BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG HUỲNH THỊ XUÂNTIÊN Đ Ề T ÀI XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LIPID VÀ CHỈ SỐ IOD CỦA BA GIỐNG DỪA Ở HUYỆN MỎ CÀY-B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HUỲNH THỊ XUÂNTIÊN
Đ Ề T ÀI
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LIPID VÀ CHỈ SỐ IOD CỦA BA GIỐNG DỪA
Ở HUYỆN MỎ CÀY-BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ CHĂN NUÔI THÚ Y
Cần Thơ, 2/2007 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Đ Ề T ÀI
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LIPID VÀ CHỈ SỐ IOD CỦA BA GIỐNG DỪA
Ở HUYỆN MỎ CÀY-BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ CHĂN NUÔI THÚ Y
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
LÊ THỊ MẾN HUỲNH THỊ XUÂN TIÊN
Cần Thơ, 2/2007 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Đ Ề T ÀI
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG LIPID VÀ CHỈ SỐ IOD CỦA BA GIỐNG DỪA
Ở HUYỆN MỎ CÀY-BẾN TRE
Cần Thơ, Ngày Tháng Năm 2007 Cần Thơ, Ngày Tháng Năm 2007
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN
LÊ THỊ MẾN
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH BẢNG 3
DANH SÁCH SƠ ĐỒ, HÌNH, BIỂU ĐỒ 4
TÓM LƯỢC 5
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
2.1 Giới thiệu chung về cây dừa (Cocos nucifera) 8
2.1.1 Giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng 8
2.1.2 Vai trò của phụ phẩm từ cơm dừa trong chăn nuôi 13
2.2 Phân loại các giống dừa ở ĐBSCL 14
2.2.1 Tầm quan trọng của công tác giống dừa 14
2.2.2 Phân loại 14
2.2.3 Các giống dừa ở Đồng bằng sông Cửu Long 15
2.3 Lipid 17
2.3.1 Giới thiệu chung về lipid 17
2.3.2 Vai trò của lipid 17
2.3.3 Nguồn gốc và phân loại lipid 19
2.3.4 Giá trị dinh dưỡng của dầu mỡ 20
2.3.5 Tính chất chung của lipid 26
2.3.6 Sự tổng hợp tiêu hóa và hấp thu lipid 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 33
3.1 Phương tiện thí nghiệm 33
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 33
3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 33
3.1.3 Nơi lấy mẫu 33
3.1.4 Dụng cụ hóa chất 35
3.2 Phương pháp thí nghiệm 35
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 35 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 53.2.2 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 36
3.2.3 Các chỉ tiêu phân tích 45
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Trọng lượng cơm dừa 46
4.2 Hàm lượng VCK của cơm dừa 48
4.3 Hàm lượng chiết chất ether của cơm dừa 49
4.4 Hàm lượng dầu thô của ba giống dừa 51
4.5 Chỉ số Iod 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Chỉ số Iod của ba giống dừa 6
Bảng 2.1 Thành phần của nước dừa tươi 10
Bảng 2.2 Thành phần của cơm dừa tươi 11
Bảng 2.3 Hàm lượng VCK và chiết chất ether của 5 giống dừa 12
Bảng 2.4 Thành phần hóa học của cơm dừa và khô dầu dừa 12
Bảng 2.5 Thành phần hoá học của bánh dầu dừa 14
Bảng 2.6 Một số giống dừa lai năng suất cao 17
Bảng 2.7 Đặc tính của trái trong một số giống dừa 17
Bảng 2.8 Chỉ số Iod của một số loại dầu mỡ 21
Bảng 2.9 Chỉ số Iod của những chất béo thông thường 21
Bảng 2.10 Chỉ số Iod của dầu mỡ thực phẩm 22
Bảng 2.11 Chỉ số Iod của các loại dầu 22
Bảng 2.12 Chỉ số Iod của mỡ heo 22
Bảng 2.13 Chỉ số Iod của chất béo thức ăn 23
Bảng 2.14 Thành phần acid béo no và không no 23
Bảng 2.15 Thành phần các acid béo trong một số loại dầu mỡ 24
Bảng 2.16 Đặc tính lý hóa của một số loại dầu thực vật 25
Bảng 2.17 Hàm lượng acid béo của 5 giống dừa 26
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 35
Bảng 3.2 Lượng chất thử cần lấy 42
Bảng 4.1 Trọng lượng cơm dừa ở trạng thái tươi 46
Bảng 4.2 Hàm lượng VCK của cơm dừa 48
Bảng 4.3 Hàm lượng chiết chất ether của ba giống dừa 49
Bảng 4.4 Hàm lượng dầu thô 51
Bảng 4.5 Kết quả phân tích chỉ số Iod 52 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7DANH SÁCH SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phân loại lipid 20
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tiến hành thí nghiệm 37
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ xác định vật chất khô 38
DANH SÁCH HÌNH Hình 3.1 Cây dừa Ta Xanh 34
Hình 3.2 Cây dừa Ta Vàng 34
Hình 3.3 Cây dừa Lửa 34
Hình 3.4 Buồng dừa Ta Xanh 34
Hình 3.5 Buồng dừa Ta Vàng 34
Hình 3.6 Buồng dừa Lửa 34
Hình 3.7 Dạng trái dừa Ta Xanh 34
Hình 3.8 Dạng trái dừa Ta Vàng 34
Hình 3.9 Dạng trái dừa Lửa 34
Hình 3.10 Dạng gáo dừa của ba giống 34
Hình 3.11 Màu quả của ba giống dừa 34
Hình 3.12 Cơm dừa của ba giống 34
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 46
Biểu đồ 4.2 48
Biểu đồ 4.3 49
Biểu đồ 4.4 51
Biểu đồ 4.5 52 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8TÓM LƯỢC
Thí nghiệm xác định hàm lượng lipid và chỉ số Iod của ba giống dừa ‘Ta Xanh’, ‘Ta Vàng’
và dừa ‘Lửa’ ở huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre được tiến hành tại phòng thí nghiệm Bộ môn
Chăn Nuôi, khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ từ tháng 9/2006 đến hết tháng 1/2007
Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với ba nghiệm thức là ba giống dừa và 5 lần lặp lại (khối) là số hộ đã thu mua dừa
Các chỉ tiêu đã được phân tích gồm:
Trọng lượng cơm dừa
Trọng lượng cơm dừa tươi (g/trái) của ba giống dừa phân tích khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P=0,533) Trong đó cao nhất là trọng lượng cơm dừa ‘Ta Xanh’ với 420g/trái, kế đến là dừa ‘Lửa’ với 382g/trái và thấp nhất là dừa ‘Ta Vàng’ với 356g/trái
Ở trạng thái sau sấy 65 0
C thì sự chênh lệch về trọng lượng cơm dừa vẫn không thay đổi dừa
‘Ta Xanh’ vẫn chiếm cao nhất với 208g/trái và thấp nhất là dừa ‘Ta Vàng’ với 189g/trái và
sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (P=0,852)
Hàm lượng VCK(%)
Hàm lượng VCK cũng có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P=0,226), trong đó cao nhất là dừa ‘Ta Vàng’ chiếm 50,74%, tiếp theo là dừa ‘Lửa’ chiếm 49,39% và thấp nhất là
dừa ‘Ta Vàng’ với 48,19%
Hàm lượng chiết chất ether (%)
Hàm lượng chiết chất ether ở trạng thái tươi của ba giống dừa khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P=0,656) dù vậy nhưng hàm lượng chiết chất ether của dừa ‘Ta Vàng’ vẫn cao hơn chiếm 33,22%, thấp nhất là dừa ‘Ta Xanh’ với 32,60%
Hàm lượng chiết chất ether ở trạng thái khô hoàn toàn của ba giống dừa khác nhau có ý nghĩa thống kê (P=0,006) trong đó dừa ‘Ta Xanh’ có tỉ lệ cao nhất chiếm 67,25%, dừa ‘Lửa’
chiếm 66,1% và thấp nhất là dừa ‘Ta Vàng’ chiếm 65,56%
Hàm lượng dầu dừa thô (%)
Tương tự hàm lượng chiết chất ether hàm lượng dầu thô của ba giống dừa ở trạng thái tươi cũng không có sự khác biệt trong đó dừa ‘Ta Vàng’ có phần cao hơn chiếm 35,1% và thấp
nhất là dừa ‘Ta Xanh’ chiếm 34,9% Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P=0,998)
Ở trạng thái khô hoàn toàn hàm lượng dầu dừa thô của ba giống dừa vẫn khác nhau không
có ý nghĩa thống kê (P=0,821) Tuy nhiên dừa ‘Ta Xanh’ vẫn có hàm lượng dầu thô cao nhất chiếm 71,97%, kế đến là dừa ‘Lửa’ chiếm 70,79% và cuối cùng là dừa ‘Ta Vàng’ chiếm
69,23%
Chỉ số Iod trong dầu của ba giống dừa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9Bảng 1 Chỉ số Iod của ba giống dừa
Giống Dừa Ta
Xanh
Dừa Ta Vàng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Do thành quả của công tác di truyền và chọn giống hiện nay đã tạo ra được nhiều giống gia súc lớn nhanh, hấp thu được những khẩu phần thức ăn có năng lượng cao Lượng dự trữ dầu mỡ của thế giới đã bão hòa, có lúc thừa Hai lý do trên dẫn đến việc đưa dầu thực vật và mỡ động vật vào chế biến thức ăn gia súc Năng lượng trao đổi của dầu mỡ cao hơn các nguồn nguyên liệu giàu tinh bột (ngô, sắn) 2,25 lần Giá trị năng lượng của dầu mỡ không khác nhau mấy, tuy nhiên với gia súc non dầu tốt hơn
mỡ Về mùa lạnh trộn mỡ vào thức ăn khó hơn dầu Thức ăn trộn dầu, mỡ gia súc thích ăn hơn, ít hao hụt do ít bụi Hiệu ứng tỏa nhiệt của dầu mỡ thấp hơn chất bột đường và protein nên ở vùng nhiệt đới lợi dụng tính chất trên khi trời nóng người ta trộn dầu mỡ vào thức ăn để giảm stress nhiệt độ cao (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002) Đặc tính của chất béo trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến đặc tính mỡ của cơ thể heo
và gia cầm Nếu thức ăn có nhiều acid béo chưa no thì làm cho mỡ heo mềm và nhão, ngược lại nhiều acid béo no thì mỡ heo sẽ cứng chắc ( Dương Thanh Liêm et al., 2002)
Hiện nay trong chúng ta sử dụng rất nhiều loại dầu khác nhau để bổ sung vào khẩu phần gia súc như dầu nành, dầu dừa, dầu phộng, dầu cá, dầu mè, các loại dầu này qua phân tích của Trương Văn Hiểu (2001) đều cho chỉ số Iod trong dầu cao riêng chỉ có dầu dừa cho kết quả thấp nhất chứng tỏ trong dầu dừa chứa nhiều acid béo không no Điều này trước đó đã được Gohl (1981) công nhận, theo ông thì trong dầu của cơm dừa chỉ có một lượng nhỏ acid béo không no nên ăn cơm dừa mỡ sẽ cứng chắc và vị
dễ chịu hơn
Hơn nữa Đồng bằng sông Cửu Long với thế mạnh hiện có là Bến Tre với diện tích trồng dừa gần 40.000 cung cấp hơn 200 triệu trái dừa mỗi năm và là tỉnh có sản lượng xuất khẩu cơm dừa khô (copra) cao nhất nước
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự phân công của bộ môn Chăn Nuôi, Khoa
Nông Nghiệp trường Đại Học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xác
định hàm lượng lipid và chỉ Iod của ba giống dừa phổ biến ở huyện Mỏ Cày-Bến Tre”
Mục tiêu đề tài: xác định hàm lượng lipid và chỉ số Iod trong dầu của ba giống dừa:
‘Ta Xanh’, ‘Ta Vàng’, dừa ‘Lửa’ nhằm so sánh hàm lượng chất béo và dựa vào chỉ số Iod để xác định hàm lượng acid béo no và không no trong dầu của các giống dừa từ đó
có thể chọn ra những giống có hàm lượng dầu cùng với hàm lượng acid béo tốt để bổ sung vào khẩu phần thức ăn gia súc
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Giới thiệu chung về cây dừa (Cocos nucifera)
Dừa thuộc ngành hiển hoa bí tử, nhóm đơn tử diệp, bộ Spacidiflorales, họ Palmae,
giống Cocos, loài nucifera nên tên khoa học của nó là Cocos nucifera Đặc tính giúp ta
nhận ra bộ này là sự hiện diện của một mo bao lấy phát hoa Hoa được mang trên một gié đặc biệt to gọi là buồng Hoa đơn phái (hoa đực riêng, hoa cái riêng) Thân cột tròn suông không phân nhánh Dừa là cây công nghiệp dài ngày, sống ở vùng nhiệt đới Hiện nay người ta ước tính diện tính trồng dừa trên thế giới khoảng 9 triệu ha, sản lượng hàng năm khoảng 33,7 tỉ trái Các nước trồng dừa nhiều trên thế giới hiện nay
là Philippines 3,31 triệu ha, Indonesia 2,43 triệu ha, Ấn Độ 1,08 triệu ha, Srilanka 466 ngàn ha, Thái Lan 400 ngàn ha, Malaysia 325 ngàn ha, Papua New Guinee 252 ngàn
kỹ thuật và công nghệ giống từ Cục trồng trọt)
Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất nước (35.000 ha), cung cấp khoảng
200 triệu trái/năm Hàng năm tỉnh đã xuất 40 triệu trái sang Trung Quốc, Campodia và Nam Triều Tiên, và hiện nay cũng là tỉnh sản xuất cơm dừa khô (copra) nhiều nhất (Nguyễn Bảo Vệ et al., 2005)
Bến Tre có hơn bảy triệu cây dừa, sản lượng bình quân hằng năm khoảng 230 triệu quả Ngoài nguồn nguyên liệu tại địa phương, mỗi năm Bến Tre còn tiêu thụ khoảng
100 triệu quả dừa từ các tỉnh lân cận Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh (Bộ kế hoạch
và đầu tư, 2007)
2.1.1 Giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng của dừa
Dừa là cây công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao Tất cả các bộ phận của cây dừa đều được sử dụng một cách hữu ích cho con người
Rễ dừa
Dùng để đốt thay cho củi, ngoài ra rễ dừa khi sắc nước uống còn trị được sốt và kiết lỵ theo kinh nghiệm của nông dân Rễ dừa đem đốt cháy nghiền mịn dùng đánh răng rất tốt Rễ dừa còn dùng làm thuốc nhuộm
Thân dừa
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Thân dừa được sử dụng như thân gỗ để làm cột kèo cất nhà cửa và nhất là làm các ống bọng thoát nước hay bắt cầu trong nông thôn Gỗ thân dừa khi được chế biến đúng kỹ thuật có vân rất đẹp, được dùng trong các công trình mỹ nghệ và tiểu thủ công nghiệp như khuôn hình, đũa, thước v.v
Lá dừa, mo hoa và cọng buồng
Là nguồn chất đốt rất tốt hiện nay Ngoài ra, tàu dừa được đan thành vỉ để phơi bánh tráng, phơi chuối khô Cọng lá còn được dùng làm chổi, đan giỏ, làm tăm xỉa răng Lá dừa dùng làm dép, nón, lợp nhà Lá dừa còn là nguyên liệu để làm bột giấy
Giẻ dừa (phần màng mỏng bao quanh cuốn lá)
Được chế biến thành các món trang sức như: nón rộng vành, xách tay phụ nữ hay cắn dán thành những bức tranh treo tường, là những món hàng xuất khẩu khá đắt tiền
Dịch ngọt hoa dừa
Là một sản phẩm được trích lấy từ phát hoa dừa mới nở Theo phương pháp của Nathanael (1966) phát hoa dừa sau khi xử lý 12-15 ngày sẽ thu được dịch ngọt Thời gian thu hoạch 21-30 ngày cho một mo Sản lượng dịch ngọt thay đổi tùy theo ngày, mùa, cây, phát hoa và giống Thay đổi khoảng 250-400lít/cây/năm hay 0,5-3lít/cây/ngày Dịch ngọt hoa dừa có thể làm đường thô, đường tinh thể, rượu dừa, dấm dừa, nước mật ngọt
Trái
Là sản phẩm chính của cây dừa, phần ngoài của trái là xơ dừa Các nước có công nghiệp chế biến các sản phẩm của dừa thì xơ dừa được đánh tơi se sợi, xơ dừa là nguồn hàng xuất khẩu hàng năm đem lại hàng triệu dollar cho các nước như Ấn Độ, Srilanka, Philippine Sợi xơ dừa được se thành hai hay ba tao để tăng cường độ nhún, sợi se được dùng để làm nệm se, nệm giường thay cho nệm cao su Giá một tấn sợi xơ dừa se hai tao là 1.200 dollar Các loại sợi xơ dừa có thể dùng để sản xuất các loại thảm, bọc tường, lọc dầu hay làm phần đệm ở mối nối của ống dẫn dầu trong kỹ nghệ dầu khí Sợi xơ dừa còn được se thành sợi để đánh thành dây thừng hay se chỉ các loại thảm lót nền nhà được thế giới ưa thích
Trang 13lệ protein và pH cũng biến đổi theo tuổi của trái Đến tháng tuổi thì đường khử sẽ giảm
Nước dừa có thể chế biến thành
Thức uống chua: nước dừa + đường + nước cốt chanh (đun sệt)
Thức uống ngọt: dùng chất ngăn lên men như Natri Metabisulfua, đưa pH về 4, có thể thêm đường, chất bảo quản, CO2, acid ascorbic, citric, Natri citrat (lọc và vô chai) Khi trái già nước dừa được cho lên men để lấy acid acetic dùng trong kỹ nghệ làm đông mủ cao su, ngoài ra còn sản xuất cồn và làm rượu Người ta có thể nấu thành nước màu, chế biến thành dấm ăn, nước chấm
Hiện nay ngành y nghiên cứu chế biến nước dừa thành dịch truyền để truyền thay cho các loại nước sinh lý khác Ngoài ra trong nước dừa còn có nhiều chất điều hòa sinh trưởng (hormon) nhất là Cytokinin nên được dùng trong các môi trường nuôi cấy mô thực vật Lượng Potassium (K) trong nước dừa cũng khá cao (312mg/100ml) nên cũng
là một thức uống rất tốt cho những người bị cao huyết áp
Đôi khi người ta còn dùng nước dừa thay thế nước uống của bò Lúc đầu thấy có hiệu ứng nhuận tràng, nhưng rồi bò cũng chóng thích nghi với nó Nước dừa còn dùng để nuôi vi sinh vật Rodotorula pilimanae và dùng làm thành phần pha chế tinh dịch (Gohl, 1981)
Bảng 2.1 Thành phần của nước dừa tươi
(Perley, 1992)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Cơm dừa
Là sản phẩm chính của trái Cơm dừa chứa hàm lượng dầu cao nhất trong các loại cây
có dầu Chất khoáng chính là CaO (0,01%), P2O5 (0,24%) và một ít sắt, đồng, sulfur Ngoài ra cơm dừa còn chứa sinh tố A, B1, E Từ cơm dừa tươi ta có thể chế biến các sản phẩm như cơm dừa khô (copra), nước cốt dừa, bột dừa Cơm dừa khô là mặt hàng xuất khẩu rất quen thuộc trên thị trường dầu thế giới Cơm dừa khô là cơm dừa tươi được làm giảm ẩm độ từ 50% còn 5-6% để dễ bảo quản tránh phát triển vi khuẩn nấm mốc, côn trùng, dễ vận chuyển nâng cao hàm lượng dầu từ 34% lên 68% Cơm dừa có thể cho các sản phẩm chính sau đây: nước cốt dừa, dầu ăn, bột protein dừa, cơm dừa nạo sấy, bột dừa
Bảng 2.2 Thành phần cơm dừa tươi
Thành phần cơm dừa tươi
Trang 15Bảng 2.3 Hàm lượng VCK và chiết chất ether của 5 giống dừa ở trạng thái tươi và khô hoàn toàn
Giống Chỉ tiêu
EE
Khô hoàn toàn
Nước dừa, Nigeria
Cơm dừa, Malaysia
Cơm dừa, Philippin
Bột dầu chiết xuất bằng dung
môi, Irắc
Bột dầu ép một lần, Malaysia
Khô dầu ép hai lần, Malaysia
5,2 50,0 51,3 93,4
88,7 88,2
4,4 7,4 9,7 20,5
19,5 20,0
6,5 3,0 4,3 26,1
8,5 8,3
12,3 2,0 2,9 7,0
5,4 5,9
6,0 68,0 64,4 0,4
18,4 11,7
70,8 19,6 18,7 46,0
48,2 54,1
5,77 0,03
Trang 16có trị số tiêu hóa và dễ tiêu nhất so với các nguồn khác như dầu phộng, dầu mè, bơ (Lê Ngọc Thạch, 1999) Bên cạnh đó dầu dừa còn có hệ số tiêu hóa cao, nhanh hơn các loại chất béo khác (kể cả bơ làm từ sữa bò) Dầu dừa chứa 47,31% acid lauric nên là một nguyên liệu chính trong kĩ nghệ chế biến xà phòng cao cấp và mỹ phẩm Dầu dừa cũng là nguyên liệu trong công nghiệp hóa học chế biến ra nhiều mặt hàng phục vụ đời sống con người và nhu cầu quốc phòng như trong kỹ nghệ chất nổ để chế
Nitroglycerine từ glycerol của dầu dừa
Bã dừa
Là phần còn lại sau khi ép dầu chiếm 32-40% trọng lượng cơm dừa khô
2.1.2 Vai trò của phụ phẩm từ cơm dừa trong chăn nuôi
Xác dừa là phụ phẩm của quá trình sản xuất dầu từ phần thịt của quả dừa (Cocos
nucifera) Đây là sản phẩm đặc trưng cho các nước nhiệt đới như Philippines, Việt
Nam Một số nước nhiệt đới khác như Malaysia, Indonesia, Nigeria có ít dừa nhưng lại trồng và sản xuất nhiều khô dầu cọ từ cây cọ dầu
Xác dừa chứa 20-24% protein thô và khoảng 10% xơ thô Trong protein tương đối ít lysine Xác dừa có mùi thơm kích thích khẩu vị heo Nếu được ép kỹ xác dừa khá khô
và tơi xốp nên rất thích hợp cho khẩu phần có một vài loại thực liệu dạng lỏng (rỉ đường) Tuy nhiên khi sử dụng nhiều xác dừa trong khẩu phần (trên 10%) thường gặp trở ngại về mùi và sự ôi hóa hoặc gây tiêu chảy và làm mỡ heo bị mềm
Đối với bò sữa, càng dùng nhiều khô dầu dừa trong khẩu phần tỉ lệ bơ trong sữa càng cao Bò tơ nuôi bằng khẩu phần 90% protein là khô dầu dừa mức tăng trọng ngày đạt 0,4kg (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002)
Bánh dầu dừa là phần còn lại của cơm dừa khô (copra) sau khi đã trích dầu, chiếm khoảng 32-40% trọng lượng của cơm dừa khô đã nghiền Nó được dùng làm thức ăn cho bò, nếu lượng dầu chứa trong bánh dầu còn nhiều thì không thích hợp cho bò ăn nhiều Bánh dầu dừa cũng được sử dụng để chăn nuôi gà Trộn 20% bột cá và 5% bánh dầu dừa là tỉ lệ tốt nhất cho sự sinh trưởng của gà Bánh dầu dừa giàu chất béo, hàm lượng đạm trung bình, nghèo Ca Bánh dầu dừa đôi khi được dùng làm phân hữu
cơ bón cho cây trồng nhưng tỉ lệ C/N cao của nó không thích hợp để bón cho cây trồng hàng niên (Nguyễn Bảo Vệ et al., 2005)
Tỉ lệ khuyến cáo sử dụng bánh dầu dừa cho gia súc độc vị khoảng 25% và khoảng 5% cho gia cầm Khi sử dụng cho gia súc độc vị cần chú ý tới acid amin khiếm khuyết Khi sử dụng cho gia súc đa vị như bò sữa có bằng chứng cho thấy bánh dầu dừa làm gia tăng hàm lượng mỡ trong sữa nhưng bơ thì cứng và có mùi thơm hấp dẫn
Bánh dầu dừa có đặc tính hút mật đường cao, đến 50% trọng lượng của nó, đặc tính này được sử dụng để phối hợp các khẩu phần có mật đường (Lưu Hữu Mãnh, 2000) Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Bã cơm dừa là phần còn lại sau khi ép dầu dừa, phần lớn được dùng làm thức ăn gia súc Bã dầu là một thành phần có giá trị trong các loại thức ăn hỗn hợp của gia súc như heo, gà, bò, v.v Bã dầu thường chứa khoảng 19,5% protein, 10,4% chất béo, 9,5% chất xơ và 42,1% carbohydrate nên là một thức ăn cho gia súc khá tốt (Võ Tòng Xuân, 1984)
Bảng 2.5 Thành phần hóa học của bánh dầu dừa
(Lưu Hữu Mãnh, 1999)
2.2 Phân loại các giống dừa ở Đồng bằng sông Cửu Long
2.2.1 Tầm quan trọng của công tác giống dừa
Giống dừa được trồng được xác định dựa trên màu sắc, hình dạng kích thước trái và đặc tính của cây Bởi vì trong tự nhiên dừa có tính lai tạp rất cao tạo ra nhiều loại khác nhau về màu sắc, kích thước chất lượng trái ở mỗi vùng cũng rất khác nhau Hầu hết giống được biết đến với tên địa phương nơi mà nó được canh tác Nhiều khi cùng một giống mà tên gọi của nó cũng khác nhau Tuy nhiên có thể phân biệt theo nhóm dừa, chúng được xác nhận rất khác biệt nhau và được ghi nhận dựa trên hình thái là dừa
cao (C nucifera typica) và dừa lùn (C nucifera nana) (Nguyễn Bảo Vệ et al., 2005)
2.2.2 Phân loại
Nhóm dừa cao
Thụ phấn chéo: thời kỳ tung phấn của hoa đực và thời kỳ nhận phần của hoa cái trên một buồng không trùng nhau, nên hoa cái thường nhận phấn của cây dừa gần đó hoặc của buồng kế tiếp, nếu trong mùa khô, gốc thân phình to Cây sinh trưởng mạnh, cao khoảng 20-25m, tàu lá lớn (30-40 tàu lá /cây) những cây sinh trưởng bình thường, tàu
lá dài 5-6m Cây cho trái trễ (5-7 năm sau khi trồng), hàm lượng dầu cao 65-70%, dầy cơm trọng lượng cơm dừa/trái, buồng ít trái Tính chống chịu tốt thích hợp để lấy dầu chế biến công nghiệp, sản phẩm phụ (chỉ, xơ, v.v )
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Nhóm dừa lùn
Tự thụ phấn thời gian hoa đực tung phấn và hoa cái nhận phấn là trùng nhau Thân nhỏ, phần gốc cách mặt đất 1,5m không phình to Thân cao từ 10-12m (có người cho rằng dừa lùn thì cứ thấp sát mặt đất không thể cao lên được) Tàu lá nhỏ (25-30 tàu), tàu lá ngắn (3-3,5m), bẹ lá nhỏ Cho trái sớm (3-4 năm sau khi trồng), hàm lượng dầu thấp (dưới 50%), ẩm độ dừa cao Bề dầy cơm dừa mỏng, nhỏ trái, nên sản lượng cơm dừa trên trái thấp, buồng nhiều trái Khả năng chống chịu kém, thời gian thu hoạch ngắn
2.2.3 Các giống dừa ở Đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm 1: Là nhóm có hiệu quả cao, gồm các giống cho năng suất và hàm lượng dầu
cao, phẩm chất xơ và cơm dừa tốt, rất thích hợp cho việc trồng để phục vụ công nghiệp chế biến dầu và xơ dừa đó là các giống:
Dừa Ta
Thuộc nhóm dừa cao trái cỡ trung bình, có ba khía rõ rệt, cơm dầy từ 1,1-1,2cm, sau khi trồng 5 năm thì cho trái Khoảng 4.000 đến 4.500 trái cho một tấn cơm dừa khô Dừa ‘Ta’ chống chịu rất tốt với điều kiện khắc nghiệt của khí hậu và đất đai Tùy theo màu sắc của vỏ trái chúng ta có dừa ‘Ta Xanh’ và ‘Ta Vàng’
Dừa Dâu
Thuộc nhóm dừa cao, trái cỡ hơi nhỏ dạng trái tròn ba khía không rõ rệt Trái hơi nhỏ nhưng xơ mỏng nên gáo to, do đó mà lượng cơm dừa/trái khá Dừa ‘Dâu’ trồng tốt cho mỗi năm khoảng 14-16 buồng, mỗi buồng từ 10-15 trái Khoảng 4.500-5.000 trái cho 1 tấn cơm dừa khô Tùy theo màu sắc vỏ trái ta có ‘Dâu Xanh’, ‘Dâu Vàng’ và
Nhóm 2: Gồm các giống trái nhỏ, lượng cơm dừa thấp, nhưng nước rất ngọt trồng để
uống nước tươi, phục vụ kỹ nghệ du lịch
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19Dừa Xiêm
Thuộc nhóm dừa lùn, mỗi năm cho từ 16-18 buồng, mỗi buồng có 15-20 trái Trái nhỏ nước rất ngọt, dùng uống nước tốt Tùy theo màu vỏ có ‘Xiêm Xanh’, ‘Xiêm Đỏ’
Dừa Ẻo
Thuộc nhóm dừa cao, cỡ trái nhỏ nhất trong các giống hiện nay, mỗi buồng cho từ
30-40 trái Dừa có nước rất ngọt dùng để uống nước tươi
Dừa Tam Quan
Trái có màu vàng ngà, nước rất ngọt nên cũng được trồng để uống như dừa ‘Xiêm’
Nhóm 3: Gồm các giống dừa có lượng cơm dừa thấp, tỉ lệ đậu trái thấp, ít có hiệu quả
kinh tế, cũng được trồng để lấy nước hay lấy cơm
Dừa Dứa
Nước dừa có mùi dứa
Dừa Ngọt (còn được gọi là dừa bông )
Khi trái còn non, xơ có vị ngọt ăn được
Dừa Dang
Xơ non có màu hồng
Dừa Sáp (dừa đặc ruột)
Cơm dừa chiếm hết phần gáo, dừa không có nước song trong một buồng chỉ có vài trái là đặc ruột các trái còn lại có nước bình thường như các giống dừa khác Muốn trồng dừa Sáp phải lấy các trái không đặc ruột gieo mới nảy mầm, còn các trái đặc ruột gieo không được vì không nẩy mầm
Dừa Bị
Trái to nhất trong các giống dừa vì có xơ dầy song gáo nhỏ Tỉ lệ đậu trái thấp 2-3 trái/buồng (Lê Ngọc Thạch, 1999)
Trong các giống dừa vừa kể trên thì dừa ‘Ta’, dừa ‘Dâu’, dừa ‘Giấy’, dừa ‘Tam Quan’
có tiềm năng năng suất cao, số quả/cây/năm đối với dừa ‘Ta’ là 60 còn đối với dừa
‘Lửa’ là 80, trọng lượng cơm dừa/trái là 450g đối với dừa ‘Ta’ và 380g đối với dừa
‘Dâu’ vì vậy nó có nhiều triển vọng trong công tác lai tạo giống mới, được khuyến cáo
để sử dụng trồng mới (Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ giống từ Cục trồng trọt)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20Bảng 2.6 Một số giống dừa lai năng suất cao
Giống Chỉ tiêu
Lùn vàng Mã Lai (mẹ)
PB-121 (con lai) CTP (Cao Tây
104
240 3,5
55
234 1,8
(Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ giống từ Cục trồng trọt)
2.7 Đặc tính của trái trong một số giống dừa
Giống
Cao Phi Châu
2.3.1 Giới thiệu chung về lipid
Lipid hay chất béo là chất có trong động vật và thực vật không tan trong nước mà tan trong nhiều dung môi hữu cơ như benzen, ether, chloroform, Chất béo hoạt động như
là chất vận chuyển điện tử, vận chuyển cơ chất trong các phản ứng của enzym, là thành phần của màng tế bào sinh học như là chất dự trữ năng lượng cho cơ thể Chất béo là một trong sáu dưỡng chất trong qui trình phân tích phỏng định được gọi là béo thô hay là chiết chất ether (Lưu Hữu Mãnh et al., 1999)
2.3.2 Vai trò của lipid
Chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao cho gia súc gia cầm Năng lượng đốt cháy trong cơ thể động vật của chất béo cao gấp 2-2,5 lần so với bột đường và chất protein
Vì năng lượng cao nên khi bổ sung thêm vào thức ăn cho gà thịt sẽ nâng cao khả năng sinh trưởng của gia cầm nơi giống có tốc độ sinh trưởng nhanh Nếu khẩu phần có nhiều chất đạm thường khó nâng cao được giá trị năng lượng Nếu ta thêm chất béo vào sẽ cân đối hơn Khi thêm chất béo vào có thể xuất hiện một số acid amin giới hạn, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21ta chỉ cần thêm acid amin có giới hạn thì đạt đến sự tối ưu mà không cần nâng cao chất lượng đạm tương xứng lên nữa Khi đưa chất béo vào thức ăn cũng cần lưu ý bổ sung thêm vitamin E để giúp cho cơ thể chống lại sự oxy hóa chất béo sinh các peroxyd có hại
Tuy chất béo có chứa nhiều năng lượng, nhưng nhiệt lượng tỏa nhiệt khi chuyển hóa chất béo ít hơn chuyển hóa chất đạm và chất bột đường nên trong mùa hè khi giải quyết năng lượng cho gà bằng chất béo tốt hơn, giúp cho gà chống lại stress nhiệt tốt hơn
Chất béo cũng là một dung môi để hòa tan các vitamin và sắc tố tan trong béo giúp cho cơ thể hấp thu thuận tiện Nếu thiếu béo thì sự hấp thu caroten, vitamin, A, D, E, K sẽ giảm
Chất béo làm tăng khẩu vị thức ăn cho thú, làm giảm độ bụi của thức ăn
Chất béo còn có tác dụng bôi trơn khi thú nuốt thức ăn Tác dụng này thấy rõ nhất ở gia cầm Nếu ta thay thế bột bắp, cám gạo bởi bột củ khoai mì có rất ít chất béo thì gà
ăn rất khó nuốt, từ đó nó ăn ít thức ăn hơn Ngược lại nếu phun chất béo vào thức ăn khoảng 4-5% thì thức ăn trở nên ít bay bụi, gà sẽ ăn nhiều lên
Chất béo còn cung cấp một số acid béo thiết yếu cần thiết cho cơ thể động vật ví dụ như: Acid linoleic, acid linolenic và arachidonic Một số vitamin và tiền vitamin tan trong chất béo như: caroten, vitamin A, D, E, K
Chất béo trong thức ăn cũng có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm: Nếu thức ăn có nhiều acid béo chưa no thì mỡ động vật sẽ nhão, ngược lại nếu thiếu acid béo chưa no thì mỡ trở nên cứng Ví dụ: Khi vỗ béo heo bằng cám gạo, bắp thì mỡ mềm Ngược lại
vỗ béo bằng rỉ mật đường hay bột củ mì thì mỡ heo trở nên cứng
Từ chất béo cơ thể cũng có thể chuyển hóa thành chất khác và cùng tham gia tạo nên sản phẩm động vật (Dương Thanh Liêm et al., 2002)
Chất béo trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, nếu thức ăn có nhiều acid béo chưa no thì làm cho mỡ heo sẽ nhão và ngược lại nhiều acid béo chưa
no thì mỡ heo sẽ cứng chắc (Lê Thị Mến et al., 2000)
Tỉ lệ tiêu hóa chất béo cao đến 90% khi tỉ lệ chất béo thích hợp do đó làm gia tăng tiêu hóa và các dưỡng chất khác, giảm chất khoáng tiêu hóa và giảm chất thải (Lưu Hữu Mãnh, 2000)
Lipid dưới da của động vật có tác dụng gối đệm và giữ ấm cho cơ thể nhờ tính êm, dẫn nhiệt kém
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Đối với loài động vật ngủ đông, động vật di cư, các loài sâu kén, lipid còn là nguồn cung cấp nước vì khi oxy hóa 100g lipid có 107g nước sinh ra (Nguyễn Văn Kiệm et al., 2005)
2.3.3 Nguồn gốc và phân loại lipid
Phần lớn các hợp chất lipid nằm trong các mô mỡ, nó được tích lũy nhiều trong các
mô liên kết dưới da Lipid còn phân bố nhiều trong màng treo ruột, xung quanh thận
và các cơ quan khác Trong cơ, xương và một số tổ chức khác cũng có một lượng lipid đáng kể (Dương Thanh Liêm et al., 2002)
Ở thực vật lipid ở hai dạng: cấu trúc và tồn trữ Ở dạng cấu trúc, lipid như là thành phần của màng tế bào, bảo vệ lớp bề mặt của màng tế bào Bề mặt tế bào chủ yếu là chất sáp, acid béo và cutin Lipid còn là thành phần của màng ty thể, màng nguyên sinh chất ở dạng glycolipid và phospholipid Lipid tồn trữ ở thực vật chủ yếu trong quả và hạt ở dạng dầu
Ở động vật lipid năng lượng dự trữ ở dạng mỡ có thể lên đến 97% trong mô mỡ của con vật béo phì Lipid cấu trúc trong mô của động vật chủ yếu là phospholipid chiếm 0,5-1% ở cơ và mô mỡ, 2-3% ở gan
Mỡ và dầu là thành phần của động vật và thực vật, chúng có cùng cấu trúc và tính chất hóa học nhưng khác nhau về cấu trúc vật lý (Lưu Hữu Mãnh et al., 1999)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phân loại lipid
2.3.4 Giá trị dinh dưỡng của dầu mỡ
Dầu mỡ rất giàu năng lượng và làm gia tăng giá trị năng lượng của khẩu phần để đạt đến mức độ mà các thực liệu khác không đáp ứng được Trong mỡ có một vài loại
acid béo thiết yếu cho động vật (Lưu Hữu Mãnh, 2000)
Glycerid phức tạp
Phosphoglycerid Glucolipid
Lecitin Cephalins
Glucolipid Galactolipid
Glycerid đơn giản
Dầu TV & Mỡ ĐV
Cerebrosid Sáp Steroid Terpen Prostaglandin
Không chứa Glycerin
Có chứa glycerin
Lipid thô
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Bảng 2.8 Chỉ số Iod của một số loại dầu mỡ
Trang 25Bảng 2.10 Chỉ số Iod của dầu mỡ thực phẩm
(Phạm Văn Sổ và Bùi Thị Nhu Thuận, 1991)
Bảng 2.11 Chỉ số Iod của các loại dầu
(Trương Văn Hiểu, 2001)
Bảng 2.12 Chỉ số Iod của mỡ heo
Thức ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp có bánh dầu dừa 8%
Thức ăn hỗn hợp có rau muống 4%
35,01 31,89 33,04
(Trương Văn Hiểu, 2001)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26Bảng 2.13 Chỉ số Iod của chất béo thức ăn và mỡ cơ thể chuột nuôi bằng những thức ăn tương ứng
Chất béo thức ăn Chỉ số Iod của chất béo
(Lưu Hữu Mãnh et al., 1999)
Bảng 2.14 Thành phần acid béo no và không no trong một số loại dầu mỡ
Tên dầu mỡ Acid béo no (%) Acid béo không no
một nối đôi (%)
Acid béo không
no hai nối đôi (%)
(Nguyễn Thanh Nguyên, 2000)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27Bảng 2.15 Thành phần các axit béo trong một số loại dầu mỡ
Tên dầu mỡ Chỉ
số Iod
Axit béo no C4 -C12 (%)
Axit béo
no C14- C26 (%)
Axit Palmitoleic C16 (%)
Axit Oleic C18 (%)
Axit Linoleic C18 (%)
Axit Linolenic C18 (%)
(Phạm Văn Sổ và Bùi Thị Nhu Thuận, 1991)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28Bảng 2.16 Đặc tính lý hóa của một số loại dầu thực vât
Acid béo (%)
Iod
Điểm nóng chảy C16:0 C18:0 C18:1 C18:2 C18:3 C20:4
- 79-92 48-56 84-100 130-138 125-136
- 20-35 -10 10-16
-
0 27-50 -2 -21 -17
4,3 8,0 12,0 20,9 6,4 14,0 42,0 11,1 11,5 6,8
1,7 2,8 2,7 1,9 3,3 2,6 5,4 3,0 4,3 3,9
59,1 5,6 30,1 16,0 17,0 74,0 39,1 52,1 27,3 15,7
22,8 1,6 54,7 59,6 15,6 8,1 10,6 27,8 49,7 73,5
8,2
- 1,4 0,1 57,7 1,0
- 0,5 6,9
-
0,5
- 0,2
-
- 0,4 0,2 0,7 0,2
-
(Dương Thanh Liêm et al., 2002)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29Bảng 2.17 Hàm lượng acid béo của 5 giống dừa
Giống Acid béo
0,33 4,27 4,06 44,43 23,35 11,66 4,86 6,16 0,88
0,28 4,74 4,89 48,8 21,43 10,27 4,24 4,74 0,61
0,36 4,9 4,8 47,69 21,35 9,93 4,33 6,08 0,57
0,38 5,58 5,33 48,35 20,73 9,59 4,4 4,99 0,65
(Lê Thị Mến, 2006)
2.3.5 Tính chất chung của lipid:
Đặc tính vật lý
Trong lĩnh vực chế biến chất béo như kỹ nghệ làm bơ, magarines, chocolate, dầu nấu
ăn, sauce salat, vv ,người ta dựa trên nhiều đặc tính vật lý cũng như hóa học của chất béo để áp dụng vào sự chế biến cũng như kiểm soát sự giả mạo, pha trộn chất béo trong thị trường thương mại
Điểm chảy
Chất béo có điểm nóng chảy không rõ ràng Một hỗn hợp chất béo đang ở thể đặc, nếu dùng nhiệt độ tăng dần chất béo sẽ bị mềm theo nhiệt độ ngay cả khi dùng một chất béo rất tinh khiết chỉ có duy nhất một dạng chất béo giống nhau hiện tượng mềm chảy
từ từ theo nhiệt độ vẫn thay đổi chính vì vậy không thể dùng điểm chảy của chất béo
để xác định độ tinh khiết của chất béo được
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu