BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học với tên đề tài: “Ảnh hưởng của bao trái Thái Lan lên sự thay đổi màu sắc vỏ, đặc tính nông học và phẩm chất trái cam Sành Ci
Trang 1(Citrus nobilis var typica Hassk)
TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Trang 2(Citrus nobilis var typica Hassk)
TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGs.Ts Trần Văn Hâu
Trang 3BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học với tên đề tài:
“Ảnh hưởng của bao trái Thái Lan lên sự thay đổi màu sắc vỏ, đặc tính nông học
và phẩm chất trái cam Sành (Citrus nobilis var typica Hassk) tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp”
do sinh viên Lê Trí Nhân thực hiện
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày ….tháng ….năm 2011
Cán bộ hướng dẫn
PGs.Ts Trần Văn Hâu
Trang 4BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“Ảnh hưởng của bao trái Thái Lan lên sự thay đổi màu sắc vỏ, đặc tính nông học
và phẩm chất trái cam Sành (Citrus nobilis var typica Hassk) tại huyện Lai Vung,
tỉnh Đồng Tháp”
Do sinh viên: LÊ TRÍ NHÂN thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày .tháng
năm 2011
Ý kiến hội đồng: ………
………
………
Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011
Trang 5v
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lê Trí Nhân
Trang 6vi
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Nơi sinh: Mỹ Tho, Tiền Giang
Con ông Lê Tấn Luật và bà Nguyễn Thị Thủy
Địa chỉ liên lạc: 17/6 Lý Thường Kiệt, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang Điện thoại: 01669008948
E-mail: vito1502@yahoo.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1996 – 2001: Trường Tiểu học thủ khoa Huân
Địa điểm: Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang
2001 – 2005: Trường Trung học cơ sở Xuân Diệu
Địa điểm: Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang
2005 – 2008: Trường Trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu
Địa điểm: Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang
2008 – 2011: Học đại học chuyên ngành Nông học, trường Đại Học Cần Thơ
Địa điểm: Xuân Khánh, Ninh Kiều, Cần Thơ
Cần Thơ, ngày 12 tháng 11 năm 2011
Người khai kí tên
Lê Trí Nhân
Trang 7vii
người thân đã giúp đỡ, động viên con trong suốt thời gian qua
Chân thành cảm ơn thầy Trần Văn Hâu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn thầy cố vấn học tập Phạm Ngọc Du và Nguyễn Trọng Ngữ, cùng toàn thể quý thầy cô khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức
mà quý thầy cô đã truyền dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời
Gửi lời cảm ơn đến chị Nguyễn Thị Phúc Nguyên cùng các anh chị ở Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng và các bạn Nông Học khoá 34 đã đóng góp, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 8viii
Hassk) tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” Luận văn Tốt nghiệp đại học Khoa
Nông nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ, 57 trang
Người hướng dẫn khoa học: PGs.Ts Trần Văn Hâu
TÓM LƯỢC
Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2010 trên giống cam Sành 6 năm tuổi, với mục tiêu tìm ra ảnh hưởng của bao trái Thái Lan lên sự thay đổi về màu sắc vỏ, đặc tính nông học và phẩm chất trái cam Sành Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với bốn nghiệm thức (bao Thái Lan, đối chứng bao Đài Loan, đối chứng bao nylon đen và đối chứng không bao), bảy lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một cây Mỗi nghiệm thức bao
28 trái Các chỉ tiêu theo dõi của thí nghiệm gồm có sự thay đổi màu sắc vỏ trái, đặc tính nông học (trọng lượng vỏ, trọng lượng hột và trọng lượng trái, chiều cao…) và phẩm chất trái (hàm lượng acid tổng số, vitamin C, độ Brix, độ cứng, hàm lượng nước) Thí nghiệm được theo dõi và phân tích từ 15 ngày sau khi bao trái đến thu hoạch (60 ngày) Kết quả cho thấy bao Thái Lan và đối chứng nylon đen đã có hiệu quả trong việc thay đổi màu sắc vỏ trái từ giai đoạn 45 ngày sau khi bao trái đến thu hoạch Bên cạnh đó độ cứng vỏ trái ở NT bao Thái Lan đã được cải thiện ở giai đoạn 30 ngày SKBT đến thu hoạch Các chỉ tiêu về phẩm chất (hàm lượng acid tổng
số, vitamin C, độ Brix) và đặc tính nông học của trái không thay đổi khi được sử dụng bao Thái Lan
Trang 91.3 MỘT SỐ THAY ĐỔI VỀ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC VÀ
PHẨM CHẤT CỦA TRÁI CAM TRONG QUÁ TRÌNH
Trang 11xi
2.3 Trái sau khi được bao với các NT khác nhau (bao Thái Lan, bao
nylon đen, bao Đài Loan và đối chứng treo bảng) tại Lai Vung,
Đồng Tháp, 2011
16
3.3 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến độ Brix (%) của trái cam
Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, ĐồngTháp,
2011
27
3.4 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến hàm lượng TA (mg/ 100g)
của trái cam Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung,
Đồng Tháp, 2011
28
3.5 Ảnh hưởng của các loại bao đến hàm lượng Vitamin C (mg/
100g) của trái cam Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai
Vung, Đồng Tháp, 2011
29
3.6 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến hàm lượng nước (%) của
trái cam Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, Đồng
Tháp, 2011
30
3.7 Ảnh hưởng của các loại bao đến (a) chiều cao (cm) và (b) đường
kính (cm) trái cam Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai
Vung, Đồng Tháp, 2011
31
3.8 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến độ dày vỏ (cm) của trái cam
Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, Đồng Tháp,
2011
32
3.9 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến (a) trọng lượng trái (g), (b)
trọng lượng vỏ (g), (c) trọng lượng hột của trái (g) ở giai đoạn
15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, Đồng Tháp, 2011
33
Trang 12xii
1.1 Sản lượng (triệu tấn) cam năm 2005 và 2008 của một số nước
trên thế giới
2
1.2 Hàm lượng vitamin chứa trong cam, chanh, quýt, bưởi 3
3.1 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến chỉ số L* của vỏ trái cam
Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, Đồng Tháp,
2011
23
3.2 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến chỉ số b* của vỏ trái cam
Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, Đồng Tháp,
2011
24
3.3 Ảnh hưởng của các loại bao trái đến chỉ số a* của vỏ trái cam
Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung, Đồng Tháp,
2011
25
3.4 Ảnh hưởng của các loại bao đến độ cứng (kgf/cm2) của vỏ trái
cam Sành ở giai đoạn 15-60 ngày SKBT tại Lai Vung,
ĐồngTháp, 2011
26
Trang 13xiii
Trang 14MỞ ĐẦU
Theo thống kê, trên phạm vi cả nước trồng khoảng 87 ngàn ha cam và quýt Hàng năm nó cung cấp khoảng 606,5 ngàn tấn cho thị trường Trong các vùng trồng cam, quýt ở nước ta, Đồng Bằng sông Cửu Long là vùng trồng lớn nhất, chiếm đến 56% diện tích và 71% sản lượng Trong nhóm cây có múi thì cây cam Sành giữ vị trí hàng đầu về tất cả các mặt diện tích, sản lượng, giá trị và hàng năm cung cấp sản lượng khá lớn cho thị trường khoảng 180 ngàn tấn (Nguyễn Minh Châu, 1998)
Do nước ta nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới nên vỏ cam Sành có màu xanh đậm, kể cả khi trái già và thậm chí khi chín hết cỡ, vỏ trái vẫn mang màu xanh Hương vị thơm ngon, mọng nước là những đặc điểm nổi trội khiến người tiêu dùng trong cả nước ưa chuộng, thị trường luôn có nhu cầu Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập để vươn mình ra biển lớn Điều này đã tạo nên sự thuận lợi cho hàng hóa cũng như nông sản Việt Nam có thêm thị trường tiêu thụ rộng lớn Bên cạnh đó cũng có sự khó khăn nhất định, khi rào cản của các nước phát triển đòi hỏi về mặt hình thức lẫn chất lượng của sản phẩm
Những năm gần đây, các nhà vườn đã tiến hành sử dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và biện pháp bao trái được thực hiện nhằm ngăn chặn sự gây hại của sâu bệnh và giảm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Các loại bao được nhà vườn sử dụng như: bao MX (do công ty Mai Xuân sản xuất), bao giấy dầu, bao nylon và bao Đài Loan Các loại bao trên đã có tác dụng trong việc hạn chế sâu bệnh và không làm thay đổi chất lượng và màu sắc vỏ trái Song song với đó thì việc nghiên cứu về làm thay đổi màu sắc vỏ trái cam Sành sau khi thu hoạch từ xanh sang vàng nhằm nâng cao vẻ bên ngoài của vỏ trái (Nguyễn Văn Phong, 1999) Hiện nay trên thị trường xuất hiện loại bao trái Thái Lan mà ưu điểm nổi bật của nó là làm cho vỏ trái trở nên vàng tươi khi chín Điều này là nỗi lo lắng của nhà vườn về chất lượng sản phẩm khi mà thị trường đã quen với cam Sành xanh Do đó
đề tài “Ảnh hưởng của bao trái Thái Lan lên sự thay đổi màu sắc vỏ, đặc tính nông
học và phẩm chất trái cam Sành (Citrus nobilis var typica Hassk) ở huyện Lai
Vung, tỉnh Đồng Tháp” được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề trên
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CÂY CÓ MÚI 1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Theo Nguyễn Văn Luật (2008) cây có múi có mặt khắp mọi nơi: từ xích đạo đến vĩ tuyến 430, từ độ cao bằng mặt biển tới núi cao 2,500 m Một số loài cam quýt
có nguồn gốc phát sinh ở Đông Nam Châu Á Trong đó một vài loài cam quýt cũng như các loài thân cận được phân bố từ Đông Bắc của Ấn Độ qua Miến Điện và một vùng phía Nam của đảo Hải Nam Những loài này bao gồm: chanh tây, chanh ta, chanh yên, bưởi, cam ngọt, cam chua.Ở Châu Âu, chanh yên là loại trái cây đầu tiên trong giống cam quýt được biết đến được trồng nhiều ở Ba Tư khoảng 300 năm trước công nguyên Các nước trồng nhiều chanh như Mỹ, Ý, Ấn Độ, Tây Ban Nha
Bảng 1.1 Sản lượng (triệu tấn) cam năm 2005 và 2008 của một số nước trên thế giới
Trang 16Các giống cam chua và cam ngọt tuy xuất hiện chậm hơn nhưng đã được trồng phổ biến khắp nơi trên thế giới (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong 2004) Theo Trần Thế Tục (1980) họ Cam gồm: cây bưởi bung, cây quýt rừng, quýt gai, cây bưởi, cây bưởi chùm, cây quất, cây chanh yên, cây phạt thủ, cây chanh giấy, cây chanh núm, cây cam đắng, cây cam chanh, cây quýt, cây chanh lai, cây chấp, cây hồng bì, cây chanh sần, cây kim quất Nguyễn Minh Châu (1998) nhận định rằng cam quýt là loài cây ăn trái quý nên diện tích ngày càng được mở rộng chỉ tính riêng ở ĐBSCL có trên 37 ngàn ha được trồng nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng Theo Trần Văn Hâu (2009) diện tích trồng cây có múi ở nước ta có hơn 40.000 ha chiếm hơn 60% tổng diện tích trồng cây có múi trong cả nước và là loại trái cây có diện tích lớn nhất ở ĐBSCL và cam Sành được trồng với diện tích nhiều nhất ở ĐBSCL vì đặc tính và phẩm chất cũng như lợi nhuận mà nó đem lại rất lớn
Tuy được gọi là cam nhưng có đặc tính giống quýt nên được gọi là quýt
“King” Ở nước ta, chưa biết chính xác là cam, quýt đươc gieo trồng từ bao giờ, nhưng chắc chắn chúng là một trong những loại cây trồng trong vườn lâu nhất và phổ biến nhất (Nguyễn Danh Vàn, 2006)
1.1.2 Giá trị dinh dưỡng của trái cây có múi
Bảng 1.2 Hàm lượng vitamin chứa trong cam, chanh, quýt, bưởi (Nguyễn Bảo Vệ và
Lê Thanh Phong, 2004)
Trang 17cho cơ thể, nhất là vitamin C Vị chua nhẹ giúp dễ tiêu hoá và tuần hoàn máu Ngoài ra trong trái còn chứa nhiều axit có hoạt tính sinh học cao giúp giảm các quá trình lão hoá của cơ thể tăng cường sức đề kháng Cam Sành thường được sử dụng
để ăn tươi hoặc để chế biến nước giải khát, mứt kẹo, nước xi rô… Vỏ và lá cam chứa nhiều tinh dầu có giá trị nên thường được sử dụng để chưng cất (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.2 SỰ ĐẬU TRÁI VÀ RỤNG TRÁI NON CỦA CÂY CÓ MÚI
1.2.1 Sự đậu trái
Theo Trần Văn Hâu (2009) chồi hỗn hợp có mang ít hoa và nhiều lá có tỷ lệ giữ trái đến khi trưởng thành cao nhất vì có sự gia tăng nồng độ CO2 và carbohydrate hoặc do sự nối các mạch nhựa được cải thiện làm trung gian cho trái phát triển bởi các chất điều hòa sinh trưởng từ các lá non hoặc có khả năng chứa (sink) lớn hơn các chồi hỗn hợp Ngoài ra sự đậu trái dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ
và sự khô hạn của thời tiết Phát hoa có lá đậu trái cao hơn so với phát hoa không có lá; chồi có tỉ lệ lá/hoa càng cao tỉ lệ giữ trái đến thu hoạch càng cao
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994) tỷ lệ đậu trái bị ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố như: chất dinh dưỡng, lượng nước cung cấp, khí hậu, sâu bệnh Bộ tán lá của cây cũng ảnh hưởng đến đậu trái, nếu mỗi trái được nuôi với số lá thích hợp sẽ phát triển tốt hơn
1.2.2 Sự rụng trái non
Theo Trần Văn Hâu (2009) trái bắt đầu giai đoạn rụng sinh lý khi có kích thước từ 0,5-2,0 cm Giai đoạn này có liên quan đến chất điều hòa sinh trưởng, nước và các chất carbonhydrat Khi nhiệt độ cao (>350C) sự khô hạn dễ gây ra hiện tượng rụng trái non Sự rụng trái non bắt đầu khi ra hoa cho đến 3-4 tuần sau khi hoa nở Nhiệt độ cao và sự khô hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến giảm sự đồng hóa khí CO2 và sự rụng trái non gây ra bởi sự mất cân bằng của
carbon
Trang 18Bọ trĩ, nhện đỏ và các bệnh thán thư, bệnh loét làm lá và trái non bị vàng và rụng Những cây đã nhiễm bệnh vàng lá gân xanh (greening) tỉ lệ trái non bị rụng cũng rất cao
Sự rụng trái cũng bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu (thời gian hoa nở gặp mưa, lạnh, ẩm độ không khí cao) cản trở hoạt động của côn trùng hoặc làm vỡ hạt phấn Nhiệt độ cao hoặc thấp quá trong những ngày đầu tiên sau khi đậu trái cũng là nguyên nhân gây ra sự hư phôi (Bùi Mai Phương, 2003) Môi trường cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến các biến đổi sinh lý, sinh hóa bên trong thực vật, do đó có tác động lớn đến sự rụng trái Yếu tố môi trường cảm ứng lão suy như khô hạn, cạnh tranh dinh dưỡng, mất cân bằng dinh dưỡng, nhiễm bệnh hay bị côn trùng tấn công đều kích thích sự rụng trái (Bùi Trang Việt, 1989)
1.3 MỘT SỐ THAY ĐỔI VỀ ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC VÀ PHẨM CHẤT CỦA TRÁI CAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
1.3.1 Màu sắc của vỏ trái
Sự thay đổi màu sắc trong quá trình chín của trái trải qua hai quá trình:
+ Sự giảm diệp lục tố trong khi trái chín do có sự giảm diệp lục tố a làm cho màu lục biến mất
+ Sự tổng hợp các sắc tố mới như: cảotenoid, lycopene, anthocyanin…
Sự mất màu xanh này là do sự phân hủy cấu trúc của diệp lục tố, sự thay đổi
pH của màng lạp thể cùng với sự tiết acid hữu cơ từ không bào vào các hệ thống oxy hóa và sự có mặt của enzym chlorophyllase (Hart Mann, 1992 trích dẫn bởi Trần Thị Kim Ba, 1998)
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2001) cho rằng ở cây có múi khi nhiệt độ cao sẽ làm trái chín sớm hơn bình thường và màu sắc trái chín không đẹp
so với ở nhiệt độ thấp các sắc tố sẽ hình thành nhiều hơn làm trái khi chín có màu vàng cam rất đẹp Ở ĐBSCL biên độ nhiệt giữa ngày và đêm biến động không cao nên khi chín vỏ trái của cam thường còn màu xanh Trần Văn Hâu (2004) cho rằng trong điều kiện á nhiệt đới màu sắc vỏ trái phát triển tốt hơn so với điều kiện nhiệt
Trang 19đới Diệp lục tố bắt đầu bị phá hủy khi nhiệt độ ban đêm <130
C tạo điều kiện cho các sắc tố màu được tổng hợp
Trong thời gian trái chín màu sắc của vỏ trái sẽ chuyển dần từ xanh sang vàng do diệp lục tố biến mất để lại sắc vàng trên vỏ trái Màu xanh của trái là do sự hiện diện của chlorophyll, trong quá trình chín chlorophyll bị phân hủy và tổng hợp các carotenoid nên làm trái chuyển sang màu vàng Khi trái chín, lượng sắc tố
carotenoid và xanthophyll sẽ gia tăng (Satyan và ctv., 1986)
Theo Medlicott 1986, được trích dẫn bởi Phạm Thị Thanh Thảo (2009) cho rằng sự thay đổi màu sắc ở vỏ trái là do quá trình suy giảm hàm lượng diệp lục tố và cấu trúc màng diệp lục bắt đầu bị phân hủy
Khi khảo sát về sự thay đổi màu sắc trên cam Sành Nguyễn Ngọc Tuyết (2003) cho rằng sự thay đổi màu ở trái có thể xảy ra trong suốt quá trình phát triển, thành thục và chín khi đang còn ở trên cây Những thay đổi này có thể xuất hiện như việc mất chlorophyll, sự phát triển carotenoid (có màu vàng, cam, đỏ), anthocyanin và nhiều hợp chất phenol khác Phan Thanh Sang (2008) cho rằng quá trình biến đổi từ xanh sang vàng, da cam ở cam Sành sau thu hoạch không chỉ do quá trình phân giải, phá hủy cấu trúc của chlorophyll mà con do quá trình thay đổi
pH và quá trình oxy hóa Việc mất chlorophyll thường đi kèm với việc tổng hợp hoặc lộ ra các sắc tố đỏ hoặc vàng của carotenoid
1.3.2 Độ cứng của vỏ trái
Độ cứng giảm khi trái chín là do ethylene trực tiếp gợi sự hoạt động của một
số enzyme thủy phân làm phân giải hợp chất pectin ở vách tế bào (Mattoo và Modi, 1969) Khi nói về độ cứng của trái khi chín Trần Thị Kim Ba (1998) đề cập đến sự phân hủy hợp chất pectic acid làm cho vách tế bào trở nên mềm và thay đổi cấu trúc, cũng như giảm sự kết dính của tế bào với nhau
Theo Trần Minh Tâm (2000) cho rằng khi trái đang trong quá trình phát triển thì protopectin được hình thành trong màng của tế bào Khi trái chín dưới tác dụng của enzym propectinase hoặc sự phân hủy acid hữu cơ gia tăng thì propectin bị thủy phân thành pectin hòa tan, làm liên kết giữa các tế bào trở nên suy yếu vì thế trái
Trang 20mềm hơn.Theo Lê Thanh Phong và ctv (2002) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của
vật liệu bao trái cho xoài cát Hòa Lộc đã cho rằng ở xoài thương phẩm độ cứng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá đặc tính trái, xoài chín nhưng vẫn còn giữ được
độ cứng cao thì khi chuyên chở sẽ hạn chế tình trạng bầm dập, kéo dài được thời gian bảo quản và tiêu thụ Đối với các loại trái khi được sử dụng bao plastic thì sẽ giữ được độ cứng tốt nhất và hạn chế sự mất nước thấp nhất
1.3.3 Độ Brix
Trần Minh Tâm (2000) cho rằng ở điều kiện nhiệt độ cao sẽ làm trái có độ brix cao hơn so với nhiệt độ thấp, các enzyme thủy phân cũng hoạt động mạnh để phân giải các chất dự trữ thành những chất tan làm cho độ brix của trái tăng lên
Nguyễn Ngọc Tuyết (2003) cho rằng nên thu hoạch cam Sành vào giai đoạn 24-32 tuần SKĐT lúc này độ Brix của trái trong khoảng 7,07-9,93% Theo Trần Văn Hâu (2004) cho rằng cam Sành có độ brix trung bình khoảng 8,4% dao động khoảng 7,2-11,3%
1.3.4 Vitamin C
Theo Lee và Kader (2000), vitamin C gồm ascorbic acid và dehydroascorbic acid, là thành phần dinh dưỡng quan trọng, có hàm lượng thay đổi tùy theo giống, điều kiện khí hậu, kỹ thuật canh tác, độ thuần của trái, xử lý trước và sau thu hoạch
Theo Nguyễn Văn Mười và ctv (2005).Trong cây có múi, hàm lượng
vitamin C thường hiện diện với hàm lượng cao và được tổng hợp rất nhanh trong
giai đoạn thuần thục của trái Quách Đĩnh và ctv (1996) cho rằng đối với nhóm cam
quýt vitamin C chiếm ưu thế hơn cả so với các vitamin khác, với hàm lượng có thể đạt 130-170mg/100g
1.4 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRÁI Ở CÂY CÓ MÚI
Theo Nguyễn Thị Thanh Diệu (2000) cho rằng quá trình chín và phát triển của trái cam có thể chia làm 3 giai đoạn: (a) giai đoạn phát sinh và phát triển, giai đoạn này không ngừng gia tăng khối lượng bằng sự phân chia tế bào cho đến khi trái đạt kích thước cuối cùng đồng thời diễn ra các quá trình tổng hợp các thành
Trang 21phần hóa học của trái; (b) giai đoạn chín, đây là giai đoạn dữ trữ của trái, giai đoạn này vỏ trái có sự thay đổi lớn về màu sắc từ màu vàng sang vàng cam và vỏ trái mỏng dần; (c) giai đoạn lão hóa, đây là giai đoạn mà quá trình đồng hóa (tổng hợp) phải nhượng bộ cho quá trình dị hóa (phân hủy), dẫn đến sự lão hóa và chết mô
Theo Trần Văn Hâu (2009) Sự phát triển của trái cây có múi theo đường cong đơn giản, gồm 3 giai đoạn như các loại trái cây khác:
(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 - 6 tuần khi ra hoa (2) Sự phát triển kích thước trái:
- Chanh: 2 - 3 tháng
- Cam hơn 6 tháng (3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng Một số đặc tính của trái như kích thước, hình dạng trái, cấu trúc và bề dày của con tép được xác định trong hai tháng đầu sau khi ra hoa
1.5 NHU CẦU SINH THÁI Ở CÂY CÓ MÚI
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất và sự phát triển của trái Trái thường chín sớm hơn so với thời điểm thu hoạch, ít xơ và ngọt nhưng khả năng tồn trữ kém và màu sắc trái cũng không đẹp (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong 2004) Theo Trần Văn Hâu (2009) cho rằng nhiệt độ để rễ cây có múi tăng trưởng là 17-300C và sự hấp thụ dinh dưỡng và nước tỷ lệ thuận với nhiệt độ Đồng thời khí hậu ẩm, lạnh sẽ giúp trái phát triển tốt hơn trong điều kiện khô nóng
1.5.2 Ánh sáng
Cây có múi phát triển trong điều kiện cường độ ánh sáng khoảng 15.000 lux Cường độ ánh quá cao sẽ gây ra một số triêụ chứng như nám trái thường gặp ở cam Sành, mất nước và sinh trưởng kém (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong 2004) Sự quang hợp ở cây có múi sẽ đạt tối đa khi có ánh sáng trực
10.000-xạ với mức 30-35% (Trần Văn Hâu 2004)
Trang 221.6 MỘT SỐ LOẠI SÂU BỆNH GÂY HẠI TRÊN CAM QUÝT
1.6.1 Côn trùng
Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella) là đối tượng gây hại phổ biến trong các
vườn cam quýt, chúng tập trung gây hại ở các vườn ươm và cây tơ vào giai đoạn lá
non (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Rầy mềm (Toxoptera aurantii và Toxoptera
citricidus) chúng gây hại trên lá non và đọt non kết hợp với nấm bồ hóng ảnh hưởng
đến sự quang hợp của lá Một đối tượng rất quan trọng là rầy chổng cánh
(Diaphorina citri) lây truyền bệnh vàng lá gân xanh làm thiệt hại nghiêm trọng cho các vườn cam quýt Bên cạnh đó nhện đỏ (Panonychus citri) và nhện vàng (Phyllocoptruta oleivora) gây triệu chứng da cám và da lu hại trên trái gây ảnh
hưởng đến giá trị thương phẩm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Cây có múi có 20 loại côn trùng gây hại phổ biến thuộc 7 bộ và 18 họ Các loài này gây hại ở hầu hết các bộ phận của cây, giai đoạn chính ra hoa, trái, lộc non,
lá Một số loài phổ biến là rầy, rệp muội, sâu vẽ bùa, sâu nhớt, bướm phượng và nhện 1
1.6.2 Bệnh
Một trong những trở ngại lớn của việc sản xuất cây có múi là bệnh vàng lá
gân xanh do vi khuẩn (Liberobacter asiaticum) gây hại trên các nhánh có lá non làm
1
Trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận 1998
Trang 23lá chuyển sang màu vàng trong khi gân lá vẫn còn xanh Và một số bệnh do nấm
gây ra như bệnh thối gốc chảy mủ (Phytopthora), chết cây con (Rhizoctonia solani)
khiến sản lượng và chất lượng trái bị giảm sút (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.7 HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP BAO TRÁI VÀ MỘT SỐ LOẠI BAO ĐƢỢC SỬ DỤNG
1.7.1 Hiệu quả của biện pháp bao trái
Đa số các loại côn trùng trưởng thành đều bay theo phương thẳng, khi đậu vào trái được bao bởi giấy nylon để tiến hành đẻ trứng, gặp bề mặt giấy nylon trơn, nhẵn nên bướm và trứng không bám được, do vậy hầu hết các loại bọ xít, xén tóc,
bọ cánh cứng, ruồi đục trái, bọ rầy… không có khả năng gây hại.Việc bao trái đã tránh được tình trạng ruồi đục trái và các loại sâu bệnh gây hại khác, giữ được vỏ trái bóng đẹp, hạn chế phun thuốc, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và tạo ra sản phẩm an toàn, bán được giá cao là những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn nhà vườn Khi trái được bao bằng túi nylon màu trắng, chất diệp lục ở vỏ quả vẫn hấp thụ được ánh sáng và quang hợp bình thường như quả để tự nhiên, do vậy màu sắc của trái không thay đổi từ khi nhỏ tới khi chín, đảm bảo màu sắc hấp dẫn tự nhiên 2
Theo Mendozair và Wills (1984), thì trái cây được bao vào ngày thứ 55 hay
60 kể từ lúc ra hoa hoàn chỉnh hoặc sau giai đoạn rụng sinh lý, tuy nhiên cũng có thể bao sớm hơn Nguyễn Thị Tuyết Mai (2005) xác định thời điểm bao trái cam Sành trước thu hoạch là vào thời điểm 16-20 tuần sau khi đậu trái đã không làm thay đổi các chỉ tiêu về trọng lượng, độ brix, acid tổng số, hàm lượng nước quả, vitamin C, đường khử đồng thời cải thiện được độ bóng sáng của vỏ trái so với NT
không bao Theo Nguyễn Văn Luật và ctv (2004) cho rằng ở cây có múi nên bao
trái khi được 35-45 ngày tuổi, trước khi bao nên tiến hành phun thuốc sâu và nấm bệnh trước vài ngày
Ở mận, khi hoa mận nở khoảng ba đến ngày, phun xịt thuốc trừ sâu, thuốc trị nấm một lần đều trên toàn thân cây, tán cây Đến năm tới bảy ngày sau khi hoa rụng
2Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia, 2006; 2007.
Trang 24râu, tượng trái, thì dùng túi nylon đã cắt đáy bao trùm chùm trái theo hướng thẳng xuống và dùng dây thun buộc giữ chặt túi Túi nylon trống đáy vừa giữ được sự thông thoáng, vừa có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa các loại côn trùng, sâu và ruồi đục trái bảo vệ trái đến khi thu hoạch Chi phí đầu tư bao nylon và công bao trái ít hơn nhiều so với chi phí phun xịt thuốc trừ sâu Hơn nữa, túi nylon còn có thể tái sử dụng cho các mùa vụ tiếp theo 3
Bao trái làm giảm tổn hại do ruồi đục quả và bệnh đốm vòng nhưng gia tăng đốm lá, đốm nâu và bệnh sinh lý, hạn chế nám quả và hạn chế gây hại của côn trùng chích hút (Yan và Gao, 2002) Việc bao trái còn hạn chế việc sử dụng thuốc trừ nấm trong phòng trừ bệnh sau thu hoạch Bao trái làm giảm tỷ lệ quả bị tổn hại do bệnh
thối quả (Xanthominas axonopodis pv citri) và các loại côn trùng chích hút (Lai và
Liu, 2001 được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2005)
Theo Đỗ Minh Hiền (2002) việc bao trái bưởi Năm Roi trước thu hoạch vào thời điểm 8-10 tuần SKĐT đã có hiệu quả tốt trong việc cải thiện hình dáng bên ngoài và cải thiện màu sắc vỏ trái so với đối chứng Bao trái trước thời điểm 8 tuần không cải thiện được chất lượng quả, làm cho quả có kích thước nhỏ hơn và dạng
quả xấu hơn bình thường Theo Lê Thanh Phong và ctv (2002) cho rằng trái xoài
cát Hòa Lộc được bao bằng bao nylon hoặc bao nylon có giấy báo bên trong ở giai đoạn 26 và 56 ngày sau khi đậu trái thì kích thước, trọng lượng, chỉ số diệp lục tố,
TA, đường tổng số và TSS không có sự khác biệt ý nghĩa so với không bao
Kim và ctv (2000) đã sử dụng 5 loại bao khác nhau trên đào: bao giấy trắng,
giấy trắng, bao giấy vàng, giấy vàng và báo nhằm thay đổi điều kiện khí hậu bên trong bao (nhiệt độ, ánh sáng và ẩm độ) Kết quả bao giấy trắng và giấy trắng làm tăng hàm lượng tổng chất rắn hòa tan trong khi ở giấy báo thì thấp hơn, fructose không có sự khác biệt giữa các NT trong khi đó các bao sử dụng màu có xu hướng làm tăng hàm lượng glucose và sucrose lên 6,52% Trái trong bao có hệ số ánh sáng thấp, hệ số L cao nhất trong khi trái ở bao giấy trắng có hệ số a cao nhất Chất diệp lục của bao giấy trắng đã cao hơn so với các bao khác
3Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia, 2009.
Trang 25Xu và ctv (2010) đã tiến hành khảo sát tác động của ánh sáng đến chất lượng
của trái Sơn Trà bằng việc sử dụng bao giấy trắng và bao 2 lớp bên trong màu đen bên ngoài màu xám Kết quả cho thấy bao trái làm giảm trọng lượng trái, hàm lượng đường ở trái được bao với bao màu trắng cao hơn so với bao 2 lớp
1.7.2 Một số loại bao đang đƣợc sử dụng
Một số loại bao thường được các nhà vườn dùng ở Việt Nam như bao giấy, bao Đài Loan, và bao MX của công ty Mai Xuân có những ưu khuyết điểm như sau: bao giấy thì rẻ tiền, dễ tìm và dễ sử dụng nhưng dễ bị rách khi gió mưa, thời gian sử dụng ngắn Bao Đài Loan có những thuận lợi là nước không thấm qua bao, không làm mất lớp phấn trên trái và có thể sử dụng 2-3 vụ, tuy nhiên giá của nó khá cao so với các loại bao khác Bao MX của công ty Mai Xuân sản xuất rất thuận lợi khi bao những trái xa cành nhưng chỉ sử dụng trong một mùa và giá cũng khá cao (Nguyễn Ngọc Anh Thư, 2004) Trước khi bao trái phải tỉa bỏ những trái đeo bên cạnh, những cành lá cản trở quanh cuống trái, sau đó tiến hành phun thuốc trừ sâu và nấm bệnh trước khi bao một ngày, dùng túi bao chuyên dùng để bao trái và phải cột chặt miệng bao, nếu không sâu rầy vào trong sẽ phá hoại trái nhiều hơn Nên chọn thời điểm bao sau khi rụng sinh lý, thường là khoảng 45 ngày sau khi đậu trái đối với cây dài ngày như cây có múi, xoài, sầu riêng (Nguyễn Quốc Chương, 2008)
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Thời gian, địa điểm
Đề tài được thực hiện tại: ấp Tân Mỹ, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Thời gian được thực hiện: 27/10/2010 đến 27/12/2010
Địa điểm phân tích mẫu: phòng thí nghiệm bộ môn khoa học cây trồng, khoa nông nghiệp, trường Đại Học Cần Thơ
Hình 2.1 Các loại bao dùng trong thí nghiệm (Đài Loan: màu trắng, Thái
Lan: màu vàng, nylon đen)
Trang 27- Bao Đài Loan: Khổ 17 x 32cm, màu trắng, bằng giấy không thấm nước, cuối bao được dán ở khoảng giữa (hở hai bên), có khả năng cho ánh sáng xuyên qua, miệng có dây chì dùng để quấn chặt cuống trái, khi bao không cho nước vào
- Bao Thái Lan: Khổ 19 x 30cm, bằng giấy không thấm nước, gồm có hai lớp: lớp ngoài có màu vàng xám và bóng ở bên ngoài, xám đen ở bên trong; lớp trong màu đen, mỏng hơn, cuối bao được dán kín và ở gốc bao được cắt một lổ Phía trên miệng có sợi dây chì dung để quấn chặt cuống trái, không cho nước vào
- Bao nylon đen: Khổ 19 x 30cm, có 2 lớp màu đen làm bằng màng phủ nông nghiệp không thấm nước, cuối gốc bao mỗi bên được cắt một lổ Phía trên khi bao dùng sợi dây chì quấn lại chặt cuống trái, không cho nước vào
- Thước kẹp: đo kích thước trái
- Xuyên thấm kế Mitutoyo: đo độ cứng của trái
- Khúc xạ kế (ATAGO) sản xuất tại Nhật đo độ Brix của thịt trái
- Máy đo màu Minolta CR-200 : đo màu sắc vỏ trái
- Cân điện tử (hiệu STATORIUS) dùng để cân trọng lượng trái, trọng lượng vỏ, trọng lượng hột
- Tủ sấy (hiệu SIBATA)
Vệ và Lê Thanh Phong (2004) khi nhiệt độ, ẩm độ cao và lượng mưa nhiều sẽ tạo
điều kiện cho sự phát triển cho sâu ăn lá (Papilio rumanzovia) gây hại vào đầu và cuối mùa mưa và bệnh thối gốc chảy mủ (Phytopthora) Theo Trần Văn Hai (1999)
mưa có tác dụng làm hạn chế sự phát triển của côn trùng và nhện vì khi mưa nước
sẽ có tác dụng cuốn trôi bớt mật số và làm hư trứng của các loại côn trùng gây hại
Trang 28Tuy nhiên mưa cũng góp phần lớn trong việc phát tán nguồn bệnh Qua tháng 11 và
12 ẩm độ tương đối, lượng mưa giảm ở mức thấp hơn đặc biệt lượng mưa ở tháng
12 chỉ còn 71,1 mm và số giờ nắng cũng tăng lên thuận lợi cho sự phát triển của trái
0 150
Hình 2.2 Số liệu khí tƣợng tại tỉnh Đồng Tháp, năm 2010
(a) Lƣợng mƣa và độ ẩm trung bình hàngtháng;
(b) Nhiệt độ và giờ nắng trung bình hàng tháng
Trang 29Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn NT (tương ứng với bao Thái Lan, bao ĐC Đài Loan, bao ĐC nylon đen và ĐC không dùng bao), bảy lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với một cây Mỗi NT bao 28 trái
Nghiệm thức 1: Bao Thái Lan
Nghiệm thức 2: Bao ĐC Đài Loan
Nghiệm thức 3: Bao ĐC nylon đen
Nghiệm thức 4: ĐC không bao
2.2.2 Thời điểm và cách bao trái
2.2.2.1 Thời điểm bao trái
Tiến hành bao trái ở giai đoạn 60 ngày trước thu hoạch tương đương với khoảng 26 tuần sau khi đậu trái
Phun thuốc ngừa sâu, bệnh trước khi bao một ngày
2.2.2.2 Cách bao trái
Chọn những trái có độ tuổi đồng đều trên cùng một cây, không bị sâu bệnh tấn công, không bị tổn thương do các nguyên nhân khác, tỉa bớt những trái nằm kề xung quanh Mỗi bao chỉ bao một trái Khi bao cần quấn chặt miệng bao sát cuống trái (nhưng không làm tổn thương cuống) sao cho nước không thấm vào được
Hình 2.4 Trái sau khi đƣợc bao với các NT khác nhau (bao Thái Lan, bao nylon
đen, bao Đài Loan và đối chứng treo bảng) tại Lai Vung, Đồng Tháp,
2011
Trang 302.2.3 Qui trình canh tác của cây Cam Sành
Chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của nông dân qua nhiều năm Lượng phân được sử dụng là N:P:K với công thức 20:20:15 kết hợp urê với tỷ lệ 3:1 Số lần bón trong năm được chia làm 5-6 lần với liều lượng 1kg/cây Để tăng độ phì và hàm lượng dinh dưỡng chủ vườn còn sử dụng phân hữu cơ Trước khi tiến hành bao trái
1 ngày phun thuốc trừ nhện nhện đỏ và bọ trĩ gây hại bằng các loại thuốc Aba, Kumulux… với liều lượng ghi trên nhãn
2.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và thu thập số liệu
*Hình dạng bên ngoài của trái:
Lấy chỉ tiêu ở giai đoạn 15, 30, 45, 60 ngày sau khi bao trái Ghi nhận về sự
thay đổi màu sắc của vỏ trái
* Đặc tính trái
- Cân trọng lượng trái, trọng lượng vỏ, trọng lượng hột
- Đo chiều cao trái, đường kính trái và bề dày vỏ bằng thước kẹp
* Phẩm chất trái
- Độ cứng vỏ trái
- Hàm lượng Vitamin C
- Độ Brix của dịch trái
- Hàm lượng acid tổng số (TA)
- Hàm lượng nước trong con tép
2.2.5 Phương pháp phân tích
Cách thu mẫu: mẫu trái được thu 4 lần
-Lần 1: 15 ngày sau khi bao trái
-Lần 2: 30 ngày sau khi bao trái
-Lần 3: 45 ngày sau khi bao trái
-Lần 4: 60 ngày sau khi bao trái (thu hoạch)
Trang 31Mỗi NT thu 3 trái (4NT x 3trái/NT x 7LL = 96 trái/mỗi loại trái/1 lần thu mẫu) Mẫu trái thu xong mang về phòng thí nghiệm
Cam Sành: thu hoạch vào khoảng từ 28-30 tuần sau khi đậu trái Biểu hiện bên ngoài: vỏ quả căng mọng, hơi bong, màu xanh vàng Phần vỏ gần cuống trái hơi phồng lên, dễ tách ra khỏi thịt quả, thịt vàng, nhiều nước, vị chua ngọt, không hậu đắng
L*: biểu thị độ sáng tối, biến thiên từ 0-100
a*: biểu thị màu xanh lá cây đến màu đỏ, biến thiên từ -60 đến +60
b*: biểu thị màu xanh da trời đến màu vàng, biến thiên từ -60 đến +60
*Độ cứng của trái
Được xác định bằng.xuyên thấm kế Mitutoyo (sai số 0,01 mm) Đo ở 3 vị trí
khác nhau của trái sau đó lấy trung bình
1 phút thì ngưng quá trình chuẩn độ Đọc thể tích dung dịch 2,6 dichlophenolinindopenol 0,001N đã sử dụng Mẫu đối chứng lấy 2ml acid oxalic 1% đem chuẩn độ giống như trên
Trang 32
Công thức tính:
X (mg/100 g) =
m v
v b
a
*2
1
*008,0
*)(
*100
Trong đó:
a: Số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu vật
b: Số ml trung bình khi chuẩn độ mẫu đối chứng
v1: Thể tích dung dịch chiết ban đầu (100 ml)
v2: Thể tích dung dịch chiết để lấy chuẩn độ (10 ml)
m: Trọng lượng mẫu cân lúc đầu (g)
0,008: Số mg acid ascorbic tương đối với 1 ml dung dịch chuẩn độ 2,6- dichlophenol indophenol
*Độ Brix dịch trái
Dịch trái được đo bằng chiết quang hiệu Atago do Nhật sản xuất với thang
đo trong khoảng 0-32% Dịch trái được nhỏ trực tiếp lên lăng kính của chiết quang
kế và kết quả được ghi nhận
*Hàm lƣợng acid tổng số (TA)
Cân 2g mẫu đem nghiền nhỏ với nước cất đủ 50 ml và sau đó rút 2ml dịch mẫu đem li tâm 3 phút ở tốc độ 3000 vòng/ phút Lấy 1 ml nước trong của mẫu sau khi li tâm và 9ml nước cất đem định lượng Cho vào 3 giọt phenolthalein, lắc đều chuẩn độ bằng NaOH (0,01N) cho đến khi có màu hồng nhạt bền vững Phân tích lập lại 3 lần Mẫu đối chứng là 10ml nước cất Kết quả được tính như sau:
Trang 33Trong đó:
Vf: Thể tích của NaOH chuẩn độ mẫu trái (ml)
V0: Thể tích NaOH chuẩn độ mẫu Blank (ml)
Hàm nước trong con tép (%) = (W1 – W2) x 100 / (W1 – W0)
Trong đó: W0: Trọng lượng đĩa petri (g)
W1: Trọng lượng đĩa + mẫu tươi (g)
W2: Trọng lượng đĩa + mẫu khô (g)
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel và MSTAT C Dùng phương pháp phân tích phương sai để phát hiện sự khác biệt giữa các NT, giá trị trung bình được so sánh bằng phép thử LSD với mức ý nghĩa 5%
100
*
* 01 , 0
* ) ( Vf V0 K
{W/(W + V nước)}*Vmẫu
TA
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 GHI NHẬN TỔNG QUÁT
Qua đánh giá cảm quan biện pháp bao trái ở NT bao Thái Lan và NT bao nylon đen đã làm thay đổi màu sắc vỏ trái ở giai đoạn 45-60 ngày SKBT Trong quá trình thí nghiệm số trái bị rụng là rất ít (2 trái ở ĐC không bao, 1 trái ở ĐC nylon đen, 2 trái ở ĐC bao Đài Loan và 1 trái ở bao Thái Lan) Ở ĐC bao nylon đen do được làm bằng màng phủ nông nghiệp nên có khả năng hấp thụ nhiệt cao làm một
số trái bị nám vỏ Đồng thời trong quá trình theo dõi, ở NT đối chứng nylon đen bị đọng nước trong bao sau khi mưa
Hình 3.1 Trái bị nám ở nghiệm thức ĐC bao nylon đen
Trang 35Hình 3.2 Ảnh hưởng của các loại bao khác nhau lên sắc vỏ trái cam Sành giai
đoạn (a) 45 ngày SKBT và (b) 60 ngày SKBT ở Lai Vung, Đồng Tháp,
2011
3.2.1 Chỉ số L*
Qua Bảng 3.1 nhận thấy độ lán vỏ trái giữa các NT ở giai đoạn 15 ngày SKBT khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Ở giai đoạn 30-45 ngày SKBT độ lán vỏ trái của NT Thái Lan và NT nylon đen so với NT Đài Loan và NT không bao khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, tuy nhiên giữa NT Thái Lan và
NT nylon đen khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 5% Giai đoạn thu hoạch NT nylon đen khác biệt có ý nghĩa thống kê với NT Đài Loan và NT không bao ở mức 5%, đồng thời NT nylon đen khác biệt không ý nghĩa thống kê với NT Thái Lan ở mức 5%
Bao trái bằng bao Thái Lan ở giai đoạn 60 ngày trước thu hoạch không cải thiện được độ lán vỏ trái