1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỬ DỤNG các mức PROTEIN KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN NUÔI úm vịt CON SIÊU THỊT LAI GIAI đoạn từ 1 đến 28 NGÀY TUỔI

49 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 5,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢCThí nghiệm “Sử dụng các mức protein khác nhau trong khẩu phần nuôi úm vịt con Siêu thịt lai giai đoạn từ 1 đến 28 ngày tuổi” được thực hiện tại nông hộ vùng nông nghiệp của thành

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

LÊ HOÀNG EM

SỬ DỤNG CÁC MỨC PROTEIN KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN NUÔI ÚM VỊT CON SIÊU THỊT LAI

GIAI ĐOẠN TỪ 1 ĐẾN 28 NGÀY TUỔI

Luận văn tốt nghiệp Ngành: CHĂN NUÔI – THÚ Y

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

GIAI ĐOẠN TỪ 1 ĐẾN 28 NGÀY TUỔI

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGS TS Bùi Xuân Mến LÊ HOÀNG EM MSSV: 3077057 Lớp: CN K33

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

GIAI ĐOẠN TỪ 1 ĐẾN 28 NGÀY TUỔI

Cần Thơ, ngày…tháng….năm 2010 Cần Thơ, ngày…tháng năm 2010

PGS TS Bùi Xuân Mến

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu công bố trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khach quan va không trùng lặp với bất cứ công bố nao trước đây

Tác giả luận văn

Lê Hoàng Em

Trang 5

Con xin cám ơn ba mẹ đã thương yêu, dạy dỗ để cho con được như hôm nay.

Tôi xin cám ơn gia đình bác Năm đã tạo điều kiện về địa điểm cho tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi cũng xin cám ơn chị hằng, bạn hương và tất cả các bạn lớp Chăn nuôi – thú y khóa 33 đã nhiệt tình giúp đỡ, ủng hộ để tôi hoàn thành tốt đề tài này

Chân thành cảm ơn !

Lê Hoàng Em

Trang 7

TÓM LƯỢC

Thí nghiệm “Sử dụng các mức protein khác nhau trong khẩu phần nuôi úm vịt con Siêu thịt lai giai đoạn từ 1 đến 28 ngày tuổi” được thực hiện tại nông hộ vùng nông nghiệp của thành phố Cần Thơ vào cuối năm 2010 Thí nghiệm được thực hiện trên 90 vịt Siêu thịt lai giai đoạn 1 đến 28 ngày tuổi Vịt thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm

có 3 nghiệm thức và 3 lần lặp lại, mỗi đơn vị thí nghiệm gồm có 10 vịt con, cân đối trống mái Các nghiệm thức của thí nghiệm: vịt được cho ăn khẩu phần có mức năng lượng trao đổi ngang bằng nhau 2900 kcal/kg với 3 mức protein: 16 (CP16), 19 (CP19) và 22% (CP22) Vịt thí nghiệm được nuôi theo phương thức an toàn sinh học để kiểm soát dịch bệnh Vịt thí nghiệm được cho ăn tự do.

Kết quả thí nghiệm đạt được về tăng trọng hàng ngày trong các nghiệm thức thí nghiệm: 33,7; 34,7 và 36,2 g/con/ngày (P<0,05); tiêu tốn thức ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm: 81,2; 84,6 và 84,6 g/con/ngày (P>0,05) và hệ số chuyển hóa thức ăn ở các nghiệm thức: 2,41; 2,44 và 2,34 (P>0,05) tương ứng cho các nghiệm thức 16, 19, 22% protein

Khẩu phần 16% protein có chi phí thức ăn/kg tăng trọng thấp nhất.

Trang 8

MỤC LỤC

Trang Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2.1 SƠ LƯỢC MỘT SỐ GIỐNG VỊT THỊT HIỆN CÓ Ở VIỆT NAM 2

2.1.1 Vịt CV Super M, M2, M2 cải tiến 2

2.2.2 Vịt Nông Nghiệp 5

2.2.3 Vịt M14 5

2.2 SỰ LỰA CHỌN VÀ TIÊU THỤ THỨC ĂN CỦA VỊT 6

2.2.1 Khái niệm về sự tiêu thụ thức ăn 6

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính ngon miệng và sự tiêu thụ thức ăn 6

2.2.3 Tốc độ đi của thức ăn trong đường tiêu hoá 7

2.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA VỊT THỊT 8

2.3.1 Nhu cầu năng lượng 10

2.3.2 Nhu cầu protein và acid amin 11

2.4 MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN THƯỜNG DÙNG NUÔI VỊT .12

2.4.1 Thức ăn năng lượng 12

2.4.2 Thức ăn protein 14

2.4.3 Thức ăn khoáng và vitamin 15

2.6 Lịch tiêm phòng cho vịt 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN 17

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM 17

3.2 ĐỘNG VẬT THÍ NGHIỆM 17

3.3 CHUỒNG TRẠI VÀ DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM 17

3.4 KHẨU PHẦN THÍ NGHIỆM 19

Trang 9

3.6.5 Chi phí thức ăn 22

3.7 PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 22

Chương 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 23

4.1 NHIỆT ĐỘ VÀ ĐỘ ẨM MÔI TRƯỜNG THÍ NGHIỆM 23

4.2 KHẢ NĂNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VỊT GIỮA CÁC NGHIỆM THỨC 24

4.3 TIÊU TỐN THỨC ĂN 25

4.4 LƯỢNG DƯỠNG CHẤT TIÊU THỤ 26

4.5 HỆ SỐ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN 27

4.6 CHI PHÍ THỨC ĂN 28

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 30

5.1 KẾT LUẬN 30

5.2 ĐỀ NGHỊ 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 10

DANH SÁCH BIỂU BẢNG

Bảng 1: Sự sinh trưởng của vịt SM2 thương phẩm và tiêu tốn thức ăn ở các giai đoạn 2

Bảng 2: Khối lượng cơ thể và năng suất của các tổ hợp lai 4

Bảng 3: Khối lượng vịt thương phẩmV2517 lúc 7 tuần tuổi 5

Bảng 4: Khả năng sản xuất thịt của vịt M14 thương phẩm 6

Bảng 5: Nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt 9

Bảng 6: Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn cho vịt thịt thương phẩm 9

Bảng 7: Thành phần hoá học của thức ăn năng lượng cho gia cầm 13

Bảng 8: Lịch tiêm phòng cho vịt 16

Bảng 9: Thành phần hóa học (%) các thức ăn dùng trong thí nghiệm 19

Bảng 10: Công thức khẩu phần của vịt nuôi thí nghiệm 20

Bảng 11: Bố trí các nghiệm thức của thí nghiệm 21

Bảng 12: Khả năng tăng trọng của vịt giữa các nghiệm thức 24

Bảng 13: Lượng thức ăn tiêu tốn bình hàng ngày của vịt thí nghiệm 25

Bảng 14: Lượng dưỡng chất ăn vào ở các nghiệm thức thí nghiệm 26

Bảng 15: Hệ số chuyển hóa thức ăn của vịt trong thí nghiệm 27

Bảng 16: Kết quả chi phí thức ăn của vịt ở các nghiệm thức 28

Trang 11

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Nhiệt độ và độ ẩm trung bình môi trường thí nghiệm 23

Biểu đồ 2: Tăng trọng hàng ngày của vịt thí nghiệm 24

Biểu đồ 3: Tiêu tốn thức ăn của vịt ở các nghiệm thức 26

Biểu đồ 4: Tiêu tốn kg protein trên kg tăng trọng của vịt giữa các nghiệm thức 27

Biểu đồ 5: Hệ số chuyển hóa thức ăn giữa các nghiệm thức thí nghiệm 28

Biểu đồ 6: Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng giữa các nghiệm thức 29

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Vịt Siêu thịt lai một ngày tuổi 17

Hình 2: Mặt trước chuồng trại thí nghiệm 18

Hình 3: Mặt sau chuồng trại thí nghiệm 18

Hình 3: Máng uống cho vịt thí nghiệm 19

Hình 4: Máng ăn cho vịt thí nghiệm 19

Trang 13

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi vịt là nghề truyền thống của nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) ĐBSCL là vùng lương thực trọng điểm của cả nước, hệ thống kênh rạch chằng chịt rất thuận lợi cho nghề chăn nuôi vịt Tuy nhiên, do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi vào trong sản xuất nông nghiệp nên người dân làm lúa liên tục (3 vụ/năm) ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chăn nuôi vịt, đặc biệt là nuôi vịt chạy đồng

Giá thức ăn ảnh hưởng lớn đến giá thành của sản phẩm, đặc biệt trong đó những thức

ăn cung cấp protein thường đắt tiền, nếu không biết sử dụng đúng mức thì sẽ gây ra sự lãng phí làm tăng giá thành sản xuất mà lại làm giảm năng suất vật nuôi Xuất phát từ

thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài “Sử dụng các mức protein khác nhau trong

khẩu phần nuôi úm vịt con Siêu thịt lai giai đoạn từ 1 đến 28 ngày tuổi” với mục

đích tìm ra khẩu phần có mức protein thích hợp cho vịt con nuôi thịt đáp ứng khả năng sinh trưởng và phát triển trong giai đoạn nuôi úm Từ kết quả đạt được đưa ra khuyến cáo đến các hộ chăn nuôi để góp phần phát triển ngành chăn nuôi vịt thịt ở ĐBSCL

Trang 14

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 SƠ LƯỢC MỘT SỐ GIỐNG VỊT THỊT HIỆN CÓ Ở VIỆT NAM

2.1.1 Vịt CV Super M, M 2 , M 2 cải tiến

Có nguồn gốc từ Anh nhập vào Việt Nam các năm 1990, 1991, 1999, 2001, đây là giống vịt chuyên thịt có lông màu trắng Vịt thương phẩm nuôi nhốt 56 ngày tuổi hoặc nuôi nhốt kết hợp với chăn thả có khoanh vùng 70 ngày tuổi đạt 3 – 3,4 kg, tiêu tốn thức ăn 2,6 – 2,8 kg thức ăn/kg tăng trọng

Vịt có thể trọng lớn, khả năng tự kiếm mồi kém thiên về hướng nuôi thâm canh hoặc bán thâm canh hay kết hợp cá – vịt (Nguyễn Đức Trọng, 2007) Vịt thương phẩm CV Super M2 nuôi 8tuần tuổi có năng suất cho kết quả như được chỉ trong bảng 1

vịt (g)

Sinh trưởng tương đối (%)

Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

Trang 15

(T: ký hiệu các dòng vịt giống của trại vịt Đại Xuyên)

Sơ đồ 1: Vịt lai thương phẩm 4 máu của giống Super M tại trại vịt Đai Xuyên

Vịt lai có tỉ lệ nuôi sống cao 95 – 100% Có thể thấy được khả năng sinh trưởng của

các dòng vịt lai qua nghiên cứu Hoàng Thị Lan et al (2007) tại trại vịt Đại Xuyên của

Viện chăn nuôi Quốc gia qua bảng 2

Con lai của 4 tổ hợp lai trong bảng 2 đều cho kết quả tăng trọng khá cao và thích hợp cho việc tạo giống nhằm nâng cao năng suất của đàn vịt thương phẩm

Trang 16

Bảng 2: Khối lượng cơ thể và năng suất của các tổ hợp lai

Nguồn: Hoàng Thị Lan (2007)

Vịt có nguồn gốc theo sơ đồ lai 2 được nuôi tại trại giống VIGOVA của Viện chăn nuôi (Dương Xuân Tuyển, 2006)

(V: ký hiệu các dòng vịt của trại giống VIGOVA)

Sơ đồ 2: Vịt lai thương phẩm 4 máu của giống SM tại trại vịt VIGOVA

Trang 17

Bảng 3: Khối lượng vịt thương phẩmV 2517 lúc 7 tuần tuổi

Nguồn: Dương Xuân Tuyển (2006)

Tỉ lệ sống của vịt được ghi nhận là 96% và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là 2,58 kg Khối lượng của vịt ở 7 tuần tuổi đạt trên 3 kg là một giống tốt có thể đưa vào sản xuất

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Công (2009) trên giống vịt CV super M2 nuôi tại tỉnh Đồng Tháp, với khẩu phần có 3.000 kcal/kg và 22% CP cho kết quả ở 28 ngày tuổi vịt đạt 884,3 g với HSCHTĂ 2,16

2.2.2 Vịt Nông Nghiệp.

Gồm vịt Nông Nghiệp 1 và vịt Nông Nghiệp 2, đây là những giống được tạo ra từ vịt Anh Đào Tiệp dòng 1882 và vịt Anh Đào nuôi ở miền Nam Việt Nam.Vịt có tầm vóc lớn lúc 7 tuần tuổi có khối lượng 2,2 – 2,3 kg, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg thịt hơi là 2,8 – 2,9 kg (Chu Thị Thơm, 2005)

Hiện nay, vịt Nông Nghiệp đang được nuôi với mục đích lấy thịt và nhân giống lai vịt Siêu thịt ở các tỉnh miền Nam Vịt được coi như một trong những tiềm năng để sản xuất thịt ở miền Nam (Nguyễn Đức Lưu, 2003)

2.2.3 Vịt M14

Có nguồn gốc từ hãng Grimaud Freres thuộc Cộng hoà Pháp, nhập về Việt Nam năm

2005, là giống chuyên thịt có màu lông trắng, vịt giống có tuổi đẻ 24 tuần tuổi, năng suất 200 – 220 quả/mái/67 tuần tuổi Vịt thương phẩm nuôi nhốt 56 ngày tuổi hoặc 70 ngày tuổi nuôi chăn thả có khoanh vùng đạt 3 – 3,2 kg, tiêu tốn 2,6 – 2,8 kg thức ăn/kg tăng trọng (Hoàng Văn Tiệu, 2004) Một đề tài nghiên cứu khác của Nguyễn Đức

Trọng et al (2007), khi cho vịt M14 thương phẩm ăn tự do từ 1 ngày tuổi cho đến giết

thịt 7 – 8 tuần tuổi cho kết quả như trong bảng 4

Trang 18

Bảng 4: Khả năng sản xuất thịt của vịt M14 thương phẩm

2.2 SỰ LỰA CHỌN VÀ TIÊU THỤ THỨC ĂN CỦA VỊT

Theo Dương Thanh Liêm (2008), sự lựa chọn thức ăn của gia cầm có liên quan đến tính ngon miệng của gia cầm Tính ngon miệng lại có liên quan đến sự tiêu thụ thức

ăn, từ đó có ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất của gia cầm

2.2.1 Khái niệm về sự tiêu thụ thức ăn

Sự tiêu thụ thức ăn biểu thị lượng thức ăn mà gia cầm ăn được trong một ngày đêm

Sự tiêu thụ thức ăn khác với sự tiêu hao thức ăn và tiêu tốn thức ăn ở chỗ: tiêu thụ thức ăn là lượng thức ăn thực chất gia cầm ăn được, còn tiêu hao thức ăn hoặc tiêu tốn thức ăn là cả lượng thức ăn gia cầm ăn được và lượng thức ăn rơi đổ xuống chuồng Thông thường người ta quy định: thức ăn tiêu thụ ở dạng khô không khí có độ ẩm tiêu chuẩn 13% Lượng thức ăn tiêu thụ có quan hệ rất mật thiết với sự tăng trưởng cũng như sức sản xuất của gia cầm

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính ngon miệng và sự tiêu thụ thức ăn

Sự tiêu thụ thức ăn của gia cầm phụ thuộc rất nhiều yếu tố, có thể chia thành 3 nhóm yếu tố chính sau đây: yếu tố thức ăn, yếu tố cơ thể và yếu tố môi trường

Yếu tố thức ăn

Trang 19

nhu cầu của gia cầm, không thừa cũng không thiếu Đây là cách đảm bảo tốt nhất để duy trì tính ngon miệng bền vững đối với gia cầm Chỉ có như vậy gia cầm mới ăn được nhiều, lớn nhanh, sản xuất tốt và thể chất khỏe mạnh Mặt khác thức ăn cần được bảo quản tốt, giữ được mùi tự nhiên của nguyên liệu Không bị ẩm và mốc, không bị nhiễm độc chất cũng là yếu tố quan trọng để tạo tính ngon miệng tốt cho gia cầm.

Yếu tố cơ thể

Khả năng vị giác của gia cầm: sự ngon miệng của thức ăn còn chịu ảnh hưởng bởi khả năng vị giác của gia cầm Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm cấu tạo của giống và loài Lưỡi gia cầm được bao bọc bởi một lớp keratin dầy ở mặt trên Sự phân

bố nụ thần kinh vị giác rất thưa thớt, vì thế khả năng vị giác của gia cầm kém hơn nhiều so với động vật có vú Gia cầm phân biệt vị ngọt tinh vi hơn người Đối với vị chua gia cầm cũng rất nhạy cảm, không thích thức ăn bị lên men chua Riêng vị đắng gia cầm khó phân biệt được

Tình trạng sức khỏe và sức sản xuất: gia cầm khỏe mạnh (không mắc bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng, không bị nghẽn mề do ăn dây thun, ăn lông) thì có tính ngon miệng cao với thức ăn Ở giống gia cầm có sức sản xuất cao thì tính ngon miệng với thức ăn càng lớn và ngược lại

Nhiệt độ môi trường

Môi trường nhiệt độ mát mẻ, ở vùng nhiệt độ trung hòa, không quá nóng cũng không lạnh quá thì gia cầm có tính ngon miệng nhất đối với thức ăn Khí hậu vào mùa hè và mùa khô nhiệt độ chuồng nuôi thường cao vào khoảng 30 – 35oC, gia cầm có tính ngon miệng đối với thức ăn rất thấp, thường uống nhiều nước, ăn ít thức ăn Cần cho gia cầm ăn vào lúc trời mát, cần có biện pháp để làm hạ nhiệt độ chuồng Có như vậy gia cầm mới ăn hết khẩu phần ăn để sản xuất bình thường

2.2.3 Tốc độ đi của thức ăn trong đường tiêu hoá

Tốc độ đi của thức ăn trong đường tiêu hoá được biểu thị bằng

Yếu tố cơ thể

Tùy theo giai đoạn sinh lý sản xuất khác nhau mà nó có ảnh hưởng đến tốc độ đi của thức ăn Đối với gia cầm mắc bệnh đường ruột đi tiêu chảy thì tốc độ đi của thức ăn nhanh hơn

Trang 20

đó tốc độ đi của thức ăn càng nhanh làm cho gia cầm ăn nhiều hơn, song khả năng tiêu hoá giảm thấp làm cho chỉ số biến chuyển thức ăn tăng lên, giảm thấp hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi.

Thức ăn có nhiều muối, có chất chua, kích thích niêm mạc ruột, làm cho ruột nhu động nhanh, thức ăn cũng đi nhanh hơn

Những chất nhuận tràng trong thực vật như rau lang, rau muống cũng làm cho thức ăn

đi nhanh Trái lại những chất gây táo bón như tanin làm cho thức ăn đi chậm trong ống tiêu hoá

Cách thức cho ăn: nếu cho ăn định mức thì thức ăn đi chậm có tác dụng tiêu hoá các chất dinh dưỡng tốt hơn Trường hợp cho ăn nhiều, cho ăn tự do thì thức ăn đi mau hơn, tỷ lệ tiêu hoá cũng giảm

2.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA VỊT THỊT

Tùy theo giống vịt mà nhu cầu cũng khác nhau Theo khuyến cáo của hội chăn nuôi Việt Nam thì nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt khá cao được thể hiện trong bảng 5 Tuy nhiên, trong thực tế chăn nuôi vịt ở Việt Nam do điều kiện nhân giống vịt để nuôi thương phẩm từ những đàn cha mẹ nhập nội theo nguồn giống và thời gian nhập khác nhau, nên trong một số báo cáo đã đưa ra mức nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt có một khoảng biến động rộng về tiêu chuẩn dinh dưỡng protein và năng lượng trong khẩu phần của vịt thương phẩm, số liệu được chỉ ra trong bảng 6

Trang 21

Bảng 5: Nhu cầu dinh dưỡng của vịt thịt

Nguồn: Hội Chăn nuôi Việt Nam (2002)

Bảng 6: Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn cho vịt thịt thương phẩm

Trang 22

Vịt cũng như các loài gia cầm khác, cần nhiều năng lượng từ thức ăn để duy trì các chức năng và thực hiện các hoạt động phản ứng tổng hợp của cơ thể Khi một hợp chất hữu cơ sinh năng lượng của thức ăn được trao đổi trong cơ thể, sản phẩm cuối cùng của trao đổi là carbonic, nước và năng lượng Những sản phẩm này sinh ra giống như bị đốt cháy Tuy nhiên các bước trao đổi trong cơ thể động vật thì phức tạp hơn nhiều so với sự đốt cháy (Bùi Xuân Mến, 2007)

Vịt khi được cho ăn tự do thì trước hết để thoả mãn nhu cầu năng lượng và sự ngon miệng của chúng đối với thức ăn năng lượng Khi cho ăn các khẩu phần thức ăn có mức protein khác nhau thì vịt có khả năng tự điều chỉnh mức ăn vào để đáp ứng mức tiêu thụ năng lượng trong cơ thể tương đối ổn định Vì vậy, điều cần thiết là phải xác định rõ nhu cầu các chất dinh dưỡng của vịt có liên quan với hàm lượng năng lượng trong khẩu phần để đảm bảo vịt ăn vào sẽ lấy đủ tất cả các chất dinh dưỡng khác Khi cho vịt ăn mức khẩu phần năng lượng càng tăng lên thì lượng thức ăn ăn vào sẽ giảm

xuống, hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ được cãi thiện (Đồng Phạm Phương Thuỳ, 2009).

Theo trích dẫn của Nguyễn Thanh Vũ (2005), về vai trò của năng lượng đối với gia cầm thì sự tổng hợp protein trong tổ chức tế bào, ngoài acid amin ra nó còn giới hạn bởi sự cung cấp năng lượng Nếu khẩu phần không đủ năng lượng sẽ giảm năng suất tổng hợp protein, từ đó dẫn đến giảm giá trị sinh học của protein Vậy muốn tổng hợp được protein với năng suất cao cần phải cung cấp đầy đủ không chỉ acid amin mà cả năng lượng, dư thừa một trong hai yếu tố trên đều không tốt Dư acid amin thì giảm tính thèm ăn, mà dư năng lượng thì gia cầm tích lũy nhiều mỡ, giảm chất lượng thịt.Theo trích dẫn của Nguyễn Tiến Sĩ (2008), thì chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao cho gia cầm, năng lượng đốt cháy trong cơ thể của chất béo cao gấp 2 – 2,5 lần so với chất bột đường và chất protein

Vì năng lượng cao nên khi bổ sung thêm vào thức ăn gia cầm sẽ nâng cao khả năng sinh trưởng của gia cầm đáng kể đối với con giống có tốc độ sinh trưởng nhanh Nếu khẩu phần có nhiều chất đạm thường khó nâng cao giá trị năng lượng Nếu ta thêm chất béo vào sẽ cân đối tốt hơn, khi thêm chất béo vào có thể xuất hiện một số acid amin giới hạn, ta chỉ cần thêm acid amin có giới hạn thì đạt đến sự tối ưu mà không cần nâng chất đạm lên nữa Năng lượng toả nhiệt khi chuyển hoá chất béo ít hơn chuyển hóa chất đạm và chất bột đường nên trong mùa hè giải quyết năng lượng bằng

Trang 23

Nhu cầu Protein

Người ta đã nhận biết vai trò quan trọng số một của protein trong sự sống Trong chăn nuôi protein là nguyên liệu chính cấu tạo các tế bào sống để hình thành các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, lông và những sản phẩm chức năng khác trong cơ thể Protein là chất hữu cơ quan trọng nhất, không chất dinh dưỡng nào thay thế vai trò của

nó trong tế bào sống Do đó nó khác với mỡ và chất bột đường, là cấu tạo của hai chất này chỉ là carbon, hydro và oxy, còn cấu tạo của protein gồm carbon, hydro, oxy, nitơ, lưu huỳnh và phospho… Ngoài ra protein cũng còn tham gia vào quá trình xúc tác và điều hoà cân bằng các phản ứng của cơ thể Nếu cung cấp khẩu phần cho vịt không đủ thì ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển cũng như khả năng sinh sản Cấu tạo nên các chất kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu, chất kháng thể trong máu chủ yếu là γ-globulin Một khẩu phần nếu thiếu protein, nuôi gia cầm sẽ làm cho cơ thể chống đỡ bệnh tật kém, đáp ứng miễn dịch sau khi chủng ngừa yếu Cấu tạo nên chất thông tin di truyền, chủ yếu là các nucleoprotein (Nguyễn Thành Công, 2009)

Theo Dương Thanh Liêm (2008), trạng thái thiếu, thừa peotein và các biện pháp năng cao hiệu quả sử dụng protein như sau:

Các trạng thái thiếu protein

Trên gia cầm non sinh trưởng chậm, còi cọc, mọc lông kém, sức sống chịu lạnh yếu, thành thục chậm

Trên gia cầm trưởng thành giảm sức đẻ trứng, lòng trắng trứng loãng, tỉ lệ ấp nở thấp, sức đề kháng bệnh của gia cầm kém, hiệu quả kháng thể sau khi chủng ngừa không cao Gia cầm cắn mổ nhau, nhất là giai đoạn đang ra lông cánh và lông đuôi

Các trạng thái thừa protein

Sự dư thừa protein dẫn đến nồng độ đạm cặn, acid amin trong máu tăng cao làm giảm tính thèm ăn của gia cầm, từ đó không cải thiện được tăng trọng thậm chí còn giảm sự tăng trọng so với khẩu phần bình thường

Cơ thể tiêu hoá không hết protein gây sự lên men thối ở ruột già, manh tràng có thể dẫn đến tình tạng viêm ruột tiêu chảy

Dư thừa protein dẫn đến phản ứng khử amin quá mạnh, thải ra nhiều acid uric có hại cho gan, thận Nếu khẩu phần khiếm khuyết vitamin thì gây ra bệnh lí cho gan thận

Trang 24

Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng protein của gia cầm

Có 3 biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử dụng protein trong dinh dưỡng gia cầm, đó là: (1) Chọn nguyên liệu phối hợp khẩu phần cân đối protein, acid amin và năng lượng không để thiếu các yếu tố khác (2) Bổ sung các acid amin thiết yếu có giới hạn vào thức ăn để đạt đến mức cân đối tối thiểu (3) Xử lý nhiệt hợp lí để diệt các chất kháng tiêu hoá, như trường hợp anti – trypsin đậu nành

Nhu cầu acid amin

Protein trong khẩu phần được phân cắt trong suốt quá trình tiêu hoá đến các acid amin

mà các acid amin này được vịt hấp thu và sử dụng để tạo nên protein cơ thể của chúng, những acid amin này phải được cung cấp trong khẩu phần bởi vì vịt không thể tổng hợp được từ các nguồn khác, các acid amin này được gọi là các acid amin thiết yếu Các mức độ protein để đáp ứng nhu cầu acid amin cho vịt có thể thay đổi ít, điều này phụ thuộc trên hàm lượng acid amin của khẩu phần được sử dụng trong mỗi công thức (Dương Thanh Liêm, 2008)

Theo Dương Thanh Liêm (2008), ở gia cầm cần 11 loại acid amin thiết yếu là methionine, lysine, threonine, tryptophan, phenylalanine, leucine, isoleucine, valine, histidine, arginine, glycine Trong 11 loại acid amin này thì có 4 loại thường có giới hạn trong thức ăn theo thứ tự có giới hạn nhiều đến ít, gồm có methionine, lysine và threonine và tryptophan

Giữa nhu cầu acid amin và nhu cầu protein thô trong thức ăn có quan hệ mật thiết Nếu các acid amin được cân đối tốt giữa chúng với nhau và giữa chúng với mức năng lượng thức ăn thì nhu cầu protein thô trong thức ăn sẽ thấp Sự lợi dụng protein của gia cầm sẽ có hiệu quả

2.4 MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN THƯỜNG DÙNG NUÔI VỊT

Thức ăn của vịt bao gồm nhiều loại khác nhau từ các loại thực vật cho tới các loài động vật rất đa dạng Người ta chia ra làm 4 nhóm cơ bản là: thức ăn năng lượng, thức

ăn protein, thức ăn khoáng và thức ăn vitamin

2.4.1 Thức ăn năng lượng

Còn gọi là thức ăn carbohydrate gồm các loại hạt ngũ cốc và phụ phẩm của chúng, có

Ngày đăng: 12/04/2018, 02:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w