1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH NHIỄM sán lá GAN TRÊN bò tại HAI HUYỆN LAI VUNG và HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP

86 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về khảo sát bệnh tích trên gan nhiễm sán nhận thấy: Bệnh tích đại thể Trên bề mặt gan có xuất hiện các vết xuất huyết, gan sưng to, ứ huyết tại các thùy gan, gan vàng, có một số vùng bị

Trang 1

Cần Thơ,2009

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN TRÊN BÒ TẠI HAI HUYỆN LAI VUNG VÀ HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI THÚ Y

Trang 2

Cần Thơ,2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:

TS Nguyễn Hữu Hưng Nguyễn Thị Phương Thảo

MSSV: 3052462

Trang 3

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan hoàn toàn trung thực trong quá trình thực hiện đề tài và kết quả làm bài Nếu có gì sai trái, tôi xin chịu mọi hình thức xử phạt của Bộ Môn

Cần thơ, ngày …tháng…năm…

Ký tên

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 5

Qua kiểm tra 322 mẫu phân ở các lứa tuổi <1 năm; 1-2 năm; >2năm, mổ khám

33 con bò địa phương và khảo sát bệnh tích trên gan bò nhiễm sán Từ đó tôi có những nhận xét sau:

Tình hình nhiễm sán lá gan qua kiểm tra phân tại hai huyện Lai Vung va Cao Lãnh chiếm tỷ lệ khá cao 46,58% trong đó bò ở Cao Lãnh có tỷ lệ nhiễm cao hơn 48,36%, bò ở Lai Vung nhiễm thấp hơn 45,50% Bò địa phương có tỷ lệ nhiễm 51,72% cao hơn bò lai Sind 44,68%

Qua mổ khám và định danh phân loài, kết quả nhận thấy bò nhiễm hai loài sán

lá gan đó là Fasciola gigantica 18,18%, Paraphistomum explanatum 9,09%

Về khảo sát bệnh tích trên gan nhiễm sán nhận thấy:

Bệnh tích đại thể

Trên bề mặt gan có xuất hiện các vết xuất huyết, gan sưng to, ứ huyết tại các thùy gan, gan vàng, có một số vùng bị hoại tử đục có màu trắng sáng, có những nốt mủ hoại tử màu vàng hoặc trắng ngà nổi trên bề mặt gan, thành ống mật và tích tụ calci, dịch viêm có màu đen, túi mật sưng to

Bệnh tích vi thể

Tổ chức vi thể gan nhiễm sán cho thấy có sán non bên trong tổ chức gan, tế bào gan bị tổn thương, số lượng ống dẫn mật tăng sinh Gan vàng, một số vùng trên nhu mô gan bị hoại tử, hóa calci và có những nốt mủ xuất hiện Trong nhu mô gan xuất hiện các tổ chức xơ

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn ba mẹ và những thành viên trong gia đình tôi đã luôn ủng hộ tôi về vật chất lẫn tinh thần, giúp tôi có thể hoàn thành tốt năm học và cả bài luận văn tốt nghiệp ra trường

Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Hữu Hưng đã nhiệt tình hướng dẫn đồng thời tạo môi trường làm việc thuận lợi để cho tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn

Xin chân thành cảm ơn thầy cố vấn Trương Chí Sơn đã dành nhiều tình cảm cho lớp tôi, chúng tôi luôn luôn tự hào khi được thầy cố vấn

Xin cảm ơn cô Hồ Thị Việt Thu đã giúp tôi rất nhiều trong học tập lẫn công việc Xin cảm ơn quí thầy cô Bộ Môn Chăn Nuôi và bộ môn Thú Y đã nhiệt tình, tận tụy trong việc giảng dạy, không những mang lại những kiến thức sâu hơn về chuyên môn

mà cả về kiến thức thực tế

Cảm ơn anh Hà Huỳnh Hồng Vũ đã hết lòng giúp đở tôi hoàn thành tốt bài luận văn Chân thành cảm ơn cán bộ của trạm Thú Y Lai Vung, trạm Thú Y Cao Lãnh và lò mổ

An Bình đã nhiệt tình giúp đở tôi trong quá trình thực hành làm luận văn

Cám ơn các bạn của lớp Chăn Nuôi Thú Y, K31 đã luôn chia sẽ những niềm vui, nỗi buồn, giúp tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH SÁCH CHỬ VIẾT TẮC v

DANH SÁCH BẢNG vi

DANH SÁCH HÌNH .vii

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ ix

CHƯƠNG 1 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan trong và ngoài nước 2

2.1.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ngoài nước 2

2.1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ở trong nước 4

2.2 Sơ lược về bệnh sán lá gan 6

2.2.1 Hình thái – phân loài 6

2.2.2 Vòng đời và sự phát triển của sán lá gan 10

2.2.3 Ký chủ trung gian 13

2.2.4 Tác hại của sán lá gan 15

2.2.5 Tác động của sán lá gan lên ký chủ 16

2.2.6 Dịch tễ học 17

2.2.7 Cơ chế sinh bệnh 18

2.2.8 Triệu chứng 19

2.2.9 Bệnh tích 20

2.2.10 Bệnh lý giải phẩu 20

2.2.11 Chẩn đoán 21

2.2.12 Phòng bệnh 22

Trang 8

2.2.13 Điều trị 22

2.3 Tình trạng bệnh lý của gan nhiễm sán 23

CHƯƠNG 3 27

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Nội dung nghiên cứu 27

3.2 Thời gian tiến hành 27

3.3 Địa điểm tiến hành 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội của huyện Cao Lãnh và huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp 27

3.4.2 Tình hình chăn nuôi của huyện Cao Lãnh và huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp 27

3.4.3 Phương pháp kiểm tra phân 28

3.4.4 Phương pháp mổ khám 31

3.4.5 Phương pháp định danh phân loài 32

3.4.6 Phương pháp làm tiêu bản sán lá 33

3.4.7 Phương pháp quan sát mô bệnh học gan nhiễm sán lá 34

CHƯƠNG 4 39

KẾT QUẢ THẢO LUẬN 39

4.1 Sơ lược điều kiện tự nhiên-xã hội của 2 huyện Lai Vung và Cao Lãnh tỉnh đồng tháp 39

4.2 Tình hình chăn nuôi và thú y của Lai Vung và Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp 40

4.2.1 Tình hình chăn nuôi 40

4.2.2 Tình hình thú y 42

4.3 Kết quả tình hình nhiễm sán lá gan trên bò ở huyện Lai Vung và Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp 42

Trang 9

4.3.1 Kết quả kiểm tra phân 42

4.3.2 Tình hình nhiễm sán lá gan trên bò tại tỉnh Đồng Tháp qua phương pháp mổ khám 50

4.3.3 Kết quả khảo sát những biến đổi bệnh lý của gan nhiễm sán 54

CHƯƠNG 5 58

KẾT LUẬN Và ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO .60

Trang 10

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

L viridis: Lymnaea viridis

L swinhoei: Lymnaea swinhoei

F gigantica: Fasciola gigantica

P explanatum: Paramphistomum explanatum

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1 Số lượng bò của huyện Cao Lãnh và Lai Vung năm 2008 29 Bảng 2 Số lượng bò theo giống của huyện Cao Lãnh và huyện Lai Vung

năm 2008 29 Bảng 3 Số mẫu khảo sát thí nghiệm 30 Bảng 4 Số bò của 2 huyện Lai Vung và Cao Lãnh qua các năm từ 2006

đến 2008 41 Bảng 5 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên bò ở Lai Vung và Cao Lãnh 42 Bảng 6 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo giống bò tại 2 huyện Lai Vung và

Cao Lãnh 44 Bảng 7 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo lứa tuổi tại 2 huyện Lai Vung và

Cao Lãnh 45 Bảng 8 Tỷ lệ nhiễm các loài sán lá gan bò tại 2 huyện Lai Vung và

Cao Lãnh 46 Bảng 9 Tỷ lệ nhiễm của các loài sán lá gan theo giống bò tại 2 huyện 47 Bảng 10 Tỷ lệ nhiễm các loại sán lá gan theo lứa tuổi tại 2 huyện Lai Vung

và Cao Lãnh .49 Bảng 11 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên bò địa phương tại lò mổ An Bình, tỉnh

Đồng Tháp 50 Bảng 12 Thành phần sán lá gan trên bò địa phương qua mổ khám 51 Bảng 13 Tỷ lệ nhiễm các loài sán lá gan trên bò theo lứa tuổi 52

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1 Tình hình nhiễm sán lá trên trâu bò ở Scotland 3

Hình 2 Fasciola gigantica .6

Hình 3 Trứng Fasciola gigantica .7

Hình 4 Fasciola hepatica 7

Hình 5 Trứng Fasciola hepatica 8

Hình 6 Paramphistomum explanatum 8

Hình 7 Trứng Paramphistomum explanatum 9

Hình 8 Dicrocoelium dendriticum 9

Hình 9 Trứng Dicrocoelium dendriticum 10

Hình 10 Vòng đời của Fasciola spp 11

Hình 11 Vòng đời phát triển của Dicrocoelium dendriticum 12

Hình 12 Ốc Lymnaea 13

Hình 13 Ốc Lymnaea swinhoei 13

Hình 14 Trâu bò nhiễm sán lá gan ở Nepal 15

Hình 15 Fasciola ở người 16

Hình 16 Đánh giá hiệu lực của thuốc điều trị sán lá gan trên trâu bò 23

Hình 17 Vị trí địa lí của huyện Lai Vung và Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp 40

Hình 18 Ốc Lymnaea trên đồng ruộng 41

Hình 19 Gan bị nhiễm Fasciola gigantica 53

Hình 20 Fasciola gigantica ép tươi 53

Hình 21 Paramphistomum explanatum ép tươi 53

Hình 22 Hình dạng Paramphistomum explanatum 53

Hình 23 Hình dạng Fasciola gigantica 53

Hình 24 Paramphistomum explanatum và Fasciola gigantica 53

Hình 25 Thành ống mật dày lên 54

Hình 26 Vết hoại tử màu trắng 54

Trang 13

Hình 27 vết hoại tử màu vàng 54

Hình 28 Sán non di hành 54

Hình 29 Hoại tử bên trong gan 55

Hình 30 Túi mật sưng to .55

Hình 31 Gan bị xơ hóa 55

Hình 32 Gan vàng 55

Hình 33 Tiểu quản mật dầy lên .56

Hình 34 Hạch lâm ba sưng 56

Hình 35 Sán non cư trú trong nhu mô gan 56

Hình 36 Vết xuất huyết trong nhu mô gan 57

Hình 37 Mô liên kết hóa sợi lan rộng 57

Hình 38 Gan bị calci hóa 57

Hình 39 Vùng hoại tử lan rộng trong nhu mô gan 57

Trang 14

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 So sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên bò tại 2 huyện Lai Vung và Cao Lãnh .43 Biểu đồ 2 So sánh tỷ lệ nhiễm của các loài sán lá gan theo giống bò 48 Biểu đồ 3 So sánh tỷ lệ nhiễm các loại sán lá gan theo lứa tuổi tại 2 huyện

Lai Vung và Cao Lãnh 49

Trang 15

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, xã hội đã phát triển thì nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao Cho nên,

vị thế của ngành chăn nuôi ngày càng chiếm vị trí quan trọng Theo số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2006, tổng đàn bò cả nước là 6,51 triệu con, so với năm

2005 là 5,54 triệu con thì tốc độ tăng đàn trên 17% năm Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2010 của cả nước với tổng đàn bò là 4,6 triệu con

Hiện tại Đồng tháp đã và đang thực hiện nhiều chương trình dự án chăn nuôi lớn như chương trình phát triển đàn bò sữa, chương trình Sind hóa đàn bò, đề án chăn nuôi

bò thịt chất lượng cao Hơn nữa, Đồng Tháp có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm quanh năm,

hệ sinh thái đa dạng phong phú, vùng đồng bằng rộng lớn là điều kiện tốt để phát triển chăn nuôi bò nhưng cũng là cơ hội cho ký sinh trùng và ký chủ trung gian tồn tại và phát triển do hàng năm đều ngập lũ trên một diện rộng trong cả tỉnh Bệnh thường xảy

ra rải rác, ít chết hàng loạt nên người chăn nuôi ít quan tâm, công tác phòng trừ bệnh giun sán lại chưa được thực hiện đúng mức nên mầm bệnh dễ tồn tại và phát tán xung quanh

Ngoài ra, sán lá gan không những gây bệnh trên gia súc mà còn gây tác hại cho người Theo tổ chức sức khỏe quốc tế đánh giá rằng, trên 200 tỉ người bị nhiễm loài Fasciolosic ở Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á

Với mức độ nguy hiểm đã xảy ra trên gia súc, đặc biệt là con người Đó là lí do tôi tiến hành thực hiện đề tài này:

“TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN TRÊN BÒ TẠI 2 HUYỆN LAI VUNG VÀ HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP”

Mục đích của đề tài là:

- Xác định tình hình nhiễm sán lá gan trên bò tại hai huyện Lai Vung và huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

- Xác định thành phần loài sán lá gan ký sinh trên bò

- Khảo sát những biến đổi bệnh tích đại thể và vi thể của gan bị nhiễm sán lá

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SÁN LÁ GAN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.1.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ngoài nước

Peter C Kennedy (1970) lớp Trematodes gồm những loài sán lá, kí sinh trong gan

của nhiều động vật Chúng thuộc họ Fasciolidae (Fasciola hepatica, F gigantica,

Fascioloides magna), Dicrocoeliidae (Dicrocoelium dendriticum, D hosoes, Platynosomum concinnum), Opisthorchiidae (Opisthorchis tenuicollis, O sinensis, Pseudamphistomum truncatum)

Linne (1758) đã tìm thấy Fasciola hepatica, sau đó Cobbold (1885) đã phát hiện

ra loài Fasciola gigantica (trích dẫn Phan Địch Lân ,2000)

Peter C Kennedy (1970) Dicrocoelium dendriticum được tìm thấy ở Châu Âu,

Châu Á, Châu Mỹ và Nam Phi Loại kí sinh trong ống dẫn mật trên trâu, bò và cừu, trừ mèo

Sousbly (1965) cho rằng Dicrocoelium dendriticum có 2 ký chủ trung gian đó là

ốc và kiến, micracidium không nở từ trứng mà nở trong ký chủ trung gian, ở trong ruột

ốc

Tại Scotland, số bò bị nhiễm sán lá gan loài Fasciola hepatica tăng lên đáng kể

vào năm 2002, chưa từng xảy ra trước đó Bệnh này đe dọa đến tổ chức bảo vệ động vật và đồng thời làm thiệt hại về kinh tế: tử vong, dễ cảm nhiễm với những bệnh khác,

chi phí điều trị cao…(http: www qmscotland co uk )

Ueno et al., (1960) sử dụng Bitin điều trị sán lá gan với liều 30-35 mg/kg thể trọng, hiệu lực 66-88%

Davtjan (1962) chứng minh quá trình dị ứng là do kết quả tác động của nhiều kháng nguyên sinh ra từ sán và những kháng thể xuất hiện trong gan gây những biến loạn đầu tiên bằng suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A làm cơ thể gầy yếu tạo điều kiện cho các bệnh do vi khuẩn dễ phát sinh, bằng sự tăng quá nhiều bạch cầu ái toan trong

cơ thể (trích dẫn Đỗ Dương Thái - Trịnh Văn Thịnh, 1978)

Trang 17

Hình 1 Tình hình nhiễm sán lá trên trâu bò ở Scotland

Nguồn: (http: www moredun vrg uk )

Peter C Kennedy, (1970) sán lá gan được tìm thấy trong ống dẫn mật và túi mật ở trâu bò Là một sinh vật lưỡng tính, chỉ một con sán đủ để có thể tàn phá cơ thể vật chủ Mỗi ngày một con sán trưởng thành có thể đẻ 30 000 trứng mỗi ngày Một điều đáng kinh ngạc, tuổi thọ của một con sán trưởng thành có thể dài hơn tuổi thọ của ký chủ, được biết là chúng sống xót sau 11 năm, và có thể đẻ trứng suốt thời gian này

Ông cho rằng sự tạo kén, metacercaria có thể sống đến 9 tháng trong môi trường ẩm,

có bóng mát và thậm chí trong môi trường cỏ khô không thích hợp có thể sống được vài tuần

Taylor (1949) ước lượng khoảng 10 000 noãn nang sán sẽ gây hội chứng bệnh ở cừu

Jay R Georgi (1969) tỷ lệ trứng nở thành miracidium và cercaria trong ốc phụ

thuộc vào nhiệt độ môi trường nước Trứng sẽ phát triển tốt vào mùa hè và ngừng phát triển trong mùa đông, chờ nhiệt độ thích hợp sẽ nở đồng bộ

Nhiệt độ tối ưu nhất cho micracidium là 220C – 260C, nhiệt độ thấp hơn vẫn tồn tại được, nhưng không xảy ra dưới 100C Nhiệt độ ban đêm 100C hoặc trên 100C rất

thích hợp cho sự sinh sản của ốc (http: www moredun vrg uk )

Ngựa, hươu, nai, dê điều có thể mắc bệnh sán lá gan, kể cả người

(http: www qmscotland co uk )

Lapage (1967) Sán trưởng thành lấy chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan, mật

để sống và phát triển làm cho đàn trâu bò gầy còm, thiếu máu (trích Phan Địch Lân, 2000)

Trang 18

Sán trưởng thành có thể sống nhiều năm trong gan gia súc Một con sán trưởng thành có thể đẻ 20 000 – 50 000 trứng mỗi ngày và có thể đẻ trứng trong một thời

gian dài ( www qmscotland co uk )

Ở Florida, kí chủ trung gian gây bệnh sán lá gan trên trâu bò là ốc

Pseudosuccinea columella and Fossaria cubensis Loại ốc này sống lưỡng cư; vừa

trong môi trường nước, ẩm ướt và đầm lầy; vừa trong môi trường cạn, xuất hiện trên

rau cải ( http://edis ifas ufl edu/VM )

Sán lá gan có thể kết hợp với Salmonella trong cở thể gia súc, kết quả làm giảm

khả năng sản xuất sữa và tỷ lệ tử vong cao (http: www sac ac uk)

Nhiễm sán lá gan có thể dẫn đến vật chủ chết đột ngột, giảm sự thụ thai và khả năng sinh sản, giảm sản xuất sữa và chất lượng sữa, giảm trọng lượng, tăng loại thải những lá gan hư Nhiễm ở thể mãn tính, gia súc giảm tăng trọng trung bình 0,5kg/tuần, tối đa có thể đến 1,2kg/tuần Theo đánh giá, bò bị nhiễm sán có thể giảm 10% - 15% khả năng tiêu thụ trên thị trường, sản lượng sữa bò sẽ giảm 0,5kg/ngày, tỷ lệ đẻ có thể

giảm xuống 30% (http: www moredun vrg uk )

Jay R Georgi (1969) vết thương do nhiễm sán lá gan kết hợp với ấu trùng

Cysticercus tenuicollis, tạo điều kiện cho Clostridium nouyi, gây ra cái chết cho cừu

mà không có dấu hiệu bệnh

2.1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan ở trong nước

Phan Địch Lân (1985), Hồ Thị Thuận (1986) ở nước ta, bệnh phát hiện khắp các tỉnh từ Bắc đến Nam Tỉ lệ trâu bò nhiễm ở miền núi: 30–35% Vùng đồng bằng và trung du, trâu bò nhiễm cao hơn: 40–70% Các cơ sở chăn nuôi tập trung và bò sữa, tỷ

lệ nhiễm 28-30% Theo ông, trong cỏ phơi khô, nang ấu (kén gây bệnh) duy trì được sức sống 3 – 5 tháng, trong hầm ủ cỏ ủ kén chết sau 14 – 15 ngày

Phạm Sĩ Lăng, Lê Văn Tạo (2002) trong điều kiện sinh thái nước ta, đàn trâu bò

bị nhiễm sán lá gan quanh năm Bời vì thời tiết ấm áp và ẩm ướt trên mặt đất làm cho

ốc ký chủ Lymnaea làm môi giới truyền bào ấu cho đàn trâu bò suốt 12 tháng trong

năm Ông cho rằng, bò sữa, trâu sữa nhập nội giống Sind, Holstein, Murrah cũng bị nhiễm sán lá gan khi ăn phải thức ăn hoặc uống nước có kén sán lá gan

Lê Văn Đảnh và ctv (2004) sán non trong quá trình di động dễ gây tắc ống dẫn mật, tổn thương niêm mạc ruột non, thành mạch máu, mô lách, phổi, đưa đến nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và ống dẫn mật Sán trưởng thành sống trong ống dẫn mật, thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật, mật bị ứ lại thấm vào máu gây chứng

Trang 19

hoàng đản, viêm túi mật, viêm gan nhiễm khuẩn, bò mắc bệnh sán lá gan cũng bị đẻ non, sinh trưởng kém hoặc bị chết Sán hút chất bổ dưỡng và máu súc vật để lớn (mỗi ngày từ 0,2 ml máu/1 sán) ở trâu bò bị nhiễm nặng hàng trăm sán thì số máu bị mất rất nhiều

Nguyễn Hữu Vũ và ctv (2000) bệnh cấp tính xảy ra ở bê nghé từ 4 – 8 tháng, bê nghé bỏ ăn, sốt 4005, trướng bụng, phân lỏng có mùi tanh, nằm liệt và chết Bệnh mãn tính: trâu bò gầy còm, phân loãng và táo xen lẫn, lâu dần trâu bò gầy còm

Phan Địch Lân (2005) bệnh sán lá gan trâu bò ở các vùng trong cả nước phát triển

và lan truyền được là do có sự phân bố của hai loài ốc có tên gọi là ốc vành tai

(Lymnaea swinhoei) và ốc hạt chanh (Lymnaea viridis), thường sống trong ao hồ

mương rãnh, các chân ruộng mạ có nước xâm xấp, các vùng trên đồng cỏ, các khe lạch,…

Phạm Sĩ Lăng, Lê Văn Tạo (2002) sán trưởng thành trong quá trình ký sinh tiết ra độc tố tác động đến bộ máy tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, rồi viêm ruột cấp tính và

mãn tính, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trâu bò, dẫn đến tủ vong do kiệt sức

Đỗ Dương Thái - Trịnh Văn Thịnh (1978) ở Việt Nam đã có những nghiên cứu

xác định các loài vật ký chủ trung gian của sán lá gan Fasciola gigantica Trước Cách

mạng tháng Tám năm 1945 đã phát hiện thành phần loài giun sán ở trâu bò như

Paramphistomum cervi, Paramphistomum explanatum, Fasciola hepatica, Fasciola gigantica ký sinh ở trâu, bò và bò bướu

Trang 20

2 2 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH SÁN LÁ GAN 2.2.1 Hình thái – phân loài

Trứng to, hình bầu dục, màu vàng chanh, vỏ mỏng, có nắp, bên trong tế bào phôi phân bố đều kín vỏ trứng, kích thước trứng 0,125-0,177mm x 0,060-0,1mm

Ký chủ cuối cùng: trâu, bò, dê, cừu và cả con người

Ký chủ trung gian: ốc thuộc họ Lymnaeidae Ở Việt Nam là Lymnaea viridis và

Lymnaea swinhoei

Vị trí ký sinh: ống dẫn mật, gan

Phân bố: Châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Châu Âu, Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Pakistan, Malayxia, Thổ Nhĩ Kỳ), Liên Xô, Việt Nam

Trang 21

Ø Fasciola hepatica

Hình 4 Fasciola hepatica

Linnaeus phát hiện 1758 Hình thái: thân dẹp hình lá cây, thường có màu nâu nhạt, dài từ 20-30 mm và rộng

từ 4-16 mm Phần thân trước phình to rồi thon lại dần ở phía cuối thân tạo thành vai Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang chia vùng giữa sán ra phần trước và phần sau thân Phần sau có tinh hoàn, bộ phận sinh dục đực Tử cung ở phần giữa thân trước tạo một mạng lưới rối như tơ vò Phía sau tử cung là buồng trứng có nhánh Giác miệng nhỏ, tròn nằm ở chóp đầu con sán Giác bụng hơi to hơn, hình ba cạnh ở cách giác miệng 3-5mm

Trứng có kích thước 0,13–0,145mm x 0,07–0,09mm (theo Skarjabin và Schulz, 1973)

Ký chủ cuối cùng: trâu, bò, dê, cừu, người

Ký chủ trung gian: quan trọng nhất là ốc Galba truncatula Ở mỗi nước và mỗi vùng khí hậu là một loài ốc khác, đều thuộc họ Lymnaeidae

Hình 3 Trứng Fasciola gigantica

Trang 22

Ký chủ cuối cùng: bò, bò u, trâu, cừu, dê

Ký chủ trung gian: ốc Bulinus tropicus, B Schakoi, Indoplanorbis exustus

Vị trí ký sinh: túi mật, ống mật

Phân bố: nhiều vùng trên thế giới

Hình 5 Trứng Fasciola hepatica

Trang 23

Trứng màu nâu đậm, có nắp Kích thước trứng trung bình 30-35µm

Ký chủ cuối cùng: cừu, dê, bò, heo, chó, khỉ, thỏ

Ký chủ trung gian: ốc và kiến

Hình 8 Dicrocoelium dendriticum

Trang 24

Họ: Fasciolidae và Paramphistomidae Giống: Fasciola và Gigantocotyle (Paramphistomum)

Hình 9 Trứng Dicrocoelium dendriticum

2.2.2 Vòng đời và sự phát triển của sán lá gan

Theo Urquhart et al , (1987) thì chu trình phát triển của Fasciola gigantica và

Fasciola hepatica là giống nhau nhưng thời gian cho từng giai đoạn phát triển của

Fasciola gigantica dài hơn

Gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn phát triển bên ngoài ký chủ

Trứng sán theo phân của vật chủ ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp (25-30oC), đủ

oxy, trứng sẽ nở sau 9-21 ngày thành micrcidium (mao ấu) dài khoảng 130 µm Chúng

bơi lội tự do trong nước nhờ lông xung quanh, sống không quá 48 giờ ở môi trường ngoài và rất mẫn cảm với các chất hóa học Chúng chủ động tìm ốc nước ngọt họ

Lymnaea, chui vào gan tụy của ốc biến đổi thành sporocyst (bào ấu) có kích thước

khoảng 300µm Sau 3-7 ngày cứ một micracidium biến đổi thành một sporocyst Một

sporocyst sinh sản vô tính tạo ra 5-10 rediae (lôi ấu) cần 18 ngày, chúng gia tăng kích

thước đến 1,6mm; rồi 13-14 ngày sau rediae sinh sản vô tính cho ra 3-6 cercariae (vĩ ấu) có kích thước 300µm x 230µm Sau đó cercariae chui ra khỏi ốc, bơi lội tự do

Trang 25

trong nước từ 10-14 giờ, rụng đuôi và tạo kén aldolescaria có đường kính 200µm Sau

2-24 giờ bám vào cây cỏ dưới nước hay gần nước, vỏ cây, đất, nước Khi vật chủ cuối cùng nuốt vào sẽ phát triển thành sán trưởng thành

Giai đoạn phát triển bên trong cơ thể ký chủ

Khi vật chủ cuối cùng ăn phải kén aldolescaria, tùy theo tình trạng sức khỏe, khả

năng đề kháng, tính cảm thụ của vật chủ mà kén có thể di hành về gan theo một trong hai con đường sau đây:

Theo hệ thống tuần hoàn đến gan

Ấu trùng aldolescaria chui qua màng ruột đi vào xoang bụng rồi tấn công vào

gan

Trong thời kỳ di hành, ấu trùng của Fasciola spp có thể đi qua các cơ quan như

phổi, hạch lâm ba, dưới da, tuyến tụy Chúng trú ở đó và gây ra những tổn thương, đến gan chúng phá thành mao mạch rồi xâm nhập vào ống dẫn mật và phát triển thành dạng trưởng thành Theo Phan Địch Lân (2000) thời gian từ khi trâu bò ăn phải kén đến khi

phát triển thành sán trưởng thành là 79-88 ngày Fasciola spp trưởng thành có thể sống

trong cơ thể trâu bò gần 11 năm Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978) thấy thời

gian ngắn nhất từ trứng cho đến lúc thành kén của Fasciola gigantica là khoảng 70

Trang 26

Vòng đời của Dicrocoelium dendriticum

Phát triển qua 2 ký chủ trung gian là ốc và kiến Micracidium không nở từ trứng

cho đến khi ký chủ trung gian nuốt phải Chúng nở ra trong ruột ốc và cư trú ở tuyến

màng treo ruột, micracidium tạo ra nhiều sporocyst non được phân biệt bởi lớp cutin

Redia không hình thành Tỷ lệ phát triển thấp, từ micracidium sản xuất ra sporocyst

trong thời gian hơn 3 tháng Cercaria được sinh ra từ sporocyst trong điều kiện không khí ẩm ướt hoặc khô, trong phổi của ốc các cercaria kết thành khối gọi là “tuyến nhớt” Mỗi sporocyst tạo ra từ 200 - 400 cercaria, chúng kết lại với nhau nhờ tuyến

gelatin Những “tuyến nhớt” bị tống ra khỏi ốc và bám dính vào cây cỏ Những “tuyến

nhớt” này bị kiến ăn phải Trong xoang bụng của kiến sản sinh metacercaria Mỗi con kiến tạo ra khoảng 128 metacercaria trong thời gian 26 - 62 ngày, tùy thuộc vào nhiệt

độ môi trường Ký chủ cuối cùng nuốt phải kiến nhiễm metacercaria, sau đó

metacercaria thâm nhập vào trong vách ruột của ký chủ rồi đến gan, cuối cùng vào

trong ống dẫn mật phát triển thành sán trưởng thành Những sán lá gan non phát triển trong ống dẫn mật nhỏ, sán lá gan trưởng thành vào ống dẫn mật lớn Chúng trưởng thành sau 7 tuần và sau 4 tuần thì trứng hình thành

Hình 11 Vòng đời phát triển của Dicrocoelium dendriticum

Sporocyst

D dendriticum

trưởng thành

ốc - ký chủ trung gian I

“Tuyến nhớt”

cercariae

Kiến - ký chủ trung gian II

metacercaria

Ký chủ cuối cùng

Trứng

Trang 27

2.2.3 Ký chủ trung gian

Ký chủ trung gian của sán lá gan là một loài ốc nước ngọt không có nắp như

Lymnaea truncatula, Lymnaea auricularia, Lymnaea viridis, Lymnaea swinhoei, Lymnaea cubensis Ở Việt Nam có 2 loài là Lymnaea swinhoei phổ biến ở Đồng Bằng

Sông Cửu Long và Lymnaea viridis ở vùng núi và trung du

Đặc điểm của hai loài ốc

Lymnaea viridis ( ốc chanh)

Ốc vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10mm, vỏ ốc dễ vỡ Số vòng xoắn

từ 4,5 – 5, vòng xoắn cuối cùng lớn

Ốc thích sống ở nơi có nước xâm xấp, thường đẻ trứng mỗi ổ 7 – 10 quả, sau 7 ngày nở thành ốc con, trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta ốc đẻ được quanh năm và nở thành con

Hình 12 Ốc Lymnaea

(H Adam,1866)

Hình 13 Ốc Lymnaea swinhoei

(H Adam,1866)

Trang 28

Lymnaea swinhoei (ốc vành tai)

Ốc vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20mm Vòng xoắn cuối cùng lớn chiếm gần hết phần thân, vỏ leo ra như cái vành tai Ốc đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ trứng có từ 60 – 150 quả; ốc thường sống trôi nổi ở cống rãnh, ao hồ

Bảng 1 So sánh để phân biệt hai loài ốc

Vành miệng Loe rộng như vành tai Thu nhỏ lại Chỉ số chiều cao lổ

miệng Gấp 3 lần chiều cao thấp ốc

Bằng hoặc nhỏ hơn chiều cao

tháp ốc

Phan Địch Lân (2005) trong 12 tháng của năm, mật độ ốc L viridis và L swinhoei

trên 1m2 đều thấy có sự hiện diện nhưng ở mức độ khác nhau Vụ Đông xuân (tháng 11 s– 4) ốc phát triển mạnh hơn vụ hè thu (tháng 5 – 10) (bảng 1)

Bảng 2 Mật độ của hai loài ốc qua các thời vụ trong năm

Những thí nghiệm về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm ở nước ta cho biết, trứng ốc có thể nở được quanh năm với tỷ lệ rất cao biến thiên từ 89,1 – 100% và chỉ có trong một thời gian ngắn hoàn thành sự phát triển để thành thế hệ tiếp Trong vụ hè thu thời gian cần 5,5 ± 0,54 ngày, vụ đông xuân cần 8,5 ± 1,64 ngày

Sự phân bố của ốc trung gian

Sự phân bố của ốc có tỷ lệ phần trăm như sau:

Ốc L viridis có ưu thế trội hơn, tỷ lệ biến thiên từ 29 – 86%; còn ốc L swinhoei

tỷ lệ biến thiên từ 14 – 71%

Trang 29

Nếu so sánh tỷ lệ phân bố của hai loại trên theo vùng địa lý thì thấy:

Vùng núi: L viridis 75%; L swinhoei 25%

Vùng trung du: L viridis 66,5%; L swinhoei 33,5%

Vùng ven biển: L viridis 42%; L swinhoei 58%

2.2.4 Tác hại của sán lá gan

Ø Đối với chăn nuôi

Thể cấp tính gây chết súc vật nuôi, còn thể mãn tính làm giảm năng suất vật nuôi, giảm sức đề kháng làm gia súc dễ cảm nhiễm với các mầm bệnh khác Hope et al , (1977) cho thấy bò bị nhiễm 40-140 con sán lá thì tăng trọng giảm từ 8-28%

Ở Nepal, nhà chăn nuôi bị thiệt hại 20 tỉ đô la vì gia súc nhiễm sán lá gan mỗi năm

Hình 14 Trâu bò nhiễm sán lá gan ở Nepal

Nguồn: (http: www images com vn )

Ø Đối với con người

Sán lá gan trên gia súc có thể lây sang người và ngược lại, gây tình trạng nguy hiểm cho người

Bệnh sán lá gan lớn có thể dẫn tới tử vong do vỡ bao gan, xuất huyết hoặc sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc

Nếu người chưa phải là vật chủ thích hợp, sán non có thể di chuyển tới nhiều cơ quan nội tạng như đại tràng, thành ngực, tuyến vú hoặc thậm chí cả ở khớp gối Có những trường hợp sán di chuyển xuống buồng trứng, tinh hoàn, màng phổi

Trang 30

Hình 15 Fasciola ở người

Nguồn: (http: www dfid-ahp org uk )

2.2.5 Tác động của sán lá gan lên ký chủ

Ø Tác động cơ giới

Sán non di hành dễ gây tắc ống dẫn mật, tổn thương niêm mạc ruột non, đưa đến nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và ống dẫn mật, gây xuất huyết và hoại tử gan, lách phổi,…

Sán trưởng thành cư trú, bám, hút máu, gây xuất huyết và viêm ống dẫn mật, viêm gan, dẫn đến thiếu máu, thành ống dẫn mật giản rộng và dầy lên, lâu ngày dẫn đến calci hóa niêm mạc ống dẫn mật, chức năng của gan bị hỏng Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật, mật bị ứ lại thấm vào máu gây chứng hoàng đản

Ø Tác động chiếm đoạt

Sán non ăn tổ chức, sán trưởng thành lấy chất dinh dưỡng và ăn hồng cầu từ gan mật để sống (0,2ml máu/ngày/sán), sán ăn dịch mật gây rối loạn tiêu hóa và phát triển làm cho đàn trâu bò gầy còm thiếu máu

Trang 31

Ø Tác động truyền bệnh

Sán trưởng thành đẻ trứng trong ống dẫn mật theo phân ra ngoài gieo rắc mầm

bệnh, thường kết hợp bệnh tiên mao trùng, bệnh lao, Salmonella, Clostridium nouyi

làm bệnh nặng thêm

Daves nhận xét, gia súc bị suy nhược và thiếu máu là do đột tố của Fasciola gigantica tác động gây ra hiện tượng đạm trong máu biến chất, lượng albumin giảm và globulin tăng Dattjan (1962) chứng minh quá trình dị ứng là do kết quả tác động của nhiều kháng nguyên sinh ra từ sán và những kháng thể xuất hiện từ tổ chức gan và các

tổ chức khác bị hủy hoại; quá trình dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên bằng suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, bằng sự tăng quá nhiều bạch cầu ái toan trong cơ thể

Trong điều kiện sinh thái nước ta, đàn trâu bò bị nhiễm sán lá gan quanh năm, vì thời tiết ấm áp và ẩm ướt trên mặt đất làm cho các ốc ký chủ Limnaea phát triển và làm môi giới cho đàn trâu bò suốt 12 tháng trong năm

Trâu bò nhiễm sán khi gặp điều kiện không thuận lợi vào vụ đông và đầu vụ xuân (làm việc nặng, thời tiết lạnh, thiếu thức ăn xanh) sẽ phát bệnh hàng loạt và chết, đôi khi tưởng là một bệnh truyền nhiễm

Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1999) ở nước ta, bệnh được phát hiện ở khắp các tỉnh từ Nam đến Bắc Tỷ lệ nhiễm ở miền núi: 30–35%, vùng đồng bằng và trung du, trâu bò nhiễm cao hơn: 40–70%

Phan Địch Lân (2005) bệnh sán lá gan trâu bò ở các vùng trong cả nước phát triển

và lan truyền được là do có sự phân bố của hai loài ốc có tên gọi là ốc vành tai

(Lymnaea swinhoei) và ốc hạt chanh (Lymnaea viridis), thường sống trong ao hồ

mương rãnh, các chân ruộng mạ có nước xâm xấp, các vùng trên đồng cỏ, các khe lạch,…

Trong đó, Lymnaea viridis thường phân bố khá rộng như ở Lào Cai, Phùng

Thượng và Cúc Phương (Ninh Bình), vùng Sập, Bắc Hà, vùng Ý Tý, kể cả Đồng Tháp

Trang 32

Mười…Trái lại, ở đồng bằng ven sông (Nông Cống – Thanh Hóa), chỉ thấy ốc

Lymnaea swinhoei: loài này thường phổ biến ở vùng trũng và vùng có nhiều ruộng lầy

ven triền sông, mương máng L swinhoe chịu nước hơn, còn L viridis chịu cạn hơn

Fasciola spp phân bố rộng khắp thế giới Theo Nguyễn Ngọc Tuân (2002) Fasciola hepatica là loài sán thường thấy trong gan trâu bò ở các quốc gia Châu Âu,

Châu Mỹ, trong khi đó Fasciola gigantica gây thiệt hại lớn cho trâu bò ở vùng Châu Á

như Indonexia, Nepan, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam

Trong môi trường ngoài có nước, ấu trùng metacercaria có thể sống đến 159

ngày

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) trứng sán rất nhạy cảm với khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời Ở môi trường khô hạn, phôi ngừng phát triển và trứng sán chết sau 8-9 ngày Ở môi trường ẩm ướt trứng có khả năng duy trì sức sống khá lâu (tồn tại đến 8 tháng) Trên đất cát không có cỏ, cây che phủ và bóng mát trứng

bị chết nhanh chóng Ở nhiệt độ thấp (từ -5 đến -150C) phôi bị chết sau 2 ngày,

10-20oC trứng ngừng phát triển, 40-50oC phôi bị chết sau vài phút

Mùa hè gia súc nhiễm cũng tăng hơn so với các mùa khác trong năm Đến cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra

Sán có thể đẻ 20 000 trứng/ ngày, trứng đề kháng tốt với điều kiện môi trường nhưng nhạy cảm với khô hanh và tác động trực tiếp của ánh sáng (Nguyễn Hữu Hưng -

Đỗ Trung Giã, 2001)

Sán có thể tồn tại trong cơ thể gia súc từ 3-11 năm, ấu trùng metacercaria sống

159 ngày, ốc sống tới 3 năm Trứng sán sống 2-3 tháng trong môi trường ẩm của phân Kén sán có thể tồn tại 6 tháng trong bóng râm (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1996)

Viện SR-KST-CT TƯ, tính đến tháng 8/2006, toàn quốc đã có 45 tỉnh, thành bị nhiễm sán lá gan với tổng số 1 465 người bị nhiễm (đến bệnh viện)

(http://vietnamnet.vn)

2.2.7 Cơ chế sinh bệnh

Sán có kích thước lớn nên khi ký sinh với số lượng lớn trong cơ thể gia súc làm tắc ống dẫn mật gây hoàng đản

Trang 33

Ấu trùng di hành xuyên qua các mô bào, nhất là gan và vách mao quản gây tổn thương lớn

Sán lá gan trưởng thành ký sinh trong gan sẽ phá hoại tế bào gan gây viêm và xơ gan Ngoài ra, sán còn tiết độc tố làm cho thành ống dẫn mật và tế bào gan bị biến đổi bệnh

lý, độc tố vào máu gây trúng độc toàn thân

Khi ấu trùng di hành sẽ mang theo vi trùng, siêu vi trùng làm bệnh nặng thêm và phát sinh các bệnh truyền nhiễm khác

Triệu chứng bệnh

Ø Gầy rạc, suy nhược cơ thể

Ø Ỉa phân nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng

Ø Niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài

Ø Lông xù, da mốc, lông rụng

Ø Phân đen có mùi khắm thể hiện tiêu hóa kém, rối loạn ruột

Ø Hốc mắt sâu, có thử nhèm

Ø Bụng ỏng, gầy yếu, đi phân kéo dài, bệnh nặng, tiên lượng kém

Ø Phát hiện thủy thủng (sưng, sa xuống) ở nách, hai chi trước, biểu hiện bệnh nặng gan to, tuần hoàn bị chèn ép

Ø Thủy thũng phát hiện ở phần ngực, ức, ngày càng sa xuống, khi đầu lúc

ẩn lúc hiện, sau liên tục xuất hiện, tiên lượng xấu

Bệnh thường xảy ra ở 2 thể:

Thể cấp tính ít xảy ra, bò 1 – 2 năm tuổi thường phát bệnh ở thể cấp tính Súc vật bệnh

bỏ ăn, chướng hơi dạ cỏ, sau đó ỉa chảy dử dội, phân lỏng xám, có mùi tanh Chỉ vài ngày sau, súc vật bệnh nằm bệt không đi được và chết trong tình trạng mất nước, rối

Trang 34

loạn điện giải và kiệt sức Hiện tượng này thường xảy ra ở bê nghé non dưới 6 tháng tuổi Bệnh nặng còn do bê nghé bị nhiễm thứ phát các vi khuẩn gây bệnh có sẵn trong

dạ dày và ruột của bê nghé (Salmonella, E coli, Proteus…) Thể mãn tính, đa số trâu bò trưởng thành bị nhiễm Fasciola spp đều biểu hiện ở

thể mãn tính

Gồm 3 thời kỳ:

Ø Thời kỳ đầu: không có triệu chứng rõ rệt

Ø Thời kỳ thứ hai: gầy, thiếu máu, khát nước, hơi sốt, thủy thũng nhẹ ở phúc mạc, kết mạc mắt sưng và nhợt nhạt, mí mắt phù

Ø Thời kỳ thứ ba: gầy rạc, yếu ớt, nhẹ cân, con có thai thì sẩy thai hoặc đẻ non

do lượng calcium trong máu xuống thấp, lượng sữa giảm 50% Bỏ ăn, tiêu hoá kém, tiêu lỏng Triệu chứng đặc hiệu là thủy thũng dưới hàm

Thời gian tiến triển bệnh rất thay đổi, thường ít kéo dài quá 6 tháng, con vật chết

do kiệt sức

Như vậy, triệu chứng lâm sàng dạng mãn tính là rối loạn tiêu hoá, kém ăn, tiêu chảy, đôi khi chướng hơi dạ cỏ, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt, sờ vùng gan thấy sưng đau Bệnh nặng thì con vật sốt, hoàng đản, thủy thũng, gia súc có thể trúng độc và chết

2.2.9 Bệnh tích

Tùy thuộc vào cường độ nhiễm sán:

Nhiễm nhiều, con vật bị viêm gan cấp tính, gan sưng, sung huyết, trên mặt gan có nhiều vệt đỏ dài 2-4 mm do sán non di hành, có thể thấy viêm phúc mạc Gan chắc, cứng, thành ống dẫn mật tăng sinh, dày lên và chắc cứng lại, đôi khi có hiện tượng calci hoá Nếu nặng trâu bò gầy rạc, máu loãng, thịt màu xám, xoang bụng, xoang ngực, xoang bao tim chứa đầy nước

Nhiễm nhẹ, mô gan bị hủy, gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật dày lên do mô liên kết tăng sinh Túi mật căng lên chứa đầy dịch mật và có thể dày lên nếu có sán ký sinh

2.2.10 Bệnh lý giải phẩu

Khi mổ khám trâu bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan to rất nhiều (gấp 2-3 lần thể tích ban đầu), gan màu đỏ nâu xẫm biểu hiện đang ở thời kỳ xung huyết Dưới vỏ gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại đường ngoằn ngèo do sán di hành, tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo đặc biệt Trong gan còn thấy

Trang 35

được những sán non không đến được ống dẫn mật, chúng bị chết và đóng kén tạo nên những hạt xám nâu bằng hạt đậu Khoảng 3 – 4 tháng sau, những ấu trùng còn sống phát triển thành sán trưởng thành, sống ở ống dẫn mật và gây nên viêm, lúc này ống dẫn mật dầy lên như những dây xơ cứng Do những biến chất thoái hóa nên khi ta cắt

tổ chức gan thấy có tiếng lạo xạo

Ở thể mãn tính ống dẫn mật chứa đầy chất màu nâu đặc đôi khi lẫn máu mủ, sán bơi trong đó, có khi do ống mật bị viêm thay đổi quá nhanh sẽ không thấy có sán nữa (vì chúng đã chết trong quá trình viêm ở đây) Do sự tăng sinh tổ chức kiên kết giữa và trong thùy nên gan cứng ra dẫn đến xơ gan

Còn trường hợp sán lá gan đi vào trong hay dưới phúc mạc lớp ngoài gây chứng viêm phúc mạc Xoang bụng chứa nước, lượng nước có thể tới 5 – 8 lít

Kiểm tra phân và chẩn đoán huyết thanh học

Xét nghiệm phân theo phương pháp gạn rửa sa lắng nhiều lần để tìm trứng sán lá gan (Benedek, 1943) hoặc phương pháp phù nổi Chú ý khi xét nghiệm phân cần phân

biệt Fasciola spp, Paramphistomum explanatum và Paramphistomum cervi vì 3 loại

trứng này gần giống nhau

Chẩn đoán huyết thanh: phát hiện kháng thể trong huyết thanh súc vật bằng các phương pháp miễn dịch (SAT, ELISA, IFAT)

Hơn nữa, gần đây người ta dùng phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction), kiểm tra DNA của trứng trong phân perase chain reaction polymerase

Ngoài ra, còn dùng phản ứng dị ứng để chẩn đoán: dùng sán trưởng thành để chế kháng nguyên

Trang 36

Định kỳ tẩy sán, cứ 6 tháng/lần, điều trị súc vật nhiễm sán Những trang trại chăn

nuôi tập trung cần có kế hoạch chăn thả luân phiên đồng cỏ

Ủ phân sinh học để ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhiễm vật nuôi

Diệt ký chủ trung gian bằng cách tháo khô những vùng lầy lội, dùng CuSO4 hay

thả vịt để tiêu diệt các loài ốc Lymnaea tránh truyền lan mầm bệnh

Vệ sinh thức ăn nước uống, chăm sóc nuôi dưỡng tốt đàn bò để nâng cao thể trọng và sức đề kháng để chống đỡ bệnh sán lá gan cũng như các bệnh giun sán khác

Xử lý cơ quan nhiễm sán như gan nhiễm nhiều phải nấu chín và chế biến thức ăn cho gia súc

Không nhập gia súc ở vùng bệnh để tránh lây lan Tất cả trâu bò trước khi nhập đàn phải kiểm tra để xác định có bị nhiễm sán hay không, chữa sạch bệnh mới cho nhập đàn

Không cho gia súc uống nước chảy qua đồng cỏ có chứa mầm bệnh của sán lá gan

Trang 37

Hình 16 Đánh giá hiệu lực của thuốc điều trị sán lá gan trên trâu bò

Nguồn: (http: www moredun vrg uk )

Qua hình 16, ta có thể nhận thấy triclabendazole là một sản phẩm tuyệt hảo, có tác dụng chống lại rất tốt ngay cả sán non và sán trưởng thành kể cả trâu bò nhiễm sán được hai tuần tuổi

Clorsulon: hoạt tính rất mạnh chống lại các sán lá trưởng thành và các sán lá còn non bắt đầu từ tuần thứ 8

Những phác đồ ở Việt Nam mang lại những kết quả rất tốt:

Tiêm CCL4, liều 5ml cho 100kg thể trọng, trộn với một lượng tương tự dầu parafin Tiêm bắp vai hay vùng dưới cổ Không tiêm quá 20ml vào một chỗ

Dùng viên Dertil B, mỗi viên chứa 300mg hoạt chất để phòng và trị bệnh cho trâu rất tốt Thuốc này do Hungari sản xuất từ năm 1974 và thực tế sử dụng trên đàn trâu cày kéo và trâu sữa cho kết quả 100% Mặt khác, thuốc rất an toàn, không gây phản ứng phụ và dễ sử dụng Liều dùng đối với trâu là 8-9mg/kg khối lượng cơ thể

2.3 TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ CỦA GAN NHIỄM SÁN

Ø Gan xuất huyết

Xuất huyết là sự thoát ra khỏi mạch máu tất cả những thành phần của máu Xuất huyết xảy ra khi con vật còn sống vì muốn có xuất huyết phải có áp suất huyết (Nguyễn Văn Khanh, 1993)

Vết xuất huyết trên gan xuất hiện các dạng: xuất huyết điểm (từng chấm nhỏ như xuất huyết đinh ghim), xuất huyết mảnh trên từng thùy của gan đôi khi trên toàn bộ gan Quan sát vùng gan xuất huyết có màu đỏ hay tím bầm (do hồng cầu đã thoái hóa)

Trang 38

Trường hợp xuất huyết nhẹ, gan hơi nhạt màu, thể chất gan bình thường, không tăng kích thước

Trường hợp xuất huyết nặng, bề mặt gan nhạt màu, có mảng xuất huyết lớn màu

đỏ sậm ăn sâu vào trong nhu mô gan Gan mềm, ấn tay vào dễ lõm xuống, có tăng kích thước nhưng không đáng kể Gan dễ cắt, mặt cắt có rỉ máu màu tím bầm, ứ máu ít

Cơ chế gan xuất huyết là do mao mạch bị vỡ ra thì hồng cầu thoát mạch

Tầm quan trọng và hậu quả của xuất huyết:

Gan bị xuất huyết nhiều thú có thể bị chết vì thiếu máu

Ø Gan ứ huyết

Ứ huyết là sự tăng lượng máu trong phần tĩnh mạch gây ra sự cản trở lưu thông huyết ở một cơ quan hay một vùng, tạo ra những thay đổi vĩnh viễn như hóa sợi tại mô gan

Trong mao mạch, hồng cầu kết thành từng chuỗi dẫn tới rối loạn dinh dưỡng tế bào, rối loạn quá trình oxy hóa tế bào

Tầm quan trọng và hậu quả của ứ huyết:

Khi máu ứ ở gan lâu ngày, gan sẽ bị thiếu oxy kéo dài dẫn đến hoại tử, tế bào gan quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, tổ chức xơ gan phát triển Tình trạng này kéo dài gan sẽ bị thoái hóa mỡ, xơ hóa, gan trở nên to, rắn và bờ sắc

Cơ chế gây ứ huyết ở gan là do tất cả nguyên nhân làm cản trở máu tuần hoàn về tim phải đều làm ứ máu ở gan, suy tim phải, viêm ngoại tâm mạc co thắt, bệnh phổi mãn tính, tắc tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch gan do viêm hoặc do bị chèn ép đều gây rối loạn chức năng gan

và các tế bào gan kế cận Làm cho một vùng hay toàn bộ gan có màu vàng Sau đó sắc

tố mật vào hệ thống huyết và bạch huyết và được mang đi khắp nơi trong cơ thể làm cho cơ thể thú và nước tiểu có màu vàng trong khi phân có màu xám trắng vì không có mật

Trang 39

Ø Gan hoại tử

Hoại tử là sự chết định vị của mô trong cơ thể khi con vật còn sống Vùng hoại tử

dễ nhận biết dựa vào cấu trúc, màu sắc của nhu mô hoặc ranh giới của bệnh tích được phân cách rõ với mô xung quanh

Ø Gan có mủ

Là loại viêm có rất nhiều bạch cầu trung tính tích tụ lại Có hai loại mủ: mủ tươi

và mủ khô (mủ hóa canxi) Khi cắt ngang qua nốt mủ, nếu là mủ khô có hai phần: phần ngoài nốt mủ hơi sệt có màu vàng sậm, bên trong khô như vôi Nếu mủ tươi, khi cắt ngang qua nốt mủ, mủ có màu vàng sệt chảy ra Những nốt mủ này nổi cộm đều khắp mặt gan và ăn sâu vào trong nhu mô gan

Cơ chế dom mô hoại tử bị vi trùng xâm nhập, nếu là loại vi trùng sinh mủ thì những bọc mủ sẽ xuất hiện trong mô hoại tử và sẽ có bạch cầu trung tính đang tan rã ở các mức độ khác nhau trong khối hoại tử

mỡ trung tính sẽ tích tụ trong các tế bào gan

Tầm quan trọng và hậu quả:

Nếu tình trạng trên kéo dài tế bào sẽ chết

Nếu hư hại nhẹ tế bào trở lại bình thường Các tế bào chết hoặc tổn thương được loại ra bởi hiện tượng tự hủy và thực bào

Ø Xơ gan

Xơ gan là tên gọi chung của quá trình tổn thương mãn tính ở gan do nhiều nguyên nhân và nhiều cơ chế sinh bệnh khác nhau gây ra các biến đổi hình thái tương đối giống nhau ở gan

Đặc điểm nổi bật của xơ gan là sự thành lập mô liên kết sợi lan rộng khắp các tiểu thùy và tiến tới tình trạng mô liên kết kẽ nhiều hơn nhu mô của tiểu thùy Mô liên kết bằng sợi phôi bào nhưng thường là mô liên kết sợi trưởng thành, có sự xâm nhập của tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân chủ yếu ở vùng khoang cửa

Trang 40

Các dạng xơ

Xơ vùng tĩnh mạch cửa: tổ chức liên kết rất dày đặc, có khuynh hướng bao quanh các tiểu thùy Cấu trúc tiểu thùy có thể bị biến dạng bởi sự tăng sản của nhu mô Đây là tình trạng theo sau thể viêm gan do ngộ độc cấp tính

Xơ trong tiểu thùy: sự phát triển tràn lan của tổ chức xơ trong tiểu thùy

Xơ trong vùng mật: tổ chức sợi bao quanh ống dẫn mật, nếu nhiều tế bào sợi sẽ phát triển lan rộng vùng khoảng cửa xung quanh tiểu thùy

Xơ trung tâm tiểu thùy: sự gia tăng mô liên kết sợi ở chung quanh tĩnh mạch trung tâm đưa đến ứ huyết kinh niên

Cơ chế do sán tích tụ ở gan phá hủy tế bào gan Sau đó, mô liên kết đến thay thế Nhiều trường hợp thể tích gan to lên nhưng chức năng giảm đi

Ngày đăng: 12/04/2018, 02:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978). Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam. Nhà xuất bản KHKT tập II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng "ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT tập II
Năm: 1978
2. Đỗ Trọng Minh (1999). Điều tra tình hình nhiễm sán lá gan Fasciola gigantica của trâu và bò ở các lò mổ tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông lâm, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình nhiễm sán lá gan Fasciola gigantica của trâu và bò ở các lò mổ tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đỗ Trọng Minh
Nhà XB: Đại học Nông lâm, thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
3. Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương (1986). Tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò ở các tỉnh phía Nam và biện pháp phòng trị. Kết quả họat động KHKT thú y 1975-1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò ở các tỉnh phía "Nam và biện pháp phòng trị. Kết quả họat động KHKT thú y
Tác giả: Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương
Năm: 1986
4. Lê Văn Đảnh và ctv (2004). Chăn nuôi bò thịt. NXB Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 5. Nguyễn Hữu Vũ và ctv (2000). Một số bệnh quan trọng ở trâu bò. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi bò thịt". NXB Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 5. Nguyễn Hữu Vũ và ctv (2000). "Một số bệnh quan trọng ở trâu bò
Tác giả: Lê Văn Đảnh và ctv (2004). Chăn nuôi bò thịt. NXB Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 5. Nguyễn Hữu Vũ và ctv
Nhà XB: NXB Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 5. Nguyễn Hữu Vũ và ctv (2000). "Một số bệnh quan trọng ở trâu bò. "NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
6. Nguyễn Hữu Hưng, Đỗ Trung Giã (2001). Bài giảng ký sinh trùng thú y. Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng, Đỗ Trung Giã
Nhà XB: Đại Học Cần Thơ
Năm: 2001
7. Nguyễn Ngọc Tuân (2002). Vệ sinh thịt. Nhà xuất bản Nông Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh thịt
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
8. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1999). Bệnh trâu bò ở Việt Nam và biện pháp phòng trị. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh trâu bò ở Việt Nam và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
9. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996). Bài giảng ký sinh trùng thú y. Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê và Phan Lục
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
10. Phạm Sĩ Lăng, Lê Văn Tạo (2002). Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và "nhiễm độc ở bò sữa
Tác giả: Phạm Sĩ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
11. Phan Địch Lân (2005). Bệnh ngã nước trâu bò. Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngã nước trâu bò
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
12. Phan Lục (1996). Tình hình nhiễm sán lá của trâu bò các tỉnh phía Bắc và thuốc tẩy trừ. Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá của trâu bò các tỉnh phía Bắc và thuốc tẩy trừ
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
13. Phan Lục (2006). Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
14. Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê, 1977. Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam
Tác giả: Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật
Năm: 1977
15. Phan Địch Lân (1985). Những nghiên cứu về sán lá gan và bệnh sán lá gan trên trâu bò ở nước ta. Tập san KHKT thú y (Số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu về sán lá gan và bệnh sán lá gan trên trâu bò ở nước ta. Tập san KHKT thú y
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1985
16. Phan Địch Lân (2000). Bệnh ngã nước trâu bò. Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội. 17. www. google. com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngã nước trâu bò
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
1. Aiken M M, Hughes D L, Jones P W, Hall G A, and Collis K A (1978). Effects of Intravenous Salmonella Dublin on Cattle at Different Stage of Fasciola hepatica infection. Journal of Comparative pathology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of Intravenous Salmonella Dublin on Cattle at Different Stage of Fasciola hepatica infection
Tác giả: Aiken M M, Hughes D L, Jones P W, Hall G A, Collis K A
Nhà XB: Journal of Comparative pathology
Năm: 1978
2. Patzelt, Ralf (1993). Studios on the Epidemiology, Pathogenesis and Therapy and Gigatocotylosis in Waterbiffaloes on the Bunjab, Pakistan FU Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studios on the Epidemiology, Pathogenesis and Therapy and Gigatocotylosis in Waterbiffaloes on the Bunjab, Pakistan
Tác giả: Ralf Patzelt
Nhà XB: FU Berlin
Năm: 1993
3. Peter C Kennedy (1970). Pathalogy of Domestic Animals. School of Veterinary Medicine University of California Davis, California. Academic Press, New York and London. 241-246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathalogy of Domestic Animals
Tác giả: Peter C Kennedy
Nhà XB: Academic Press
Năm: 1970
4. Taylor, E. L (1949). The Epidemiology of Fasciolasis in Britian, Proc. 14 th Int, Vet. London Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Epidemiology of Fasciolasis in Britian
Tác giả: E. L. Taylor
Nhà XB: Proc. 14 th Int, Vet. London
Năm: 1949
5. Soulspy, E. J. L (1965). Textbook of Veterinary Clinical Parasitology, vol. I, Helminthes. Oxfort: Blackwell Scientific Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook of Veterinary Clinical Parasitology, vol. I, Helminthes
Tác giả: Soulspy, E. J. L
Nhà XB: Blackwell Scientific Publications
Năm: 1965

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm