1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH và MEN TIÊU hóa TRONG KHẨU PHẦN THẤP đạm để NUÔI vịt THỊT GIAI đoạn 21 – 56 NGÀY TUỔI

53 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Một thí nghiệm được thực hiện tại nông hộ tỉnh Đồng Tháp đầu năm 2013 để đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học, men vi sinh và men tiêu hóa BIOBACILACZYM, trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH VÀ MEN TIÊU HÓA TRONG KHẨU PHẦN THẤP ĐẠM ĐỂ NUÔI VỊT THỊT GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y

Cần Thơ, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SHƯD

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y

Tên đề tài

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH VÀ MEN TIÊU HÓA TRONG KHẨU PHẦN THẤP ĐẠM ĐỂ NUÔI VỊT THỊT GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI

Giáo Viên Hướng Dẫn Sinh Viên Thực Hiện

PGS.TS Bùi Xuân Mến Phan Hoàng Đông

MSSV: LT11002

Lớp: CNTY – K37

Cần Thơ, 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SHƯD

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI - THÚ Y

Tên đề tài

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM MEN VI SINH VÀ MEN TIÊU HÓA TRONG KHẨU PHẦN THẤP ĐẠM ĐỂ NUÔI VỊT THỊT GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI

Ngày……….tháng………năm 2013 Ngày…… tháng…….năm 2013 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN DUYỆT CỦA BỘ MÔN

PGS TS Bùi Xuân Mến

Ngày…………tháng……… năm 2013 DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực không sao chép các đề án khác, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013

Sinh viên thực hiện

Phan Hoàng Đông

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Trường Đại học Cần Thơ - những người đã dìu dắt và giúp đỡ tôi trong suốt những năm học vừa qua Những công ơn ấy chúng tôi sẽ không bao giờ quên và mãi mãi khắc ghi trong lòng, cho

dù đến nơi đâu thời gian có trôi qua thế nào thì chúng tôi luôn nhớ đến thầy cô

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Bùi Xuân Mến – người

đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Sự giúp đỡ tận tình, những lời khuyên bổ ích và những góp ý của thầy đối với bản luận văn là động lực lớn giúp tôi hoàn thành đề tài của mình

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè – những người luôn bên tôi những lúc khó khăn nhất, luôn động viên tôi, khuyến khích tôi trong cuộc sống và trong công việc Nhất là gia đình tôi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện

đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 6

MỤC LỤC

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT THỊT CỦA VỊT 2

2.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt 2

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính ngon miệng và sự tiêu thụ thức ăn 4

2.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HOÁ CỦA VỊT 5

2.2.1 Mỏ và xoang miệng 5

2.2.2 Thực quản và diều 6

2.2.3 Dạ dày và ruột 7

2.2.4 Tiêu hoá thức ăn 9

2.3 MỘT SỐ GIỐNG VỊT THỊT HIỆN NUÔI Ở VIỆT NAM 11

2.3.1 Vịt CV Super M 11

2.2.2 Vịt ta 12

2.2.3 Vịt M14 12

2.4 MỘT SỐ KỸ THUẬT NUÔI CƠ BẢN 13

2.4.1 Chuẩn bị chuồng trại và dụng cụ nuôi 13

2.4.2 Chăm sóc, nuôi dưỡng: 13

2.4.3 Phòng bệnh cho vịt 14

2.5 MỘT SỐ LƯU Ý VỀ KỸ THUẬT CHĂN NUÔI VỊT HIỆN NAY 14

2.6 TÁC DỤNG CỦA CHẾ PHẨM TRỢ SINH 15

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 17

3.1.1 Chuồng trại 17

3.1.1.1 Vị trí và hướng chuồng 17

3.1.1.2 Vật liệu trang thiết bị chuồng nuôi 18

3.1.2 Thức ăn 18

3.1.3 Vật liệu thí nghiệm 19

3.1.5 Dụng cụ thí nghiệm 21

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 21

3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 22

3.2.2.1 Chỉ tiêu tăng trưởng 22

3.2.2.2 Tiêu tốn thức ăn 22

3.2.2.3 Hệ số chuyển hóa thức ăn 22

3.2.2.4 Chi phí thức ăn sản xuất 23

3.2.3 Thu thập số liệu và phương pháp xử lý số liệu 23

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VỀ TĂNG KHỐI LƯỢNG CỦA VỊT THÍ NGHIỆM 24

4.2 TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA VỊT THÍ NGHIỆM 26

4.3 HỆ SỐ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN CỦA VỊT THÍ NGHIỆM 27

4.4 CHI PHÍ THỨC ĂN SẢN XUẤT 30

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32

Trang 7

5.1 KẾT LUẬN 32 5.2 ĐỀ NGHỊ 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình 3.1 Vị trí và hướng xây dựng chuồng 17

Hình 3.2 Thức ăn dùng trong thí nghiệm 18

Hình 3.3 Chế phẩm sinh học dùng trong thí nghiệm 20

Hình 3.4 Vịt con thí nghiệm ở các giai đoạn úm 20

Hình 3.5 Vịt được bố trí trong các nghiệm thức thí nghiệm 21

Hình 4.1: Vịt thí nghiệm lúc 50 ngày tuổi 30

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn cho vịt thịt thương phẩm 2

Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt 3

Bảng 2.3: Nhu cầu nước uống trung bình của vịt 4

Bảng 2.4: Độ dài các đoạn ruột được phân chia trong đường tiêu hóa vịt 9

Bảng 2.5: Một số enzym phát hiện thấy trong ống tiêu hóa gia cầm 10

Bảng 2.6: Năng suất của vịt Bắc Kinh lai vịt Bầu 12

Bảng 2.7: Khả năng sản xuất thịt của vịt M14 thương phẩm 13

Bảng 2.8: Lịch phòng bệnh cho vịt bằng vaccine 14

Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn dùng trong thí nghiệm 19

Bảng 3.2: Thành phần của vật liệu dùng trong thí nghiệm 19

Bảng 4.1: Kết quả tăng trọng của vịt ở các nghiệm thức thí nghiệm 24

Bảng 4.2: Lượng thức ăn tiêu tốn của vịt ở các nghiệm thức thí nghiệm 26

Bảng 4.3: Kết quả hệ số chuyển hóa thức ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm 27

Bảng 4.4: Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng ở các nghiệm thức thí nghiệm 31

Trang 11

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Tăng trọng hàng ngày của vịt ở các nghiệm thức thí nghiệm 25 Biểu đồ 4.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn của vịt ở các nghiệm thức thí nghiệm 29

Trang 12

TÓM LƯỢC

Một thí nghiệm được thực hiện tại nông hộ tỉnh Đồng Tháp đầu năm 2013 để đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học, men vi sinh và men tiêu hóa BIOBACILACZYM, trong khẩu phần lên khả năng sinh trưởng của vịt thịt giai đoạn từ sau khi úm 21 ngày đến lúc kết thúc 56 ngày tuổi Thí nghiệm gồm có 4 nghiệm thức thức ăn và được lặp lại 3 lần Các nghiệm thức thí nghiệm gồm: (1) vịt được ăn khẩu phần hỗn hợp chứa 13% protein và 2700 kcal/kg, (khẩu phần đối chứng, NTĐC), (2) Khẩu phần (1) của vịt được bổ sung 0,2% chế phẩm được khuyến cáo (NT1), (3) Khẩu phần (1) được bổ sung 0,4% chế phẩm (NT2), và (4) Khẩu phần (1) được bổ sung 0,6% chế phẩm (NT3) Vịt trong tất cả các nghiệm thức được ăn tự do theo đợt cấp thức ăn trong ngày và được quản lý theo quy trình chăn nuôi an toàn sinh học

Kết quả đạt được sau thí nghiệm chỉ cho thấy vịt tiêu thụ tốt thức ăn có hàm lượng protein và năng lượng thấp, cũng như có hay không có bổ sung chế phẩm men vi sinh

và men tiêu hóa Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày của vịt không có sự khác biệt giữa vịt ăn khẩu phần không có bổ sung chế phẩm hay có bổ sung các mức chế phẩm khác nhau trong khẩu phần

Vịt ăn khẩu phần có bổ sung 0,4 – 0,6% chế phẩm sinh học men vi sinh và men tiêu hóa trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp đã đạt được khối lượng cơ thể lúc kết thúc và tăng khối lượng cơ thể hàng ngày tốt hơn (P<0,001) và hiệu quả chuyển hóa thức ăn tốt hơn (P<0,001) so với vịt ở nghiệm thức được ăn khẩu phần không có bổ sung chế phẩm (NTĐC) và nghiệm thức bổ sung 0,2% chế phẩm (NT1)

Chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng khối lượng cơ thể ở vịt được ăn khẩu phần bổ sung 0,4 – 0,6% chế phẩm sinh học men vi sinh và men tiêu hóa được giảm xuống từ 3,3 đến 5,3% so với vịt ăn khẩu phần cùng thức ăn hỗn hợp nhưng không có bổ sung chế phẩm sinh học

Trang 13

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các loại thực phẩm thì thịt chiếm vai trò quan trọng, vì nó cung cấp các thành phần chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển về thể lực và trí tuệ của con người Nguồn thịt cung cấp chủ yếu ở nước ta hiện nay là thịt heo và gia cầm, trong đó thịt và trứng vịt chiếm vai trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của người tiêu dùng, đặc biệt

là người lao động nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long

Từ nhu cầu đó mà nhiều bà con chăn nuôi đã tiến hành chăn nuôi vịt thịt nhưng chỉ với qui mô nhỏ lẻ và tự phát, chưa áp dụng nhiều khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi Trong khi đó chăn nuôi vịt thịt là phải đảm bảo hai yêu cầu là tăng trọng của vịt và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, hiện nay trong nông dân nuôi vịt thịt vẫn theo cách thức tự cung tự cấp, tức là có thức ăn gì thì tận dụng cho vịt ăn, với lý do là để giảm chi phí thức ăn trong đầu tư cho chăn nuôi Ngoài ra, theo cơ chế thị trường, nhiều nhà sản xuất thức ăn

đã đưa ra nhiều loại thức ăn có giá thành thấp để hấp dẫn thị hiếu của người chăn nuôi

là thấy rẻ thì sẽ mua nhằm giảm chi phí sử dụng mà ít quan tâm đến chất lượng cũng như thành phần dinh dưỡng trong thức ăn để đáp ứng nhu cầu tối ưu của vật nuôi Với cách thức này nó không đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi do sử dụng thức ăn có mức đạm thấp, vật nuôi không tăng trọng nhanh, thời gian nuôi kéo dài, làm tốn hao thêm công chăm sóc, phát sinh nhiều bệnh và làm ô nhiễm môi trường

Để góp phần cho người chăn nuôi vịt thịt đạt được hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng tăng trọng nhanh thì việc giúp người chăn nuôi ở nông hộ tiếp cận với những tiến bộ khoa học, để áp dụng vào sản xuất theo hướng bền vững và an toàn sinh học là rất cần thiết

Vì vậy, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Sử dụng men vi sinh và men tiêu hóa trong khẩu phần thấp đạm để nuôi vịt thịt giai đoạn 21 – 56 ngày tuổi” được thực hiện trong mùa khô 2013 tại hộ sản xuất nông nghiệp của huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp Mục đích của đề tài là đánh giá việc sự sử dụng men vi sinh và men tiêu hóa trong khẩu phần của vịt thịt có làm tăng khả năng về tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn có được cải thiện hay không và từ đó có mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi vịt ở nông hộ hay không

Trang 14

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT THỊT CỦA VỊT

Vịt là loài rất dễ nuôi, chúng có tốc độ lớn nhanh nhất so với các giống gia cầm khác Nuôi từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi vịt đã lớn gấp 40 – 45 lần Một con vịt mái có thể sản xuất được 100 – 150 kg thịt trong một năm (Hoàng Văn Tiệu, 2004) Chúng ta chỉ cần nuôi vịt thịt đến 2 tháng tuổi là bán thịt được Vì vậy, có thể quay vòng sản xuất nhanh

và cho nhiều sản phẩm trên một đơn vị thời gian

2.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt

Căn cứ vào tốc độ sinh trưởng của vịt, người ta chia quá trình nuôi dưỡng chúng thành hai giai đoạn có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, đó là:

Giai đoạn vịt con úm (0 – 2 tuần tuổi), vịt được cho ăn khẩu phần chứa 3000 kcal NLTĐ/kg và 22% protein

Giai đoạn vịt sau úm đến kết thúc 3 – 8 tuần tuổi (vịt dò), nuôi vịt với khẩu phần chứa

3100 kcal NLTĐ/kg và 17% protein

Do có đặc điểm lớn nhanh nên vịt thịt có nhu cầu khắt khe về dinh dưỡng, đối với những giống vịt thịt cao sản cần chú ý bổ sung khoáng, nếu thiếu hụt dinh dưỡng sẽ gây ra một số bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thịt, vịt cũng rất dễ bị nhiễm độc nấm mốc do thức ăn bị ẩm hay từ chất độn chuồng nhiễm nấm mốc (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2002)

Vịt rất cần nước uống, đặc biệt là trong bữa ăn, ta cần chú ý cung cấp nước sạch và thường xuyên cho vịt, khi cho ăn cần để máng nước bên cạnh (Lê Hồng Mận và Bùi Đức Lũng, 2003) Bảng 2.1, 2.2 và 2.3 dưới đây chỉ cho thấy nhu cầu dinh dưỡng và nước uống hàng ngày cho vịt thịt thương phẩm

Bảng 2.1: Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn cho vịt thịt thương phẩm

Tuần tuổi Protein,% Năng lượng trao đổi, kcal/kg

5 – giết thịt 18 – 19 3000 – 3200

Hoàng Văn Tiệu (2004)

Trang 15

Bảng 2.2: Nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt

Loại vịt Thành phần dinh dưỡng Đơn vị

0 – 2 tuần tuổi Sau 2 tuần tuổi

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002)

* Năng lượng trao đổi

Trang 16

Bảng 2.3: Nhu cầu nước uống trung bình của vịt

Tuổi vịt (ngày) Lượng nước trung bình (ml/con/ngày)

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính ngon miệng và sự tiêu thụ thức ăn

Sự tiêu thụ thức ăn của gia cầm phụ thuộc rất nhiều yếu tố, có thể chia thành 3 nhóm yếu tố chính sau đây: Yếu tố thức ăn, yếu tố cơ thể và yếu tố môi trường

Yếu tố thức ăn

Cấu trúc vật lý của thức ăn: màu sắc và ánh sáng; độ lớn và độ cứng mềm của thức ăn

có liên quan đến sự tiêu thụ thức ăn Gia cầm quen ăn loại thức ăn truyền thống của

nó, cơ quan thị giác rất phát triển Nó có khả năng phát hiện, phân biệt được thức ăn bởi màu sắc, hình dạng, độ lớn của thức ăn Bên cạnh đó thức ăn dập viên với kích cỡ phù hợp theo tuổi và độ lớn của gia cầm thì gia cầm sẽ thích ăn và ăn được nhiều hơn Thành phần hoá học của thức ăn: Thức ăn hỗn hợp được pha trộn với nhiều loại theo

tỷ lệ tính toán sao cho đảm bảo được sự cân bằng các chất dinh dưỡng đáp ứng đủ cho nhu cầu của gia cầm, không thừa cũng không thiếu Đây là cách đảm bảo tốt nhất

để duy trì tính ngon miệng bền vững đối với gia cầm Chỉ có như vậy gia cầm mới ăn được nhiều, lớn nhanh, sản xuất tốt và thể chất khỏe mạnh Mặt khác thức ăn cần được bảo quản tốt, giữ được mùi tự nhiên của nguyên liệu Không bị ẩm và mốc, không bị nhiễm độc chất cũng là yếu tố quan trọng để tạo tính ngon miệng tốt cho gia cầm

Yếu tố cơ thể

Khả năng vị giác của gia cầm: sự ngon miệng của thức ăn còn chịu ảnh hưởng bởi khả năng vị giác của gia cầm Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm cấu tạo của giống và loài Lưỡi gia cầm được bao bọc bởi một lớp keratin dầy ở mặt trên Sự phân

bố nụ thần kinh vị giác rất thưa thớt, vì thế khả năng vị giác của gia cầm kém hơn nhiều so với động vật có vú Gia cầm phân biệt vị ngọt tinh vi hơn người Đối với vị

Trang 17

chua gia cầm cũng rất nhạy cảm, không thích thức ăn bị lên men chua Riêng vị đắng gia cầm khó phân biệt được

Tình trạng sức khỏe và sức sản xuất: gia cầm khỏe mạnh (không mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng, không bị nghẽn mề do ăn dây thun, ăn lông) thì có tính ngon miệng cao với thức ăn Ở giống gia cầm có sức sản xuất cao thì tính ngon miệng với thức ăn càng lớn và ngược lại

Nhiệt độ môi trường

Môi trường nhiệt độ mát mẻ, ở vùng nhiệt độ trung hòa, không quá nóng cũng không lạnh quá thì gia cầm có tính ngon miệng nhất đối với thức ăn Khí hậu vào mùa hè và mùa khô nhiệt độ chuồng nuôi thường cao vào khoảng 30 – 35oC, gia cầm có tính ngon miệng đối với thức ăn rất thấp, thường uống nhiều nước, ăn ít thức ăn Cần cho gia cầm ăn vào lúc trời mát, cần có biện pháp để làm hạ nhiệt độ chuồng Có như vậy gia cầm mới ăn hết khẩu phần ăn để sản xuất bình thường

2.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU HOÁ CỦA VỊT

Các cơ quan tiêu hóa ở gia cầm được thích ứng với việc tiêu hóa các thức ăn khác nhau như thức ăn có nguồn gốc thực vật cũng như động vật Để tổ chức việc cho ăn một cách thích hợp, cần phải tính đến sự đi qua rất nhanh của thức ăn qua các cơ quan tiêu hóa ở gia cầm và cường độ làm việc của toàn bộ của bộ máy tiêu hóa Những hỗn hợp thức ăn đem sử dụng cần phải được cấu tạo với sự tính toán về tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm Cấu tạo tổng quát bộ máy tiêu hóa của gia cầm bao gồm các bộ phận chủ yếu sau đây là mỏ, xoang miệng, thực quản, diều, dạ dày và ruột

2.2.1 Mỏ và xoang miệng

Mỏ

Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, mỏ được bao bọc bởi một lớp sừng cứng, có cấu tạo đặc biệt; hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài chim và gia cầm đều rất khác nhau tùy theo loài

Ở vịt có mỏ dài và dẹp, đầu mỏ có mấu cứng như móng tay, rìa mỏ có khía cho nước thoát ra khi chúng lấy thức ăn trong nước Đường rãnh mỏ trên có thêm những răng nhỏ bằng sừng hoặc những miếng nhỏ dùng để lọc nước đi qua và cắn đứt rau cỏ Trong chất sừng của mỏ có rất nhiều đầu dây thần kinh bao bọc, có chạc ba, những đầu này được gọi là các tiểu thể xúc giác Dây thần kinh còn có ở trên vòm miệng cứng và dưới lớp biểu bì của lưỡi có vai trò không những lấy thức ăn mà còn điều khiển sự phát triển của mỏ phù hợp với lý tính của thức ăn thay đổi theo tuổi phát triển của vịt Ở những con cái phần sừng ở mỏ trên thường có màu sắc rực rỡ hơn ở những con đực

Trang 18

Xoang miệng

Trong xoang miệng có lưỡi và một hệ thống tuyến nước bọt, lưỡi nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Trên bề mặt phía trên của lưỡi

có những răng rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng Chúng có khả năng giữ khối thức

ăn trong miệng và đẩy chúng về phía thực quản Theo mép viền của lưỡi có những lông cứng và kim bằng sừng, những lông cứng và kim này cùng với những tấm nhỏ bên cạnh nằm ngang ở mỏ có tác dụng giữ thức ăn lại khi lọc nước

Về mặt giải phẫu, hệ thống tuyến nước bọt có thể phân biệt làm 8 loài tuyến khác nhau: Tuyến hàm trên, tuyến cạnh lỗ mũi, tuyến trên hầu, tuyến giữa miệng và hầu, tuyến sau xoang miệng, tuyến dưới lưỡi, tuyến trước thanh quản, tuyến khóe miệng

Hệ thống tuyến nước bọt này phân tiết ra một lượng lớn nước bọt biến động từ 7 đến

25 ml, tùy theo tính chất và lượng thức ăn ít hay nhiều, độ pH khoảng 6 đến 7,5, tác dụng chủ yếu của tuyến nước bọt chủ yếu là làm trơn để dễ nuốt thức ăn (Dương Thanh Liêm, 2004)

Diều

Thực quản của vịt có khả năng giãn nở dọc theo khắp chiều dài (diều giả)

Diều có những chức năng sinh lí quan trọng là dự trữ và điều tiết lượng thức ăn đi vào ống tiêu hóa, diều còn tiết ra dịch diều để thấm ướt làm mềm thức ăn, chuẩn bị cho tiêu hóa ở dạ dày sau này Thức ăn để nguyên hạt ở trạng thái khô và cứng nằm sẽ trong diều lâu hơn, có thể đến 18 giờ, ngược lại thức ăn dạng bột có thể chỉ từ 1,5 đến

2 giờ Điều này cho thấy sẽ có liên quan nhiều đến qui trình kỹ thuật qua các giai đoạn sản xuất của vịt (Dương Thanh Liêm, 2004)

Trong diều gia cầm pH dao động trong khoảng 4,5 đến 5,8 Diều được phân bố các dây thần kinh phế vị Khi kích thích dây thần kinh giao cảm, sự co bóp cơ vách diều cũng như sự co của cơ thắt ở chỗ đi ra của diều cũng bị giảm bớt và yếu đi

Trang 19

2.2.3 Dạ dày và ruột

Dạ dày tuyến

Nằm trước dạ dày cơ, nó có dung tích rất bé Dạ dày tuyến là dạng ống ngắn có vách dày, ống được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhầy, cơ và màng mô liên kết Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy rất đậm và liên tục

Thức ăn từ diều rơi vào dạ dày tuyến, thời gian thức ăn dừng lại ở đây cũng rất ngắn

Ở đây có các tuyến tiết ra HCl và enzyme pepsin để bắt đầu tiêu hóa protein

Trong dạ dày tuyến có nhiều mụt nhỏ, mắt thường có thể nhìn thấy đó là cửa đổ ra của các ống tuyến dịch vị Trong nang tuyến cũng có hai loại tế bào, một loại thật to tiết ra HCl và một loại nhỏ tiết ra pepsinogen Thức ăn đi qua đây được thấm ướt bởi dịch vị

và tiếp tục được chuyển xuống dạ dày cơ (mề) để tiêu hóa tiếp Một khi dạ dày tuyến bị tổn thương như bệnh dịch tả, gumboro thì khả năng tiêu hóa protein cũng giảm

Dạ dày cơ

Dạ dày cơ có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở phía cạnh Nó nằm phía sau thùy trái gan và chuyển nhiều hơn về nửa trái khoang bụng So với dạ dày tuyến thì dạ dày cơ có dung tích lớn hơn, trong niêm mạc dạ dày cơ có lót bởi lớp tế bào sừng hóa rất cứng để chống lại sự va đập, xây xát khi mề nghiền thức ăn, phần dưới lớp tế bào này là lớp tế bào tăng sinh để thay thế cho lớp tế bào thượng bì bên trên bị bào mòn Trên bề mặt của lớp tế bào này có nhiều gai nhỏ nhô lên, làm cho niêm mạc trở nên nhám Những gai nhỏ này được gọi là “răng mề”, mỗi răng mề có một tuyến nhờn rất nhỏ ở bên cạnh Qua khỏi tế bào tăng sinh có mô cơ rất phát triển, màu đỏ sậm Nhờ có hệ thống cơ này giúp cho mề co bóp mạnh, nghiền nát thức ăn chuẩn bị cho tiêu hóa tiếp theo ở ruột

từ gan và 2 tuyến từ tụy tạng) đến chỗ dấu tích của cuống noãn hoàng

Đoạn ruột non cuối (ileum) bắt đầu từ cuống noãn hoàng đến ngã tư manh tràng Dưới tác dụng của các loại enzyme từ dịch vị, dịch ruột, dịch tụy và dịch mật đại bộ phận các chất dinh dưỡng như chất bột đường, protein, lipid được tiêu hóa và hấp thu Những mảnh thức ăn còn cứng chưa được nghiền kỹ được đưa ngược lại dạ dày cơ

Trang 20

mạc ở ruột có màu vàng của mật

Thời gian tiêu hóa ở ruột non khoảng 6 giờ Sự hấp thu dưỡng chất ở ruột non bắt đầu

từ tá tràng, song mạnh nhất ở đoạn không tràng

Sự hấp thu các chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa gia cầm rất khẩn trương điều này thể hiện qua mật độ lông nhung trên cm2 ở ruột non gia cầm rất lớn, chất bột đường tiêu hóa nhanh và hấp thu nhanh ở đoạn trên của ruột non, protein phân giải thành acid amin chậm hơn nên nó được hấp thu nhiều nhất ở đoạn kế tiếp

Ruột già

Được chia làm 3 phần, manh tràng, kết tràng và trực tràng Manh tràng (caecum) có cấu tạo chia nhánh đối xứng rất phát triển, chỗ tiếp giáp giữa ruột non và ruột già có van gọi là van hồi manh tràng để không cho thức ăn đi ngược từ ruột già lên ruột non Ở manh tràng có quá trình lên men vi sinh vật, vì vậy mà một phần chất xơ được tiêu hóa tại đây Song khả năng tiêu hóa chất xơ ở gia cầm rất có giới hạn Ở manh tràng còn có quá trình tổng hợp vitamin B12, vì lẽ đó phân gia cầm trong chất độn chuồng là nguồn cung cấp vitamin B12 rất phong phú

Kết tràng (colon) và trực tràng (rectum): Kết tràng rất kém phát triển nên không thấy

rõ ràng về mặt hình thái như trực tràng Kết tràng có tác dụng nhu động ngược đưa chất chứa lên manh tràng và từ manh tràng xuống trực tràng để đi vào lỗ huyệt Mật

độ lông nhung ở đây rất thưa thớt nên hấp thu các chất dinh dưỡng cũng không nhiều Tuy nhiên, ở đây có quá trình hấp thu chất khoáng và nước tương đối mạnh Ngoài ra,

nó còn hấp thu một số sản phẩm lên men như một số acid hữu cơ mạch ngắn, nhưng

số lượng được xem như không đáng kể

Lỗ huyệt (cloaca)

Lỗ huyệt của gia cầm có cấu tạo gần giống như một cái túi, ở đây gồm có các cửa đổ vào của ruột già, hai ống dẫn niệu, đường sinh dục Phân và nước tiểu được tích tụ và nằm lại ở lổ huyệt một thời gian, ở đây cũng có quá trình hấp thu muối và nước rất mạnh, vì vậy làm cho phân của gia cầm được khô đi Nước tiểu cũng có đọng lại thành muối urat màu trắng ở đầu cục phân Nếu cho gia cầm ăn dư thừa chất đạm thì muối urat sinh ra nhiều làm cho phân màu trắng nhiều, ngược lại cho ăn thiếu đạm thì phân có màu đen nhiều hơn

Trang 21

Bảng 2.4: Độ dài các đoạn ruột được phân chia trong đường tiêu hóa của vịt

Đoạn trên ruột non (Jejunum) 90 – 140

Đoạn dưới ruột non (Ileum) 10 – 18

Dương Thanh Liêm (2003)

Gia cầm có mức độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh bằng những quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn Cường độ và tính tiến triển nhanh của các quá trình tiêu hóa ở gia cầm được xác định bằng tốc độ đi qua rất lớn của khối lượng chất tiêu hóa qua ống tiêu hóa Với chiều dài của ống tiêu hóa ở gia cầm nói chung không lớn, thời gian mà thức

ăn tính từ lúc cho ăn đến khi thải thành phân ở lỗ huyệt, khoảng từ 2,5 giờ đối với gia cầm đang đẻ và 8 – 12 giờ đối với gia cầm không đẻ (Bùi Xuân Mến, 2007)

2.2.4 Tiêu hoá thức ăn

Vịt tiêu hoá ở miệng kém do thiếu men amylase, thức ăn được nuốt thẳng xuống, qua

mề nghiền nát và xuống ruột non Thức ăn hỗn hợp được pha trộn với nhiều loại theo

tỷ lệ tính toán sao cho đảm bảo được sự cân bằng các chất dinh dưỡng đáp ứng đủ cho nhu cầu của gia cầm, không thừa cũng không thiếu là cách đảm bảo gia cầm ăn ngon miệng và tiêu hóa tốt Khả năng tiêu hóa thức ăn của gia cầm phụ thuộc nhiều vào thức

ăn, gia cầm có khả năng tiêu hóa xơ rất thấp, ăn thức ăn có nhiều xơ làm rút ngắn thời gian thức ăn ở lại trong cơ thể, chỉ số chuyển biến thức ăn tăng lên, giảm thấp hiệu quả kinh tế Ngược lại cũng không nên cho ăn thức ăn khó tiêu (như những thức ăn có nhiều tanin) gây táo bón

Tiêu hoá carbohydrate

Sự tiêu hoá và hấp thu của hầu hết các carbohydrate xảy ra ở ruột non Ở đây các enzyme như sucrase và maltase phân cắt carbohydrate thành đường đơn và sau đó là quá trình hấp thu Vùng hấp thu đường lớn nhất là không tràng Các loại đường glucose và galactose được hấp thu theo một cơ chế chuyên chở chủ động Các đường pentose và hexose được hấp thu nhờ sự khyếch tán, một quá trình chậm hơn đáng kể

so với cơ chế chuyên chở chủ động

Trang 22

Tiêu hoá chất béo (lipid)

Chất béo được tiêu hoá và hấp thu chủ yếu ở ruột non, nhưng sự hấp thu đáng kể diễn

ra ở phần phía dưới của ruột non, chất béo được nhũ hoá bởi muối mật và tiếp xúc với các enzyme lipase khác nhau trong tá tràng, tiếp theo bị phân giải thành các monoglyceride và acid béo, các acid béo chuỗi ngắn sau đó được hấp thu trực tiếp vào màng nhày của ruột non, và chuyển đến hệ tuần hoàn cửa Các monoglycerides và các acid béo không hoà tan được nhũ hoá bởi muối mật để hình thành các chuỗi phân

tử Bằng cách gắn vào bề mặt của các tế bào biểu mô, thành phần các chuỗi phân tử có thể được hấp thu vào tế bào Ngay khi ở bên trong các tế bào này, các acid béo chuỗi dài tiếp tục được tái este hoá trở lại để hình thành các triglyceride, các triglyceride kết hợp với cholesterol, lipoprotein và photpholipid dễ hình thành chylomocron, là những giọt mỡ rất nhỏ, những giọt mỡ này sau đó chuyển vào các hệ tuần hoàn bạch huyết

Bảng 2.5: Một số enzym phát hiện thấy trong ống tiêu hóa gia cầm

Lactose

Lipase Trypsine

Tinh bột Lipid Pepton

Glucose Acid béo, glycerin Acid amin

Disacchrase Nucleaze

Trypsinogen Disacchrarid Acid nucleic

Trypsin Monosacchrarid Ribosom, desoxyribose Purin, purimid

Trang 23

Tiêu hoá protein

Sự tiêu hoá protein khởi đầu ở dạ dày tuyến và mề nhưng hầu hết sự tiêu hoá hấp thu protein xảy ra ở ruột non nhờ enzyme của ruột và tuỵ tạng, phân cắt protein thành các axit amin và được hấp thu sau đó Các axit amin được hấp thu rất ít ở đoạn hồi tràng Tốc độ hấp thu protein tuỳ thuộc vào cấu trúc và sự phân cực của chúng nhưng tất cả đều dựa vào quá trình chuyên chở chủ động

Hấp thu muối khoáng và vitamin

Sự hấp thu vitamin xảy ra trên toàn bộ ruột già và ruột non, với tốc độ hấp thu tuỳ thuộc vào một số yếu tố như pH và các chất chuyên chở Hầu hết vitamin được hấp thu trên ruột non trừ vitamin B12 được hấp thu ở phần dưới của ruột non Các vitamin tan trong nước được hấp thu nhanh chóng, các vitamin tan trong dầu mỡ được hấp thu chậm do phụ thuộc vào cơ chế hấp thu dầu mỡ

2.3 MỘT SỐ GIỐNG VỊT THỊT HIỆN NUÔI Ở VIỆT NAM

Vịt có màu lông trắng tuyền, mỏ và chân màu vàng da cam Ngoại hình đặc trưng cho vịt hướng thịt: Thân hình chữ nhật, ngực sâu, rộng, đầu to, lưng phẳng, cổ to dài, chân ngắn và vững chắc Trong chăn nuôi vịt thương phẩm nuôi tập trung, thời gian nuôi thường kéo dài đến 56 ngày tuổi, vịt có thể đạt thể trọng từ 2,8 đến 3,2 kg và có tỷ lệ thịt xẻ từ 74% đến 76% Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra mỗi kg tăng trọng (kg thịt hơi) cần phải cung cấp từ 2,77 kg đến 2,81 kg thức ăn hoặc phải tốn 3,86 kg thức ăn cho 1 kg thịt xẻ

Vịt CV Super M vốn là một giống vịt cao sản, thích hợp với điều kiện chăn nuôi thâm canh tập trung, nhưng trong điều kiện chăn nuôi chăn thả có bổ sung (bán thâm canh) vịt vẫn cho năng suất khá cao, lúc 75 ngày tuổi, vịt đạt khối lượng 2,8 kg đến 3,2 kg Thức ăn bổ sung có mức tiêu tốn cho một kg thịt hơi khoảng từ 1,8 kg đến 2,0 kg Vịt đực CV Super M được sử dụng để lai với các giống vịt hiện đang nuôi ở các địa phương và cho kết quả con lai cũng cho năng suất thịt cao Ở miền Nam, vịt lai CV Super M trong điều kiện chăn nuôi chăn thả, lúc 75 ngày đến 90 ngày tuổi cũng đạt 2,7 kg đến 2,9 kg (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2002)

Trang 24

2.2.2 Vịt ta

Có tên khác là vịt Bầu, nuôi ở các vùng Bắc bộ, thích ứng tốt với điều kiện chăn thả, sinh trưởng khá, vịt chăn thả trên 2 tháng đạt 2 kg đến 2,4 kg, lúc trưởng thành con trống nặng 2,5 kg đến 3 kg, con mái nặng 2 kg đến 2,5 kg Con lai giữa vịt Bắc Kinh và vịt Bầu có năng suất vượt trội hơn vịt Bầu (Đào Đức Long, 2004)

Bảng 2.6: Năng suất của vịt Bắc Kinh lai vịt Bầu

Đào Đức Long (2004)

2.2.3 Vịt M14

Có nguồn gốc từ hãng Grimaud Freres thuộc Cộng hoà Pháp, nhập về Việt Nam năm

2005, là giống chuyên thịt có màu lông trắng, vịt giống có tuổi đẻ 24 tuần tuổi, năng suất 200 – 220 quả/mái/67 tuần tuổi

Vịt thương phẩm nuôi nhốt 56 ngày tuổi hoặc 70 ngày tuổi nuôi chăn thả có khoanh vùng đạt 3 kg đến 3,2 kg, tiêu tốn 2,6 kg đến 2,8 kg thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể (Hoàng Văn Tiệu, 2005)

Một đề tài nghiên cứu khác của Nguyễn Đức Trọng et al (2007), khi cho vịt M14

thương phẩm ăn tự do từ 1 ngày tuổi cho đến giết thịt 7 đến 8 tuần tuổi cho kết quả như trong bảng 2.7

Trang 25

Bảng 2.7: Khả năng sản xuất thịt của vịt M14 thương phẩm

2.4 MỘT SỐ KỸ THUẬT NUÔI CƠ BẢN

2.4.1 Chuẩn bị chuồng trại và dụng cụ nuôi

Diện tích chuồng nuôi thích hợp khoảng 20 m2 cho 100 con vịt nuôi thịt, chuồng nuôi vịt phải cao ráo, thoáng mát, trong những ngày nhiệt độ lên cao thì nên bố trí cho chuồng 2 chiếc quạt thông gió (nếu nuôi với quy mô lớn), nếu không thì ta có thể bố trí nhiều bể tắm cho vịt tắm để giải nhiệt

Các dụng cụ cần cho việc nuôi vịt gồm có: nhiệt kế (1 chiếc); mẹt tre cho ăn với đường kính 0,8-1m; máng uống tròn loại 2 lít; máng ăn loại dài 70cm, rộng 50cm, cao 20cm; máng uống loại 8 lít Ngoài ra, trong chuồng nuôi nên bố trí thêm sân chơi, bể tắm cho vịt

2.4.2 Chăm sóc, nuôi dưỡng:

Có thể chăn nuôi vịt thịt theo 2 phương thức chính:

Chăn thả là chính: Trước khi thả vịt vào chuồng 3 ngày cần cho các chất độn chuồng

như mùn cưa hay vỏ trấu đã được xử lý bằng các chất sát trùng và sưởi ấm ở nhiệt độ 31-32 0C Vịt 1 ngày tuổi chỉ cho uống nước sạch có pha B – Complex + đường glucose 5% + kháng sinh đa giá để chống stress cho vịt do sự thay đổi của ngoại cảnh, tăng cường sức đề kháng và phòng bệnh tiêu chảy cho vịt con hay mắc phải trong giai đoạn này Đến 2-3 ngày tuổi cho vịt ăn bún hoặc cơm nhúng nước, ngoài ra ta có thể dùng TAHH loại tập ăn để cho vịt ăn trong giai đoạn này Mật độ nuôi tuần đầu 40-60 con/m2, sang tuần thứ 2 giảm xuống còn 30-40 con/m2 Tập cho vịt làm quen với nước khi trời ấm >30 0C, cho vịt tắm 5-30 phút và tập ăn rau xanh Từ ngày 16-25 tập cho vịt ăn thêm gạo và lúa ngâm, từ ngày 26 trở đi bắt đầu thả vịt ra ngoài đồng

Trang 26

Nuôi nhốt là chính: Cách chăm sóc cũng tương tự như trên, nhưng chỉ thả vịt ở trong

vườn và tắm ở bể (mỗi ngày thay nước 1-2 lần), cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn đã được chế biến sẵn (TAHH), hay tự trộn từ các thực liệu như bắp, tấm, cám bột cá nhưng cần phải đảm bảo đầy đủ thành phần dưỡng chất để đáp ứng nhu cầu phát triển của vịt

2.4.3 Phòng bệnh cho vịt

Vịt là loài vật nuôi có sức chống chịu bệnh tật giỏi, mau lớn, năng suất cao, nhưng chúng cũng có khả năng mắc một số bệnh nguy hiểm và có nguy cơ lan thành dịch lớn Ngoài công tác vệ sinh sát trùng định kì, người chăn nuôi cũng nên thực hiện tốt công tác tiêm chủng phòng bệnh cho vịt

Bảng 2.8: Lịch phòng bệnh cho vịt bằng vaccine

Cúm gia cầm H 5 N 1 2 tuần tuổi 6 tuần tuổi 6 tháng

Bùi Xuân Mến (2003)

2.5 MỘT SỐ LƯU Ý VỀ KỸ THUẬT CHĂN NUÔI VỊT HIỆN NAY

Về giống

Giống nội: Ở các địa phương khuyến khích các trung tâm, công ty, trang trại nông

hộ đầu tư mở rộng trại nuôi các giống nội, chọn lọc nâng cao năng suất giống bản địa, cung cấp giống cho chăn nuôi, tránh đồng huyết, cận huyết Các cơ sở giống trung ương đầu tư nghiên cứu, phát triển các giống bản địa để cung ứng gà, vịt bố mẹ cho các trang trại nhân giống

Giống ngoại: Nhập nội giống ông bà, bố mẹ các giống gia cầm có năng suất cao và còn thiếu để cung cấp giống thương phẩm cho nhu cầu chăn nuôi

Sử dụng các tổ hợp lai phù hợp giống ngoại với giống nội… ở từng vùng đạt năng suất cao

Về công nghệ chuồng trại

Chuồng trại chăn nuôi được quy hoạch, thiết kế phù hợp với điều kiện vùng sinh thái đảm bảo gia cầm sinh trưởng, sinh sản tốt, thuận lợi cho quản lý và thực hiện các giải pháp an toàn sinh học Nhất thiết phải có hệ thống xử lý môi trường và vệ sinh phòng bệnh thú y

Áp dụng kiểu chuồng thích hợp thông thoáng tự nhiên, chuồng kín thông thoáng nhân

Ngày đăng: 12/04/2018, 02:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm