1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH NHIỄM NGOẠI ký SINH TRÙNG TRÊN CHÓ tại THÀNH PHỐ cần THƠ và THỬ NGHIỆM HIỆU lực một số LOẠI THUỐC điều TRỊ

86 397 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y --- Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI-THÚ Y TÌNH HÌNH NHIỄM NGOẠI KÝ SINH TRÙNG TRÊN CHÓ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ THỬ NGHIỆM HIỆ

Trang 1

LOẠI THUỐC ĐIỀU TRỊ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y

Cần Thơ, 5/ 2013

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y

-

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI-THÚ Y

TÌNH HÌNH NHIỄM NGOẠI KÝ SINH TRÙNG

TRÊN CHÓ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ

THỬ NGHIỆM HIỆU LỰC MỘT SỐ

LOẠI THUỐC ĐIỀU TRỊ

Giảng viên hướng dẫn:

PGS TS NGUYỄN HỮU HƢNG Sinh viên thực hiện:

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH NHIỄM NGOẠI KÝ SINH TRÙNG

TRÊN CHÓ TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ

THỬ NGHIỆM HIỆU LỰC MỘT SỐ

LOẠI THUỐC ĐIỀU TRỊ

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI- THÚ Y

Cần Thơ, Ngày tháng năm 2013

DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 4

trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Võ Thị Mộng Thùy

Trang 5

Xin gửi lời cảm tạ đến Thầy, Cô và các cán bộ tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại Học Cần Thơ đã giúp đỡ tôi hết mình trong thời gian làm đề tài

Cuối cùng xin chân thành biết ơn mọi người giúp đỡ tôi và nó sẽ mang theo tôi trong suốt cuộc đời

Trang 6

Lời cam đoan i

Cảm tạ ii

Tóm lược iii

Mục lục iv

Danh sách bảng v

Danh sách hình vi

Danh sách biểu đồ vii

Danh sách sơ đồ viii

Danh mục chữ viết tắt ix

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1Một số đặc điểm cơ thể học và đặc điểm sinh lý học của chó 2

2.1.1 Cấu tạo da, lông và chức năng của da 2

2.1.2 Cấu tạo răng 4

2.2 Đặc điểm hình thái–vòng đời của ngoại ký sinh trùng trên chó 4

2.2.1 Phân loại học 4

2.2.2 Bộ Phithiraptera (Lice) 6

2.2.3 Bộ Aphaniptera (Fleas) 7

2.2.4 Phân bộ Ixodoidae (Ve) 10

2.2.5 Phân bộ ghẻ (Sarcoptiformes) 16

2.2.6 Phân bộ mò (Trombidiformes) 19

2.3 Tác động của ngoại ký sinh đến cơ thể chó nuôi và cộng đồng 20

2.3.1 Tác động của ve 20

2.3.2 Tác động của bọ chét 21

2.3.3 Tác động của rận 21

2.3.4 Tác động của Sarcoptes scabiei var canis 21

2.3.5 Tác động của Demodex canis 21

2.4 Một số thuốc sử dụng trong điều trị 22

2.4.1 Thuốc Ivermectin 22

2.4.2 Thuốc Taktic 24

Trang 7

2.4.4 Thuốc Shotapen 26

2.4.5 Vitamin ADE 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Nội dung nghiên cứu 28

3.2 Thời gian và địa điểm tiến hành 28

3.3 Phương tiện 28

3.3.1 Đối tượng điều tra 28

3.3.2 Dụng cụ và hóa chất 29

3.4 Phương pháp tiến hành nghiên cứu 29

3.4.1 Điều tra tình hình chăn nuôi tại thành phố Cần Thơ 29

3.4.2 Xác định tình hình nhiễm ngoại ký sinh trùng trên chó 29

3.4.3 Thử nghiệm hiệu lực một số thuốc điều trị 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 36

4.1 Tình hình nuôi chó tại thành phố Cần Thơ 36

4.2 Kết quả tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trùng trên chó tại thành phố Cần Thơ 36

4.2.1 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo giống chó tại thành phố Cần Thơ 36

4.2.2 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo giống chó và phương thức nuôi 37

4.2.3 Tình hình nhiễm ngoại ký sinh trên chó theo giới tính 37

4.2.4 Tình hình nhiễm ngoại ký sinh trên chó theo nhóm tuổi

38 4.2.5 Kết quả thành phần loài ngoại ký sinh trùng trên chó 40

4.2.6 Tình hình nhiễm ghép các loài ngoại ký sinh trùng trên chó 44

4.2.7 Tỷ lệ nhiễm các loài ngoại ký sinh ở các vị trí trên cơ thể chó 45

4.3 Kết quả thử nghiệm thuốc trị ngoại ký sinh trùng trên chó 51

4.3.1 Phác đồ 1 51

4.3.2 Phác đồ 2 52

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề Nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ CHƯƠNG

Trang 8

5 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trùng trên chó tại thành phố cần Thơ 36

8 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trên chó theo giới tính

10 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trên chó theo lứa tuổi giữa 2 nhóm chó 39

15 Tỷ lệ nhiễm các loài ngoại ký sinh ở các vị trí trên cơ thể chó 45

16 Hiệu quả điều trị của phác đồ 1 đối với chó bị nhiễm ve,

17 Hiệu quả điều trị của phác đồ 2 đối với chó bị nhiễm ghẻ

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình Tựa đề Trang

4 Ctenocephalides canis (A); Ctenocephalides felis felis (B) 8

23 Loài Ctenocephalides felis felis 50 55

Trang 10

Biểu Đồ Tựa biểu đồ Trang

1 So sánh tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo giới tính

2 So sánh tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trên chó theo lứa tuổi

4 So sánh tỷ lệ nhiễm loài ngoại ký sinh trên chó

5 Tỷ lệ nhiễm loài ngoại ký sinh trên chó theo lứa tuổi 43

6 So sánh tỷ lệ nhiễm loài ngoại ký sinh ở các vị trí trên cơ thể chó 45

Trang 11

DANH SÁCH SƠ ĐỒ

Sơ đồ Tựa sơ đồ Trang

1 Vòng đời của ve cứng 16

2 Vòng đời phát triển của cái ghẻ 17

3 Vòng đời phát triển của mò bao lông 20

Trang 12

B microplus: Boophilus microplus

C canis: Ctenocephalides canis

C felis: Ctenocephalides felis felis

D canis: Demodex canis

DEA: Dog Erythrocyte Antigen

H spiniger: Heterodoxus spiniger

R sanguineus: Rhipicephalus sanguineus

S canis: Sarcoptes scabiei canis

SCKT: Số con kiểm tra

SCN: Số con nhiễm

TL: Tỷ lệ

TLN: Tỷ lệ nhiễm

Ctv: Cộng tác viên

Trang 13

TÓM LƢỢC

Đề tài “ Tình hình nhiễm ngoại ký sinh trùng trên chó tại thành phố Cần Thơ và

thử nghiệm hiệu lực một số loại thuốc điều trị” thực hiện từ 01/2013 đến 05/2013

Qua điều tra tình hình nhiễm ngoại ký sinh tại thành phố Cần Thơ; định danh phân loại ngoại ký sinh nhiễm trên chó và thử hiệu quả điều trị của một số thuốc cho chó nhiễm ngoại ký sinh

Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh tại thành phố Cần Thơ là 20,07%

Nhóm chó địa phương 30,15% nhiễm cao hơn chó lai-ngoại 17,61%; hầu hết chó nuôi thả rong đều nhiễm ngoại ký sinh chiếm tỷ lệ 100% cao hơn rất nhiều so với chó nuôi nhốt 19,76%

Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh không phụ thuộc vào giới tính

Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trùng tăng dần theo tuổi: ở lứa tuổi <6 tuổi có tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh là 13,11%; từ 6-12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 13,95%; từ 1-≤2 năm

có tỷ lệ nhiễm là 20%; từ 2-≤3 năm có tỷ lệ nhiễm là 25% và lớn hơn 3 năm tuổi có

Chó nhiễm ngoại ký sinh có thể sử dụng phát đồ 2 (Ivermectin 1ml/5kg thể trọng, tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, kết hợp với Taktic 5ml/1 lít nước tắm, tắm 2 lần mỗi lần cách nhau 7 ngày; tiêm bắp hoặc tiêm dưới da Shotapen 1ml/10kg thể trọng và

bố trí với vitamin ADE 1ml/10kg thể trọng), sẽ cho hiệu quả sau 10 ngày đến 15 ngày sau khi sử dụng thuốc Thuốc rất an toàn cho chó không có tác dụng phụ nào trong quá trình điều trị

Trang 14

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đã từ lâu, chó được xem là người bạn sống gần gũi với con người Chó có các đặc điểm như: thông minh, trung thành, nhanh nhẹn, khứu giác và thính giác rất nhạy bén, vì vậy mà chó được nuôi với nhiều mục đích khác nhau như: để giữ nhà, giải trí, bầu bạn nên việc chăm sóc sức khỏe đàn chó cần phải được quan tâm Trên chó

có những bệnh gây thiệt hại đáng kể như bệnh dại, bệnh carê, bệnh lepto, v.v

nhưng phần lớn các bệnh này đã được tiêm phòng bằng các loại vaccine Trong khi

đó, bệnh do các loại ký sinh trùng gây ra cũng cần phải lưu ý, chưa có loại vaccine

nào phòng bệnh một cách hiệu quả Trong các bệnh ký sinh trùng cần phải kể đến bệnh do các loài ngoại ký sinh trùng gây ra vì nó gây thiệt hại trực tiếp đến sức khỏe chó nuôi như làm viêm da gây ngứa ngáy, ngủ không yên, gầy còm, lở loét, rụng lông, làm mất thẫm mỹ, suy kiệt do thiếu máu, làm giảm sức đề kháng mở

đường cho các loại virus, vi khuẩn xâm nhập và phát triển

Các loài ngoại ký sinh trùng ký sinh trùng trên chó ngoài tác động gây tổn thương, chiếm đoạt chất dinh dưỡng mà chúng còn là ký chủ trung gian truyền bệnh cho chó

như: Babesia canis, Rickettia canis, Piroplasma canis Các loài ký sinh trùng này

còn là nguồn lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho con người như: bệnh dịch hạch,

bệnh xoắn trùng, bệnh lyme, sốt phát ban (Bùi Quý Huy, 2002)

Xuất phát từ tình hình thực tế trên và được sự chấp thuận của Bộ môn Chăn Nuôi, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ, tôi tiến hành

thực hiện đề tài: “ Tình hình nhiễm ngoại ký sinh trùng trên chó tại thành phố

Cần Thơ và thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc điều trị”

Trang 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Một số đặc điểm cơ thể học và đặc điểm sinh lý học của chó

2.1.1 Cấu tạo lông, da và chức năng của da

Cấu tạo lông, da

Da có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp biểu mô trên mặt gọi là lớp thượng bì, kế tiếp là lớp

mô liên kết dưới gọi là lớp đệm (hay lớp trung bì), phía dưới lớp trung bì là lớp hạ

bì (Nguyễn Quang Mai, 2004)

Lớp thượng bì

Lớp thượng bì là tầng ngoài cùng của da, nó gồm nhiều tế bào biểu mô dẹp Tế bào thượng bì ngoài nhất là tế bào chết đã hóa sừng Lớp tế bào thượng bì quan trọng nhất là tế bào sống hình tam giác có khả năng sinh trưởng không ngừng Tế bào thượng bì không có mạch máu nên vi khuẩn không thể xâm nhập vào cơ thể được,

nó dựa vào dịch bạch huyết để tiến hành trao đổi chất Lớp tế bào ở tầng sâu phát triển phân ra nhiều tế bào mới, tế bào già bị đẩy ra bề mặt, dần dần hóa sừng thành

“vỏ da” rơi rụng Thượng bì có độ dầy thay đổi tùy theo từng vùng của cơ thể, thường dầy lên và chạy đi ở những vùng tiếp xúc và cọ sát nhiều Chất sừng là

protein có chứa lưu huỳnh, có thành phần khác nhau tùy theo loài, tuổi, giới tính, vị

trí cơ thể (Trần Cừ, 1975)

Lớp trung bì

Lớp trung bì ở dưới biểu bì do mô liên kết tạo thành Tính đàn hồi và tính bền của

da do hai loại sợi quyết định là sợi keo và sợi đàn hồi Sợi keo chiếm 98% trong lớp trung bì, nó quyết định tính bền Sợi đàn hồi chiếm 1,5% trong lớp trung bì, nó quyết định tính co dãn của da Trong lớp trung bì, ngoài hai sợi trên còn có sự phân

bố các loại tế bào mô liên kết, rất nhiều đầu mút dây thần kinh ngoại biên, mạch máu, mạch bạch huyết v.v…chịu các trách nhiệm khác nhau của da (Nguyễn

Quang Mai, 2004)

Hình 1: Cấu tạo da

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Trang 16

Lớp hạ bì

Dưới lớp trung bì là lớp hạ bì được cấu tạo bởi mô liên kết thưa, nối trung bì với các

cơ quan bên dưới giúp cho da trượt được trên các cấu trúc nằm dưới Tùy vùng của

cơ thể, tùy trạng thái nuôi dưỡng ở hạ bì có thể có những lớp mỡ Các lớp mỡ này

có tác dụng đệm cho các cơ quan bên dưới da tránh tổn thương và điều hòa thân nhiệt Dưới lớp mỡ còn có các lớp cơ là lớp sâu nhất của da, nó có nhiều bộ phận của cơ thể và xếp thành một tầng cơ mỏng Tác dụng của tầng cơ là làm rung da nhờ đó mà có tác dụng xua đuổi côn trùng hoặc vật bám vào da Ngoài ra trong hạ

bì còn chứa nhiều mạch máu, tuyến mồ hôi và bao lông (Nguyễn Quang Mai, 2004)

Các bộ phận phụ của da

Ngoài các cấu tạo cơ bản trên da còn có nhiều bộ phận phụ, có hai loại chính là tuyến da và lông Tuyến da là dẫn xuất của biểu bì, chủ yếu có hai loại tuyến là tuyến da và tuyến mở

- Tuyến mồ hôi là tuyến ống đầu phía dưới cuộn lại thành búi nằm trong tầng dưới của lớp chân bì Đầu phía trên vòng xoắn ốc xuyên qua biểu bì và đổ ra ngoài mặt

da Tuyến mồ hôi tạo mùi đặt trưng cho từng loài Tuyến mồ hôi của chó chủ yếu nằm ở cầu đệm bốn chân (Trần Cừ, 1975)

- Tuyến mở (hay tuyến nhờn) là tuyến nằm trong chân bì Tuyến này mở ra phần chân lông tiết chất nhờn vào túi thượng bì ở gốc lông, chổ nào không có lông thì tuyến nhờn đỗ ra mặt da Tác dụng làm mềm mại, tránh nứt nẻ, tránh thấm nước Hai loại tuyến này phân bố không đều nhau trên bề mặt da Tác dụng của tuyến là bảo vệ, phòng vệ, thoát nhiệt,…(Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)

Lông

Gồm có hai phần là phần trục và phần gốc lông Phần lộ ra ngoài da là phần trục lông, phần còn lại nằm trong bao lông là phần gốc Trục lông do tế bào gốc tạo thành, thường có ba lớp (lớp ngoài là vẩy, lớp giữa là phần da, trong cùng là phần tủy) Tầng vẩy do tế bào hóa sừng tạo thành tác dụng bảo vệ phần trong lông, tầng

vỏ là tầng thể ống do tế bào hình thoi nối với nhau một cách chặc chẽ, độ dầy của

nó quyết định tính bền, co giản, đàn hồi,…Tầng tủy do mô thừa tạo thành gồm có khí bào và có sắc tố có tác dụng cách nhiệt Gốc lông nằm trong túi thượng bì Chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát dục của lông lấy từ mao mạch xung quanh (Trần

Cừ, 1975)

Trang 17

Chức năng của da

Da là lớp ngăn cách cơ thể với môi trường bên ngoài nên có nhiều chức năng quan trọng như: bảo vệ cơ thể chống lại sự mất nước và bốc hơi nước, cơ quan cảm giác nhiệt và đầu, bảo vệ cơ thể chống lại những tác động cơ học, sự xâm nhập của vi sinh vật, ký sinh trùng và độc tố, da tham gia vào chức năng hô hấp và điều hòa

thân nhiệt ngăn ngừa mất nước cho cơ thể, tổng hợp 7-dehydrocholesterol để chuyển hóa thành vitamin D 3 bởi tia cực tím mặt trời, da thực hiện chức năng bày tiết nước, muối khoáng và chất nhờn, dự trữ mỡ và nước (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)

2.1.2 Cấu tạo của răng

Cũng giống như người chó có hai lần thay răng Lúc đầu là răng sữa mọc trước sau

đó được thay thế bằng răng cứng Khoảng 4 tháng thì các răng sữa bắt đầu lung lay

và dần dần được thay thế bằng răng cứng, quá trình lung lay và thay thế răng có thể được kéo dài khoảng 3 hoặc 4 tháng đó là thời kỳ đáng chú ý nhất trong đời chó Thường răng cứng mọc trước khi các răng sữa bị lung lay và chó có thể có hai hàm răng cùng một lúc Điều này có thể làm cho các răng cứng bị biến dạng hoặc mọc không ngây, cũng có thể gây sốt cao và kéo dài nhưng các răng sữa cuối cùng cũng

bị thay đi (Hoàng Văn Cung, 1999)

Dựa vào quá trình mọc răng, thay răng và sự hao mòn của răng để xác định tuổi của chó Chó trưởng thành có 42 cây răng, chó con có 32 cây răng, chó mới sinh chưa

mở mắt đôi khi đã có vài cây răng cửa Từ ngày thứ 12-15 chó mở mắt Từ tuần thứ 2-3 các răng cửa mọc, răng nanh hàm trên mọc Tuần thứ 4 các răng mọc hết Đến hai tháng tuổi, 2 răng cửa hàm dưới mòn trước và tiếp đến là các răng cửa kế bên

Từ 2,5 tháng tuổi răng cửa hàm dưới mòn đi sau đó đến hàm răng trên, 3 -3,5 tháng răng kề hàm dưới mòn bằng Từ tháng thứ 4 các răng ngoài hàm dưới mòn bằng, trong thời kỳ này các răng khác cũng mọc hết Đến tháng thứ 5-6 các răng sữa đều rụng và thay thế bằng răng vĩnh viễn Tháng thứ 7 các răng vĩnh cữu đều mọc cao bằng nhau Chó một năm tuổi thì có hàm răng trắng bóng, đến hơn 1 năm tuổi thì các răng đó đều bắt đầu trầy xướt Khoảng 2 năm tuổi thì răng giữa đều bắt đầu mòn (trích trong Những điều người nuôi chó cần phải biết của Lê Văn Tảo, 2007)

2.2 Đặc điểm hình thái và vòng đời của ngoại ký sinh trùng trên chó

2.2.1 Phân loại học

Ngành tiết túc (Arthropoda) được chia làm 5 lớp: Lớp Crustacea, lớp

Onychophora, lớp Myriapoda, lớp côn trùng (Insecta) và lớp hình nhện

(Arachnida) Trong đó, lớp Onychophoda giống giun có đốt không được coi là ký sinh trùng; còn lớp Myriapoda chủ yếu gây hại trên thực vật; 3 lớp còn lại quan trọng trong thú y Lớp Crustacea gồm có phân lớp Entomostraca và Malacostraca

Chúng ký sinh chủ yếu trên thủy sản và cũng đóng vai trò ký sinh trung gian truyền bệnh giun sán ký sinh cho vật nuôi, con người Hai lớp còn lại được xem là ký sinh trùng quan trọng trên vật nuôi và con người (Soulsby E J L…, 1968)

Trang 18

Bảng 1 Đặc điểm chính để phân biệt ký sinh trùng thuộc các lớp của ngành chân khớp

(Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)

a Lớp côn trùng (Insecta)

Lớp Insecta có hai phân lớp: Phân lớp Apterygota (không quan trọng trong thú y) và phân lớp Pterygota

Phân lớp Pterygota được chia ra làm hai nhóm là Exopterygota và Endopterygota

- Nhóm Exopterygota gồm 9 bộ: Orthoptera, Dermaptera, Plecotera, Isopteran,

Psocoptera, Phthiraptera, Odonata, Thysanopteran, Hemiptera

- Nhóm Endopterygota có 6 bộ: Coleopteran, Hymenoptera, Lepidoptera,

Neuropteran, Aphaniptera và Diptera

Trong đó, 2 bộ Phthiraptera và Aphaptera là tác nhân gây bệnh và còn là ký chủ

trung gian truyền một số bệnh trên chó, vật nuôi và con người

b Lớp hình nhện (Arachnida)

Lớp hình nhện có phân lớp phụ là Acari, Acari bao gồm 2 bộ là Parasitiformes và

Acariformes Acariformes không tìm thấy lỗ thở phía sau khớp háng của đôi chân

thứ 2 và thường khớp háng được nối với khớp bụng Parassitiformes có từ 1 đến 4

đôi lỗ thở nằm ở phía trước khớp háng của đôi chân thứ 2 và khớp háng này cử động tự do (Richard Wall, et al 1997) Trong đó, ký sinh trên chó có 3 phân bộ phụ

là: Phân bộ Mò-Trombidiformes và phân bộ ghẻ Sarcoptiformes thuộc bộ

Acariformes; phân bộ Ixodoidae thuộc bộ Parasitiformes

Đặc điểm Giáp sát Nhện Côn trùng

Sự phân đốt cơ thể Gồm hai phần chính: Gồm hai phần chính: Gồm 3 phần chính:

Đầu ngực và bụng Đầu ngực và bụng Đầu, ngực và bụng

có phân đốt đa dạng thành một khối

Số râu 2 râu Không râu 1 đôi

Số chân 5 đôi chân 4 đôi chân 3 đôi chân

Hô hấp Bằng mang Bằng phổi hay ống khí Bằng ống khí

Trang 19

2.2.2 Bộ Phithiraptera (Lice)

Đặc điểm hình thái

Những loài thuộc bộ này thì nhỏ, không cánh và cơ thể dẹp theo hướng lưng bụng

Bộ râu của chúng thì ngắn và có từ 3-5 đốt Mắt bị tiêu giảm hoặc không có và các đốt của phần ngực thì không rỏ ràng Có 1 đôi lỗ thở trên giữa ngực Đặc trưng là có

6 đôi lỗ thở trên bụng, nhưng khi các đốt liên kết xảy ra có thể ít hơn 6 đôi lỗ thở

Trứng có nắp là chất Cementum, phía ngoài có cuống để bám lên tóc hoặc lông ký

Trong đó, họ Linosnathidae có loài Linognathus setosus ký sinh hút máu trên chó

Cơ thể chia làm 3 phần: đầu, ngực, bụng Loài này, mắt bị tiêu biến; bụng thì có lông trên các đốt Đôi chân thứ nhất nhỏ hơn các đôi chân còn lại Con trưởng thành dài khoảng 3mm Đầu hình tam giác Đầu và ngực dài Ở hai bên mép đầu có râu, gồm 5 đốt Phần phụ miệng kiểu chích hút Ngực lớn hơn đầu, gồm 3 đốt dính liền, mỗi lớp mang 1 đôi chân Đôi chân thứ 2 và thứ 3 mập hơn đôi chân thứ nhất Tậng cùng mỗi đôi chân đều có vuốt mập, sắc, kết hợp với mấu lông chân tạo thành một cái kìm ôm lấy lông và mốc một cách chắc chắn vào cơ thể ký chủ

Hình 2: Loài Linognathus setoxus

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Hình 3: Loài Heterodoxus spiniger

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Trang 20

Trong bộ này có hai phân bộ là:

- Phân bộ Mallophaga:

+ Siêu họ Isochnocera

+ Siêu họ Amblycera

Rận ký sinh trên chó là loài Heterodoxus spiniger thuộc siêu họ Amblycera Loài

Heterodoxus spiniger ăn lông và phổ biến ở xứ nóng Chúng sử dụng enten gắn trên

đầu để dò đường vì chúng không nhìn thấy đường Tua cảm giác được nhìn thấy ở rìa một cách lộn xộn Con trưởng thành dài khoảng 5 mm, màu vàng xám nhạt Đầu hình tam giác có góc đỉnh tròn, rộng hơn rận hút máu Rận nằm trong rảnh của hai bên đầu Râu có 4 đốt, đốt thứ 3 dính vào đốt thứ 4 Phần phụ miệng kiểu nghiền, hàm có nhiều răng nhỏ Ngực luôn hẹp hơn đầu, mang 3 đôi chân Tậng cùng của một đôi chân có mang một đôi vuốt (Richard Wall và David Shearer, 1997)

Vòng đời phát triển

Vòng đời của cả hai loài rận ăn lông và rận hút máu này đều diễn ra trên cơ thể ký chủ, theo kiểu biến thái không hoàn toàn Rận cái đẻ trứng trên cơ thể ký chủ Trứng dính chặt vào lông mao nhờ chất nhờn tử cung Trứng hình oval, màu trắng lóng lánh, có nắp ở một đầu Sau vài ngày, trứng nở ra ấu trùng có dạng gần giống với con trưởng thành Ấu trùng bắt đầu hút máu ký chủ, rồi qua 3 lần lột xác trở thành con trưởng thành

Không giống với ve và bọ chét, rận có tính chuyên biệt với ký chủ Chúng không có khả năng nhịn đói lâu Khi rời khỏi ký chủ, chúng sống không được lâu, khoảng 3-7 ngày

2.2.3 Bộ Aphaniptera (Fleas)

Bộ Aphaniptera có khoảng 15 hoặc 16 họ và 239 giống Nhưng chỉ có hai họ quan

trọng trong thú y: họ Ceratophyllidae và họ Pulicidae Họ Ceratopyllidae hiện tại

có gần 500 loài, mà có khoảng 80 loài ký sinh ở chim và phần còn lại ký sinh ở gặm

nhấm Họ Pulicidae có 5 giống, trong đó có giống Ctenocephalides ký sinh trên chó

hoang và chó nhà (Richard Wall và David Shearer, 1997)

Trang 21

Đặc điểm hình thái

Bọ chét không có cánh và cơ thể dẹp, hông dài 1.5-4mm Cơ thể được bao quanh lớp kitin có màu vàng hay sẩm đen Mắt bị tiêu giảm, nhưng một số loài có mắt lớn hoặc nhỏ Bụng có 10 đốt, 9 đốt bụng trên cơ thể con đực cũng như trên cái chống

đỡ các mãng kitin với nhau gọi là cơ quan cảm giác hoặc đốt hậu môn, các đốt được bao phủ bởi những tơ cứng; mà chức năng của nó chưa biết nhiều Các chân dài, mạnh mẽ và thích ứng cho nhảy Trong vài loài, như bọ chét trên chó có một xoáy cuộn lớn trên đầu và ngực có lược ngực Trên mỗi bên dưới má có thể có lược má

và trên đường viền của đốt đầu tiên, thân có viền lưng Có một số loài có cả hai lược hoặc chỉ có một cái lược Râu nằm phía trước hình dạng giống cái dúi ngắn

được gắn ở phía trước đầu

Ở Việt Nam tìm thấy hai loài ký sinh trên chó: loài Ctenocephalides felis felis và loài Ctenocephalides canis

Loài Ctenocephalides canis: Bọ chét có thân dẹp theo chiều hông, vỏ kitin tương

đối cứng, màu vàng, nâu hoặc sẫm đen, không có cánh, biến thái hoàn toàn Cơ thể

bọ chét chia làm 3 phần: đầu, ngực và bụng Đầu nhỏ, cung tròn, chiều dài nhỏ hơn hai lần chiều cao Mặt dưới đầu có một hàng gai đen gọi là lược má có khoảng 7-8 răng, chiếc răng thứ nhất bằng 1/2 chiếc răng thứ hai (Richall Wall và David Shearer, 1997) Có hai mắt kép lớn, râu có 3 đốt, phụ miệng kiểu chích hút Ngực

có 3 đốt, trên các đốt ngực trước và giữa có những hàng gai cứng gọi là lược ngực,

có từ 7-8 răng Bọ chét có 3 đôi chân kiểu nhảy, đôi chân thứ 3 rất phát triển bụng

có 10 đốt xếp chồng lên nhau, một vài đốt bụng có thể mang một vài lược giống như lược ngực và lược má

Hình 4: Ctenocephalus canis (A); Ctenocephalus felis felis (B)

(Richard Wall và David Shearer, 1997)

Trang 22

Loài Ctenocephalides felis felis có hình thái rất giống với loài Ctenocephalides

canis nhưng khác biệt ở một số đặc điểm Đầu của Ctenocephalides felis felis nhọn

và hẹp, chiều dài gấp hai lần so với chiều cao, còn Ctenocephalides canis thì đầu có

trán tròn, gãy gốc Lược ngực cũng có từ 7-8 răng nhưng chiếc răng thứ nhất có chiều dài tương đương với chiều dài chiếc răng thứ hai (bằng khoảng 4/5) (Phạm Văn khuê và Phạm Lục, 1996)

Vòng đời

Sau khi bọ chét bám vào cơ thể ký chủ, chúng hút máu ký chủ và tăng trọng lượng rất nhanh, Giao phối xong khoảng 24-48 giờ con cái bắt đầu đẻ trứng, trứng có màu

hồng hình oval, kích thướt khoảng 0,5mm Loài Ctenocephalides felis felis có thể đẻ

trung bình 30 trứng mỗi ngày và tuổi thọ con cái khoảng 50-100 ngày, còn loài

Ctenocephalides canis cái sinh sản cao nhất trên 50 trứng/ngày Trứng của Ctenocephalides canis rất nhỏ mắt thường có thể nhìn thấy trứng giống dạng ngọc

trai Trứng nhẵn nhưng mau thoái hóa màng vỏ bao bộc bên ngoài, thời gian thoái hóa tùy theo điều kiện bên ngoài (Wall và Sheare, 1997)

Trứng mới đẻ ra dính vào lông nhưng sau vài giờ rớt xuống đất và thường tập trung nhiều ở những chỗ ký chủ nằm, tuy nhiên chỉ có những trứng rơi xuống ở những chỗ có điều kiện môi trường thích hợp mới có khả năng phát triển thành ấu trùng, ở nhiệt độ 350 C và ẩm độ 50% trứng sẽ bị hư hỏng không nở được Môi trường có ẩm

độ 70% và nhiệt độ 350C có khoảng 30% trứng nở sau 1,5 ngày, nhưng nếu độ ẩm 70% và nhiệt độ 150C thì phải mất 6 ngày để 50% trứng nở

Giai đoạn ấu trùng có thể kéo dài 9-200 ngày tùy thuộc vào điều kiện môi trường Ở

240C và ẩm độ 75% giai đoạn ấu trùng có thể kéo dài khoảng một tuần, ở nhiệt độ

130C và ẩm độ 75% giai đoạn ấu trùng kéo dài 5 tuần Ấu trùng dễ dàng chết ở môi

Hình 5: Vòng đời bọ chét

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Trang 23

trường có ẩm độ <50% Ấu trùng rất nhỏ kích thướt khoảng 2-5mm, chúng không

hút máu mà chỉ ăn phân của những con Ctenocephalides felis felis trưởng thành

(Wall, Sheare, 1997) Giai đoạn cuối của ấu trùng có kén bao bọc, có nhiều bụi ở xung quanh Sau 1 tuần ấu trùng biến thành nhộng, nhộng không di động, không ăn, thời gian này kéo dài khoảng 1-2 tuần, nếu gặp điều kiện không thuận lợi nhộng có

thể tồn tại 3-7 tháng, sau đó nhộng lột xát thành Ctenocephalides felis felis trưởng thành Ctenocephalides felis felis có thể sống được 1 tháng để chờ cơ hội bám vào

vật chủ mà không cần hút máu

Đối với ấu trùng Ctenocephalides canis trải qua hai lần lột xác thì kéo tơ hóa nhộng Hết giai đoạn hóa nhộng, Ctenocephalides canis trưởng thành sẽ chui ra hoặc ở lại

trong kén nếu điều kiện bên ngoài bất lợi trong một thời gian ngắn

2.2.4 Phân bộ Ixodoidae (Ve)

Ve Ixodoidae có một đôi lỗ thở nằm ở sau hay ở ngoài gốc háng Lỗ thở liên hệ với

tấm thở ngắn Tấm dưới miệng có răng hướng về phía sau, rất thích hợp với chích đốt Có cơ cảm giác Haller ở bàn chân 1 Đa ký chủ

Tất cả ve thuộc phân họ này có 3 họ: Ixodidae, argasidae và Nuttulliedae Trong

đó, các loài ngoại ký sinh trùng trên chó chỉ có ở họ Ixodidae (ve cứng)

Họ ve cứng được cấu tạo làm 2 phần: đầu giả và thân Ve được bao ngoài bởi một lớp kitin tạo thành khung cho ve bám vào (Phan Trọng Cung và Đoàn Văn Thụ, 2001)

Đầu giả

Đầu giả có hai phần: gốc đầu giả và vòi

Gốc đầu giả có các hình dạng khác nhau, đây là điểm phân loại giống

Vòi gồm có một đôi kìm, một tấm dưới miệng và một đôi xúc biện Đôi kìm nằm trong bao kìm ở mặt lưng, giữa hai xúc biện Tấm dưới biện ở mặt bụng, dưới bao kìm Tấm này có nhiều hàm răng dọc Số lượng hàm răng ở mỗi bên làm thành công thức răng (3/3 hoặc 4/4) Đôi xúc biện nằm ở hai bên đôi kìm Mỗi xúc biện có 4 đốt, đốt thứ tư nằm ở mặt bụng đốt thứ 3

Phần thân

Mặt lưng thân ve cứng đều có mai lưng Mai lưng con đực phủ toàn bộ mặt lưng, con cái chỉ phủ 1/3 mặt lưng Ở khoảng 1/3 trước bờ cạnh của mai lưng có mắt,

xung quanh có rãnh lõm xuống gọi là hốc mắt Đa số ve Hyalomma, Rhpicephalus

và một ít Amblyomma có hốc mắt phát triển Các giống Ixodes, Haemaphysalis và

Aponomma không có mắt

Ở hai bên trước mai lưng có 2 mấu lồi trước gọi là vai Trên mặt lưng có nhiều đường lõm sâu gọi là rãnh Trên lưng có các rãnh sau: rãnh cạnh (ở hai bên gần giáp với cạnh bên của lưng) và rãnh giữa sau (nằm ở miền giữa theo trục thân)

Trừ giống Ixodes và Boophilus, các giống ve ở nước ta đều có rua Có 11 rua, rua

giữa ở giữa, ở hai bên rua giữa gọi là rua cạnh

Trang 24

Lỗ hậu môn: nằm khoảng 1/3 phía sau thân Có những tấm kitin đóng mở lỗ hậu môn Trên bề mặt tấm van có tơ hậu môn

Lỗ thở nằm trên tấm thở bằng kitin, hẹp và dầy lên, có nhiều lỗ nhỏ khắp bề mặt, tấm thở có các hình dạng khác nhau đây là đặc điểm để phân loại

Rãnh sinh dục: thường có hình parabol vòng trước lỗ sinh dục xuống trước đuôi, đến gần hoặc đến tậng cùng của các rua (III hoặc IV)

Rãnh hậu môn: vòng trước lỗ hậu môn hoặc không có

Chân: Ve trưởng thành có 4 đôi chân, ấu trùng chỉ có 3 đôi chân Mỗi chân gồm có

6 đốt: háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân Các háng bằng nhau hoặc khác nhau Háng có thể có 1 đến 2 cựa (cựa trong và cựa ngoài) Cuối bàn chân có đệm vuốt (ve mềm không có)

Một số loài ve ký sinh trên chó

Họ ve cứng: Gồm 8 giống (Amblyomma, Aponomma, Boophilus, Dermacentor,

Haemaphysalis, Ixodes, Rhipicephalus và Hyalomma) Các giống này đều phát hiện

ở Việt Nam, nhưng chỉ phát hiện được hai giống trên chó nhiều nhất là giống

Rhiphicephalus và cũng thỉnh thoảng phát hiện được giống Boophilus

Có 11 rua, chiều dài rua gấp hai lần chiều rộng, rua ở giữa dài và rộng hơn các rua khác Mặt bụng có hai tấm cạnh hậu môn hình tam giác, tấm thở hình dấu phẩy, lỗ sinh dục nằm ở giữa đôi háng II Rãnh hậu môn hình cung tròn Có 4 đôi chân, chân khỏe, dài, mỗi chân có 6 đốt gồm: đốt háng, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống, đốt trước bàn, đốt bàn Các háng đều có hai cựa, háng I có hai cựa to, khỏe, còn các háng II-

IV đều nhỏ Bàn chân hình ống, vuốt kép, đụn vuốt hẹp, ngắn

Con cái: Ve cái lớn hơn ve đực, thân dài 3,3-11mm, rộng 1,7-7mm, màu vàng sậm hoặc vàng xám Đầu giả nhìn chung gần giống ve đực, xúc biện mập hơn ve đực Công thức răng 3/3 mỗi hàng dọc có từ 10-12 răng Tấm mai lưng nhỏ phủ 1/3 thân, mắt hơi lồi, màu sáng nằm ở giữa mai hay ngang đốt háng thứ II, rãnh hậu môn hình cung tròn rộng Tấm thở hình dấu phẩy ngắn Chân khỏe, dài, vuốt giống con đực

Trang 25

Vòng đời

Vòng đời của ve gồm các giai đoạn: trứng, ấu trùng, thiếu trùng, giai đoạn trưởng thành Ve đực và ve cái trưởng thành giao phối trên cơ thể ký chủ, sau khi giao phối

ve cái hút no máu và rời khỏi ký chủ Sau đó, đẻ trứng trên mặt đất Trứng nở thành

ấu trùng một thời gian sau ấu trùng lại nở thành trưởng thành Mỗi gian đoạn phát triển là sau khi đã hút máu no, lại rời ký chủ, biến thái trên mặt đất, rồi tìm ký chủ mới

Hình 6: Ve Rhipicephalus sanguineus Con đực (A) và con cái (B)

1.Mặt lưng thân; 2 Mặt bụng thân; 3 Mặt lưng đầu giả; 4 Mặt bụng đầu giả;

5 Háng và đốt chuyển I-IV; 7 Bàn chân; 8 Tấm thở

Trang 26

Một số hằng số sinh lý của ve Rhipicephalus sanguineus:

Ve cái đẻ trứng 2000-39000 trứng

Trứng nở 17-30 ngày

Bữa ăn của ấu trùng 2-4 ngày

Biến thái của ấu trùng 2-23 ngày

Bữa ăn của thiếu trùng 4-9 ngày

Biến thái của thiếu trùng 11-73 ngày

Bữa ăn của ve cái 2-6 ngày

Nhịn đói của ấu trùng >8,5 ngày

Nhịn đói của thiếu trùng >6 ngày

Nhịn đói của ve trưởng thành > 6 ngày

Nhịn đói của ve trưởng thành >19 ngày

(Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)

Giống Boophilus

Ve Boophilus microplus có mặt ở hầu khắp các nước trên thế giới Ở nước ta, ve

xuất hiện ở 3 miền Ký chủ chính ưu thích của ve là bò, đôi khi còn phát hiện trên trâu, ngựa, chó, mèo… Chúng có ở khắp cơ thể ký chủ, nhưng thích bám nhất là những chỗ da mỏng như: tai, kẽ chân, vú, bẹn…

Hình thái

Ve đực: Thân hình bầu dục dài, màu nâu vàng hay nâu đỏ Kích thích cơ thể: con đực dài 1,5-3 mm rộng 1,6-2 mm; con cái dài 1,9-5 mm, rộng 1,1-3,2 mm, có màu nâu vàng hoặc đỏ Khi ve hút no máu, kích thướt thân có thể lớn gấp hai lần lúc đói Đầu giả ngắn Gốc đầu hình 6 cạnh với hai góc bên nhô ra ngoài, chiều rộng bằng hai lần chiều dài (không kể sừng) Xúc biện ngắn, mập, có nhiều tơ ngắn Công thức răng 4/4, mỗi hàng dọc có 6-8 răng đối với con đực, con cái 7-8 răng

Mai lưng gần giống hình bầu dục dài, nữa trước hẹp hơn nữa sau, bờ sau lưng tròn rộng Mấu vai hơi rộng và nhọn Mấu đuôi nhỏ, ngắn, nhọn Mắt dẹp, nhỏ, nằm trên

bờ biên ngang mức háng II

Mặt bụng có nhiều tơ trắng dài, mịn Lỗ sinh dục nằm ngang mức háng II Không

có rảnh hậu môn Có 2 tấm cạnh hậu môn dài

Tấm thở gần tròn, nằm sát bờ sau háng IV

Chân dài vừa, mập dần từ chân I đến chân IV Háng I bờ trước kéo dài thành mấu hẹp và dài Bờ sau có hai cựa tam giác nhọn, cựa trong mập hơn cựa ngoài Các háng II và III chỉ có 1 cựa ngoài ngắn, nhọn, phía trong tròn rộng không thành cựa Háng IV không có cựa

Trang 27

Ve cái: Toàn thân dài 1,9-5 mm, rộng 1,1-3,2 mm, có màu nâu vàng hoặc nâu đỏ Khi ve hút no máu, kích thướt thân có thể lớn gấp hai lần lúc đói

Đầu giả nhìn giống với ve đực Gốc đầu cũng nhìn 6 cạnh Tấm dười miệng rộng và dài hơn xúc biện nhiều Xúc biện ngắn, mập Công thức răng 4/4, mỗi hàng dọc có

1 Mặt lưng thân; 2 Mặt bụng thân; 3 Tấm dưới miệng;

4.Bàn chân I; 5 Bàn chân 4; 6 Mấu đuôi; 7 Mặt lưng đầu giả;

8 Mặt bụng đầu giả; 9 Háng và đốt chuyển

Trang 28

Vòng đời

Ve Boophilus microplus là loài ve một vật chủ, ký sinh chủ yếu trên bò, đôi khi còn

gặp ở dê và chó Chu kỳ phát triển qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, thiếu trùng và

ve trưởng thành Ve cái đói bắt đầu hút máu ký chủ, rồi chờ ve đực đến để giao phối Sau khi giao phối, ve tiếp tục hút no máu rơi xuống đất tìm nơi thích hợp để

đẻ trứng Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến số lượng trứng của ve Ở nước ta, khi điều kiện nhiệt độ từ 27-300C thì ngày thứ nhất ve đẻ 321 trứng Ngày thứ 2, số lượng trứng đẻ tăng vọt đến 2100 trứng Ngày thứ 3, 4 lượng trứng đẻ trung bình tăng đến

559 trứng Bắt đầu từ ngày 5, 6 trở đi số lượng trứng đẻ giảm dần, nhất là những ngày gần cuối số lượng trứng đẻ chỉ từ 10-20 trứng/ngày Sau khi đẻ xong 4-17 ngày thì ve cái chết (Phan Trọng Cung, 1997)

Trứng của Boophilus microplus có hình bầu dục, dài khoảng 1,5 mm, màu nâu

nhạtđến sậm Ánh sáng, nhiệt độ và ẩm độ có ảnh hưởng rất lớn đến trứng nở Trứng nở nhiều nhất ở ẩm độ 95%, nhiệt độ 85-950F Nếu độ ẩm dưới 70% thì trứng không nở Nếu ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp thì 1-2 giờ trứng teo lại và không

nở được Trứng nở ra ấu trùng Ấu trùng tấn công vật chủ để hút máu trong vài ngày, rồi lột xác thành thiếu trùng

Thời gian của các kỳ phát triển như sau:

Trứng nở 12-28 ngày

Bữa ăn của ấu trùng 4-13 ngày

Biến thái của ấu trùng 6-14 ngày

Nhịn đói của ấu trùng < 8,5 ngày

Bữa ăn của thiếu ấu trùng 5-11 ngày

Biến thái của thiếu ấu trùng 5-14 ngày

Bữa ăn của ve cái 6-16 ngày

Ve có chữa 3-15 ngày

(từ khi rời vật chủ đến khi bắt đầu đẻ trứng)

Đẻ trứng 5-30 ngày

Đẻ xong đến chết 4-17 ngày

Trang 29

2.2.5 Phân bộ ghẻ (Sarcoptiformes)

Gồm có hai loài ký sinh trên chó là Sarcoptes scabiei canis và Otodestes cynotis

Sarcoptes scabiei canis ký sinh ở bên dưới lớp biểu bì, gây ra bệnh ghẻ ngầm ở chó Otodestes cynotis ký sinh trong tai chó gây ngứa tai

Loài Sarcoptes scabiei canis

Ấu trùng no máu lột xác thành nhộng

Nhộng no máu phát triển thành ve trưởng thành

Nhộng

Nhộng hút no máu

Sơ đồ 1: Vòng đời ve cứng

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Trang 30

Sơ đồ 2: Vòng đời phát triển của cái ghẻ

II của con cái, còn ở con đực là đôi chân thứ I, II và IV Chân có nhiều tơ rất dài

Chu kì sinh học

Hình 8: Sarcoptes scabiei canis

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Ghẻ trưởng thành thụ tinh trên bề mặt da

Larva lột xác thành

trong da

Larva trong rãnh hoặc bò trên da

Trang 31

Sarcotes scabiei xâm nhập và đào hang ở dưới lớp biểu bì của da Sau khi giao phối

trên bề mặt da, con cái bắt đầu đào hang và đẻ trứng trong các rảnh Mỗi con cái đẻ trung bình 40-60 trứng trong cả dòng đời Trứng nở thành ấu trùng 6 chân Ít lâu sau

ấu trùng biến thành thiếu ấu trùng 8 chân (có 3 giai đoạn thiếu ấu trùng) Thiếu ấu trùng tiếp tục phát triển thành con trưởng thành Trong điều kiện thích hợp, để hoàn thành vòng đời từ trứng đến con trưởng thành thì mất khoảng 17-21 ngày (Nguyễn Hữu Hưng, 2009)

Loài Otdectes cynotis

đệm vuốt như nhìn từ phía sau như một khối u nhỏ

Hình 9: Loài Otodectes cynotis

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Trang 32

Chu kỳ sinh học

Cái ghẻ ăn, tại các vẩy trong ống tai Vòng đời phát triển của cái ghẻ tai trải qua 3 giai đoạn từ trứng lột xác phát triển thành thiếu ấu trùng, sau đó các thiếu ấu trùng

lột xác để biến thành Otodectaes cynotis trưởng thành, quá trình phát triển này phải

mất khoảng 3 tuần Những ký chủ nhiễm cái ghẻ có thể truyền bệnh cho con của chúng

Cơ thể Demodex canis rất nhỏ, hình giun, có màu xám sáng, dài khoảng 0,1-0,4

mm Đầu giả rộng và lồi cạnh Ngực mang 4 đôi chân hình mấu, ngắn Chân có 3 đốt, đốt cuối cùng có móng vuốt Bụng dài có nhiều vân ngang trên mặt lưng và mặt bụng Phần phụ miệng gồm có 1 đôi xúc biện, có 1 đôi kìm và 1 tấm dưới miệng Xúc biện có hai đốt, đốt cuối ngắn Kìm hình trâm, dẹp mỏng

Hình 10 Demodex canis

(http://www.google.com.vn/imglanding)

Trang 33

Chu trình sinh học

trưởng

Toàn bộ vòng đời phát triển của Demodex canis diễn ra ở nang bao lông Con cái đẻ

trứng có dạng bầu dục Sau vài ngày trứng nở ra ấu trùng có 3 đôi chân Ấu trùng lột xác thành thiếu ấu trùng có 4 đôi chân (có 3 giai đoạn thiếu ấu trùng)

Thiếu ấu trùng tiếp tục phát triển thành Demodex canis trưởng thành Để hoàn thành

chu trình phát triển mò cần 30-35 ngày

2.3 Tác động của ngoại ký sinh trùng đến sức khỏe chó nuôi và cộng đồng

2.3.1 Tác động của ve

Ve thường bám vào trong hay ngoài vành tai, vùng cổ, kẽ móng chân Ve bám rất chắc vào da và cắm hút máu ký chủ, gây tổn thương sinh ra phản ứng viêm, làm cho con vật ngứa ngáy khó chịu nên gãy thường xuyên (Nguyễn Văn Biện, 2001)

Loài ve Rhipicephalus có thể ký sinh gián tiếp do tiếp xúc với thảm lót nhà, kẻ hở

tường hay các cây cỏ có ve bám sống Chúng gây trên da người những nốt ngứa do vết cắn, nổi ban đỏ và các biến chứng do thứ cấp Chúng còn truyền bệnh nhiễm khuẩn và bệnh ký sinh trùng máu cho người (Nguyễn Phúc Tường, 2001)

Con trưởng thành ở nang bao lông tuyến nhờn

Mò truyền từ mẹ sang con khi tiếp ngay sau khi sinh

Nymph lột xác thành

dạng trường thành ở

nang lông và tuyến

Con cái đẻ trứng trong tuyến và nang lông

tuyến và nang lông

Sơ đồ 3: Vòng đời phát triển của mò bao lông

Trang 34

2.3.2 Tác động của bọ chét

Bọ chét được tìm thấy dễ dàng ở vùng không có lông hoặc ít lông như háng, bụng Chúng gây cho ký chủ ngứa ngáy, viêm da, mụn loét, rụng lông Bọ chét có thể bám hút máu cả người Chó bị nhiễm bọ chét trở nên gầy yếu và nặng quá có thể chết

Nguy hiểm nhất là truyền những bệnh khác như sán dây Dipylidium caninum, vi

trùng bệnh dịch hạch (Nguyễn Hữu Hưng, 2009)

2.3.3 Tác động của rận

Rận ở chó phổ biến có 2 loại: Rận ăn lông và rận hút máu Rận ăn lông bao gồm các

loại: Trichodectes canis, Trichodectes latus và Heterodoxus spiniger Các loài này

không hút máu chỉ ăn lông và các cặn bã trên da của ký chủ Rận hút máu có loài

Linognathus setxus Rận bò trên da làm nhứa ngáy không nghỉ ngơi được Nhiễm

rận nhiều gây kém ăn chậm lớn, vết đó gây viêm biểu bì, bao lông, rụng lông nhiều

nơi trên cơ thể Rận ăn lông Trichodectes còn là ký chủ trung gian truyền bệnh sán dây Dipylidium caninum (Nguyễn Văn Biện, 2001)

2.3.4 Tác động của Sarcoptes scabiei var canis

Sarcoptes scabiei var canis sống ký sinh phổ biến trên chó Chúng đào hang, Tiết

độc tố trong nước bọt và các sản phẩm trong quá trình biến dưỡng gây kích thích làm con vật ngứa dữ dội Ngứa nhiều con vật gãy bằng chân, dùng răng cắn và cọ sát gây rụng lông và tổn thương da Gãy ngứa để lại những vết thương rồi tương dịch chảy ra, cùng với máu và những mảnh thượng bì khô lại đóng thành các vẩy Ghẻ trên chó cũng lây sang người nhưng ở dạng ghẻ giả (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)

2.3.5 Tác động do Demodex canis

Demodex canis xuất hiện trên chó ở 2 dạng: bệnh dạng khô và dạng mủ

Bệnh dạng khô là thể nhẹ, thường thấy trên trán, mí mắt, 4 chân có biểu hiện rụng lông, da dầy cộm thành màu đỏ sẫm Chó thường gãy ở những chỗ bệnh tích

Bệnh dạng mủ: Biểu hiện có những mụn mủ sưng, đặc màu vàng xám do vi trùng làm mủ ngoài da kế phát gây nên Tại các vùng bệnh tích có biểu hiện rụng lông, da nhăn nheo, lâu ngày các tổ chức chết cùng với các dịch thể lâm ba tiết ra tạo thành các vẩy khô cứng dầy cộm Bệnh nặng có thể toàn thân trụi lông và có mùi hôi tanh khó chịu (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2001)

Bằng các chất dịch trong quá trình chích hút, trao đổi chất hoặc chất thải của chúng đầu độc cơ thể chó Nước bọt của ve gây dị ứng tạo nên nốt đỏ trên da Độc tố của ghẻ ngầm và mò bao lông ức chế sản sinh bạch cầu, ức chế miễn dịch và giảm khả năng thực bào (The Merch Veterinary Manual, 1986)

Trang 35

2.4 Một số thuốc sử dụng trong điều trị

2.4.1 Ivermectin(Ivermec)

Tên chung quốc tế: Ivermectin

Cấu tạo

Ivermectin là một hóa chất thuộc nhóm macrocyclic lactone, sản phẩm của sự lên

men nấm Streptomyces avermirilis Avermectin là hỗn hợp gồm 8 sản phẩm do sự lên men Ivermectin là dẫn suất bán tổng hợp của Avermectin Avermectin là tổng

hợp có 4 thành phần chính

(avermectin A1a, A2a, B1a và B2a) và 4 tiểu phần

(avermectin A1b, A2b ,A1b và B2b), thành phần B1a (22.23 hydro avermectin B1b)

chiếm 20% Nếu thành phần chính của Ivermectin là B1a thuốc có dạng bột trắng, kỵ nước hòa tan trong dung môi hữu cơ, bền ở độ phòng và trong dung dịch không acid nhưng dễ phân hủy dưới tia cực tím

Cơ chế tác dụng

Ivermectin tăng cường phóng thích γ-aminobutyric acid (GABA) từ synap của hệ

thần kinh GABA là chất dẫn truyền thần kinh, được tổng hợp từ glutamate nhờ men

glutamic acid decarboxylase Kích hoạt GABA làm tăng sự vận chuyển Cl‾ và tế

bào hình thành điện thế ức chế sau synap làm ngăn chặn sự dẫn truyền thần kinh Ở giun tròn vị trí bị tác động là synap gian thần kinh và thần kinh vận động, ngược lại

ở động vật chân đốt là nơi tiếp giáp giữa thần kinh và cơ Kết quả là ký sinh bị tê

liệt, mềm nhũng Sau khi chết giun sẽ bị tống ra ngoài Ở động vật hữu nhũ, GABA

là chất trung gian dẫn truyền thần kinh nhưng chỉ giới hạn ở thần kinh trung ương,

vì ivermectin không thể qua được rào chắn của mạch máu não nên loài hữu nhũ

không bị ảnh hưởng của thuốc (Huỳnh Kim Diệu, 2008)

Hình 11: Công thức hóa học Ivermectin

( http://.google.com.vn/images )

Trang 36

Dược động học

Dược động học của ivermectin phụ thuộc vào thành phần chính của thuốc, đường

cấp thuốc và từng loài động vật Với liều 300mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch, thời

gian bán hủy ở chó là 1,6-1,8 ngày Dung dịch ivermectin chứa 1% (tá dược thường

là propylene glycol và glucerol) thường được sử dụng tiêm dưới da cho trâu bò,

cừu, heo, chó Thông thường liều sử dụng cho tất cả các loài động vật là 0,3mg/kg

Phổ kháng sinh

Ivermectin có tác động cả ngoại và nội ký sinh, đặc biệt là giun tròn và chân đốt,

không có tác dụng với sán dây, sán lá và nguyên bào Thuốc có tác dụng hầu hết với giun tròn đường ruột, giun phổi và ngoại ký sinh trùng ở trâu bò, heo ghẻ tai và

Sarcoptes ở chó Ivermectin không ảnh hưởng đến giun tim trưởng thành ở bất kỳ

liều dùng nào Thuốc cấp cho chó mẹ 10 ngày trước và sau khi sinh con với liều

0,5mg/kg tiêm dưới da, ngăn ngừa 100% Toxocara canis và Ancylostoma caninum

truyền qua sữa đầu sang con Nhiều động vật chân đốt ký sinh ở chó, mèo nhạy cảm

với ivermectin Liều 0,3mg/kg cấp 2 lần cách nhau 2 tuần có hiệu quả với

Sarcoptes, Pneumonyssus canium và Cheyletiella Với Demodex phải dùng liều

0,6mg/kg lập lại 5 lần, mỗi lần cách 7 ngày

Độc tính và độ an toàn

Nếu tăng gấp 10 lần so với liều điều trị ivermectin vẫn an toàn đối với loài nhai lại,

ngựa và chó Triệu chứng cấp tính thể hiện sự ức chế thần kinh trung ương Mất phản xạ, nằm liệt một bên Thú có thể chết nếu tiêm bắp với liều 60 lần đối với ngựa, liều 100 lần đối với heo và tiêm dưới da 40 lần đối với trâu bò Liều uống trên 20mg/kg có thể xuất hiện triệu chứng rung cơ, ức chế, co giật, hôn mê và chết đối với chó thí nghiệm Thuốc an toàn cho thú giống cũng như thú mang thai, không ảnh hưởng đến sự sinh tinh và sự phát triển của bào thai

Trang 37

2.4.2 Thuốc Taktic (Amitraz, Diagram)

Taktic là loại thuốc do hãng Hoechst Roussel của Đức sản xuất, trong 1gram có

chứa 0,125 gram Amitraz

Taktic là một chế phẩm dưới dạng nhũ tương, là một hóa dược trị ký sinh trùng gia súc

Cơ chế tác dụng

Ức chế men monoamine oxidase có vai trò trong sự chuyển hóa amine hiện diện trong ngoại thần kinh của ngoại ký sinh trùng, gây ra tác động adrenergic Amitraz cũng làm tăng lượng glucose trong máu Thuốc phân tán khắp cơ thể, đặc biệt là

trên da và lông, gây chết ngoại ký sinh (Huỳnh Kim Diệu, 2010)

Amitraz có hoạt lực chống các ngoại ký sinh trùng như ve, rận, ghẻ ở trâu, bò, dê,

cừu, chó, mèo,… Thuốc có tác dụng cả ký sinh trùng trưởng thành và các ấu trùng của chúng

Cách dùng

Thường pha thành dung dịch với nồng độ 0,025%, liều cho phép dao động 0,1% Thuốc không gây ngộ độc ở liều cho phép Đối với chó trị ve, bọ chét, rận, ghẻ,… pha 1 lít thuốc hòa tan từ 250-500 lít nước dùng để tắm, nếu phun lên mình thì pha 2-4 ml thuốc hòa tan 1 lít nước (Nguyễn Phước Tương và Trần Diễm Uyên, 2000)

0,005-Chú ý khi sử dụng taktic trong điều trị ngoại ký sinh trùng ở những khu vực có

nhiều ve, có thể nâng liều lên 2ml thuốc/1 lít nước

Nếu cần điều trị dứt điểm một lần thì có thể dùng liều cao với 40 ml thuốc/lít nước Dụng cụ sử dụng như: chậu, khay, bàn chải,…phải được sát trùng bằng nước sôi

hoặc ngâm thuốc sát trùng Cresyl rồi đem giũ, rửa nước sạch, phơi khô để lần sau

Trang 38

Nếu điều trị dài ngày (trong 10 ngày liền thì dùng liều 2,5 thuốc/1lít nước)

Khi tắm thuốc xong 4 ngày sau mới được tắm thú

Nước thuốc tắm thú còn dư không được đổ xuống ao hồ

2.4.3 Thuốc Frontline spray (Fipronyl)

Cơ chế tác động

Thuốc fipronyl tác động đến bên trong tế bào thần kinh trên GABA bằng cách điều khiển sự đóng mở dòng Cl‾ Thuốc bao vây kênh lingand tự nhiên GABA mở kênh, đồng thời có tác dụng bên trong bằng cách cạnh tranh hay che lấp các receptor nhận

Frontline spray là một nhóm thuốc diệt trùng, nó chứa chất Fipronil có hiệu quả

chống ngoại ký sinh trùng trên chó Frontline spray có thể lưu trữ một thời gian trên

da, lông chó Do đó khi ve, bọ chét và rận tiếp xúc với da, lông chó đã xịt Frontline

sẽ bị tiêu diệt Frontline spray tác dụng một cách đặc biệt lên hệ thần kinh của ve,

rận, bọ chét làm chúng tê liệt và chết

Xịt thuốc Frontline spray với liều 3-6ml/kg thể trọng (tùy vào chiều dài của lông),

trước khi xịt nên chọn nơi thoáng khí, giữ chó cố định và làm ướt lông, dùng lược

chải ngược chiều lông, xịt Frontline spray theo chiều chải, lên toàn thân Chú ý ở vùng mặt chó không nên xịt mà dùng tay thoa với Frontline spray chó ướt lông

tránh vào miệng và mắt chó; trong thời gian 48 giờ trước và sau khi xịt thuốc không được tắm hoặc chải lông chó ngay sau khi xịt thử

Lặp lại 2 tháng đối với bọ chét, rận; 1 tháng đối với ve

Hình 13: Công thức hóa học Fipronyl

( http://.google.com.vn/images )

Trang 39

Penicillin G là dạng bột kết tinh trắng rất hòa tan trong nước, không hòa tan trong

dầu ở trạng thái khô Penicillin trong lọ kính bền vững ở nhiệt độ thường trong 3

năm, ít độc, khi tiêm hoặc uống thấm sâu vào cơ thể và chỉ lưu lại chậm nhất trong

cơ thể 4 giờ, bài tiết qua thận

Là những kháng sinh diệt khuẩn nhất là những vi khuẩn trong thời kỳ phân chia và phát triển nhanh

Streptomycin

Là một kháng sinh chiết suất từ vi nấm Streptomycin Griseus do Waksan và cộng sự

tìm ra vào năm 1944 (Ông được giải Nobel vào năm 1952)

Streptomycin là một loại bột trắng vàng, hòa tan trong nước, bền vững ở nhiệt độ

thường ở trạng thái khô, các dung dịch thuốc giữ được tác dụng trong 1 tuần Dung dịch bị sẫm màu khi gặp ánh sáng nhưng không bị giảm hiệu lực

Độc tính của thuốc tương đối cao hơn các loại kháng sinh khác, khi quá liều thuốc

có thể gây rối loạn cơ-thần kinh, liệt hô hấp,…

Vitamin A: Sau khi chích bắp thuốc theo máu về trữ ở gan và một phần ở mô mỡ và

gan sau đó phóng thích vào máu theo nhu cần sinh lý của cơ thể dưới tác dụng

Tăng tổng hợp Mucopolysacharide cho việc bày tiết chất nhầy ở các tế bào biểu mô

trên niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp và sinh dục để chống hiện tượng nhiễm trùng gây tổn thương niêm mạc

Trang 40

Tăng tổng hợp Mucoprotein chống sừng hóa các tế bào đường tiêu hóa, hô hấp, sinh

dục, mắt, da Để chống nhiễm trùng xâm nhập qua đường niêm mạc và da Đồng thời tăng khả năng đậu thai

Chống hiện tượng mù mắt do thiếu vitamin A làm khô mắt, teo giác mạc nhãn cầu

và đục giác mạc

Chống hiện tượng teo dịch hoàn, teo buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung gây sừng hóa các biểu mô ở đường sinh dục

Vitamin D 3 : Khi chích bắp thuốc được hấp thu rất tốt qua máu tích tụ ở gan, thận,

ruột, xương, tuyến thượng thận và được hấp thu vào cơ thể theo nhu cầu sinh lý

Trong máu được gắn vào Glucobin và Albumin, 50% được bày tiết qua thận nhưng được hấp thu một phần Tác dụng chính của vitamin D 3 là:

Tăng cường xúc tiến việc hấp thu Ca, Mg, P từ thức ăn vào cơ thể (vitamin D) kích thích tế bào ruột tổng hợp Enzim để vận chuyển Ca++ qua thành ruột

Giúp cho nguyên liệu Ca ++ tác động lên P để tạo nên xương mới, chống còi xương

và chuyển nguyên liệu Ca ++ để tạo nên vỏ trứng cho gà đẻ để chống đẻ non

Vitamin E: Khi chích bắp thuốc được hấp thu vào máu và gắn kết với β1 Lipoprotein phân phối hầu hết ở các mô Thuốc được bày tiết qua gan và nước tiểu

dưới dạng acid tocopheronic, Lactone hoặc Glucoronids Ở trong cơ thể vitamin E

có tác dụng:

Chống hiện tượng nhũng não, trắng cơ, teo ống dẫn tinh và chết thai (đối với con

cái) vì vitamin E làm lưu thông các mạch quản cung cấp máu tới não, bắp cơ, bào

thai và ống dẫn tinh làm cho các bộ phận trong cơ thể hoạt đồng bình thường

Liều dùng đối với chó: 1ml/10kg thể trọng, tiêm bắp hoặc dưới da

Ngày đăng: 12/04/2018, 02:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w