Thí nghiệm thu được một số kết quả như sau: Khi nuôi gà ở mật độ 12 con/m 2 và cho ăn tự do thì gà có khối lượng, tăng trọng cao và tiêu tốn thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp, đạt k
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tên tác giả
Tô Hoàng Phát
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn:
Cha mẹ đã hy sinh cả đời chăm sóc và dạy dỗ anh em chúng con thành người có ích cho xã hội
Cô Nguyễn Thị Kim Khang đã giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thầy Nguyễn Văn Hớn và cô Nguyễn Thị Hồng Nhân đã giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tôi và các bạn lớp chăn nuôi - thý y khóa 32 trong suốt 4 năm học qua.Ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học tại trường
Thầy Trương Văn Phước đã giúp đỡ và hưỡng dẫn tôi trong suốt quá trình làm thí nghiệm
Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung và cô Trương Thị Điệp đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm
Quý thầy cô bộ môn chăn nuôi, quý thầy cô giảng dạy của Trường Đại Học Cần Thơ đã đã giúp tôi trang bị cho tôi hành trang kiến thức trong suốt 4 năm học tại trường
Các anh, chị, em, đã động viên tôi trong học tập, các anh chị lớp chăn nuôi - thý y khóa trước và các bạn bè lớp chăn nuôi thú y khóa 32 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, cảm ơn các em lớp chăn nuôi thú y khóa 33 cũng đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô và anh em bạn bè đã giúp
đỡ cho tôi trong suốt thời gian sống và học tập tại Cần Thơ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
TÓM LƯỢC viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Giới thiệu sơ bộ về giống gà isa brown 2
2.1.1 Đặc tính sản xuất 2
2.1.2 Đặc tính sinh trưởng 3
2.1.3 Phương thức nuôi 7
2.2 VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI 7
2.2.1 Vai trò của năng lượng 8
2.2.2 Vai trò của chất đạm 8
2.2.3 Vai trò của chất béo trong dinh dưỡng động vật 9
2.2.4 Mối tương quan giữa năng lượng và protein 10
2.2.5 Vai trò của chất khoáng 10
2.2.6 Vai trò của vitamin 11
2.2.7 Vai trò của nước 12
2.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG GIA CẦM 13
2.3.1 Nhu cầu năng lượng 13
2.3.1.1 Nhu cầu duy trì 13
2.3.1.2 Nhu cầu sinh trưởng 13
2.3.2 Nhu cầu protein 14
2.3.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng 15
2.4 TIÊU CHUẨN VỀ ĐIỀU KIỆN TIỂU KHÍ HẬU 15
2.4.1 Nhiệt độ 15
2.4.2 Ẩm độ 15
2.4.3 Chế độ chiếu sáng 16
2.4.4 Màu sắc ánh sáng 16
2.4.5 Thông thoáng 16
2.4.6 Mật độ nuôi 16
2.5 CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG 17
2.5.1 Cắt mỏ gà 17
2.5.2 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 17
2.6 PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ THỨC ĂN ĐỐI VỚI GÀ HẬU BỊ GIỐNG 18
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20
3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 20
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 20
3.1.2 Chuồng trại thí nghiệm 20
3.1.3 Động vật thí nghiệm 20
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 20
Trang 43.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 21
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 22
3.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 23
3.2.2.1 Chế độ chiếu sáng: 23
3.2.2.2 Chế độ cho ăn: 23
3.2.2.3 Chế độ nước uống: 23
3.2.2.5 Qui trình tiêm phòng trên gà 25
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.2.4 Phân tích thành phần dưỡng chất thức ăn 26
3.2.5 Phân tích và xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ ĐÀN GÀ THÍ NGHIỆM 27
4.2 ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU 27
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI 28
4.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN 31
4.5 ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI VÀ CHẾ ĐỘ ĂN 34
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 KẾT LUẬN 37
5.2 ĐỀ NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Phụ lục ix
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Pháp 3
Bảng 2.2: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Thái Lan 4
Bảng 2.3: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Việt Nam 5
Bảng 2.4: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Trường Trung
Học Kinh Tế - Kỹ Thuật Cần Thơ .6
Bảng 2.5: Mật độ nuôi gà chuyên trứng (con/m2) .17
Bảng 2.6: Quy trình phòng bệnh 19
Bảng 2.7: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown 20
Bảng 3.1 Giờ tắt-mở đèn cho gà .23
Bảng 3.2 Chế độ nước uống cho gà 24
Bảng 3.3 Lịch tiêm phòng vaccine của trại 25
Bảng 4.1 Nhiệt độ theo dõi ở trại 27
Bảng 4.2 Ẩm độ theo dõi ở trại 28
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến khối lượng gà (g/con) 28
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tăng trọng của gà (g/con) .29
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ đến tiêu tốn thức ăn của gà (g/con) 30
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ đến hệ số chuyển hóa thức ăn của gà (g/con) 31
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến khối lượng gà (g/con) .31
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến tăng trọng của gà (g/con) .32
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến tiêu tốn thức ăn của gà (g/con) .33
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của chế độ ăn đến hệ số chuyển hóa thức ăn của gà (g/con) 33
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ và chế độ ăn đến khối lượng của gà (g/con) 34
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mật độ và chế độ ăn đến tăng trọng của gà (g/con) .35
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của mật độ và chế độ ăn đến tiêu tốn thức ăn của gà (g/con) 35
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của mật độ và chế độ ăn đến hệ số chuyển hóa thức ăn của gà (g/con) 36
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Gà đẻ trứng thương phẩm Isa Brown 2
Hình 3.1: Chuồng trại thí nghiệm 23Hình 3.2: Các nghiệm thức thí nghiệm 24
Trang 8TÓM LƯỢC
Nhằm tìm ra mật độ nuôi và chế độ cho ăn thích hợp nhất đối với giống gà thương phẩm Isa Brown ở điều kiện khí hậu Đồng Bằng Sông Cửu Long Chúng tôi tiến hành thí nghiệm từ ngày 5 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 2010 tại Tỉnh Tiền Giang Gà thí nghiệm là giống gà thương phẩm Isa Brown được mua từ Công ty
CP Việt Nam Số gà thí nghiệm là 282 con.
Thí nghiệm được bố trí theo thừa số 2 nhân tố, nhân tố 1 là mật độ nuôi gồm 3 mật độ khác nhau lần lượt là 12, 15, 20 con/m 2 , và nhân tố 2 là chế độ ăn gồm cho
ăn tự do và cho ăn hạn chế Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.
Đối với mật độ nuôi:
Đối với chế độ cho ăn: có 2 nghiệm thức là cho ăn tự do và cho ăn hạn chế.
Thí nghiệm thu được một số kết quả như sau:
Khi nuôi gà ở mật độ 12 con/m 2 và cho ăn tự do thì gà có khối lượng, tăng trọng cao và tiêu tốn thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp, đạt kết quả tốt trong chăn nuôi.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của mật độ nuôi và chế độ cho ăn trên khối lượng, tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn thì lại không có ý nghĩa thống kê, nhưng theo đánh giá của chúng tôi thì nuôi gà theo
sản xuất và kinh tế.
Trang 9CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, chăn nuôi đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta Trong đó, chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển với nhiều tiến
bộ khoa học kỹ thuật hiện đại
Tuy nhiên, nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng ẩm nênchăn nuôi gia cầm ở mật độ cao theo mô hình chuồng hở và nuôi dưới nền có chất
độn thì gà dễ bị stress, khả năng mắc bệnh cao hơn, ngược lại nếu nuôi với mật độ
quá thấp thì làm lãng phí diện tích chuồng nuôi, không có hiệu quả về kinh tế(Dương Thanh Liêm, 2003) Bên cạnh mật độ thì yếu tố thức ăn cũng không kém phần quan trọng vì thức ăn chiếm từ 70 – 80% trong cơ cấu giá thành nên việc đưa ra phương thức cho ăn hợp lý là rất cần thiết để đem lại lợi nhuận cao nhất cho người chăn nuôi (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương, 1995) Được sự phân công
của bộ môn di truyền giống nông nghiệp chúng tôi tiến hành đề tài: “Theo dõi ảnh hưởng của mật độ nuôi và chế độ cho ăn trên gà đẻ trứng thương phẩm Isa Brown từ 6-11 tuần tuổi” Mục tiêu của đề tài là nhằm tìm ra mật độ nuôi và chế
độ cho ăn thích hợp nhất đối với giống gà thương phẩm Isa Brown ở điều kiện khí hậu Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 10CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Giới thiệu sơ bộ về giống gà Isa Brown
Theo Võ Bá Thọ (1996) thì Isa Brown là giống gà chuyên trứng đẻ trứng nâu của
Viện chọn giống súc vật (Institut de selection animal) viết tắt là ISA của Pháp.Năm 1986, xí nghiệp liên hợp giống gia cầm I, thuộc liên hiệp xí nghiệp gia cầm,
có nhận một số trứng gà Isa Brown do Việt kiều ở Pháp gởi về để ấp nuôi thử Đàn
gà này được nhận xét tốt do có màu trứng đẹp, vỏ trứng dày, năng suất đẻ cao, thích nghi với phương thức nuôi đơn giản ở Việt Nam
Cuối năm 1990 và giữa năm 1991, Công ty gia cầm thành phố Hồ Chí Minh đã
nhập gà cha mẹ Isa Brown.
Gà cha có màu lông nâu đỏ, gà mẹ có màu lông trắng Gà con thương phẩm tự phân biệt giới tính qua màu lông: con mái có màu nâu đỏ giống cha, con trống có màu trắng giống mẹ
Hình 2.1: Gà đẻ trứng thương phẩm Isa Brown 2.1.1 Đặc tính sản xuất
Theo tài liệu kỹ thuật của ISA (1993) thì một số chỉ tiêu của gà đẻ thương phẩm Isa Brown đạt như sau:
Tỉ lệ nuôi sống từ 1 ngày đến 20 tuần tuổi là 98% và từ 20 tuần tuổi đến 78 tuần tuổi là 93,3%
Sản lượng trứng thay đổi qua các tuần tuổi từ 20-72 tuần tuổi là 303 quả/ năm và
từ 20-76 tuần tuổi là 320,6 quả/ năm
Khối lượng trứng cũng thay đổi qua các tuần tuổi, vào tuần tuổi thứ 24 là 56g/quả, tuần tuổi thứ 35 là 62g/quả và 72 tuần tuổi là 65g/quả
Trang 11Khối lượng gà mái lúc bắt đầu đẻ là 1, 7kg/con.
Gà bắt đầu rớt hột vào tuần tuổi thứ 19, đẻ 50% vào tuần thứ 21, tỷ lệ đạt đỉnh cao (93%) tuần thứ 26 - 33, và tuần 76 còn lại 73% (Võ Bá Thọ, 1996)
2.1.2 Đặc tính sinh trưởng
Theo tài liệu hướng dẫn chăn nuôi gà Isa Brown của Pháp thì thể trọng gà Isa Brown qua các tuần tuổi được nuôi thí nghiệm tại Pháp thể hiện qua bảng 2.1 như
sau:
Bảng 2.1: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Pháp
Dinh dưỡng Khối lượng
(g)
Thức ăn bình quân(g/con/ngày)
Lũy kế thức ăn(g/con)2.850 Kcal ME/ kgTĂ
Trang 12Qua bảng 2.1 ta thấy gà Isa Brown khối lượng bình quân lúc 10 tuần tuổi là 0,795
kg, tiêu tốn thức ăn là 2,485 kg
Tại Thái Lan, SINSAWAT (1988) đã khảo sát sự tăng trưởng và tiêu tốn thức ăn
của gà Isa Brown kết quả được trình bày ở bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Thái Lan
Dinh dưỡng Khối lượng
(g)
Thức ăn bình quân(g/con/ngày)
Lũy kế thức ăn(g/con)2.750 Kcal ME/ kgTĂ
(Tài liệu chăn nuôi gà đẻ trứng Isa Brown của CP Thái Lan, 1995)
Qua bảng trên ta thấy ở 10 tuần tuổi khối lượng gà bình quân 0,785 kg, tiêu tốn thức ăn là 2,590 kg
Trang 13Tại Việt Nam, gà Isa Brown được nuôi phổ biến ở Đồng Nai, Sông Bé, các tỉnh
ĐBSCL…Sự tăng trưởng và tiêu tốn thức ăn được trình bày ở bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Việt Nam
Dinh dưỡng Khối lượng
(g)
Thức ăn bình quân(g/con/ngày)
Lũy kế thức ăn(g/con)2.850 Kcal ME/ kgTĂ
(Tài liệu hướng dẫn chăn nuôi gà đẻ của proconco, 1997)
Qua bảng trên ta thấy ở 10 tuần tuổi khối lượng gà bình quân 0,820 kg, tiêu tốn thức ăn là 2,667 kg
Trang 14Tại Cần Thơ, gà Isa Brown cũng được nuôi tại Trại sản xuất thực nghiệm Trường
Trung Học Kinh Tế - Kỹ Thuật tỉnh Cần Thơ Sự tăng trọng và tiêu thụ thức ăn được biểu thị qua bảng 2.4 như sau:
Bảng 2.4: Thể trọng và tiêu tốn thức ăn của gà Isa Brown nuôi tại Trường Trung Học Kinh
Tế - Kỹ Thuật Cần Thơ
Dinh dưỡng Khối lượng
(g)
Thức ăn bình quân(g/con/ngày)
Lũy kế thức ăn(g/con)3.000 Kcal ME/ kgTĂ
Như vậy, qua bảng 2.1, 2.2, 2.3 và 2.4 ta thấy giống gà Isa Brown nuôi ở Việt
Nam giai đoạn hậu bị (0 – 22 tuần tuổi) với khẩu phần năng lượng trao đổi và
protein thô cao hơn ở Pháp và ở Thái Lan nhưng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn
không cao hơn
Trang 15bị bể, nhưng khuyết điểm là ngực gà có thể bị chai và chi phí xây dựng cao.
Nuôi trên nền thì chi phí cơ sở thiết bị ít nhưng mật đô nuôi thấp hơn, dễ đưa đến việc gà đè nhau gây chết khi hoảng sợ, dịch bệnh cũng dễ xảy ra hơn nhất là bệnh cầu trùng (Nguyễn Văn Quyên, 2000)
2.2 VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI
Thức ăn gia súc gồm 2 thành phần là phần nước và phần chất khô Phần chất khô
có 2 loại là chất hữu cơ và tro (còn gọi là chất khoáng) Chất hữu cơ gồm có chất
đạm (protein), chất bột đường (carbohydrate), chất béo (lipid), chất xơ (cellulose)
và vitamin Chất khoáng gồm các nguyên tố đa lượng có nhiều trong cơ thể như canxi, phosphor và loại các nguyên tố vi lượng có rất ít trong cơ thể như sắt, đồng,
đó thịt được cấu tạo chủ yếu từ chất đạm và bột xương được hình thành chủ yếu từ
chất khoáng Bên cạnh đó những chất như vitamin, men đóng vai trò điều hòa mọi
hoạt động sống (như tiêu hóa, hấp thu, bài tiết và vận động) của gia súc
Như vậy, con vật có khoẻ mạnh, lớn lên, sinh đẻ và làm việc được thì thức ăn cần
có đầy đủ các loại dưỡng chất nêu trên, chỉ cần thiếu một loại là gây ảnh hưởng đến loại chất khác làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia súc, thậm chí có thể gây chết cho gia súc
Trong chăn nuôi, người ta còn sử dụng một loại thức ăn gọi là thức ăn bổ sung Thức ăn bổ sung là những loại thức ăn chỉ dùng với số lượng nhỏ, nhưng có tác dụng làm cho khẩu phần được cân đối Nó chỉ có tác dụng bổ sung chứ không giữ vai trò thay thế cho các loại thức ăn trên
Thức ăn vừa là nguyên liệu để duy trì sự sống hàng ngày vừa là nguyên liệu cho
sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể tạo ra sản phẩm tiêu biểu cho mỗi loài, mỗi giống
Do vai trò quan trọng như vậy nên về mặt kinh tế thì nó bao giờ cũng chiếm tỉ lệ
70 – 80 % trong giá thành sản phẩm và là nhân tố quyết định lời lỗ của ngành chăn nuôi Thức ăn và dinh dưỡng là một vấn đề phức tạp mà mỗi người làm nghề nuôi
Trang 16gà cần phải hiểu biết càng sâu, càng có lợi (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương, 1995).
2.2.1 Vai trò của năng lượng
Năng lượng cần thiết cho các hoạt động sống của cơ thể như tiêu hoá, tuần hoàn,
hô hấp, sinh sản, bài tiết và trao đổi chất
Thức ăn năng lượng hay chất bột đường là thành phần dinh dưỡng chiếm tỉ lệ lớn nhất hơn 50% so với các chất dinh dưỡng khác trong thức ăn gia cầm Nó là nguyên liệu ban đầu để chuyển hoá các chất béo, cung cấp bộ khung cacbon để tạo
nên các acid amin và nhiều chất khác trong cơ thể.
Khi nhiệt độ môi trường tăng cao gà có phản ứng tự nhiên để chống lại là điều tiết thân nhiệt bằng cách tăng tần số hô hấp, ăn ít, uống nhiều nước Khi ấy việc tăng năng lượng và protein trong khẩu phần là rất cần thiết để bù đắp hao tổn nói trên nhưng khi tiếp tục tăng quá 27oC cơ thể gà sẽ bị rối loạn Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng nữa thì cơ thể không bị mất năng lượng như trường hợp trên lúc này không nên tăng năng lượng trong thức ăn mà còn phải giảm xuống một cách hợp lí (Dương Thanh Liêm, 1997)
Ngoài ra hàm lượng năng lượng của thức ăn gia tăng thì gà mái sẽ ăn ít đi Quy luật là sự tiêu tốn thức ăn sẽ giảm 4% cho mỗi 50 kcal gia tăng Nếu chỉ dựa trên
sự gia tăng khối lượng của gà mái không thể biết được mức độ thức ăn Bởi lẽ một phần rất lớn năng lượng tiêu thụ được dùng vào việc tăng cường sản sinh nhiệt (Dương Thanh Liêm, 1999)
2.2.2 Vai trò của chất đạm
Protein là cơ sở của sự sống, chúng thực hiện vai trò tạo hình và cấu tạo nên tế bào, hoormone, kháng thể Protein là nguồn năng lượng duy trì trạng thái cân bằng
acid - bazơ điều hoà và trao đổi chất trong cơ thể (Melekhin và Grindin, 1997)
Giá trị sinh học của protein trong thức ăn được đánh giá bằng sự hiện diện của các
acid amin mà cơ thể không tự tổng hợp được hoặc có tổng hợp được cũng không
đáp ứng được yêu cầu của cơ thể Trong các acid amin thiết yếu những acid amin thường thiếu trong thức ăn là acid amin giới hạn và nó quyết định mức độ tổng hợp protein trong cơ thể Đối với gia cầm có các acid amin giới hạn là: lysine, methionine, tryptophan và threonine Nếu protein có chứa tất cả các acid amin thiết yếu đáp ứng nhu cầu của cơ thể thì chúng là các protein có giá trị sinh học
cao và ngược lại
Trong thức ăn chăn nuôi gia cầm cần chú ý các loại thực liệu có giá trị sinh học cao để cân đối các thực liệu có giá trị sinh học thấp Đồng thời bổ sung các acid amin tổng hợp để có một khẩu phần cân đối hoàn chỉnh Sản phẩm chăn nuôi gia cầm là thịt trứng, là các sản phẩm có giá trị sinh học cao Để tạo ra các sản phẩm này và đạt năng suất cao, gia cầm phải có khẩu phần thức ăn tốt, cân bằng dinh
dưỡng, đầy đủ về chất lượng cũng như số lượng Nếu cung cấp protein thừa trong
Trang 17thức ăn sẽ lãng phí làm tăng giá thành sản phẩm Mặt khác protein thừa không tiêu
hoá sẽ gây lên men thối ở ruột già và có thể dẫn đến tình trạng tiêu chảy Đồng
thời sự dư thừa acid amin dẫn đến phản ứng về acid amin quá mạnh thải ra ure và acid uric có hại cho gan thận Sự dư thừa protein làm cho nồng độ acid amin trong
máu tăng, giảm tính thèm ăn của gia cầm, không cải thiện được tăng trọng mà còn
làm giảm khối lượng và sự ngộ độc protein sẽ xảy ra khi khẩu phần có chứa 30% protein.
Ngược lại nếu không cấp đủ protein cơ thể sẽ thiếu nguyên liệu cho nhu cầu duy trì và tăng trưởng đồng thời sức đề kháng của gà cũng giảm Thức ăn thiếu protein nhất là thiếu các acid amin giới hạn sẽ làm quá trình trao đổi chất bị phá hủy, giảm
khả năng chịu nóng và lạnh của gà, giảm sự tạo lông và thay lông không đúng quy
luật và có thể xuất hiện hiện tượng cắn mổ nhau Ngoài ra sự thiếu protein trong
thức ăn làm cho gà ăn nhiều hơn (Nguyễn Thị Đào, 1999)
2.2.3 Vai trò của chất béo trong dinh dưỡng động vật
Chất béo cần thiết cho sự sống của động vật và thực vật trong nhiều mặt Chúng thường được biết đến như năng lượng từ thức ăn Rất nhiều cơ quan trong cơ thể
dự trữ thức ăn dưới dạng chất béo Điển hình như các loại thực vật chứa đựng chất béo như một loại thức ăn trong thời kỳ phôi mầm Ở ruột non nhờ tác dụng xúc tác
của các enzyme lipase và dịch mật, chất béo bị thuỷ phân thành các acid béo và glyxerol rồi được hấp thụ vào thành ruột Chất béo kéo dài thời gian thức ăn ở dạ
dày và đi qua đường tiêu hóa, tạo cảm giác no sau khi ăn Mặt khác chất béo tạo cảm quan ngon lành cho thực phẩm Mỗi dạng chất béo thể hiện một phần quan trọng trong màng tế bào của cơ thể, giúp bảo vệ các tế bào sống Màng tế bào giống nhau bao quanh cơ thể cùng với tế bào, giúp cho mỗi tế bào trong cơ thể có thể làm công việc mà không cần đến sự can thiệp không cần thiết của các tế bào khác Chất béo tham gia vào cấu trúc của tất cả các mô, là thành phần thiết yếu của
tế bào, của các màng cơ thể và có vai trò điều hòa sinh học cao Não bộ và các mô thần kinh đặc biệt giàu chất béo Các rối loạn chuyển hóa chất béo ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan kể cả hệ thần kinh Chất béo cung cấp các acid béo thiết yếu không no đa nối đôi, chuỗi dài là tiền chất của một loạt các chất có hoạt tính
sinh học cao như prostaglandin, leukotrienes, thromboxanes… Các eicosanoids
này là các chất điều hòa rất mạnh một số tế bào và chức năng như kết dính tiểu
cầu, co mạch, đóng ống động mạch Thiếu acid béo omega-3 dẫn đến ảnh hưởng
khả năng nhận thức, khả năng nhìn… Trong cơ thể chất béo là nguồn dự trữ năng
lượng lớn nhất Ngoài ra, chất béo giúp cho các chuyển hoá các vitamin nhóm B
và một số tổ chức như gan, não, tim, các tuyến sinh dục có nhu cầu cao về các acid béo chưa no, nên khi không được cung cấp đủ từ thức ăn thì các rối loạn sẽ xuất hiện ở các cơ quan này trước tiên
Các chất béo động vật và thực vật trong tự nhiên là các ester của glyxerin với các
acid chất béo Đặc tính của chất béo là không hòa tan với nước, nhưng chúng có
khả năng hòa tan các chất khác như vitamin A, D, E, và K.
Trang 18Trong thức ăn hỗn hợp cho gà, thành phần chất béo không nhiều nhưng không thể thiếu được Hầu hết các lọai lipid động vật và thực đều có chứa tỷ lệ khác nhau hai
loại acid béo, là acid béo bão hòa như: acid palmitic, acid srearic….và acid béo
chưa bão hòa Trong các acid béo chưa bão hòa có các acid béo quan trọng như:
acid linoleic, acid linolenic, acid arachionic Đó là những acid béo cần thiết cho
cơ thể gà với tên chung là”các acid béo không thay thế hay acid béo thiết yếu” Cơ thể gà không tổng hợp được các acid béo này, mà phải cho ăn cùng thức ăn (Võ
Bá Thọ, 1996)
2.2.4 Mối tương quan giữa năng lượng và protein
Việc tổng hợp protein trong cơ thể cần một năng lượng và khi năng lượng trong thức ăn thấp thì một phần protein trong thức ăn sẽ bị oxi hoá để tạo năng lượng Như vậy một phần protein không được sử dụng cho mục đích tạo ra sản phẩm mà
sử dụng cho mục đích tạo năng lượng (Trần Thị Kim Oanh, 1998)
Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein và năng lượng của gia cầm: nhu cầu này phụ thuộc vào khối lượng của cơ thể và năng suất Khi gà ở giai đoạn tăng trưởng nhanh thì nhu cầu protein và năng lượng cao hơn so với giai đoạn tăng trưởng thấp
Bên cạnh đó nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng và
protein của gà, hàm lượng protein trong công thức thức ăn được điều chỉnh theo
lượng thức ăn tiêu thụ, khi nhiệt độ môi trường thấp gà cần năng lượng để tạo
nhiệt gà ăn nhiều thức ăn hơn nên tỉ lệ protein phải thấp Khi nhiệt độ môi trường
tăng cao gà ăn ít thì tỉ lệ protein trong thức ăn phải cao giúp cho gà nhận được đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu duy trì và sản xuất Lượng thức ăn tiêu thụ phụ thuộc vào giống, thể trạng, giai đoạn sản xuất, nhiệt độ, môi trường Nhiệt độ môi trường thuận lợi cho gà là 21-25oc ở giai đoạn này gà sử dụng chất dinh dưỡng trong thức ăn hiệu quả nhất (Trần Thị Kim Oanh, 1998)
2.2.5 Vai trò của chất khoáng
Người ta phát hiện trong cơ thể động vật có tới 70 nguyên tố của bảng hệ thống tuần hoàn Có 4% năng lượng cơ thể thuộc về tro chúng gồm các nguyên tố vi lượng, đa lượng tùy thuộc vào số lượng của chúng Trong cơ thể các nguyên tố đa
lượng bao gồm: Ca, P, K, Cl, Mg, S (1.01%) Các nguyên tố vi lượng: Fe, Co, Cu,
Zn, Mn, I, Se và các nguyên tố khác (10-3-10-6%) (Melekhin và Gridin, 1997)
Ca, P giữ vai trò dinh dưỡng khoáng quan trọng, trước hết nó là thành phần cấu trúc của xương, răng P là thành phần của acid Nucleic, phospholipid, tham gia vào những phản ứng phosphoryl hóa và những phản ứng chuyển hóa năng lượng
Ca, Mg có vai trò quan trọng trong kích thích thần kinh hai nguyên tố này có tác
dụng ức chế sự hưng phấn cho nên nếu thiếu chúng sẽ xuất hiện quá trình hưng phấn, nếu nghiêm trọng sẽ xuất hiện triệu chứng co giật (Vũ Duy Giảng, 1997)
Trang 19Do những vai trò như vậy nên khi thiếu Ca, P sẽ có những biểu hiện xấu đến khả
năng sinh sản, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi
Đối với gà đẻ trứng Ca rõ ràng có ảnh hưởng quan trọng, một gà mái nặng 2kg có khoảng 135ml máu chứa 25mg Ca, trong 15 giờ calci hóa vỏ trứng nó sử dụng 100mg calci mỗi giờ Như vậy cứ 15 phút calci huyết tương lại đổi một lần do gà
mái đẻ có tốc độ chuyển đổi calci rất mạnh Nếu không cung cấp đủ calci gà mái
đẻ trứng có vỏ mỏng, dễ vỡ không đủ tiêu chuẩn trứng giống và thương phẩm
Cần cung cấp đầy đủ calci cho cho gà mái để phục hồi lại kho dự trữ xương Có thể dự trữ calci dưới dạng carbonate calci (40% Ca), bột sò (30-35% Ca), bột xương (23% Ca) (Nguyễn Thị Đào, 1999).
Muối ăn cần cho việc hình thành dịch vị tiêu hóa, duy trì pH ổn định, duy trì sự cân bằng các dịch thể, áp lực thẩm thấu bên trong cơ thể
Mangan cần cho cấu tạo xương, chống bệnh Perosis, tăng tỉ lệ ấp nở, tránh tình
2.2.6 Vai trò của vitamin
Vai trò của vitamin trong cơ thể là xúc tác nên chỉ cần lượng vitamin rất ít mà các
chuyển hóa trong cơ thể cũng đạt tốc độ phản ứng nhanh và hiệu quả sử dụng cao (Vũ Duy Giảng, 1997)
Vitamin A cần cho việc bảo vệ niêm mạc, nội mạc của cơ thể chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh Thiếu vitamin A gà có biểu hiện khô lông, khô da, viêm kết
mạc mắt, gà còi cọc, rối lọan thần kinh gà chết ồ ạt như bị dịch Gà mái đẻ giảm,trứng ấp nở kém
Vitamin D cần thiết cho động vật hấp thụ và tích lũy canxi, là tác nhân chống còi xương Thiếu D 3 gà chậm lớn, xương bị biến dạng, gà giảm đẻ, vỏ trứng miềm, tỉ
lệ ấp nở giảm
Vitamin E cần cho khả năng sinh sản Thiếu vitamin E gà trống bị teo dịch hoàn,
gà mái bị thoái hóa buồng trứng khả năng thụ tinh ấp nở giảm hoặc mất hẳn
trong trao đổi chất bột đường
Vitamin B 2 là nhân tố quan trọng cho quá trình oxi hóa của tế bào, chống rối lọan
thần kinh, đảm bảo tỉ lệ đẻ Thiếu B 2 gà bị què chân chậm lớn Nếu bệnh nặng thì
bị liệt, run rẩy và chết trong 3 tuần đầu tiên
Vitamin B 3 thiếu sẻ làm cho gia cầm có hiện tượng mọc lông rời rạc
Trang 20Vitamin B 5 là một vitamin thiết yếu cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường Nếu thiếu thì sinh trưởng kém, bị phình khớp chân và què.
Vitamin B 6 cần cho quá trình trao đổi chất đạm, chất béo để phát triển cơ thể, chống viêm da
Vitamin B 12 rất quan trọng trong cấu tạo máu, tổng hợp các protit tế bào, thúc đẩy
quá trình sinh trưởng bình thường của cơ thể, mọc lông, đảm bảo tỉ lệ ấp nở của trứng
Vitamin K là nhân tố làm đông máu, chống chảy máu.
Vitamin C làm tăng sức đề kháng cho gia cầm đối với các yếu tố stress hoặc bị
bệnh và tránh tình trạng vỏ trứng bị mỏng (Võ Bá Thọ, 1996)
2.2.7 Vai trò của nước
Nước là thành phần vô cùng quan trong đối với cơ thể động vật Tuy nó khôngcung cấp năng lượng nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống động vật Gà nếu không được cung cấp đầy đủ nước sản lượng trứng sẽ giảm đi đáng kể Nước trong cơ thể động vật chiếm từ 60- 70%, tùy theo tuổi mà tỷ lệ này giảm dần từ 80% lúc mới sinh và còn 45% lúc trưởng thành Tỉ lệ nước cũng biến động theo thể trạng và các mô khác nhau (Vũ Duy Giảng, 1997)
Nếu không có nước gia cầm sẽ bị chết nhanh hơn là bị đói hoàn toàn Người ta biết rằng thiếu thức ăn gia cầm có thể sống được hơn 12 ngày, không có nước gà
sẽ chết vào ngày thứ 3-4 Gia cầm càng non cơ thể càng chứa nhiều nước Như vậy nước tỉ lệ với khối lượng của cơ thể (Bùi Thị Kim Dung, 1996)
Nước cần cho việc phân giải protein, lipid, glucid Nuớc tạo điều kiện để thấm hút các chất khoáng, các vitamin và các sản phẩm phân giải khác Nước là môi trường
cần thiết cho các quá trình lên men của trao đổi chất trong cơ thể cũng như đối với
sự thẩm thấu và khuếch tán các chất Nó vận chuyển các chất dinh dưỡng và các sản phẩm của trao đổi chất trong cơ thể (Melkhin và Gridin, 1977)
Yêu cầu về nước uống là phải sạch và đầy đủ Tiêu chuẩn về nước uống cho gà có thể áp dụng tiêu chuẩn nước uống cho người Phải thường xuyên kiểm tra hệ thống cung cấp nước Nước uống và thức ăn tiêu thụ sẽ nói lên tình trạng sức khỏe của con vật
Phương pháp cung cấp nước cho gà là cho chúng tiếp xúc trực tiếp với nguồn nước để chúng được uống thỏa thích Tuy nhiên cần chú ý đảm bảo những chỉ tiêu
vệ sinh nước uống, nồng độ chất hòa tan không vượt quá 15g/1l Nước tốt chứa 2g chất hòa tan/1l Nacl không vượt quá 10g/1l, muối sulfat không quá 1g/1l Muối nitrat tối đa 50- 100 ppm Không cho vật nuôi uống nước bị nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng hoặc hóa chất độc hại (Vũ Duy Giảng, 1997)
Trang 212.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG GIA CẦM
2.3.1 Nhu cầu năng lượng
2.3.1.1 Nhu cầu duy trì
Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì nuôi gia cầm cho mục đích sản xuất, trước hết phải nuôi dưỡng để duy trì sự sống, mặc dù chúng có sản xuất hay không Một lượng đáng kể thức ăn tiêu tốn của gia cầm là sử dụng cho duy trì sự sống Nhu cầu năng lượng để duy trì của gia cầm bao gồm sự trao đổi cơ bản và hoạt động bình thường Trao đổi cơ bản là sự tiêu phí năng lượng tối thiểu hoặc sự sinh nhiệt trong những điều kiện khi ảnh hưởng của thức ăn, nhiệt độ môi trường và hoạt động chủ động bị loại ra Sự sinh nhiệt cơ bản thay đổi theo độ lớn của vật nuôi, nhìn chung thì độ lớn của vật nuôi tăng thì sự sinh nhiệt cơ bản trên một đơn vị thể trọng giảm Sự sinh nhiệt cơ bản của gà con mới nở vào khoảng 5,5 calo trên mộtgam thể trọng trong một giờ, nhưng trái lại đối với gà mái trưởng thành thì chỉ cần phân nữa số năng lượng này
Năng lượng yêu cầu cho hoạt động có thể thay đổi đáng kể, thường được ước tính bằng khoảng 50% của sự trao đổi cơ bản Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi những điều kiện chuồng trại cũng như giống gia cầm được nuôi Sử dụng chuồng lồng làm giới hạn các hoạt động sẽ dẫn đến sự tiêu phí năng lượng thấp hơn, cỡ khoảng 30% của sự trao đổi cơ bản so với nuôi nền
Mặc dù thực tế những động vật lớn hơn yêu cầu năng lượng duy trì thấp hơn trên một đơn vị thể trọng, nhưng tổng năng lượng cần cho những động vật lớn hơn lại cao hơn nhiều so với vật nhỏ hơn Từ quan điểm thực tiễn cho thấy, một gà mái sản xuất trứng có độ lớn cơ thể nhỏ nhất, đẻ trứng lớn và sức sống cao sẽ có khả năng chuyển đổi thức ăn thành sản phẩm đạt hiệu quả nhất, vì tiêu phí năng lượng duy trì thấp Chăn nuôi gà hoặc gà tây thịt đạt đến độ bán trong một thời gian ngắn nhất sẽ đạt hiệu quả nhất về biến đổi thức ăn thành sản phẩm, vì nếu kéo dài thời gian nuôi sẽ phải chi phí duy trì lớn hơn Hầu hết gà đang đẻ trứng và gà thịt đang sinh trưởng đều được cho ăn tự do theo yêu cầu sản xuất Lượng thức ăn gia cầm tiêu thụ có liên quan trước hết đến nhu cầu năng lương của gia cầm trong thời gian này Khi các chất dinh dưỡng khác có đủ lượng trong thức ăn thì khả năng tiêu thụ thức ăn được xác định trước tiên dựa trên mức năng lượng của khẩu phần Mức tiêu thụ năng lượng của gia cầm hàng ngày có thể đo bằng kilocalo năng lượng trao đổi thì chắc chắn sẽ ổn định hơn là tổng lượng thức ăn tiêu thụ, nếu trong khẩu phần có chứa các mức năng lượng khác nhau
2.3.1.2 Nhu cầu sinh trưởng
Trong hầu hết các trường hợp, nhu cầu năng lượng không được trình bày một cách
chính xác như các nhu cầu về acid amin, vitamin và khoáng Tốc độ tăng trưởng
tốt có thể đạt được với một biên độ rộng của các mức năng lượng, bởi vì gia cầm
có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào để duy trì một mức tiêu thụ năng
Trang 22lượng khá ổn định Nhìn chung tốc độ tăng trưởng tối đa sẽ không đạt được với khẩu phần khởi động cho gà và gà tây con có mức năng lượng dưới 2640 kcal ME/kg Gà thịt thường được cho ăn mức năng lượng cao hơn gà hậu bị thay thế Trong sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trọng tối đa là yêu cầu cần thiết để gà đạt khối lượng bán trong thời gian ngắn nhất, nhưng với những gà hậu bị thay thế thì tốc độ tăng trưởng nhanh lại ít quan trọng hơn Thực tế sản xuất cho thấy, khẩu phần khởi động cho gà con làm gà hậu bị thay thế có từ 2750 đến 2970 kcal/kg, ngược lại khẩu phần khởi động của gà thịt lại chứa mức năng lượng cao hơn, trong phạm vi
từ 3080 đến 3410 kcal/kg (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.3.2 Nhu cầu protein
Theo Bùi Xuân Mến (2007) thì protein cần thiết cho duy trì tương đối thấp, vì thế yêu cầu protein trước hết tùy thuộc vào lượng cần thiết cho mục đích sản xuất Để đáp ứng nhu cầu protein thì các acid amin thiết yếu phải được cung cấp đủ lượng
và tổng lượng nitơ trong khẩu phần phải đủ cao và ở dạng thích hợp để cho phép
tổng lượng acid amin không thiết yếu Một khi lượng protein tối thiểu được yêu cầu cung cấp cho sinh trưởng hoặc sản xuất trứng tối đa thì protein cần cộng thêm
do bị oxy hóa thành năng lượng cũng phải tính đến Protein cũng không được dự trữ trong cơ thể theo số lượng có thể đánh giá được Thực tế sản xuất, protein luôn
là thành phần thức ăn đắt nhất của một khẩu phần, sẽ không kinh tế nếu nuôi động
vật quá mức protein Vì lý do này mà mức protein trong khẩu phần cho vật nuôi
luôn phải giữ gần với mức nhu cầu tối thiểu hơn là các chất dinh dưỡng khác
Nhu cầu protein và acid amin của gia cầm non đang sinh trưởng là đặc biệt quan trọng Phần lớn nhất vật chất khô tăng lên với sự sinh trưởng là protein Sự thiếu hụt của hoặc protein tổng số hoặc là một acid amin thiết yếu nào đó đều làm giảm tốc độ tăng trưởng Sự tổng hợp protein yêu cầu tất cả các acid amin cần thiết làm thành protein cần phải có mặt trong cơ thể gần như cùng một lúc Khi thiếu một acid amin thiết yếu thì không có sự tổng hợp protein Những protein không hoàn chỉnh sẽ không bao giờ được tạo thành Các acid amin không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ chuyển đổi thành carbohydrate hoặc mỡ, đồng thời nó có thể
dễ dàng bị oxy hóa cho nhu cầu năng lượng trực tiếp hay được dự trữ dưới dạng
mô mỡ Thân thịt của những vật nuôi cho ăn khẩu phần thiếu protein hoặc các acid amin thường chứa nhiều mỡ hơn những vật được ăn khẩu phần đủ và cân đối protein.
Điều cân nhắc quan trọng nhất trong việc biểu diễn nhu cầu các acid amin là lượng thức ăn tiêu thụ Một lượng ổn định protein tổng số và acid amin thiết yếu trong
thức ăn được yêu cầu để giúp cho tốc độ tăng trưởng mô cơ thể có thành phần
không thay đổi Tuy nhiên khi nhu cầu protein được biểu thị theo phần trăm trong khẩu phần thì mức protein ăn vào thực sự sẽ tùy thuộc vào sự tiêu thụ thức ăn
Mức năng lượng trong khẩu phần có thể là sự xem xét quan trọng nhất trong việc đánh giá lượng thức ăn ăn vào Vì lý do này mà các nhu cầu được biểu diễn như phần trăm của khẩu phần luôn có liên quan đến mức năng lượng của khẩu phần
Trang 232.3.3 Nhu cầu vitamin và muối khoáng
Ngày nay, hầu hết nhu cầu của gia cầm về vitamin và muối khoáng đã được biết chính xác, đặc biệt đối với các vitamin và khoáng chất biết chắc chắn là bị thiếu trong các khẩu phần sản xuất Ngoại trừ một số ít các vitamin hoặc khoáng không
biết chắc chắn là thiếu dưới những điều kiện sản xuất, các mức trong khẩu phần được khuyến cáo là sẽ cung cấp lượng đủ để cho phép gia cầm sản xuất hiệu quả
Không như protein, các yếu tố vitamin và khoáng vi lượng luôn được cung cấp vượt qua mức nhu cầu tối thiểu trong khẩu phần Vì vậy, nhu cầu vitamin và
khoáng vi lượng thường không được chỉ dẫn theo tỷ lệ thức ăn tiêu thụ hoặc mức năng lượng có trong thức ăn, từ đó số lượng đủ luôn trên mức nhu cầu tối thiểu được tính trong các khẩu phần cho gia cầm (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.4 TIÊU CHUẨN VỀ ĐIỀU KIỆN TIỂU KHÍ HẬU
2.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ của chuồng nuôi là điều kiện tiểu khí hậu quan trọng nhất Ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và năng suất của đàn gà Nhiệt độ nóng hay lạnh đều tác động trực tiếp đến cơ thể gà và khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của chúng Nhiệt độ lí tưởng trong chuồng từ 20 - 250C (Võ Bá Thọ, 1996)
2.4.2 Ẩm độ
Khả năng chứa nước của không khí phụ thuộc vào nhiệt độ Nhiệt độ càng cao không khí càng hút ẩm và trái lại Không khí trong chuồng nuôi thường xuyên bão hòa hơi nước do gà thải nước ra ngoài trong khi thở, nước bốc hơi từ phân, từ bề
mặ t của thiết bị cung cấp nước, từ mặt nước rơi vãi và hơi ẩm từ ngoài vào do thông khí kém Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thải hơi nước đặc biệt là nhiệt
độ của không khí, sức đẻ trứng, thành phần thức ăn, phương pháp thu dọn phân, sự cách li của tường và nền chuồng… Do đó cần có hệ thống thông khí Độ ẩm của không khí tốt nhất trong chuồng nuôi từ 65-70%, độ ẩm không khí cao ảnh hưởng đến sự cân bằng nhiệt, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gà Độ ẩm thấp có hại cho gà vì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy, không khí khô làm khô da, gây ra bệnh ngứa, đây là một trong những nguyên nhân gây mổ lông và ăn thịt lẫn nhau (Hattenhauer, 1978)
Ẩm độ tương đối của không khí chuồng nuôi hoàn toàn phụ thuộc vào kĩ thuật nuôi, mật độ nuôi, phương pháp cho uống và thể thức lưu thông khí của chuồng nuôi Khi ẩm độ cao gà có biểu hiện khó thở, dễ mắc các bệnh về đường hô hấp, ảnh hưởng đến cơ chế điều tiết thân nhiệt Ẩm độ cao gây tác hại gián tiếp là điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của các loại mầm bệng như vi khuẩn, nấm mốc … đặc biệt là cầu trùng (Võ Bá Thọ, 1996)
Ẩm độ của chuồng nuôi gà sinh sản thích hợp là 60-70% (Nguyễn Đức Hưng,
Trang 24- Giai đoạn gà con: 50 – 55%
- Giai đoạn gà giò: 60 – 65%
- Giai đoạn gà trưởng thành: 65 – 75%
2.4.3 Chế độ chiếu sáng
Chế độ chiếu sáng giúp cho gà thuần thục giới tính đúng ngày giờ, đẻ sai và duy trì năng suất đẻ Thời gian chiếu sáng ở gà đẻ không dưới 14h/ngày đêm, tuần đẻ thứ 16 trở đi tăng dần và đạt tối đa là 17h/ngày đêm Cường độ chiếu sáng 3-4 W/m2 nền Ánh sáng màu đỏ có lợi cho gà đẻ (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Đối với nuôi gà đẻ các loại không bao giờ tăng thời gian và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn tăng trưởng Ngược lại cũng không bao giờ giảm thời gian và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn sắp đẻ và đang đẻ (Võ Bá Thọ, 1996)
2.4.4 Màu sắc ánh sáng
Màu sắc của ánh sáng đối với khả năng sản xuất của gà có ý nghĩa thứ yếu nhưng người ta đã thấy rằng màu đỏ có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn màu đỏ vàng, xanh lục, xanh lam, da cam Gà thường được chiếu sang thì làm cho sinh dục chín sớm hơn
gà không được chiếu sáng và có ảnh hưởng tốt đến khả năng đẻ trứng (Hattenhauer, 1978)
2.4.5 Thông thoáng
Điều kiện thông thoáng phụ thuộc vào kết cấu và kiểu chuồng Nếu gà sống trong đều kiện thông thoáng kém dưới 0,9 m3 không khí/giờ/kg thể trọng thì đàn gà đó
có nguy cơ mắc bệnh hô hấp và bệnh Newcastle cao hơn bình thường Nếu gà
sống trong điều kiện có sự trao đổi thông khí tốt trên 5m3 không khí/giờ/kg thể trọng thì khả năng mắc bệnh rất thấp (Lã Thị Thu Minh, 1995)
Nhiệt độ của môi trường làm tăng tốc độ bài tiết ra khí cacbonic của gà Sơ bộ có thể tính được là một gà mái đẻ thải ra khoảng 1,4 lít khí cacbonic trên một kilogam cơ thể Hàm lượng cacbonic không thể là tiêu chuẩn để xét chất lượng
không khí trong chuồng nuôi vì thiếu sự tương quan với các thành phần khác và các yếu tố của tiểu khí hậu (Hattenhauer, 1978)
2.4.6 Mật độ nuôi
Mật độ nuôi có liên quan đến sức khỏe và năng suất của gà Tùy vào phương thức nuôi, kiểu chuồng, tiểu khí hậu hoặc hệ thống điều hòa trong chuồng nuôi và tuổi
Trang 25của gà mà bố trí mật độ nuôi thích hợp (Bùi Xuân Mến, 2007).
Theo Dương Thanh Liêm (1999) thì mật độ nuôi thích hợp đối với gà chuyên trứng được biểu thị qua bảng 2.7 như sau:
Bảng 2.7: Mật độ nuôi gà chuyên trứng (con/m 2 )
Các giai đoạn tuổi Nuôi dưới nền Nuôi trên lồng
(Dương Thanh Liêm, 1999)
2.5 CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG
2.5.1 Cắt mỏ gà
Do bản chất của gà, đặc biệt là gà nuôi nhốt thường mổ lông ăn thịt lẫn nhau khi thiếu dinh dưỡng, nhiệt độ môi trường tăng cao, cường độ ánh sáng lớn, sự không đồng đều giữa các gà trong cùng ô chuồng Mặt khác gà thường dùng mỏ để cào làm thức ăn rơi vãi ra ngoài gây lãng phí, tỉ lệ này thường chiếm khỏang 5% Cho nên cần thiết phải cắt mỏ gà
Thời gian cắt mỏ trong khoảng 4 tuần tuổi đầu tiên, tốt nhất là từ 6 – 10 ngày tuổi
vì gà có đủ sức đề kháng với stress khi cắt mỏ và lúc này gà còn nhỏ nên thao tác
dễ dàng hơn Tránh cắt mỏ gà khi gà bị stress do chủng ngừa, nhiệt độ môi trường
tăng cao… Dao cắt mỏ phải đủ bén và nóng để tránh chảy máu, có thể hòa tan
vitamin K với liều từ 3 – 5g/1l nước cho uống liên tục 2 – 3 ngày trước và sau khi
cắt mỏ, không cho gà ăn ngay sau khi cắt mỏ Thức ăn phải đổ một lớp dày vào máng để gà khỏi chạm mỏ vào thành máng Vị trí cắt mỏ là 1/3 – 1/2 ngoài của mỏ (Bùi Xuân Mến, 2007)
2.5.2 Quy trình vệ sinh phòng bệnh
Trong chăn nuôi gà bên cạnh những vấn đề quan trọng như con giống, thức ăn còn
có một khâu hết sức quan trọng là khâu phòng bệnh Hiện nay, khâu này hầu như quyết định sự thành công hay thất bại của việc chăn nuôi gà Để phòng bệnh có hiệu quả cần thực hiện chặt chẽ các khâu sau đây: sát trùng chuồng trại, dụng cụ, cách li trại, phòng bệnh bằng vaccin Trong ba khâu trên thì sát trùng chuồng, dụng cụ rất quan trọng Vì nếu không làm tốt khâu này thì dù có phòng vaccin cho gà thì bệnh vẫn có thể xảy ra Sát trùng chuồng trại nhằm mục đích tiêu diệt mầm bệnh có sẵn Người ta thường sát trùng bằng hóa chất (Châu Bá Lộc, 1997)
Trang 26Những dụng cụ như máng ăn, uống đều phải được sát trùng trước khi sử dụng, ngoài ra lối đi xung quanh cần phải được sát trùng Sau mỗi đợt nuôi, chuồng cần phải được bỏ trống ít nhất hai tuần để sát trùng và chuẩn bị cho đợt nuôi sau Nên
sử dụng nhiều loại thuốc sát trùng khác nhau ở mỗi đợt nuôi Hạn chế tối đa người không nhiệm vụ và thú vật vào chuồng nuôi Khi muốn vào chuồng thì trước đó phải tắm rửa sạch sẽ thay y phục của trại Diệt chuột, ruồi vì nó là trung gian truyền bệnh (Bùi Xuân Mến, 2007)
16 tuần Newcastle, Viêm phế quản truyền nhiễm, Gumboro
(Võ Bá Thọ, 1995)
2.6 PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ THỨC ĂN ĐỐI VỚI GÀ HẬU BỊ GIỐNG
Mục tiêu của hạn chế thức ăn là tránh sự mập mỡ quá sớm, để làm chậm thời gian thành thục về tính, thể vóc và bộ máy sinh dục, sản xuất trứng phát triển bền vững Đến khi gà đẻ thì đẻ trứng to, thời gian khai thác trứng kéo dài Muốn vậy phải đạt tuổi thành thục đúng tiêu chuẩn con giống: không quá sớm cũng không quá muộn Đối với gà chuyên trứng, định lượng thức ăn trong giai đoạn hậu bị không quan trọng bằng định ra chương trình chiếu sáng vì gà khó mập mỡ nhưng đối với gà thịt thì việc định lượng thức ăn lại là việc cực kỳ quan trọng Để kiểm tra định mức thức ăn của gà hậu bị có hợp lý không, khoảng một hai tuần ta cân mẫu một