85% sự giảm trọng lượng là do sự mất hơi nước còn 15-25% là do tiêu hao chất khô trong quá trình hô hấp Sự bốc thoát hơi nước của nông sản sau thu hoạch là quá trình nước tự do trong nông sản khuyếch tán ra bên ngoài môi trường

Bên cạnh đó, trái sau khi thu hoạch, các hoạt động sống vẫn tiếp tục xảy ra,

đó là sự đốt cháy chất hữu cơ, sinh ra CO2, H2O và năng lượng Trong quá trình bảo quản trái, sự hô hấp là quá trình biến đổi sinh hóa quan trọng nhất Hô hấp làm giảm khối lượng tự nhiên, tiêu hao thành phần dinh dưỡng của trái Sự giảm trọng lượng này tùy thuộc vào mùa, giống, cách chăm sóc, điều kiện tồn trữ, độ nguyên vẹn cũng như độ chín của trái (Nguyễn Minh Thủy, 2000)

Trang 27

Sự sinh nhiệt

Trong quá trình bảo quản mận ở nhiệt độ thường cũng như nhiệt độ lạnh có xảy ra sự sinh nhiệt Lượng nhiệt sinh ra trong tồn trữ là do hô hấp, 2/3 lượng nhiệt này tỏa ra làm nóng môi trường xung quanh và làm nóng khối lượng nông sản tồn trữ Nhiệt độ và ẩm độ tăng cao là nguyên nhân thúc đẩy hoạt động của vi sinh vật

và nấm mốc gây hư thối nguyên liệu tồn trữ Nếu không làm thông thoáng thì sự sinh nhiệt sẽ kích thích trở lại làm gia tăng cường độ hô hấp, tích tụ thêm hơi nước (Nguyễn Minh Thủy, 2000; Trần Văn Hòa và Trương Trọng Ngôn, 2002)

1.6.2 Các biến đổi sinh lý sinh hóa

Hô hấp

Hô hấp là quá trình sinh học cơ bản xảy ra trong quá trình bảo quản các sản phẩm sau thu hoạch Hoạt động này được xem là quá trình trung tâm của sự biến dưỡng khi trái chín (Hà Văn Thuyết và Trần Quang Bình, 2002) Sự trao đổi chất của trái chín khi đã tách rời khỏi cây mẹ chủ yếu là sự phân giải các hợp chất hữu

cơ cung cấp cho quá trình hô hấp

Trong điều kiện bình thường, quá trình hô hấp hiếu khí xảy ra với sự hấp thu khí oxy và sinh ra khí carbonic, nước và giải phóng năng lượng (Trần Minh Tâm, 2000; Trần Văn Hòa và Trương Trọng Ngôn, 2002)

Tuy nhiên, trái cây sau thu hoạch sẽ mất dần khả năng hấp thu oxy và dần chuyển sang hô hấp yếm khí và tích tụ các chất gây tổn hại cho tế bào như: rượu, acetandehyde, acetic acid và lactic acid Do đó, các mô của trái dần bị tổn hại và

gây ra sự hư trái trong quá trình bảo quản lâu dài (Quách Đĩnh và ctv., 1996)

Như vậy, hô hấp làm giảm khối lượng tự nhiên, tiêu hao thành phần dinh dưỡng của trái Do đó, làm giảm cường độ hô hấp là một vấn đề quan trọng trong phương pháp tồn trữ (Trần Thị Kim Ba, 1998)

Sự chín của trái sau thu hoạch

Sự chín là một sự kiện quan trọng trong đời sống của một trái, đánh dấu sự hoàn tất giai đoạn phát triển và bắt đầu cho sự lão hóa Trong sản xuất thường

Trang 28

không thể thu trái cây đúng vào thời kỳ chín sinh lý mà thường được hái trước với nhiều lý do khác nhau

Sau khi thu hoạch trái vẫn tiếp tục quá trình chín Quá trình chín này đi kèm với sự gia tăng quá trình hô hấp và hàm lượng đường của các enzyme có liên quan đến quá trình chín làm cho trái trở nên ngọt, có mùi thơm và màu sắc đặc trưng và

có sự thủy phân vách tế bào làm cho trái mềm hơn (Brady, 1987; Fischer và Bennett, 1991; trích dẫn bởi Huỳnh Nga, 2006)

Trái càng chín càng có vị ngọt do tinh bột biến thành đường đồng thời saccharose bị thủy phân thành glucose, fructose, lượng saccharose tuy bị thủy phân nhưng vẫn tăng lên vì quá trình tích tụ nhiều hơn thủy phân (Trần Minh Tâm, 2000)

Sự thay đổi màu sắc vỏ trái

Vỏ trái khi còn xanh chứa nhiều sắc tố chlorophyll và carotenoid Khi bắt đầu chín, có sự biến đổi hàm lượng các sắc tố đó gây ra sự biến đổi màu sắc của trái, chỉ biến đổi chlorophyll mà không phân hủy carotenoid (Phạm Văn Côn, 2006) Sự thay đổi màu sắc vỏ trái phổ biến là sự thay đổi màu sắc từ xanh chlorophyll sang vàng carotenoid hoặc đỏ cùng với thành lập sắc tố anthocyanin

Như vậy, sự thay đổi màu sắc vỏ trái khi chín xảy ra với hai tiến trình: (1) giảm chlorophyll làm cho màu xanh của trái giảm, (2) gia tăng sự tổng hợp sắc tố anthocyanin, carotenoid, lycopene…

Sự mất màu xanh là do sự phân hủy cấu trúc của diệp lục tố, sự thay đổi pH của màng lạp thể, thể hiện qua việc tiết acid hữu cơ từ không bào và các hệ thống oxy hóa và sự có mặt của enzyme chlorophyllase (Hartnn, 1992; trích dẫn bởi Trần Thị Kim Ba, 1998)

pH dịch trái

Tổng số acid hữu cơ (malic + quinic + citric) giảm trong quá trình chín của

trái cây, cùng với sự giảm độ chua trong trái (Ackermann et al., 1992) Sự suy giảm

hàm lượng acid hữu cơ trong quá trình chín của trái, có thể là kết quả của sự gia tăng tính thấm của màng, điều này cho phép các acid tham gia vào quá trình hô hấp

Trang 29

của tế bào (Fidler và North, 1967), hình thành các muối của acid malic, giảm khả năng tổng hợp acid hữu cơ ở trái cây đã thành thục (Kliewer, 1974) và sự chuyển hóa thành đường (Hardy, 1968) Ngoài ra, acid hữu cơ làm nên mùi vị của trái cây, một phần dùng để cân bằng lượng đường và acid, một phần tạo nên mùi đặc trưng

cho trái (Wills et al., 1998)

Trị số pH có thể đánh giá được hàm lượng acid trong trái, trị số pH cao thì hàm lượng acid thấp và ngược lại Sự giảm độ acid phần lớn là kết quả của sự giảm citric acid Cả hàm lượng citric acid và malic acid đều giảm sút trong quá trình tồn trữ Ngoài ra, acid hữu cơ cũng là nguyên liệu cho quá trình hô hấp, vì vậy trong quá trình bảo quản thì hàm lượng acid hữu cơ bị giảm xuống (Trần Minh Tâm, 2000) Acid hữu cơ giảm vì vậy trị số pH tăng lên Hơn nữa, các thành phần acid trong trái rất đa dạng và khi trái chín các acid này giảm cùng với việc tăng dần pH

trong trái (Quách Đĩnh và ctv., 1996)

Độ cứng của trái

Sau khi thu hoạch độ cứng của trái giảm do ethylen trực tiếp gợi sự hoạt động của một số enzyme thủy phân làm phân giải hợp chất pectin ở vách tế bào, sự phân hủy pectin làm cho vách tế bào mềm và thay đổi cấu trúc cũng như giảm sự kết dính giữa các tế bào với nhau (Mattoo và Modi, 1969; trích dẫn bởi Lê Bảo Long, 2000)

Trong quá trình chín, trái thường chuyển từ trạng thái cứng sang mềm do hoạt tính của các enzyme như enzyme polygalacturonase, cellulose, hemicellulose tăng lên, dưới tác dụng của enzyme protopectinase hoặc sự phân hủy acid hữu cơ gia tăng thì protopectin bị thủy phân thành pectin hòa tan làm suy yếu các mô liên

kết giữa các tế bào nên trái trở nên mềm (Trần Minh Tâm, 2000)

Trang 30

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM

2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thời gian: Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2012 Địa điểm: Vườn mận An Phước tại xã Tân An Thạnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Mẫu được chọn làm thí nghiệm và trái được thu về bảo quản và phân tích chỉ tiêu tại phòng thí nghiệm bộ môn Khoa học cây trồng, khoa Nông Nghiệp

và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ

2.1.2 Đối tượng khảo sát

Thí nghiệm được thực hiện trên giống mận An Phước có cùng độ tuổi là 5 năm năm tuổi, cùng điều kiện chăm sóc Cây được chọn thí nghiệm là những cây đã thu hoạch từ 2 vụ trở lên Trái được chọn làm thí nghiệm là trái phát triển bình thường không sâu bệnh hoặc các tổn thương

Hình 2.1 Vườn mận An Phước 5 năm tuổi tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, năm 2012

Trang 31

2.1.3 Vật liệu thí nghiệm

Hóa chất sử dụng: Calcium chloride (CaCl2), Calcium sulfate (CaSO4), Calcium nitrate (Ca(NO3)2), Calcium oxit (CaO), Chất bám dính nông nghiệp Bambi với nồng độ 2 ml/l

Thiết bị và dụng cụ:

- Máy đo pH

- Chiết quang kế hiệu ATAGO

- Máy đo độ cứng hiệu FRUIT PRESSURE TESTER- FT 327

- Cân điện tử (hiệu STATORIUS) dùng để cân trọng lượng trái

- Tủ sấy (hiệu SIBATA)

- Thước kẹp: đo kích thước trái

- Bình hút ẩm

2.2 PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại (một cây cho một lần lặp lại) Tổng số cây dùng trong thí nghiệm là 20 cây, bao gồm 5 nghiệm thức như sau:

Nghiệm thức 1: nghiệm thức đối chứng phun nước

Nghiệm thức 2: phun CaO nồng độ 2 g/l

Nghiệm thức 3: phun CaCl2 nồng độ 2 g/l

Nghiệm thức 4: phun Ca(NO3)2 nồng độ 2 g/l

Nghiệm thức 5: phun CaSO4 nồng độ 2 g/l

Dung dịch Canxi được phun ướt đều trên 2 mặt lá và trái Phun 3 lần, mỗi lần cách nhau 10 ngày Phun 5 lít/cây cho mỗi lần phun Trên một cây chọn 10 chùm có trái để lấy các chỉ tiêu khi thu hoạch

Vườn thí nghiệm mận An Phước có hệ thống mương liếp đảm bảo cho việc tưới và tiêu nước Cây mận An Phước 5 năm tuổi, số lượng cây 50 cây/1000m2, số

Trang 32

lượng cây chọn thí nghiệm tương đối đồng đều nhau Thời tiết thuận lợi trong thời gian thí nghiệm Trong thời gian thí nghiệm có xuất hiện dịch hại như: ruồi đục trái, thán thư… Tuy nhiên mật số thấp nên thiệt hại không đáng kể

2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU

2.3.1 Số trái trên phát hoa

Số trái trên phát hoa được thu thập 1 tuần một lần từ tuần thứ nhất đến tuần thứ 6 bằng cách đếm số trái của 10 chùm hoa trên cây

2.3.2 Năng suất trái của toàn cây

Được thu thập vào lúc thu hoạch bằng cách cân trọng lượng tổng số trái trên cây của từng nghiệm thức

Đường kính trái

Trang 33

Lấy ngẫu nhiên 10 trái phát triển bình thường của từng nghiệm thức ở thời điểm thu hoạch cho 1 lần lặp lại Sử dụng thước kẹp để đo, chiều dài được đo từ đầu (chỗ đính cuống trái) đến đuôi trái, chiều rộng được đo ở 3 vị trí (đầu, giữa và đuôi trái)

2.3.7 Đánh giá cảm quan đến chất lượng trái

Mỗi nghiệm thức được đánh giá lặp lại 10 lần, mỗi lần lặp lại là 1 người đánh giá Phương pháp đánh giá được tiến hành như sau: 10 người đánh giá được bố trí ở 10 vị trí khác nhau (cách biệt nhau) Trước khi đánh giá không được hút thuốc, không ăn những chất ngọt (những loại trái cây khác, kẹo và không được uống cà phê, trà) Đánh giá xong một nghiệm thức được tráng miệng bằng nước trước khi chuyển sang đánh giá nghiệm thức khác Đánh giá cảm quan chất lượng trái: lấy mức độ nhân cho hệ số các chỉ tiêu sau đó quy ra điểm tổng để đánh giá cho từng nghiệm thức

Ngày đăng: 12/04/2018, 07:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm